1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b learning vào dạy chương các định luật bảo toàn vật lí 10 THPT

148 728 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặng Vũ Hoạt đã đưa ra ba loại hình thức tổ chức dạy học được áp dụng trong hệ thống các trường đại học, đó là [4]: Loại 1: Hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp sinh viên tìm tòi tri thức

Trang 1

Trần Thị Hương

VẬN DỤNG MÔ HÌNH B – LEARNING VÀO DẠY CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO

TOÀN” VẬT LÍ 10 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN GIA ANH VŨ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép

từ bất kỳ luận văn nào Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, bài giảng, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tp Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy TS Phan Gia Anh Vũ đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Quí thầy cô Khoa Vật lí, Trường Đại học Sư phạm

Tp Hồ Chí Minh đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báo cho tôi trong suốt khóa học

Xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học

Tp Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Hương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình – Đồ thị

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Giả thuyết khoa học 3

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

9 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING VÀO DẠY HỌC 5

1.1 Hình thức tổ chức dạy học 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Các hình thức tổ chức dạy học 6

1.2 Hình thức dạy học trực tuyến (E–learning) 8

1.2.1 Định nghĩa E – learning 8

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của E-leaning so với các hình thức tổ chức dạy học khác 9

1.2.3 Một số ưu và khuyết điểm của E-learning 9

1.2.4 Kết hợp E - learning và lớp học truyền thống 13

1.2.5 Các mức độ ứng dụng E - learning trong trường học 15

1.2.6 Kỹ năng của người dạy khi thực hiện phương pháp E-learning 16

1.3 Học kết hợp (Blended Learning – BL) 17

1.3.1 Khái niệm học kết hợp 17

1.3.2 Các phương án dạy học kết hợp 19

1.3.3 Đặc điểm của dạy học kết hợp – BL 20

1.3.4 Thực trạng khai thác và sử dụng Internet trong dạy học ở một số trường THPT 21

1.4 Ứng dụng lớp học trực tuyến vào ôn tập củng cố kiến thức 23

1.4.1 Cơ sở lí luận của hoạt động ôn tập củng cố 23

1.4.2 Website hỗ trợ học sinh ôn tập củng cố 33

Chương 2 THIẾT KẾ CÁC TIẾN TRÌNH DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ 10 THPT THEO MÔ HÌNH B - LEARNING 40

2.1 Mục tiêu dạy học của chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 40

Trang 6

2.1.1 Mục tiêu về kiến thức 40

2.1.2 Mục tiêu về kĩ năng 40

2.1.3 Mục tiêu về thái độ 41

2.2 Cấu trúc nội dung của chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 41

2.3 Tìm hiểu thực trạng dạy học chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 ở một số trường THPT 43

2.3.1 Thực trạng dạy của giáo viên 43

2.3.2 Thực trạng học tập của học sinh 43

2.3.3 Nguyên nhân và hướng khắc phục thực trạng trên 44

2.4 Đề xuất phương pháp tự lực ôn tập và phương pháp ôn tập 45

2.4.1 Ôn tập thông qua việc xây dựng dàn ý tóm tắt bài học 45

2.4.2 Ôn tập thông qua việc trả lời các câu hỏi ôn tập dạng tự luận 46

2.4.3 Ôn tập thông qua việc xây dựng sơ đồ 46

2.4.4 Ôn tập thông qua việc làm bài tập luyện tập 48

2.4.5 Ôn tập thông qua diễn đàn thảo luận 49

2.5 Thiết kế mô hình dạy học Blended Learning vào chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle 49

2.5.1 Giới thiệu về phần mềm mã nguồn mở Moodle 49

2.5.2 Các chức năng nổi bật của Moodle 51

2.5.3 Nguyên tắc và tiêu chí xây dựng mô hình học kết hợp 54

2.5.4 Thiết kế mô hình dạy học Blended Learning vào chương “Các định luật bảo toàn” - Vật lí 10 57

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 93

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 93

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 93

3.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm sư phạm 94

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 94

3.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 95

3.6 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 96

3.7 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 98

3.8 Đánh giá kết quả thực nghiệm 98

3.8.1 Đánh giá tính khả thi và tính thiết thực của đề tài 98

3.8.2 Đánh giá thái độ tích cực của học sinh với đề tài 98

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 108

Phụ lục 1 Đề kiểm tra 1 tiết 108

Phụ lục 2 Phiếu thăm dò thực trạng sử dụng Internet trong dạy và học tại một số trường THPT 113

Phụ lục 3 Phiếu thăm dò thực trạng dạy của giáo viên và thực trạng học tập của học sinh 117

Phụ lục 4 Giáo án giảng dạy trên lớp 121

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT & TT: Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ sử dụng mạng Internet của giáo viên THPT 21

Bảng 1.2 Những khó khăn gặp phải khhi sử dụng Internet của giáo viên 22

Bảng 1.3 Mức độ sử dụng Internet của học sinh THPT 22

Bảng 1.4 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của học sinh 23

Bảng 1.5 Phân loại Website trong giáo dục và đào tạo 33

Bảng 2.1 Bảng đối chiếu một số tính năng của hệ thống Moodle với hệ thống Blackboard và Web CT 50

Bảng 2.2 Thống kê số sử dụng hệ thống Moodle trên thế giới tính đến tháng 02 năm 2010 51

Bảng 2.3 Cấu trúc nội dung bài 23: “Động lượng Định luật bảo toàn động lượng” 74

Bảng 2.4 Các phương án tổ chức dạy học kết hợp bài 23: “ Động lượng Định luật bảo toàn động lượng” 77

Bảng 2.5 Cấu trúc nội dung bài 25: “ Động năng” 78

Bảng 2.6 Các phương án tổ chức dạy học kết hợp bài 25:“Động năng” 80

Bảng 3.1 Thống kê kết quả bài kiểm tra của học sinh lớp TN và lớp ĐC 100

Bảng 3.2 Bảng phân bố tần suất kết quả điểm kiểm tra 1 tiết của lớp TN và ĐC 100

Bảng 3.3 Bảng phân bố tần suất tích luỹ kết quả điểm kiểm tra của lớp TN và ĐC 100

Bảng 3.4 Bảng số liệu điểm trung bình và độ lệch chuẩn của lớp TN và ĐC 102

Bảng 3.5 Phép kiểm định Mann- Whitney cho hai lớp TN và ĐC 102

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Mô hình về giải pháp kết hợp giữa E learning và lớp học truyền thống

-Blended Solution 14

Hình 1.2 Sơ đồ cho thấy các mức độ ứng dụng E - learning vào lớp học truyền thống 15

Hình 1.3 Những hình thức kết hợp 19

Hình 2.1 Cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn” 41

Hình 2.2 Hệ thống các nguyên tắc dạy học 55

Hình 2.3 Hệ thống nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử 56

Hình 2.4 Giao diện và tổ chức thông tin trang chủ 81

Hình 2.5 Giao diện và tổ chức thông tin trang liên kết 82

Hình 2.6 Tóm tắt lý thuyết bài “Công và công suất” 83

Hình 2.7 Ôn tập thông qua sơ đồ tóm tắt bài học 83

Hình 2.8 Hướng dẫn trả lời câu hỏi và khung soạn thảo câu trả lời 84

Hình 2.9 Dạng câu hỏi chọn từ điền vào chỗ trống 85

Hình 2.10 Phương pháp giải và một số ví dụ mẫu 85

Hình 2.11.Bài tập và khung trả lời đối với dạng bài tập tự luận 86

Hình 2.12 Các câu hỏi trắc nghiệm trong phần ôn tập thông qua bài tập trắc nghiệm 87

