Với 12 quốc gia tham gia đều là thành viên của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) với tổng dân số 650 triệu người, trung bình thu nhập bình quân đầu người đạt 31.481 USD (năm 2011), tổng GDP lên đến hơn 20 nghìn tỷ USD, hiệp định thương mại tư do xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo ra một thị trường chung đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp, trở thành một trong những hiệp định tham vọng nhất từ trước đến nay. Vậy TPP là gì và TPP khác biệt gì so với các Hiệp định thương mại khác, bài viết sẽ làm rõ những điều này qua bố cục:Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế và Hiệp định thương mại tự do1.1.Thương mại quốc tế1.2.Hiệp định thương mại tự doChương 2: Nội dung hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những khác biệt của TPP với các Hiệp định thương mại tự do khác2.1.Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)2.2.Những khác biệt của TPP với các hiệp định thương mại tự do khácChương 3: Chiến lược phát triển của Việt Nam khi tham gia hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)3.1.Ổn định tình hình kinh tế vĩ mô3.2.Thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 1Phần mở đầu
Với 12 quốc gia tham gia đều là thành viên của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) với tổng dân số 650 triệu người, trung bình thu nhập bình quân đầu người đạt 31.481 USD (năm 2011), tổng GDP lên đến hơn 20 nghìn tỷ USD, hiệp định thương mại tư do xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã tạo ra một thị trường chung đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp, trở thành một trong những hiệp định tham vọng nhất từ trước đến nay Vậy TPP là gì và TPP khác biệt gì so với các Hiệp định thương mại khác, nhóm chúng em sẽ làm rõ những điều này trong bài tiểu luận của mình
Phần nội dung Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế và Hiệp định thương mại tự do
1.1 Thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia Hình thức thương mại này thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế thế giới, trong đó giá cả, cung và cầu, tác động và bị tác động bởi các sự kiện toàn cầu
Ví dụ, thay đổi chính trị ở châu Á có thể dẫn đến sự gia tăng chi phí nhân công, do
đó làm tăng chi phí sản xuất cho một công ty giày của Mỹ có trụ sở tại Malaysia, dẫn đến tăng giá một đôi giày tennis tại trung tâm mua sắm nơi bạn ở Trái lại, việc giảm chi phí lao động sẽ khiến giá đôi giày của bạn rẻ hơn
1.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế trong tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thương mại quốc tế góp phần cho tăng trưởng kinh tế thể hiện ở việc mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, khă năng tiêu dùng vượt quá khả năng sản xuất trong nước
Thương mại quốc tế tạo ra khả năng tiếp cận các nguồn lực khan hiếm bằng việc trao đổi thương mại qua đó cho phép nhận khẩu nhiều hơn những nguồn lực phục vụ cho sản xuất trong nước, phát triển các ngành nghề hiện đại hơn
Thương mại quốc tế thúc đẩy sự phân chia thu nhập công bằng hơn từ việc sở hữu các yếu tố sản xuất và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực đó
Thương mại thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khuyến khích các khu vực kinh tế phát huy lợi thế so sánh của mình, cải thiện tình trạng kém phát triển cho các nước nghèo
Trang 21.2 Hiệp định thương mại tự do
Hiệp định thương mại tự do là mộtHiệp ướcthương mạigiữa hai hoặc nhiều quốc gia Theo đó, các nước sẽ tiến hành theo lộ trình việc cắt giảm và xóa bỏ hàng ràothuế quancũng nhưphi thuế quannhằm tiến tới việc thành lập mộtkhu vực mậu dịch tự do
Theo thống kê củaTổ chức thương mại thế giớicó hơn 200 Hiệp định thương mại
tự do có hiệu lực.Các Hiệp định thương mại tự do có thể được thực hiện giữa hai nước riêng lẻ hoặc có thể đạt được giữa mộtkhối thương mạivà một quốc gia nhưHiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu-Chi Lê, hoặcHiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc
Chương 2: Nội dung hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những khác biệt của TPP với các Hiệp định thương mại tự do khác
2.1 Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
2.1.1 Các thành viên tham gia TPP
TPP, viết tắt của từ Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương), là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 12 thành viên của TPP bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản, Hàn Quốc, Colombia, Costa Rica, Indonesia, Đài Loan, Thái Lan, và nhiều nước khác đang có ý định tham gia vào TPP
TPP bắt đầu từ một thỏa thuận giữa Singapore, Chile, New Zealand và Brunei vào năm 2009, trước khi Hoa Kỳ quyết định tham gia và dẫn đầu.Từ năm 2010, có thêm 5 nước tham gia đàm phán gồm: Hoa Kỳ, Australia, Peru, Việt Nam và gần đây là
Malaysia Người ta đánh giá TPP là một hiệp định của thế kỷ 21, không chỉ vì nó là Hiệp định lớn mà còn ở tầm vóc và ảnh hưởng của nó Về phạm vi, so với các hiệp định BTA, AFTA, và trong WTO, TPP mở rộng hơn, cả về thương mại hàng hóa, thương mại dịch
vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Ngoài ra còn là các vấn đề phi thương mại như mua sắm chính phủ, môi trường, lao động, công đoàn, hỗ trợ cho các DN vừa và nhỏ
2.1.2 Mục tiêu của TPP
Mục tiêu chính của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên.Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động… TPP sẽ đặt ra được các luật lệ quốc tế mà vượt qua phạm vi WTO như: chính sách đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát các công ty nhà nước, chất lượng sản phẩm và lao động… Hầu hết các thỏa thuận quốc tế là về xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch
Trang 3vụ, ví dụ như: Ta có thể nhập khẩu số lượng X hàng hóa với giá Y khi các mặt hàng này
đã đủ tiêu chuẩn về chất lượng hoặc lao động TPP khác vậy Chính bản thân TPP sẽ tạo
ra các điều luật quốc tế có khả năng điểu chỉnh chính sách và hướng đi của luật pháp trong từng quốc gia thành viên Nói một cách khác, các điều luật của các quốc gia thành viên sẽ phải tuân theo định hướng của TPP Nhiều điều luật trong TPP còn có ảnh hưởng thay đổi chế độ pháp lý của các quốc gia Ví dụ như điều luật khuyến khích các thành viên của TPP mở một cơ quan chính phủ, có cơ chế và cách thức hoạt động giống tại Mỹ, thực hiện phân tích ưu-nhược điểm trước khi ban hành các điều luật mới trong nước
Với hiệp định TPP, các công ty, tập đoàn nước ngoài và quốc tế sẽ có khả năng mang chính phủ của các quốc gia thành viên ra tòa án đặc biệt của TPP khi các quốc gia này đặt ra các luật lệ, chính sách đi ngược lại với chỉ tiêu của TPP Tòa án đặc biệt này có toàn quyền bắt chính phủ đền bù không những cho các thiệt hại đã xảy ra, mà còn những mất mát về cơ hội trong tương lai của các tập đoàn, công ty quốc tế
2.1.3 Nội dung chính của hiệp định TPP
Hiệp định TPP gồm có 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan tới thương mại
- Thương mại hàng hóa: Các Bên đồng ý xoá bỏ và cắt giảm thuế quan và các rào
cản phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp, xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các chính sách hạn chế khác về hàng hoá nông nghiệp
- Dệt may: Các Bên đồng ý xoá bỏ thuế quan đối với hàng dệt và may mặc, các
ngành công nghiệp có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế tại thị trường của một
số Bên
- Quy tắc xuất xứ: 12 Bên đã nhất trí về một bộ quy tắc xuất xứ để xác định liệu
một hàng hóa cụ thể có xuất xứ từ TPP và do đó đủ điều kiện để nhận được ưu đãi thuế quan TPP
- Hải quan và thuận lợi hóa thương mại: các bên đã nhất trí về quy định tăng
cường thuận lợi hóa thương mại, nâng cao tính minh bạch trong thủ tục hải quan, và đảm bảo sự chính trực của cơ quan hải quan
- Biện pháp vệ sinh dịch tễ (VSDT): Rào cản kỹ thuật đối với thương mại: Khi
