Câu hỏi: NHỮNG TIỀN ĐỀ KHÁCH QUAN CHO SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN DÀN Ý l Tiền đề kinh tế - xã hội của triết học Mác: - Triết học Mác cũng như các bộ phận cấu thành khác của Chủ n
Trang 1Câu hỏi: NHỮNG TIỀN ĐỀ KHÁCH QUAN CHO SỰ RA ĐỜI CỦA
TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
DÀN Ý l) Tiền đề kinh tế - xã hội của triết học Mác:
- Triết học Mác cũng như các bộ phận cấu thành khác của Chủ nghĩa Mác
- Kinh tế học chính trị và Chủ nghĩa cộng sản khoa học xuất hiện vào những năm 40 của thế kỷ XIX Thời kỳ này, Chủ nghĩa Tư bản đã trở thành hệ thống kinh tế thống trị ở các nước Tây Âu và giai cấp vô sản sinh ra từ nền sản xuất của chủ nghĩa tư bản đã bước lên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập
- Sự xuất hiện triết học Mác cũng như chủ nghĩa Mác nói chung được
chuẩn bị trước hết bởi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và những mâu thuẫn của nó, bởi sự phát triển sâu sắc của cuộc đấu tranh giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Sự phát triển của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, đem lại cho lực lượng sản xuất và quá trình sản xuất một tính chất xã hội, nhưng tư liệu sản xuất và sản phẩm của nền sản xuất xã hội ấy thì lại không vào tay người sản xuất - công nhân, mà lại vào tay người chiếm hữu tư liệu sản xuất - nhà tư bản Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất và hình thức chiếm hữu tư nhân là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản Biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn đó là cuộc đấu tranh không điều hòa giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Như vậy chính chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng xã hội để giải quyết mâu thuẫn đó Lực lượng đó là giai cấp vô sản cách mạng, ngày càng phát triển có tính tự giác và tổ chức cao
- Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã trải qua nhiều giai đoạn ở
thời kỳ đầu, phong trào công nhân còn mang tính tự phát, thiếu tổ chức Hình thức đấu tranh cơ bản lúc này là đấu tranh kinh tế những tính chất bạo động tự
Trang 2phát (nổi loạn), công nhân chưa hiểu được những nguyên nhân chủ yếu của địa
vị thống khổ của mình
- Vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX đã có những biến đổi sâu sắc
trong phong trào công nhân Với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản công nghiệp
đã xuất hiện nhiều thành phố và trung tâm công nghiệp lớn Dân các thành thị tăng rất nhanh Trong các xí nghiệp lớn tập trung một đội quân công nhân đông đảo Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản trở nên gay gắt, làm xuất hiện những cuộc đấu tranh đầu tiên có tính tự giác của giai cấp công nhân Những cuộc đấu tranh lớn nhất của công nhân thời kỳ này là cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt Li-ông (Pháp) (1831, 1834), cuộc nổi dậy có tính chất cách mạng của công nhân Pa-ri (1832), cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt Xi-lê-di ở Đức (1844), phong trào hiến chương ở Anh (1830- 1840)
- Phong trào công nhân những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX, như
Ăng-Ghen nhận xét, đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong quan niệm về lịch sử:
Một là, vạch trần tính chất sai lầm của sự khẳng định của các nhà tư
tưởng tư sản về sự hân hoan chung của tư bản và lao động, sự hài hòa chung, hạnh phúc chung trong toàn xã hội tư bản
Hai là, nó đề ra nhu cầu xã hội phải giải thích một cách khoa học những
thực tế của cuộc đấu tranh đang phát triển giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, phải thay đổi những quan niệm cũ về lịch sử bằng những quan niệm mới, phải trả lời một cách rõ ràng những vấn đề mà mọi giai cấp đều quan tâm: số phận của loài người sẽ ra sao và những lực lượng nào đóng vai trò chủ yếu trong cuộc đấu tranh cho tương lai của nhân loại; giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử gì?