Hình 2.13 Kết quả làm bài tập trắc nghiệm của học sinh 87

Hình 2.14 Đề kiểm tra trắc nghiệm 88

Hình 2.15 Nộp bài và kết thúc bài kiểm tra 89

Hình 2.16 Đáp án của các câu hỏi trong đề kiểm tra sau khi học sinh hoàn thành bài kiểm tra 89

Hình 2.17 Học sinh chăm chú trong giờ ôn tập 90

Đồ thị 3.1 Đồ thị biểu diễn tần suất kết quả học tập của học sinh lớp TN và lớp ĐC 101

Đồ thị 3.2 Đồ thị biểu diễn tần suất tích luỹ kết quả học tập của lớp TN và lớp ĐC 101

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Phương pháp dạy học truyền thống từ xưa đến nay đã trở thành phương pháp dạy học chính yếu, vẫn luôn là sự lựa chọn tối ưu nhất trong nhà trường ở nước ta Theo phương pháp này, toàn bộ quá trình học tập có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giáo viên (GV) và học sinh (HS) Người GV đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học:

“Thầy giảng – trò nghe” cũng là nguyên nhân làm cho học sinh trở nên thụ động, kém tích cực trong việc lĩnh hội kiến thức Bên cạnh đó, phương pháp này còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế: Thời lượng mỗi tiết học có hạn, mất nhiều thời gian chấm bài,…Đặc biệt,

nó không thể hiện được tính kinh tế khi việc tổ chức học tập tốn nhiều sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và đồ dùng dạy học

Có thể nói đây là phương pháp dạy học “thủ công” làm cho quá trình dạy học kém hiệu quả, không phù hợp với xu thế phát triển của khoa học và công nghệ [1]

Sự phát triển nhanh chóng của Internet đã làm phát sinh hình thức tổ chức dạy học (HTTHDH) mới là dạy học trực tuyến Đây là HTTCDH ứng dụng các công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) thường được biết đến với tên gọi là E - learning Với nhiều ưu điểm nổi bật, E - learning được xem là phương pháp hữu hiệu

cho nhu cầu “học mọi nơi, học mọi lúc, học linh hoạt, học một cách mở và học suốt đời” của mọi người và trở thành xu hướng tất yếu trong giáo dục và đào tạo hiện nay,

tạo ra những thay đổi lớn trong hoạt động dạy và học Tuy nhiên, có thể nói rằng E- learning không thể thay thế vai trò chủ đạo của hình thức dạy học trên lớp, máy tính không thể thay thế hoàn toàn phấn trắng, bảng đen Vì vậy việc tìm ra giải pháp kết hợp giữa dạy trên lớp với giải pháp E- learning là điều hết sức cần thiết cho giáo dục hiện nay Kiến thức Vật lí ngày càng có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực của đời sống, sản xuất,… Vì vậy yêu cầu của việc dạy học Vật lí là phải gắn liền với thực tiễn, khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh tự lĩnh hội kiến thức cho mình

Để làm được điều đó, ngoài việc cải tiến nội dung chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học còn phải đa dạng hóa các hình thức dạy học để làm sao dạy

Trang 11

học trên lớp gắn với thực tế nhiều hơn Chúng tôi thấy rằng, dạy học qua mạng là một hướng giải quyết cho vấn đề này Hiện nay, những giải pháp học trên mạng Internet dưới các hình thức như Website, blog,…đang dần hình thành và phát triển, có thể thấy được những kết quả hết sức khả quan Tuy nhiên, tất cả chỉ mới dừng lại ở mức hỗ trợ chứ chưa có một mô hình mang tính dạy học thực sự áp dụng trong nhà trường phổ thông

Vì những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:Vận dụng mô hình B -

learning vào dạy chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng mô hình B-learning với sự hỗ trợ phần mềm Moodle để giúp học sinh

kỹ năng tự học và nâng cao chất lượng ôn tập củng cố kiến thức cho học sinh chương

“Các định luật bảo toàn” –Vật lí 10 THPT

3 Đối tƣợng nghiên cứu

- Quá trình dạy học Vật lí ở trường THPT

- Quá trình dạy học Blended learning cho chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lí

10 với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle

4 Phạm vi nghiên cứu

Chương “Các định luật bảo toàn”–Vật lí 10 cơ bản THPT cho đối tượng học sinh đang học chương trình Vật lí 10 tại trường THPT Thành Nhân, Quận Tân Phú, Thành Phố Hố Chí Minh

Do thời gian có hạn nên tôi thiết kế trang Web chủ yếu dùng để ôn tập, củng cố

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học theo Blended learning

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về thiết kế lớp học trực tuyến với phần mềm Moodle

- Phân tích nội dung kiến thức trong chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lí 10

và bổ sung những kiến thức cần thiết khác

Trang 12

- Lựa chọn nội dung và thiết kế bài học theo hình thức Blended – learning nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học thông qua ôn tập củng cố cho học sinh

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính khả thi và hiệu quả đề tài mang lại

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các tài liệu về lí luận và phương pháp dạy học ở trường THPT

- Đọc và nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên Vật lí 10

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học theo Blended learning

- Nghiên cứu tài liệu về Moodle để xây dựng trang Web

6.2 Phương pháp điều tra

Lấy ý kiến đánh giá của giáo viên, ý kiến phản hồi của học sinh qua quá trình ôn tập củng cố bằng lớp học trực tuyến

6.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng hình thức tổ chức dạy học theo mô hình B-learning để dạy chương

“Các định luật bảo toàn” –Vật lí 10 phù hợp với điều kiện dạy và học hiện nay sẽ giúp học sinh rèn kỹ năng tự học và nâng cao hiệu quả tự ôn tập củng cố kiến thức cho học sinh

Trang 13

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang Web xây dựng được là tài liệu tham khảo tốt cho học sinh tự ôn tập củng

cố chương “Các định luật bảo toàn” –Vật lí 10 THPT nhằm rèn luyện kỹ năng tự ôn tập củng cố, nâng cao hiệu quả chất lượng dạy và học

Trang Web này là một phương tiện giúp giáo viên có thể kiểm tra đánh giá kiến thức đạt được của học sinh trong chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lí 10 THPT Các bài học tôi tiến hành thiết kế trên trang Web gồm: Động lượng Định luật bảo toàn động lượng; Công và Công suất; Động năng; Thế năng; Cơ năng

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của việc vận dụng mô hình dạy học Blended- learning vào

dạy học

Chương 2: Thiết kế các tiến trình dạy học chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lí 10

theo mô hình Blended- learning

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH

BLENDED LEARNING VÀO DẠY HỌC

1.1 Hình thức tổ chức dạy học

1.1.1 Khái niệm

Hình thức tổ chức dạy học là một khái niệm trong khoa học giáo dục Theo Đặng

Vũ Hoạt (2006) hình thức tổ chức dạy học là “Hình thức hoạt động dạy học được tổ chức theo trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học đã quy định” [4, tr.175], trong đó hình thức tổ chức dạy học là một chỉnh thể thống nhất giữa mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học Theo Thái Duy Tuyên (1998) “Hình thức tổ chức dạy học là hình thái tồn tại của quá trình dạy học” [13, tr.251] Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2005) thì “Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học [8, tr.245]