xây dựng các quy định về VSDT, các Bên đã nêu mối quan tâm chung trong việc bảo đảm
sự minh bạch, quy tắc không phân biệt đối xử dựa trên khoa học, và tái khẳng định quyền của các nước đối với việc bảo vệ con người và động thực vật ở nước mình
- Đối với hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các thành viên TPP đã nhất trí về các nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử khi xây dựng các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp
- Chương phòng vệ thương mại trong hiệp định TPP cho phép một thành viên thực hiện một biện pháp tự vệ tạm thời trong một khoảng thời gian cụ thể nếu việc nhập khẩu
Trang 4tăng đột biến do kết quả của việc cắt giảm thuế được thực hiện theo hiệp định TPP đủ để gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước
- Đối với đầu tư, các thành viên chấp nhận các nghĩa vụ dựa trên cơ sở “một danh mục chọn bỏ”, nghĩa là thị trường các nước là mở hoàn tòan đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trừ khi các thành viên đưa ra một ngoại lệ
- Trong chương thương mại điện tử, nghiêm cấm việc áp dụng thuế quan đối với các sản phẩm kỹ thuật số và ngăn chặn các thành viên TPP tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp dịch vụ trong nước đối với các sản phẩm kỹ thuật số này thông qua các biện pháp như thuế phân biệt đối xử hoặc sự ngăn cấm một cách rõ ràng
- Đối với mua sắm chính phủ, các thành viên sẽ chỉ duyệt hợp đồng dựa trên những tiêu chí đánh giá đã mô tả trong các thông báo và hồ sơ dự thầu, sẽ xây dựng các quy trình hợp lý để chất vấn hoặc xem xét các khiếu nại đối với một phê duyệt nào đó Mỗi thành viên sẽ đưa ra một danh sách chọn cho các đơn vị mà thành viên đó sẽ xây dựng, được liệt
kê tại phụ lục gắn liền với Hiệp định TPP
- Trong chương doanh nghiệp nhà nước (SOEs) tất cả các thành viên TPP đều có doanh nghiệp nhà nước nên nhất trí bảo đảm rằng các SOEs của mình sẽ tiến hành các hoạt động thương mại trên cơ sở tính toán thương mại, trừ trường hợp không phù hợp với nhiệm vụ mà các SOEs đó đang phải thực hiện để cung cấp các dịch vụ công
- Hiệp định TPP quy định việc thành lập Ủy ban Doanh nghiệp vừa và nhỏđược tiến hành họp định kỳ để rà soát mức độ hỗ trợ của hiệp định TPP cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, cân nhắc các cách thức để nâng cao hơn nữa những lợi ích của hiệp định và giám sát các hoạt động hợp tác hoặc nâng cao năng lực để hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua tư vấn xuất khẩu, hỗ trợ, đào tạo cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; chia sẻ thông tin; cấp vốn thương mại và các hoạt động khác
2.2 Những khác biệt của TPP với các hiệp định thương mại tự do khác
- So với các Hiệp định thương mại tự do khác (gọi chung là FTA), TPP có tham vọng, toàn diện và sâu rộng hơn hẳn Điều này có thể nhìn thấy qua cách Mỹ đàm phán,
"ông lớn" này không cho phép các mức cam kết của hiệp định thấp hơn các tiêu chuẩn, mức cam kết trong các FTA trước đây mà nước này đã ký
- Đàm phán TPP được thỏa thuận là đàm phán mật Do đó ngoài các đoàn đàm phán
và các cơ quan có thẩm quyền trong nội bộ từng nước, không có chủ thể nào khác được thông tin chính thức và chính xác về các nội dung đàm phán cụ thể Tuy nhiên, báo cáo của Trung tâm WTO thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy TPP không chỉ bàn về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư mà còn “lấn” sang cả lĩnh vực phi thương mại khác
- Trước kia khi đàm phán WTO, Việt Nam chỉ phải đàm phán 2 lĩnh vực là mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, cùng với đàm phán đa phương, thì nay sang TPP, Việt Nam phải đàm phán tới 30 chương, trong đó có những lĩnh vực lần đầu tiên như công đoàn, lao động, doanh nghiệp Nhà nước