- Mùa thu năm 1842, Ăng-Ghen sang Anh, ở đó ông tham gia tích cực vào
phong trào hiến chương và phong trào cộng sản Ông đã đăng nhiều bài báo và thư từ trong tờ báo của phong trào hiến chương “Ngôi sao Bắc đẩu” và trong tờ
“Báo Sông Sanh” do C.Mác làm chủ bút Trong các bài báo và thư từ đó lần đầu
Trang 3Ăng-Ghen cố gắng chỉ ra viễn cảnh lịch sử của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản Anh Mùa thu 1843, C.Mác đã đến Pa-ri Những truyền thống cách mạng của nước Pháp đã làm ông xúc động ngay từ thời trẻ Ông chăm chú nghiên cứu tình cảnh giai cấp vô sản Pháp, thường xuyên thăm các vùng ngoại ô Pa-ri, nơi tập trung quần chúng công nhân cơ bản, xây dựng mối quan hệ với những người lãnh đạo của nhiều tổ chức Pháp bí mật, cũng như với
những người lãnh đạo của “Liên minh những người chính nghĩa” một tổ chức bí
mật của những công nhân Đức ở Pháp Mác và Ăng-Ghen hân hoan đón nhận tin
về cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt Xê-lê-di
- Từ năm 1843 toàn bộ cuộc đời và hoạt động phong phú của Mác và
Ăng-Ghen đã gắn liền với số phận của giai cấp công nhân Hai ông đã hiến dâng mọi sức lực và tài năng cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa cộng sản
- Khi nghiên cứu và khái quát kinh nghiệm của phong trào công nhân ở
Anh, Pháp, Đức và nhiều nước khác, Mác và Ăng-Ghen đã chỉ ra vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản như là người đạo mồ chôn chủ nghĩa tư bản và sáng tạo xã hội xã hội chủ nghĩa Trước Mác và Ăng-Ghen đã có nhiều người
mô tả nỗi thống khổ của giai cấp vô sản và chỉ ra sự tất yếu phải giúp đỡ nó, nhưng chỉ đến Mác và Ăng-Ghen, mới chỉ rõ rằng, giai cấp vô sản không chỉ là giai cấp đau khổ, nó còn là lực lượng biến đổi chế độ xã hội hiện tại, tiêu diệt chế độ người bóc lột người và xây dựng xã hội mới không có giai cấp Vạch ra vai trò lịch sử của giai cấp vô sản là công lao vĩ đại của Mác và Ăng-Ghen
Như vậy, vào giữa những năm 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển ở các nước Tây Âu tiên tiến
- Thời kỳ đó diễn ra những mâu thuẫn không thể điều hòa giữa vô sản và
tư sản Giai cấp vô sản đã bắt đầu ý thức được những lợi ích căn bản của mình
và tiến hành cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Đó là cơ sở kinh tế - xã hội của sự xuất hiện chủ nghĩa Mác và triết học của nó Với sự xuất hiện chủ nghĩa
Trang 4Mác - hệ tư tưởng khoa học của giai cấp vô sản, phong trào công nhân đã chuyển sang giai đoạn phát triển mới
2) Tiền đề lý luận của triết học Mác:
- Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác và triết học của nó không chỉ được quyết
định bởi những điều kiện kinh tế - xã hội, mà còn bởi toàn bộ đời sống xã hội, đời sống khoa học và văn hóa Lý luận mác-xít không xuất hiện tách rời con đường văn minh chung của nhân loại Trái lại, toàn bộ thiên tài của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, như Lê-nin nói, là ở chỗ các ông đã trả lời được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã đặt ra Mác và Ăng-Ghen là những
người kế tục và hoàn thiện thiên tài của triết học cổ đại Đức (Can-tơ, Phích-tơ, Sê-linh, Hê-ghen, Phơ-bách) kinh tế học chính trị Anh (A.Xmít, Đ.Ri-các-đô), chủ nghĩa xã hội Pháp (Xanh Xi-mông, S.Phu-ri-ê) và Anh (R.Oen)
- Thoạt đầu Mác và Ăng-Ghen là những nhà biện chứng - duy tâm, ủng hộ
triết học của Hê-ghen, là triết học thống trị ở Đức những năm 30 - 40 thế kỷ XIX Mác làm quen với triết học đó vào năm 1837; và Ăng-Ghen năm 1839 Những luận điểm biện chứng của Hê-ghen đã thu hút Mác và Ăng-Ghen thời trẻ Hai ông đã tham gia nhóm Hê-ghen trẻ và sử dụng triết học của Hê-ghen vào cuốc đấu tranh chống tôn giáo và chế độ chuyên chế Nhưng trong nhóm Hê-ghen trẻ Mác và Ăng-Ghen đã có một lập trường riêng; hai ông kiên quyết đấu tranh chống các mối quan hệ xã hội đương thời Mác và Ăng-Ghen ngay từ thời trẻ đã kính trọng sâu sắc quần chúng nhân dân và không bao giờ nghĩ rằng những biến đổi xã hội lại có thể thực hiện được mà không cần cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân
- Hai ông đã nhiều lần nói rằng, trong sự phát triển trí tuệ của mình, hai
ông đã chịu ơn nhiều nhà triết học Đức, trong đó có Hê-ghen Như Ăng-Ghen đã nói, không có triết học Đức thì không thể có chủ nghĩa xã hội khoa học Công lao của Hê-ghen trước hết là ở chỗ ông đã phê phán mạnh mẽ phương pháp siêu hình của tư duy và đối lập nó với phương pháp biện chứng Hê-ghen lần đầu tiên
Trang 5đã diễn đạt những quy luật của phép biện chứng và nó được xem như linh hồn của mọi nhận thức chân lý khoa học
- Mác và Ăng-Ghen thời trẻ đã nắm vững đến mức hoàn thiện phương
pháp biện chứng Hai ông đã dùng những tư tưởng cách mạng của phép biện chứng Hê-ghen để luận giải cho những khát vọng dân chủ - cách mạng của mình
- Dưới ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chính trị - xã hội và của chủ nghĩa
duy vật của Phơ-bách, trong quan điểm của Mác và Ăng-Ghen đã chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa cộng sản, đã phê phán quyết liệt chủ nghĩa duy tâm triết học của Hê-ghen Hai ông chỉ ra rằng học thuyết của Hê-ghen về nhà nước và pháp quyền là không phù hợp với hiện thực, rằng “ý niệm tuyệt đối” của Hê-ghen không phải
là cái gì khác mà chính là ý thức của con người được xem xét ngoài con người, ngoài giới tự nhiên và biến nó thành cái tuyệt đối
- Hai ông hiểu rất rõ rằng, trong những lời tối tăm, cầu kỳ, thông thái rởm
trong các bài viết của Hê-ghen đã dấu kín những tư tưởng cách mạng Mác viết:
“Nếu tước bỏ đi các hình thức thần bí thì phép biện chứng của Hê-ghen sẽ là hình thức cơ bản của mọi phép biện chứng” Khi giải phóng phép biện chứng
của Hê-ghen khỏi chủ nghĩa duy tâm là thần bí, Mác và Ăng-Ghen đã xây dựng những nguyên tắc của phép biện chứng duy vật Phép biện chứng mác-xít đó không chỉ khác mà còn đối lập với phép biện chứng Hê-ghen Nó là hình thức lịch sử cao nhất của phép biện chứng
- Nhà tư tưởng thứ hai, ảnh hưởng lớn đến sự hình thành các quan điểm
của Mác và Ăng-Ghen là Phơ-bách Phơ-bách là người đã từ bỏ triệt để triết học của Hê-ghen và say sưa phê phán tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm, tuyên truyền chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa nhân đạo
- Bằng sự phê phán của mình đối với chủ nghĩa duy tâm, Phơ-bách đã
nhanh chóng giúp Mác và Ăng ghen thoát khỏi chủ nghĩa duy tâm và chuyển
Trang 6vững chắc sang lập trường của chủ nghĩa duy vật Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, Mác và Ăng ghen chưa bao giờ là những người theo Phơ-bách triệt để, cũng giống như chưa bao giờ theo Hê-ghen triệt để
- Khác với Phơ-bách đã vứt bỏ hoàn toàn triết học của Hê-ghen, Mác và
Ăng-Ghen đã giữ lại và biến đổi có phê phán học thuyết về sự phát triển và phép biện chứng của Hê-ghen Chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách là chủ nghĩa duy vật siêu hình, còn Mác và Ăng-Ghen đã phát triển chủ nghĩa duy vật biệt chứng, Phơ-bách là nhà duy tâm trong những quan niệm về xã hội, trái lại, Mác và Ăng-Ghen là những nhà cách mạng, những nhà duy vật thực tiễn, là những người cộng sản Hai ông đã gắn những vấn đề lý luận triết học với cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, của giai cấp vô sản
- Sự hình thành những quan điểm duy vật-biện chứng của Mác và Ăng
ghen không chỉ do ảnh hưởng của triết học Hê-ghen và Phơ-bách Mác và Ăng-Ghen ngay từ những năm đầu đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giai cấp
Sự tham gia đó đã đem lại cho hai ông những tài liệu thực tiễn phong phú để hiểu phép biện chứng, hiểu tính chất mâu thuẫn của sự phát triển xã hội Đồng thời việc đấu tranh bảo vệ giai cấp vô sản, bảo vệ toàn thể nhân dân lao động đã dẫn hai ông đến chỗ nghiên cứu toàn diện các mối quan hệ vật chất, nghiên cứu kinh tế học chính trị v.v Quan niệm duy vật - biện chứng ở Mác và Ăng-Ghen, một mặt, được hình thành do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chính trị - xã hội, mặt khác, do sự nghiên cứu những vấn đề kinh tế chính trị