Như vậy, những cách định nghĩa trên đều thống nhất ở việc xem hình thức tổ chức dạy học là biểu hiện bên ngoài, có mối liên hệ chặt chẽ với các thành tố khác của quá trình dạy học, đặc biệt là nội dung dạy học Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của từng đơn vị nội dung dạy học, phản ánh quy mô, địa điểm và thành phần học sinh tham gia vào đơn vị nội dung dạy học và được đặc trưng bởi năm yếu tố cơ bản: (1) Nội dung dạy học; (2) Đặc điểm thành phần tham gia vào quá trình dạy học; (3) Phương pháp và phương tiện; (4) Hoạt động của GV và HS; (5) Không gian và thời gian diễn ra quá trình dạy học Việc xác định hình thức tổ chức dạy học chính là đi trả lời câu hỏi: Đơn vị nội dung dạy học được thực hiện ở đâu? Quy mô như thế nào? Thành phần tham gia là ai? Theo đó, hình thức tổ chức dạy học được xây dựng phù hợp đặc điểm của đơn vị kiến thức, môn học, cấp học và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi Hình thức tổ chức dạy học có “tính mở”, “tính linh hoạt” và “tính lịch sử”

Trong dạy học, các hình thức tổ chức dạy học có mối liên quan chặt chẽ với nhau

và tạo thành một hệ thống thống nhất các bài học Việc sử dụng những hình thức tổ

Trang 15

chức dạy học khác nhau cho phép đảm bảo được các nguyên tắc dạy học như nguyên tắc trực quan, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn lý thuyết với thực hành, … Theo

đó, việc lựa chọn hình thức tổ chức dạy học phù hợp được quyết định bởi nhiệm vụ dạy học (cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng – kỹ xảo, xác định vật mẫu quan sát, đặt thí nghiệm, rút ra kết luận, …), đối tượng của quá trình dạy học, khả năng tổ chức, môi trường tự nhiên và điều kiện trang thiết bị dạy học

Trong lí luận dạy học, quá trình dạy học được xem xét như là một hệ thống toàn vẹn của những thành tố: (1) Mục đích dạy học, nội dung dạy học, (2) Phương pháp, phương tiện dạy học, (3) Hình thức tổ chức dạy học, (4) Giáo viên và học sinh [8, tr.135] Như vậy, hình thức tổ chức dạy học là một yếu tố cấu thành của quá trình dạy học Nếu mục đích và nội dung dạy học là mặt bên trong, thì hình thức tổ chức chính

là mặt bên ngoài của quá trình dạy học Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học là quan hệ “nội dung” – “hình thức” Trong đó, mục đích dạy học sẽ quy định nội dung dạy học, nội dung sẽ quy định phương pháp và phương tiện, căn cứ vào đó và dựa theo điều kiện thực tế mà đưa ra các hình thức dạy học sao cho phù hợp

Trang 16

Đặng Vũ Hoạt đã đưa ra ba loại hình thức tổ chức dạy học được áp dụng trong hệ thống các trường đại học, đó là [4]:

Loại 1: Hình thức tổ chức dạy học nhằm giúp sinh viên tìm tòi tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, bao gồm: Diễn giảng; Thảo luận, tranh luận; Seminar; Tự học, giúp đỡ riêng; Làm bài tập thí nghiệm; Thực hành học tập, thực hành sản xuất; Bài tập nghiên cứu, khóa luận, luận văn tốt nghiệp; Dạy học chương trình hóa

Loại 2: Là hình thức dạy học nhằm kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên, bao gồm: Kiểm tra; Sát hạch; Thi các thể loại (trắc nghiệm, tự luận, điền khuyết, ghép nối, …); Bảo vệ khóa luận và luận văn tốt nghiệp

Loại 3: Các hình thức có tính chất ngoại khóa, bao gồm: Nhóm ngoại khóa theo môn học; Hình thức câu lạc bộ khoa học; Các hình thức nghiên cứu và phổ biến khoa học; Các hoạt động xã hội; Hội nghị học tập

Tác giả Thái Duy Tuyên cũng đưa ra hệ thống các hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường, gồm có: Hình thức học tập trên lớp; Hình thức học tập ở nhà; Hình thức thảo luận; Hình thức hoạt động ngoại khóa; Hình thức tham quan học tập; Hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi và học sinh có năng khiếu [13, tr.251]

Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh phân chia các hình thức tổ chức dạy học hiện nay dựa trên hai tiêu chí [8]:

(1) Căn cứ vào địa điểm diễn ra quá trình dạy học có hai hình thức là hình thức dạy học trên lớp và hình thức dạy học ngoài lớp

(2) Căn cứ vào sự chỉ đạo của GV đối với toàn lớp hay đối với nhóm HS trong lớp mà có các hình thức: Hình thức dạy học toàn lớp, hình thức dạy học theo nhóm, hình thức tổ chức dạy học theo cá nhân

Như vậy, các cách phân chia các hình thức tổ chức dạy học nói trên đều dựa trên những cơ sở là nội dung kiến thức, các thành phần tham gia, không gian và thời gian diễn ra các hoạt động dạy – học, đây là những thành tố của hình thức tổ chức dạy học

Có thể nhận thấy rằng, giáo dục phát triển thúc đẩy làm đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, hỗ trợ nhiều hơn cho hoạt động của GV và HS, từ đó làm tăng hiệu quả dạy học Căn cứ theo những cách phân chia ở trên và theo khái niệm chúng tôi phân loại các HTTCDH hay hình thức học như sau:

Trang 17

- Căn cứ theo địa điểm tổ chức có: Hình thức học trên lớp; Hình thức học ngoài lớp (khuôn viên trường, phòng thí nghiệm, …)

- Căn cứ theo hình thức giao tiếp giữa GV và HS có: Hình thức học giáp mặt (F2F); Hình thức học không có sự giáp mặt giữa GV và HS hay còn gọi là tự học Trong đó, có hai hình thức tự học là hình thức tự học có hướng dẫn và hình thức

tự học không có hướng dẫn [12]

- Căn cứ theo quy mô lớp học có: Hình thức dạy học toàn lớp; Hình thức dạy học theo nhóm; Hình thức tổ chức dạy học cá nhân

- Căn cứ theo nội dung dạy học có: Hình thức tổ chức dạy học lĩnh hội kiến thức,

kỹ năng mới; Hình thức tổ chức ôn tập củng cố kiến thức; Hình thức tổ chức kiểm tra đánh giá

- Căn cứ theo hoạt động của người dạy và người học mà có các hình thức: Seminar, thảo luận, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm

- Căn cứ theo mức độ ứng dụng của CNTT & TT vào trong dạy học có: HTTCDH không có sự hỗ trợ của CNTT & TT; HTTCDH có sự hỗ trợ của CNTT & TT; HTTCDH bằng phương tiện CNTT & TT Trong giáo dục và đào tạo hiện nay, đang phổ biến HTTCDH có sự hỗ trợ của CNTT & TT Ngoài ra, một HTTCDH mới được chúng tôi nghiên cứu ở đây là hình thức học kết hợp (Blended learning)

1.2 Hình thức dạy học trực tuyến (E – learning)

- E - learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản

lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center)

Trang 18

- Quá trình học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải quá trình dạy học được thực hiện qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet,

TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun Microsystems, Inc)

- Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân (E - learningsite)