Trang 5- Trong thương mại, hiệp định yêu cầu phải mở cửa hoàn toàn thị trường trong lộ trình rất ngắn, tức là mức thuế gần như về 0%, chỉ trừ một số rất ít mặt hàng cực kì nhạy cảm sẽ qua cơ chế song phương Đây được đánh giá là một phạm vi toàn diện hơn bất kỳ FTA nào, ví dụ với Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ ký năm 2000, Việt Nam phải cắt giảm thuế quan cho khoảng 250 sản phẩm, đưa thuế suất về trung bình về 15-20% với lộ trình thực hiện trong 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực Hay với Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), lộ trình giảm thuế của Việt Nam kéo dài suốt từ năm 1999 đến 2018, trong đó vẫn còn giữ lại một số mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm như gia cầm sống, trứng gà, xăng dầu
- Ở lĩnh vực tài chính, sau WTO, gần như Việt Nam chưa đàm phán một hiệp định nào yêu cầu mở cửa tự do quy mô lớn ở lĩnh vực này Song so với Hiệp định thương mại dịch vụ (GATS) của WTO, đàm phán dịch vụ tài chính trong TPP đã có nhiều khác biệt lớn
- Đàm phán TPP được thực hiện theo phương thức tiếp cận "chọn - bỏ", khác với phương thức "chọn - cho" của WTO Điều này có nghĩa TPP chỉ cho phép các nước bảo lưu một số lượng hạn chế các ngành, phân ngành và phải giải trình với lý do hợp lý để được bảo lưu Nếu không giải trình được lý do nhạy cảm đó, thì phải tuân thủ đúng những nguyên tắc TPP, tức là phải mở cửa Còn với khi đàm phán WTO, Việt Nam được chọn
mở ngành nào sẽ mở ngành đó
- Chương lao động cũng hoàn toàn mới không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều đối tác trong đàm phán TPP, hầu như chưa từng xuất hiện trong các đàm phán thương mại trước đây (bao gồm cả WTO và các FTA thế hệ trước)
- Doanh nghiệp Nhà nước là một chương quan trọng trong đàm phán TPP, với mục tiêu đưa ra những quy định ràng buộc hoạt động của khu vực này ở các nước TPP, trong
đó có Việt Nam Đây là chế định thương mại mới, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi các vòng đàm phán có quan điểm rất khác nhau về vấn đề này
Chương 3: Chiến lược phát triển của Việt Nam khi tham gia hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Việc Việt Nam tham gia đàm phán gia nhập Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã và đang đem đến những tác động nhiều chiều, đòi hỏi Việt Nam phải có những chiến lược đúng đắn , trên con đường hội nhập quốc tế hiện nay Chiến lược đó bao gồm:
Trang 63.1 Ổn định tình hình kinh tế vĩ mô
Nền kinh tế Việt Nam hiện đang gặp nhiều sóng gió như lạm phát cao, nhập siêu lớn, thâm hụt ngân sách, bong bóng bất động sản… Ổn định kinh tế vĩ mô là hướng giải quyết căn bản cho khó khăn hiện nay
- Chính sách tiền tệ và ngân sách phải được phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ với nhau Chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ không phát huy tác dụng nếu ngân sách tiếp tục được nới rộng Bên cạnh việc giảm đầu tư công, Chính phủ vẫn phải ưu tiên các dự án có mức sinh lời cao và việc cắt giảm đầu tư công cũng sẽ không giúp giảm lạm phát nếu như dòng vốn không được "thu hồi" một cách hiệu quả
- Tăng cường năng lực và tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ cần có
kế hoạch tổ chức lại Ngân hàng Nhà nước theo hướng tăng cường tính độc lập (đặc biệt là độc lập về mục tiêu và công cụ) và khả năng sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong một nền kinh tế thị trường hiện đại
- Kiểm soát đầu tư công:đầu tư công kém hiệu quả là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát Chính phủ cần phân tích thật cẩn thận những chương trình đầu tư công hiện tại, bao gồm cả những dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước để từ đó xây dựng danh mục các dự án ưu tiên đầu tư căn cứ theo tiêu thức hiệu quả kinh tế
- Giảm bong bóng bất động sản: Chính phủ cũng cần "xì hơi" bong bóng bất động sản từ từ để tránh sự đổ vỡ đột ngột của thị trường, điều mà nếu xảy ra sẽ gây náo loạn khu vực tài chính với nguy cơ tác động lan tỏa tới nền kinh tế thực.