- Hơn nữa, khi đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản lẽ tự nhiên Mác và
Ăng-Ghen mơ ước đến một xã hội không có người bóc lột người mà nhiều nhà xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa trước đây đã viết về xã hội đó Việc nghiên cứu chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán cũng đã đem lại cho Mác và Ăng-Ghen những tài liệu hết sức phong phú để hiểu một cách duy vật - biện chứng đời sống xã hội
Trang 7- Những nhà xã hội chủ nghĩa trước Mác là những người không tưởng Họ
không hiểu được những quy luật phát triển của xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội Nhưng họ đã đóng vai trò
to lớn trong việc làm hình thành không những các quan điểm cộng sản chủ nghĩa
mà cả các quan điểm triết học ở Mác và Ăng-Ghen
3) Những tiền đề khoa học tự nhiên của triết học Mác:
- Sự xuất hiện triết học Mác như là hình thức lịch sử mới và cao nhất của
chủ nghĩa duy vật và những thành tựu của khoa học tự nhiên Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản công nghiệp đã tác động mạnh đến sự phát triển của mọi lĩnh vực tri thức, đặc biệt là của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật Phương pháp tư duy siêu hình từng thống trị trong khoa học và trong triết học duy vật, đã mâu thuẫn với những phát minh mới nhất trong khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX
- Lô-mô-nô-xốp đã chứng minh về mặt thực nghiệm quy luật bảo toàn vật
chất và vận động và đã giáng một đòn mạnh mẽ vào những quan điểm duy tâm tôn giáo, khẳng định tính đúng đắn của những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật
- Từ những năm 30 đến 50 của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có được
những thành tựu to lớn Thời kỳ này có ba phát minh vĩ đại đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh chống quan điểm siêu hình và chuẩn bị cho sự
ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Phát minh thứ nhất: Năm 1842 - 1845 nhà vật lý học Đức Rô-béc May-e
đã phát minh Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Quy luật này
cũng được hai nhà vật lý học Anh Gơ-rốp và Giu-lơ-ôn, kỹ sư Đan Mạch Côn-đinh-gơ và nhà bác học Nga Len-xơ phát minh Sự phát minh ra quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã chứng minh rằng, lực cơ học, nhiệt, ánh sáng, điện tử, các quá trình hóa học, nghĩa là các hình thức khác nhau của vận động vật chất không tách rời nhau và trong những điều kiện nhất định thì chuyển hóa
Trang 8lẫn nhau mà không có lực nào mất đi cả Nó chứng minh rằng không có sự phát sinh ra và mất đi của năng lượng chỉ có sự chuyển biến không ngừng của năng lượng từ dạng này sang dạng khác Quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng được Ănghen coi là quy luật tuyệt đối của giới tự nhiên Nó là cơ sở khoa học tự nhiên của quan điểm biện chứng về thế giới
Phát minh thứ hai: Sự phát triển các ngành khoa học về động vật và thực
vật cũng làm suy yếu cơ sở của quan điểm siêu hình Vào những năm 30 của thế
kỷ XIX đã ra đời học thuyết về tế bào Học thuyết đó đã phá bỏ quan niệm siêu
hình cũ không thấy được sự thống nhất về mặt nguồn gốc và hình thái giữa thế giới thực vật và động vật Nó xác định sự thống nhất cấu tạo của các cơ thể động vật và thực vật, giải thích quá trình phát triển của chúng, đặt cơ sở cho sự phát triển toàn hệ sinh học
Phát minh thứ ba trong khoa học tự nhiên đóng vai trò to lớn đối với
quan niệm biện chứng về giới tự nhiên được ghi công cho nhà bác học người Anh Đác-uyn Trong quá trình nghiên cứu, Đác-uyn đã đi tới khẳng định chắc chắn rằng: các loài không phải là bất biến mà là biến đổi Ông chứng minh một cách tin tưởng rằng, các loài đang tồn tại hiện nay là sinh ra từ các loài khác bằng con đường tự nhiên
- Sự biến đổi các loài thực vật và động vật, theo Đác-uyn, diễn ra nhờ
chọn lọc tự nhiên, và chọn lọc nhân tạo Lê-nin đã viết rằng, Đác-uyn đã cáo chung quan điểm về các loài động vật và thực vật, quan điểm đó coi các loài là