- "Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập

và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng

cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới E-learning trong doanh nghiệp)

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của E-leaning so với các hình thức tổ chức dạy học khác

Hình thức học này có những điểm khác biệt so với các hình thức tổ chức dạy học khác

- Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông: Công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa,

kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…

- Hiệu quả của E - learning cao hơn so với cách học truyền thống do E - learning

có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng

và sở thích của từng người

- E - learning đang và đã trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức và đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E - learning ra đời

1.2.3 Một số ƣu và khuyết điểm của E - learning

E - learning có nhiều ưu điểm so với học tập tại các lớp học truyền thống ở nhiều góc độ khác nhau [11], [21]:

Trang 19

- E-learning làm biến đổi cách học cũng như vai trò của người học, người học đóng vai trò trung tâm và chủ động của quá trình đào tạo, có thể học mọi lúc, mọi nơi nhờ có phương tiện trợ giúp việc học

- Người học có thể học theo thời gian biểu cá nhân, với nhịp độ tuỳ theo khả năng

và có thể chọn các nội dung học, do đó nó sẽ mở rộng đối tượng đào tạo rất nhiều Tuy không thể hoàn toàn thay thế được phương thức đào tạo truyền thống, E-learning cho phép giải quyết một vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dục thế giới đó là nhu cầu đào tạo của người lao động và học sinh tăng lên quá tải so với khả năng của các cơ sở đào tạo

- E-learning sẽ có sức lôi cuốn rất nhiều người học kể cả những người trước đây chưa bao giờ bị hấp dẫn bởi lối giáo dục kiểu cũ và rất phù hợp với hoàn cảnh của những người đang đi làm nhưng vẫn muốn nâng cao trình độ

- Các chương trình đào tạo từ xa trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độ phong phú về giao diện, sử dụng rất nhiều hiệu ứng đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động ba chiều, kỹ xảo hoạt hình,… có độ tương tác cao giữa người

sử dụng và chương trình, đàm thoại trực tiếp qua mạng Điều này đem đến cho học viên sự thú vị, say mê trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hiệu quả trong học tập

- E-learning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi với những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao

Trang 20

Kết quả học tập trong E - learning phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, sư phạm, tâm lí học, lí luận dạy học của các tập thể tác giả xây dựng chương trình cũng như phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các thành tựu công nghệ thông tin và chuyên gia lập trình trong việc thực hiện các ý tưởng của các tác giả chương trình

- Quá trình học tập E - learning nói chung là cô lập với xã hội thực

Các cá nhân tiến hành học tập thông qua các phương tiện truyền thông nên những

sự khích lệ ở bên ngoài như áp lực cạnh tranh, năng suất, … hầu như không có

- Phá bỏ sự chú ý cổ điển

Người học thay vì tập trung giải quyết các tài liệu học tập được chuẩn bị một cách hệ thống, E - learning dễ làm người học phân tán do khả năng truy cập không tuyến tính vào các thông tin được trình bày trên mạng một cách đa dạng

và hấp dẫn

- Những câu hỏi tức thời phát sinh trong khi học không được trả lời ngay

Giao tiếp giữa GV và người học không trực tiếp mà phải thông qua mạng Vì vậy, việc trả lời các câu hỏi phát sinh, việc làm mẫu, bắt chước cũng như trao đổi, thảo luận không thể thực hiện một cách dễ dàng như trong lớp học truyền thống Việc giao tiếp này đòi hỏi phải có kế hoạch chặt chẽ về nội dung cũng như thời gian

- Người học phải có kiến thức cơ bản về sử dụng máy vi tính và giao tiếp với mạng Internet

Máy vi tính và mạng Internet đã tạo ra một kỷ nguyên mới giúp đem kiến thức của nhân loại đến cho tất cả mọi người và nó cũng là điều kiện kiên quyết cần có

để tiến hành hình thức học E - learning Có nghĩa khi một người học không biết

về cách sử dụng máy vi tính, cách thức giao tiếp với mạng Internet hoặc người học đang ở nơi chưa có máy vi tính hoặc hệ thống Internet thì cơ hội tiếp xúc với các kiến thức có trong lớp học trực tuyến là bằng không

Chính vì lý do này hình thức học E - learning tuy có khá nhiều ưu điểm nhưng mức độ áp dụng còn khá khiêm tốn, nhất là ở các nước đang phát triển, điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng nhiều nơi vẫn còn khá nghèo nàn, lạc hậu như ở Việt Nam chúng ta [11]

Trang 21

- Để xây dựng một lớp học theo hình thức E - learning cần tốn rất nhiều thời gian

và công sức

Xây dựng lớp học theo hình thức E - learning không chỉ cần có sự hỗ trợ tích cực

từ khoa học công nghệ hiện đại mà còn cần rất nhiều thời gian và công sức của

GV Kiến thức của loài người đang từng ngày thay đổi, để các thông tin trên lớp học phù hợp với sự phát triển của nhân loại thì các nội dung trên lớp học này cũng luôn cần được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện liên tục

Thêm vào đó, do lớp học lúc này lại còn đóng vai trò là công cụ để GV theo dõi, kiểm soát việc học tập của từng học viên nên GV luôn phải cập nhật những thông tin có trên lớp học nhằm có những biện pháp động viên phù hợp cho các đối tượng học viên khác nhau [21]

- Không thể đưa vào các môn học đòi hỏi dạy kĩ năng như hát, múa, nhạc, họa… (dù dùng video cũng có hạn chế)

Dù có được tích hợp nhiều ứng dụng hiện đại đến đâu chăng nữa thì lớp học tổ chức theo hình thức E - learning cũng khó có thể thay thế GV thật Cũng chính vì

lý do này mà không thể dạy các môn học đòi hỏi những kĩ năng, sự sáng tạo, óc thẩm mỹ như hát, múa, nhạc, hoạ, …

- Vấn đề kiểm soát lớp học sẽ đặt nặng trên vai giáo viên

Nếu tổ chức một lớp học hoàn toàn trên mạng Internet thì vấn đề quản lý học viên, việc truy cập, sử dụng các thông tin của các học viên sẽ đặt nặng lên vai

GV

Với lớp học 100% ảo thì GV khó mà có được những thông tin chính xác về học viên của mình, những biện pháp tác động trở lại nhằm thúc đẩy việc học của họ cũng hoàn toàn kém hiệu quả nếu người học không có ý thức học tập tốt Bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều vấn đề xung quanh hình thức học E - learning chưa được nghiên cứu đầy đủ nên việc vận dụng hình thức học này cũng cần có sự lựa chọn, cân nhắc

Trang 22

1.2.4 Kết hợp E - learning và lớp học truyền thống

Lớp học

- Phải có phòng học, không gian và kích thước phòng giới hạn

- Lớp học phải đồng bộ, cách học cũng phải đồng bộ

- Không gian lớp học không giới hạn

- Học ở mọi lúc, mọi nơi

Số lượng

Có giới hạn, phải đến lớp, học

ở một giờ nhất định, trực tiếp lên lớp

Không giới hạn, không phải trực tiếp đến lớp

Tuy vẫn tồn tại các khuyết điểm như bất kỳ hình thức học nào khác, nhưng với những ưu điểm nổi bật khá phù hợp với nhu cầu đào tạo những công dân mới cho một

xã hội hiện đại như hiện nay, liệu E - learning có thể thay thế cho lớp học truyền thống

mà trong đó GV trực tiếp giảng dạy cho các HS như hiện nay?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta xét đến một số điều kiện ở Việt Nam hiện nay:

– Về cơ sở vật chất (thiết bị dạy học, đường truyền, công cụ hỗ trợ…)

Thời gian gần đây tuy đã được sự quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho các trường nhưng nhìn chung đa phần các trường học nước ta vẫn chưa có đủ các điều kiện cơ sở

hạ tầng phù hợp cho việc áp dụng một cách toàn diện cho hình thức học E - learning

– Về học sinh

HS chúng ta mới bắt đầu được làm quen với hình thức học tập tích cực, chủ động nên thói quen tự học chưa cao, chưa có tính độc lập, còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên, chưa tự giác trong học tập

– Về giáo viên

Mặc dù đã có sự hỗ trợ nhiều hơn từ các nguồn lực, như các chương trình học dành cho GV của hãng Intel, tập đoàn Microsoft, phối hợp với các Sở Giáo dục, các giải thưởng, các dự án của Bộ giáo dục, nhằm khuyến khích việc GV ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, nhưng khả năng áp dụng các thành tựu công nghệ vào

Trang 23

giảng dạy của đa số các giáo viên ở các bậc học (nhất là bậc trung học và tiểu học) còn hạn chế

– Về tổ chức lớp

Hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu thật sự đầy đủ nào về hình thức học tập E - learning và việc ứng dụng nó vào trong trường học [19] Vẫn còn khá nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu một cách thật tỉ mỉ để chúng ta có thể mạnh dạn đưa hình thức học này vào các trường trung học ở Việt Nam Do đó, theo tôi đối với HS THPT ở nước ta, hình thức E - learning chỉ có thể dừng lại ở mức hỗ trợ, giúp cho việc tự học của các em có hiệu quả hơn chứ chưa thể thay thế lớp học truyền thống

Bên cạnh đó, việc làm quen với hình thức E - learning cũng sẽ là cơ sở để giúp hình thành thói quen tự học, tự rèn luyện, làm nền móng cho quá trình tự lực học tập của các em sau này Theo đề xuất từ Website http://el.edu.net.vn của Bộ giáo dục – Đào tạo, giải pháp kết hợp giữa E - learning và lớp học truyền thống được gọi là BLENDED SOLUTION [21] Mô hình kết hợp được đề nghị bởi Website trên như sau:

Hình 1.1 Mô hình về giải pháp kết hợp giữa E learning và lớp học truyền thống

-Blended Solution [21]

Trang 24

bổ sung cho lớp học truyền thống)

Mức độ thứ hai, GV yêu cầu HS phải tham gia lớp học trên mạng một đơn vị, một phần nào đó trong chương trình giảng mà không được đào tạo trên lớp học truyền thống

Mức độ thứ ba, GV tiến hành giảng dạy một môn học nào đó hoàn toàn trên mạng, HS tham gia và được đánh giá kết quả trực tiếp trên mạng

Đối với đề tài luận văn này, đối tượng hướng đến là HS đầu cấp THPT, để phù hợp hơn với trình độ và khả năng của các em, tôi đã áp dụng sự kết hợp giữa E - learning và lớp học truyền thống ở mức độ đơn giản nhất, tức là mức độ dùng E - learning để bổ sung cho việc học trên lớp của HS, thông qua việc hỗ trợ cho quá trình

tự học bộ môn của các em hiệu quả hơn

Trang 25

1.2.6 Kỹ năng của người dạy khi thực hiện phương pháp E - learning

Một khoá học sử dụng thành công phương pháp dạy học E - learning đòi hỏi người dạy phải biết kết hợp cả hai phương pháp dạy học: E - learning và dạy học truyền thống để đem lại hiệu quả cao nhất cho học sinh

Sau đây là kỹ năng tổng hợp của người dạy khi tổ chức một khoá học theo phương pháp E - learning, giải pháp này được gọi là BLENDED SOLUTION [23]

– Sự thành thạo về sư phạm

Người giáo viên phải luôn nghĩ rằng môi trường dạy học trực tuyến là một dạng khác so với môi trường dạy học truyền thống trong lớp học trong sự tương tác trực tiếp với HS

Khi làm việc với lớp học trực tuyến, giáo viên phải đầu tư công sức và thời gian

để trả lời tất cả các câu hỏi của HS

Giáo viên phải có sự sáng tạo trong việc lập kế hoạch giảng dạy (Learning Plan)

và sử dụng công nghệ dạy học có hiệu quả hơn

Các vấn đề về sư phạm của phương pháp dạy học truyền thống được áp dụng trong E - learning thể hiện ở các học liệu điện tử (courseware) Người học có thể được giáo viên cho học trực tiếp trên màn hình bằng thao tác viết bảng (Text) hay học thông qua nghe, nhìn,…

– Kỹ năng về kỹ thuật

Giáo viên phải tự trang bị cho mình về kiến thức cơ bản về máy tính, biết sử dụng các thiết bị điện tử hỗ trợ dạy học trực tuyến (Video), biết kết hợp các kỹ

Trang 26

thuật đa phương tiện giúp người học tiếp nhận được thông tin – nghe gì ? Xem

gì?

Thường xuyên sử dụng email vì email là phương tiện thuận lợi nhất để liên lạc với HS

Giáo viên có thể trao đổi trực tiếp với HS thông qua hình thức Chat

Tổ chức kiểm tra và thi kết thúc môn học bằng hình thức kết hợp qua mạng và trực tiếp trên lớp truyền thống (Test)

1.3 Học kết hợp (Blended Learning – BL)

1.3.1 Khái niệm học kết hợp

Học kết hợp “Blended Learning – BL” xuất phát từ nghĩa của từ “Blend” tức là

“pha trộn” để chỉ một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, là sự kết hợp “hữu cơ” của nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau Đây là một hình thức học khá phổ biến trên thế giới Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp [15]

BL là sự pha trộn của công nghệ đa phương tiện, CD, streaming, các lớp học ảo, voicemail, email và các cuộc gọi hội nghị, hoạt ảnh trực tuyến và truyền hình (Thorne, 2003)

BL có nghĩa là việc đào tạo có người hướng dẫn một cách truyền thống được bổ sung bởi các định dạng điện tử khác BL sử dụng nhiều hình thức khác nhau của E - learning (Bersin, 2004)

BL bao gồm việc sử dụng kết hợp phương thức truyền tải học tập đồng bộ và không đồng bộ để đáp ứng mục tiêu người học

BL là sự kết hợp của mặt đối mặt và các yếu tố kỹ thuật số (Carliner, & Shank, 2008)

BL kết hợp nhiều hoạt động khác nhau như cuộc họp mặt đối mặt, các modules học tập dựa trên Internet, và cộng đồng học tập ảo (Link, & Wagner, 2009)

BL là sự tích hợp của học tập mặt đối mặt và học tập trực tuyến giúp nâng cao kinh nghiệm học tập và mở rộng việc học tập thông qua các phát minh của công nghệ thông tin và truyền thông Tăng cường sự tham gia hoạt động của học sinh thông qua các hoạt động trực tuyến và nâng cao hiệu quả đào tạo bằng cách giảm thời gian thuyết trình [16]