3.2 Thúc đẩy nền kinh tế phát triển
3.2.1 Thúc đẩy xuất khẩu:
Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, Việt Nam luôn theo đuổi chiến lược lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng của nền kinh tế Mục tiêu lớn nhất khi tham gia TPP của Việt Nam là tăng cường lợi thế xuất khẩu sang các nước thành viên TPP thông qua việc các nước này miễn hoặc giảm thuế cho hàng hóa Việt Nam
Vì TPP đặt ra yêu cầu rất cao là xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu ngay khi hiệp định
có hiệu lực, trừ nhóm các mặt hàng có lộ trình 3-5 năm hoặc 10 năm Trong khi đó, Châu
Á - Thái Bình Dương hiện là khu vực chiếm đến 70% tổng kim ngạch xuất khẩu và 80% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Nhiều thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam đã là thành viên của TPP như Mỹ hoặc sắp tới là Nhật Bản
Dựa trên giả định hàng xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng đầy đủ các điều kiện về xuất xứ trong TPP để được hưởng ưu đãi thuế quan 0% trong TPP, xuất khẩu của Việt Nam nếu không có TPP vào năm 2025 là 239 tỉ đô la, sẽ tăng thêm 67,9 tỉ đô la (tăng 28,4%) lên 307 tỉ đô la nếu có tham gia TPP (12 thành viên kể cả Nhật Bản) Tăng nhiều nhất là các mặt hàng dệt may, da giày, tăng thêm đến 45,9% (từ 113 tỉ đô la lên 165 tỉ đô la) (tính toán của Giáo sư Petri)
TPP được kỳ vọng sẽ là con đường không thể tốt hơn cho hàng hóa xuất khẩu của
Trang 7Việt Nam tăng sức cạnh tranh về giá khi tiếp cận thị trường các nước đối tác TPP sẽ mang lại ưu đãi về thuế suất cho các nhóm hàng chủ lực xuất khẩu của Việt Nam như dệt may, giày dép đặc biệt là đối với thị trường Hoa Kỳ Hiện nay, Trung Quốc chiếm 50-60% thị trường may mặc và giầy da của Mỹ, VN khoảng 10% Xuất khẩu của Trung Quốc sẽ chững lại vì lương công nhân tăng và nước này định hướng lại chính sách xuất khẩu
3.2.2 Thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài,
Nhật Bản, Singapore, Malaisia, Hoa Kỳ là các quốc gia tham gia đàm phán TPP – đều là các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam và rất có thể giới doanh nghiệp thuộc các quốc gia này sẽ tiếp tục dốc vốn vào Việt Nam để tận dụng lợi thế nhân công rẻ, thị trường xuất khẩu rộng mở Tất nhiên, sẽ không chỉ là các quốc gia thành viên TPP, các nhà đầu tư khác cũng sẽ quan tâm nhiều hơn đến Việt Nam vì những lợi thế mà TPP mang lại, trong đó có Hàn Quốc, Trung Quốc
Việc Việt Nam hoàn tất thành công quá trình đàm phán Hiệp định TPP là rất quan trọng đối với cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tại Việt Nam và sẽ giúp thúc đẩy niềm tin của các nhà đầu tư, tăng cường cơ hội cho tất cả mọi người” Mặt khác: “Tăng trưởng thương mại sẽ kéo theo FDI và từ đó tạo thêm việc làm và thu nhập, nguồn thu thuế, xuất khẩu, ngoại hối và chuyển giao công nghệ cho Việt Nam Nếu Việt Nam có thể tận dụng được tất cả các lợi thế thì TPP sẽ có thể tạo điều kiện giúp cho khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận các thị trường trọng yếu dễ dàng hơn, thúc đẩy cạnh tranh”…
Để trở nên hấp dẫn đối với những khoản đầu tư FDI cần:
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến đầu tư, kinh doanh Sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các công trình phúc lợi Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu; dự án tác động xấu đến môi trường
- Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; lựa chọn các dự án tiềm năng hấp dẫn, có tính khả thi cao theo các lĩnh vực ưu tiên để đưa vào danh mục dự
án đối tác công - tư (PPP), bố trí nguồn vốn ngân sách để đầu tư đối ứng cho các dự án PPP kêu gọi NĐT nước ngoài
- Tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung vào một số ngành,
sản phẩm trọng điểm
- Cần tăng cường hỗ trợ, ưu đãi tài chính cho các NĐT đang hoạt động có hiệu quả
Trang 8tại Việt Nam
3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay: Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 02/2014, Việt Nam có gần 90 triệu người Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề Trong đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 63 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; nguồn
nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt
nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu người Nguồn nhân lực khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức; chưa được quy hoạch, khai thác; chưa được nâng cấp; chưa được đào tạo đến nơi đến chốn.Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất.Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Trình
độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia
Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu phát triển doanh nghiệp theo hướng trang bị những tri thức, kỹ năng mới về chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, năng lực xử lý và tác nghiệp các tình huống kinh doanh phù hợp với các chuẩn mực giáo dục, đào tạo của khu vực và quốc tế
- Thiết lập khung trình độ quốc gia phù hợp với khu vực và thế giới Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục và đào tạo theo định hướng phù hợp chuẩn quốc tế và đặc thù Việt Nam; tăng cường quan hệ liên thông chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo của Việt Nam và quốc tế; thực hiên công nhận lẫn nhau chương trình đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam và của thế giới; thỏa thuận về việc công nhận văn bằng, chứng chỉ đào tạo giữa Việt Nam với các nước
- Tăng cường dạy và bồi dưỡng ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh), văn hoá thế giới,
kỹ năng thích ứng trong môi trường cạnh tranh quốc tế cho người Việt Nam
3.2.4 Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam:
Năm 2007, nước ta trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế
giới WTO, Việt Nam đã dần dần, vươn mình ra thế giới.Một thành tựu quan trọng do hội
nhập kinh tế quốc tế đem lại đó là do việc mở cửa thị trường buộc các doanh nghiệp Việt Nam phảI chuyển sang cách làm ăn mới Sự hôị nhập kinh tế đã thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, tạo khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn đứng ở những vị trí không mấy sáng sủa Hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam là
Trang 9doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì vậy còn rất nhiều những vấn đề các doanh nghiệp gặp phải nhằm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước đối với các doanh nghiệp nước ngoài, như vốn, chất lượng nguồn nhân lực, chiến lược kinh doanh,… Vì vậy, cần:
- Trước hết, hỗ trợ về vốn và tiếp cận tín dụng cho DNNVV.Để các DNNVV dễ dàng hơn trong tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, cần có sự hài hòa lợi ích của 3 nhân tố là
tổ chức tín dụng, doanh nghiệp
- Tăng cường sự hỗ trợ của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, xúc tiến thương mại, giáo dục - đào tạo, tư vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại cho các doanh nghiệp
- Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi tối đa cho các DNNVV tham gia sản xuất, kinh doanh
- Hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV Thực hiện cải cách sâu rộng hệ thống giáo dục - đào tạo quốc gia, hỗ trợ đào tạo, trang bị học vấn ở trình độ cử nhân và những tri thức cơ bản về kinh tế - xã hội, văn hóa, pháp luật cho các chủ doanh nghiệp, giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và người lao động
- Về cơ chế, chính sách của Nhà nước, các ngân hàng cần đổi mới cơ chế, chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường; cải tiến thủ tục cho vay đối với DNNVV theo hướng đơn giản, rõ ràng hơn nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay Bên cạnh đó, DNNVV cần thực hiện minh bạch hóa, bài bản hóa hệ thống sổ sách kế toán tạo thuận tiện cho ngân hàng trong việc theo dõi hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó nhanh chóng đưa ra quyết định cho vay vốn
Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình “Kinh tế phát triển”- Học viện Ngân hàng
- Wikipedia
- Báo điện tử cafef
- Báo điện tử Vneconomy
Trang 10Phần kết luận
Mục tiêu của Việt Nam khi tham gia vào TPP nhằm mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng hóa xuất khẩu; thúc đẩy thu hút đầu tư của các nước vào Việt Nam để tận dụng các cơ hội mà khu vực thương mại tự do TPP có thể đem lại; hỗ trợ cho tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà Việt Nam đang tiến hành, hướng đến một mô hình tăng trưởng mới bền vững, năng động và hiệu quả hơn Tuy nhiên, khi tham gia TPP Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói riêng cũng phải đối mặt với các thách thức lớn, trong đó
có những thách thức như thay đổi chính sách để đáp ứng các quy tắc tham vọng của Hiệp định TPP; làm thế nào để đáp ứng hội nhập nhưng vẫn bảo đảm phù hợp với hệ thống chính trị Tham gia TPP là tiếp cận sâu, rộng và toàn diện hơn với thị trường quốc tế sẽ gây sức ép lớn đối với nền kinh tế Bởi vậy, bài tiểu luận của nhóm đã tìm hiểu nội dung
cơ bản của hiệp định cũng như những khác biệt của TPP với các hiệp định thương mại tự
do khác, để qua đó, đưa ra những giải pháp, chiến lược phát triển phù hợp cho Việt Nam sau khi tham gia hiệp định giúp các doanh nghiệp Việt tận dụng, nắm bắt tốt các cơ hội cũng như hạn chế những khó khăn, giải quyết các thách thức TPP đặt ra