không có liên hệ, là do “Thượng đế tạo ra”, là bất biến, và lần đầu tiên ông đã
đem lại cho sinh học cơ sở thật sự khoa học, xác định tính biến dị và di truyền giữa các loài
Như vậy, những thành tựu khoa học tự nhiên giữa thế kỷ XIX đã vạch ra mối liên hệ biện chứng, sự biến đổi, phát triển và chuyển hóa về mặt chất lượng trong các lĩnh vực khác nhau của giới tự nhiên
Trang 9- Mác và Ăng-Ghen không những đánh giá và khái quát được những hiện
tượng mới của đời sống xã hội, mà cả những thành tựu vĩ đại của khoa học tự nhiên nửa đầu thế kỷ XIX và tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng Ngay từ khi mới hoạt động khoa học, hai ông đã dựa vào những thành tựu của tất cả các khoa học trong đó có khoa học tự nhiên Mác, Ăng ghen rất thông hiểu nguyên
tử luận, đánh giá rất cao những phát minh khoa học của Cô-péc-ních, Pha-ra-đây, Lai-en, những thành tựu của hóa học hữu cơ v.v… Sau này hai ông đã nghiên cứu một cách hệ thống những thành tựu của khoa học kỹ thuật
- Khi khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên, Mác và
Ăng-Ghen đã phát triển và cụ thể hóa các vấn đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng Như vậy, sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác và triết học của nó không phải là ngẫu nhiên, mà là một hiện tượng hợp quy luật Nó do những nguyên nhân kinh tế -
xã hội và sự phát triển của tư tưởng nhân loại trước đó Khái quát kinh nghiệm của phong trào công nhân và những thành tựu của khoa học tự nhiên, nghiên cứu
có phê phán những tư tưởng triết học trước đó, Mác và Ăng-Ghen đã thực hiện bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong triết học
4) Thực chất và ý nghĩa của bước ngoặt cách mạng trong triết học do Mác và Ănghen thực hiện?
- Triết học Mác đã khắc phục sự tách rời thế giới quan duy vật và phép biện chứng trong lịch sử phát triển của triết học trước đó, xác lập chủ nghĩa duy vật biện chứng nhờ một hệ thống lý luận khoa học chặt chẽ thống nhất và hoàn chỉnh, lẫn phép biện chứng trong cái vỏ duy tâm thần bí của một số đại biểu của nền triết học cổ điển Đức để xây dựng nền triết học mới – Triết học duy vật biện chứng
- Sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Đó là một cuộc cách mạng thực sự trong học thuyết về xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ănghen đã thực hiện trong triết học
Trang 10- Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà chủ yếu là công cụ cải tạo thế giới Nó trở thành công cụ nhận thức khoa học để cải tạo thế giới bằng thực tiễn cách mạng
Nhờ sự ra đời của Triết học Mác mà vai trò xã hội của triết học cũng như
vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học đã thay đổi về căn bản
Triết học Mác trở thành thế giới quan khoa học của giai cấp công nhân Sự kết hợp lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng với phong trào công nhân đã tạo nên bước chuyển biến về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên tự giác
Nhờ sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội mà triết học Mác lại trở thành thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển tiếp tục của các khoa học
Triết học Mác xít là cơ sở lý luận khoa học cho chiến lược và sách lược cách mạng của giai cấp vô sản, là vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa xét lại, cơ hội, giáo điều
5) Những đóng góp chủ yếu của Lê nin vào việc bảo vệ và phát triển triết học Mácxít là gì?
Trong quá trình vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những nhiệm vụ của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin đã có những đóng góp to lớn vào việc bảo
vệ và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng
Phê phán quan điểm duy tâm chủ nghĩa về lịch sử của bọn dân tuý
ở Nga vào những năm 90 của thế kỷ XIX, Lênin bảo vệ chủ nghĩa Mác khỏi sự xuyên tạc của những người dân tuý, đồng thời phát triển và làm phong phú thêm quan điểm duy vật lịch sử, nhất là lý luận về hình thái kinh tế – xã hội của Mác