Trang 27

Một câu hỏi thường xuyên được đặt ra khi nghe nói về BL là: “Cái gì được kết hợp?” Ba định nghĩa được nhắc đến nhiều nhất trong các bài viết của Graham, Allen

ta cái nhìn chính xác hơn về lịch sử xuất hiện, đó là cơ sở nền tảng cho BL, là sự kết hợp giữa môi trường học tập truyền thống và môi trường học tập trực tuyến đang ngày càng bùng nổ với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đang ngày càng phát triển

Như vậy, BL là hệ thống kết hợp việc hướng dẫn mặt đối mặt với sự hướng dẫn thông qua máy tính [18]

Định nghĩa trên phản ánh ý tưởng rằng BL là sự kết hợp giảng dạy từ hai mô hình lịch sử riêng biệt của việc dạy và học: Hệ thống học mặt đối mặt truyền thống (học tập trung) và hệ thống học tập phân tán Nó cũng nhấn mạnh vai trò trung tâm của các công nghệ dựa trên máy tính trong học tập tổng hợp Như chúng ta đã biết, hình thức tổ chức dạy học có sự hỗ trợ của CNTT & TT đã được triển khai rộng rãi ở nước

ta và chúng ta thường quen với một khái niệm là dạy học tích hợp CNTT & TT Qua phân tích khái niệm, chúng tôi nhận thấy, học kết hợp và học tích hợp CNTT & TT có những điểm giống nhau và khác nhau Về bản chất, cả hai đều là hình thức tổ chức dạy học có sử dụng CNTT & TT Tuy nhiên, hai hình thức này lại khác nhau về mức độ và phương pháp Trong dạy học tích hợp, vai trò của CNTT & TT chỉ là phương tiện và công cụ hỗ trợ cho phương pháp dạy học trên lớp (chẳng hạn phương pháp dạy học

Trang 28

nêu và giải quyết vấn để có sử dụng CNTT & TT trong việc làm xuất hiện vấn đề hoặc kiểm chứng giả thuyết…) Còn trong học kết hợp, CNTT & TT chính là môi trường

mà người học truy cập vào để tiếp cận tri thức Xét về chức năng, trong dạy học truyền thống, chức năng của CNTT & TT với các thành phần khác chỉ là thứ yếu; Còn trong học kết hợp, CNTT & TT có vai trò ngang hàng với các thành phần khác trong quá trình dạy học

1.3.2 Các phương án dạy học kết hợp

Trên thế giới, Blended Learning khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề qua mạng, Blended learning được coi là phương án tối ưu nhất hiện nay khi mà giáo dục điện tử hay E – learning không thể thay thế được những hình thức học trên lớp Việc học kết hợp được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Theo một số nghiên cứu được công bố đã đưa ra bốn mức độ của sự kết hợp là kết hợp ở mức độ hoạt động (Activity level); Kết hợp ở mức độ khóa học (Courrse level); Kết hợp ở mức độ chương trình (Program level) và kết hợp ở mức độ thể chế (Institutional level) [15]

Cách phân chia này dựa chủ yếu trên nội dung học Theo chúng tôi còn có những kiểu kết hợp khác nữa, thể hiện trong sơ đồ:

Hình 1.3 Những hình thức kết hợp [15]

Trang 29

Sự kết hợp còn được thể hiện trong một khâu hoặc giữa các khâu của quá trình dạy học nhằm tận dụng ưu điểm trong quá trình thực hiện các mục tiêu dạy học, hoặc kết hợp giữa các phương pháp dạy học khác nhau nhằm tận dụng lợi thế từ sự hỗ trợ của công nghệ Có thể thấy, trong học kết hợp, người dạy và người học được lựa chọn phương án làm việc thuận lợi nhất cho mình trong điều kiện cho phép

1.3.3 Đặc điểm của dạy học kết hợp – BL

Học kết hợp là một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, áp dụng những phương pháp dạy học tiên tiến và sử dụng hiệu quả những tiện ích mà công nghệ đem lại Xét về mặt bản chất của hình thức tổ chức dạy học, học kết hợp có những đặc điểm sau [5]:

a) Linh hoạt về không gian và thời gian diễn ra các hoạt động dạy và học, sao cho phù hợp với từng nội dung, khả năng tổ chức vì việc học vừa diễn ra trên lớp vừa diễn ra thông qua mạng máy tính Thời gian học được thay đổi cho phù hợp với khả năng học của cá nhân học sinh

b) Áp dụng phương pháp dạy học tiên tiến hiện nay, phù hợp với nội dung dạy, tương thích với từng đối tượng học và khả năng học của học sinh

c) Tối ưu hóa việc sử dụng phương tiện Trong học kết hợp, ngoài những phương tiện CNTT & TT sử dụng để hỗ trợ trong dạy học truyền thống còn có sự nâng cao và khai thác tối ưu những tiện ích từ các phương tiện hiện đại khác trong đó có máy tính

và Internet

d) Hợp lý hóa các nội dung học Theo đó, cấu trúc nội dung chương trình được phân chia và bố trí một cách phù hợp hơn trên cơ sở sách giáo khoa và phân phối nội dung chương trình Vật lí THPT

e) Hoạt động của giáo viên có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất với các giáo viên khác và nhà kỹ thuật trong việc thiết kế các nội dung, đưa ra các chỉ dẫn cho người tham gia vào khóa học

f) Hoạt động của học sinh là hoạt động tự học có hướng dẫn, với vai trò chủ đạo của mình, học sinh tích cực tham gia vào hoạt động trên lớp “thật” và trên lớp học

“ảo” Ngoài kiến thức về chuyên môn, học sinh còn trao dồi được kỹ năng tiếp cận và làm chủ công nghệ

Trang 30

1.3.4 Thực trạng khai thác và sử dụng Internet trong dạy học ở một số trường THPT

Để nghiên cứu và đưa ra cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng một mô hình dạy học qua mạng hiệu quả chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng sử dụng Internet trong dạy

và học với hai đối tượng giáo viên và học sinh ở một số trường THPT

a) Mục tiêu điều tra

Đối với giáo viên

- Điều tra mức độ khai thác và sử dụng Inernet trong dạy học, những khó khăn gặp phải khi khai thác mạng Internet trong dạy học

- Thăm dò ý kiến giáo viên về dạy học qua mạng

Đối với học sinh

- Điều tra mức độ sử dụng và khai thác mạng Internet trong học tập

- Điều tra những khó khăn gặp phải khi khai thác mạng Internet trong học tập

- Kỹ năng tự học của học sinh

Trang 31

Những khó khăn gặp phải khi tìm kiếm thông tin trên mạng Internet đối với giáo viên được thể hiện trong bảng 1.2

Bảng 1.2 Những khó khăn gặp phải khhi sử dụng Internet của giáo viên

Thông tin có bản quyền, không thể download

Thông tin có giá trị thấp, phải chỉnh sửa lại 32.5 %

Về mức độ và sử dụng mạng Internet của học sinh thể hiện bảng 1.3

Bảng 1.3 Mức độ sử dụng Internet của học sinh THPT

Trong số được hỏi, hoạt động chủ yếu khi truy cập mạng Internet cho giải trí là 66.6 %, chỉ có 25 % thời gian cho học tập Mức độ thường xuyên truy cập mạng Internet để tìm kiếm thông tin liên quan đến việc học chỉ là 16,6 %, còn lại 33.3 % là thỉnh thoảng và 50 % chỉ khi cần thiết Số học sinh được hỏi đã được nghe và nhắc đến khái niệm E – learning là 41.6 %, trong đó 16,6 % đã được tiếp xúc và 25 % đã tham gia trực tuyến chủ yếu làm thử đề thi và học ngoại ngữ

Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet trong học tập đối với học sinh được thể hiện trong bảng 1.4

Trang 32

Bảng 1.4 Những khó khăn gặp phải khi sử dụng Internet của học sinh

Qua đánh giá kết quả điều tra, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:

- Trong điều kiện hiện nay, việc triển khai dạy học qua mạng còn gặp khó khăn

do giáo viên và học sinh ít được làm quen với dạy học qua mạng và chưa được đào tạo đầy đủ những kỹ năng về công nghệ thông tin

- Cả giáo viên và học sinh đều có thái độ tích cực đối với dạy học qua mạng, đây

là một tính hiệu tốt cho việc triển khai các hình thức học qua mạng trong tương lai

1.4 Ứng dụng lớp học trực tuyến vào ôn tập củng cố kiến thức

1.4.1 Cơ sở lí luận của hoạt động ôn tập củng cố

1.4.1.1 Ôn tập củng cố và mục đích của ôn tập củng cố

Theo các nhà tâm lý học thì ôn tập không chỉ là nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các kiến thức đã được lĩnh hội, sắp xếp các thông tin, kiến thức theo một cấu trúc mới, kết hợp với các thông tin, kiến thức cũ để tạo nên sự hiểu biết mới Theo đó, việc ôn tập phụ thuộc vào chủ quan của người học Mỗi người học có một cách sắp xếp, cấu

Trang 33

trúc nội dung kiến thức, thông tin khác nhau, tùy thuộc vào tính cách, cách thức học và trình độ kiến thức của mỗi người học khác nhau Khi cần thiết, người học có thể tái hiện thông tin và sử dụng những thông tin đó cho những mục đích học tập khác nhau Cách thức tái hiện thông tin ở mỗi người học cũng rất khác nhau Do cách sắp xếp, cấu trúc thông tin của người học có khoa học, logic hay không mà việc tái hiện thông tin

có dễ dàng hay không

Sự lưu giữ thông tin bắt đầu từ quá trình ghi nhớ Quá trình ghi nhớ có liên quan đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn Thông tin được lưu giữ trong trí nhớ ngắn chỉ tồn tại vài giây trong quá trình người học làm việc hoặc thao tác với thông tin, còn trí nhớ dài lưu giữ thông tin suốt cả cuộc đời Do đó để lưu giữ thông tin thì nội dung của thông tin được lưu giữ trong trí nhớ ngắn phải được chuyển sang lưu giữ trong trí nhớ dài Muốn vậy thì các thông tin đó cần được xử lý, sắp xếp, cấu trúc sao cho có nghĩa đối với người học Có nghĩa là các thông tin cần được sắp xếp một cách khoa học, logic, biểu thị được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức và thông tin với nhau một cách mạch lạc, dễ hiểu và dễ tiếp thu đối với người học Đồng thời thông qua việc sắp xếp đó người học phải thấy được mối quan

hệ cũng như nguyên nhân, kết quả của chuỗi các sự kiện có liên quan

Thực chất của hoạt động ôn tập củng cố là thực hiện việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận và tổ chức lại các thông tin đã thu nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với người học Để tổ chức được thông tin thì điều đầu tiên người học phải thông hiểu, thấu hiểu được thông tin Thông qua các thao tác trí tuệ người học cần xác nhận thông tin, bổ sung, chỉnh lý thông tin để tìm ra những vấn đề cơ bản, mấu chốt, thậm chí tìm ra những vấn đề chưa hiểu, chưa rõ về thông tin Tiếp tục với sự hướng dẫn và giúp đỡ của giáo viên, trao đổi, góp ý với bạn

bè để có thể hoàn thiện hiểu biết về thông tin một cách sâu sắc Tóm lại, người học cần trả lời được câu hỏi “Tại sao lại như vậy” Sau khi đã thông hiểu thông tin, người học

sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ chức và sắp xếp lại các thông tin đã lĩnh hội theo một cấu trúc mới Có

tổ chức ghi nhớ được thông tin một cách khoa học và thấu hiểu được thông tin một

Trang 34

cách sấu sắc thì mới chuyển sang trí nhớ dài có hiệu quả Theo sự phân tích ở trên thì hoạt động này đòi hỏi khả năng tự học của người học rất nhiều, hay nói cách khác, hoạt động ôn tập là hoạt động tự ghi nhớ, tự sắp xếp và cấu trúc lại nội dung kiến thức

đã được thu nhận của mỗi bản thân người học Tuy nhiên muốn làm được điều này đòi hỏi không chỉ tính tự giác, năng lực cá nhân của người học mà còn phụ thuộc vào nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức ôn tập của giáo viên

Trí nhớ dài hạn giống như một tủ hồ sơ lưu giữ những thông tin đã được lập thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai Tuy nhiên không phải bất cứ thông tin nào được lưu giữ trong trí nhớ cũng tồn tại suốt đời Vì trí nhớ dài có xu hướng chỉ cho phép tái hiện lại những thông tin, dữ kiện hữu ích khi các dữ kiện này được tái hiện thường xuyên Do những thông tin cần lưu giữ trong trí nhớ dài cần được

sử dụng và gợi nhớ lại một cách thường xuyên Điều này đồng nghĩa với việc nếu chuyển thông tin từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn mà không sử dụng thường xuyên thì cũng sẽ bị lãng quên Vì vậy, trong quá trình dạy học, để thông tin được lưu giữ lâu dài thì giáo viên cần tổ chức cho học sinh thường xuyên sử dụng kiến thức đã được lĩnh hội dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là vận dụng vào trong nhận thức và thực hành để kiến thức lưu giữ vào trong trí nhớ dài nhanh hơn và tồn tại lâu hơn

Theo các nhà giáo dục học thì ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, tạo cơ hội cho giáo viên sửa chữa những sai lầm trong nhận thức của học sinh, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực, độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý của học sinh Ôn tập còn giúp học sinh mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành

Một số tác giả khác cho rằng ôn tập là quá trình giúp học sinh xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hoặc thấy có chỗ tối

ưu hơn, góp phần củng cố và phát họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau

Trang 35

Như vậy, theo tôi, ôn tập là quá trình học sinh tự củng cố lại tri thức, thông tin đã thu nhận được, đồng thời cấu trúc và sắp xếp thông tin một cách khoa học, logic, có hệ thống, có xử lý, bổ sung và chỉnh sửa để việc ghi nhớ thông tin được dễ dàng, dễ gọi lại và sử dụng một cách hiệu quả các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã thu nhận được [14]

1.4.1.2.Vai trò và vị trí của ôn tập củng cố trong quá trình nhận thức

Ôn tập có vai trò hết sức quan trọng trong việc củng cố kiến thức cho học sinh, giúp học sinh nắm vững và hoàn thiện tri thức Thông qua việc ôn tập, học sinh có thể khắc sâu hơn các kiến thức đã học theo một trình tự logic giúp thể hiện rõ mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức và thông tin Nhờ đó học sinh có cái nhìn sâu rộng và hệ thống hơn về các thông tin đã thu nhận được Đồng thời thông qua việc ôn tập, học sinh có điều kiện tái hiện lại các kiến thức thường xuyên và nhờ đó giúp thông tin được lưu giữ trong trí nhớ dài lâu hơn Không những thế, học sinh còn có điều kiện vận dụng các kiến thức đã học vào thực hành và trong cuộc sống, tạo điều kiện cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng, kỹ xảo và cả năng lực tư duy của học sinh Muốn hoạt động ôn tập đạt hiệu quả thì người giáo viên cần có phương pháp ôn tập thích hợp và nội dung ôn tập khái quát, hệ thống và hoàn chỉnh Nếu nội dung ôn tập được người giáo viên truyền đạt một cách rời rạc, không có hệ thống thì thông tin

sẽ khó có thể đọng lại trong trí nhớ của học sinh và học sinh cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận dụng và thực hành kiến thức Do đó để việc ôn tập phát huy được vai trò tích cực của mình thì người giáo viên cần có phương pháp ôn tập thích hợp, đồng thời hướng dẫn học sinh có phương pháp tự ôn tập thích hợp

Trong dạy học Vật lí nói riêng và trong quá trình dạy học nói chung, ôn tập là một hoạt động không thể thiếu của giáo viên nhằm giúp học sinh khắc sâu kiến thức đã học, tinh lọc kiến thức một cách logic, cấu trúc lại kiến thức một cách khoa học và sáng tạo, nhờ đó mà quá trình dạy học mới đạt được hiệu quả như mong muốn Ôn tập

là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học, giúp học sinh ghi nhớ được các kiến thức đã thu nhận, đồng thời rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo của mình Nhờ có ôn tập mà thông tin được lưu giữ trong trí nhớ lâu hơn, cô đọng, súc tích hơn vì như đã phân tích

Trang 36

ở trên thì thông tin sẽ không được ghi nhớ dài lâu nếu không được vận dụng và thực hành thường xuyên và ôn tập là hoạt động cụ thể để học sinh vận dụng và thực hành các kiến thức đã được lĩnh hội

1.4.1.3 Nội dung cần ôn tập củng cố trong dạy học Vật lí

Trong dạy học nói chung, để ôn tập cần dựa trên nội dung kiến thức đã được học, gắn liền nội dung và phương pháp truyền đạt nội dung để đề ra phương pháp và nội dung ôn tập phù hợp và đạt hiệu quả cao

Trong dạy học Vật lí cũng tương tự, để ôn tập giáo viên và học sinh cần dựa trên những kiến thức Vật lí cơ bản và cách thức hình thành kiến thức cho học sinh Dựa vào con đường hình thành kiến thức cho học sinh có thể giúp các em phát triển tư duy, phát huy khả năng sáng tạo Và việc ôn tập củng cố cũng là một cách để giúp các em phát triển các khả năng trên thông qua việc cấu trúc và ghi nhớ các kiến thức Vật lí cơ bản đồng thời ghi nhớ và vận dụng vào trong thực tế cuộc sống Thông qua hoạt động

ôn tập củng cố, giáo viên có thể khơi gợi hứng thú học tập, khả năng tìm hiểu của học sinh để các em ngày càng mở rộng kiến thức và phát triển các kỹ năng, kỹ xảo của mình

Những kiến thức Vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học tập và ôn tập củng cố kiến thức Vật lí trong chương trình phổ thông bao gồm:

- Những khái niệm Vật lí, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng Vật lí

- Kỹ năng thu thập thông tin: Kỹ năng đọc sách, kỹ năng quan sát, kỹ năng đọc

đồ thị, biểu đồ, kỹ năng khai thác thông tin qua mạng Internet…

- Kỹ năng xử lí thông tin: Kỹ năng xây dựng bảng biểu, đồ thị; kỹ năng so sánh, đánh giá, kỹ năng phân tích, tổng hợp…

- Kỹ năng truyền đạt thông tin: Kỹ năng trình bày, viết, báo cáo kết quả…

Trang 37

1.4.1.4 Các hình thức ôn tập củng cố chủ yếu

Ôn tập có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng trong quá trình dạy học có hai hình thức ôn tập củng cố chủ yếu là ôn tập trên lớp và ôn tập ngoài giờ lên lớp [14]

- Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên

Giáo viên có thể tiến hành ôn tập cho học sinh trong quá trình dạy học vào các thời điểm sau:

Ôn tập trong khi trình bày kiến thức mới nếu việc tiếp thu kiến thức mới cần vận dụng các kiến thức cũ Giáo viên có thể thực hiện ôn tập cho học sinh thông qua việc kiểm tra bài cũ của học sinh, đặt các câu hỏi có liên quan đến kiến thức cũ Giáo viên

có thể dặn dò học sinh chuẩn bị, ôn lại kiến thức cũ cần thiết và trong quá trình dạy học, giáo viên có thể lồng ghép đặt các câu hỏi có liên quan để ôn tập và kiểm tra mức

độ hiểu bài cũng như chuẩn bị bài của học sinh Đồng thời việc đặt các câu hỏi đan xen trong quá trình dạy kiến thức mới có thể giúp học sinh xâu chuỗi các kiến thức đã học với kiến thức mới, thấy được mối tương quan giữa các nội dung kiến thức đồng thời qua đó kích thích động cơ học tập của học sinh, khiến các em năng động hơn, không còn thụ động, phụ thuộc vào giáo viên theo kiểu chấp nhận kiến thức mà giáo viên đưa cho mà không biết tại sao có được kiến thức đó

Ôn tập được thực hiện ngay sau khi trình bày kiến thức hoặc nội dung mới nhằm củng cố cho học sinh các kiến thức vừa học, nắm được trọng tâm bài học và các phần kiến thức cốt lõi Việc ôn tập này có thể thực hiện bằng cách đặt các câu hỏi ở cuối bài

có liên quan đến nội dung vừa học để các em có thể hệ thống hóa kiến thức vừa được học Đồng thời có thể nêu lên các ứng dụng trong thực tế của kiến thức đã học để các

em thấy được ý nghĩa của bài học, sau đó giáo viên yêu cầu học sinh giải thích các ứng dụng đó dựa trên kiến thức đã học để giúp các em phát triển năng lực tư duy Bên cạnh

đó, giáo viên có thể đưa ra một số các bài tập có liên quan để học sinh tổng kết các nội dung kiến thức cơ bản đã được học

Ôn tập thực hiện sau khi kết thúc một chương hoặc một phần của chương Hoạt động này thường được thực hiện trong một tiết hoặc một vài tiết để hệ thống lại, chỉnh

Trang 38

lý lại và cấu trúc lại nội dung sao cho thấy được mối quan hệ giữa các kiến thức một cách logic và dễ ghi nhớ nhất

- Ôn tập ngoài giờ lên lớp

Ôn tập ngoài giờ lên lớp là hoạt động ôn tập của học sinh dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên Hoạt động này được học sinh thực hiện ở nhà, trong quá trình tự học của mình Thông qua các câu hỏi mang tính định hướng của giáo viên, các bài tập củng cố, vận dụng hoặc nâng cao, học sinh tự ôn tập, tự đọc lại hoặc cấu trúc lại các kiến thức đã học để giải quyết các câu hỏi của giáo viên Thông qua việc hoàn thành nhiệm vụ của mình, học sinh củng cố được kiến thức, ghi nhớ và tổ chức lại nội dung bài học theo cách hiểu của mình Đồng thời, học sinh có thể mở rộng được kiến thức thông qua việc đi sâu tìm hiểu thông tin có liên quan, giải đáp các thắc mắc thông qua việc tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau hoặc trao đổi với bạn bè Tất cả các hoạt động trên được bản thân học sinh tự thực hiện vừa với tinh thần trách nhiệm vừa với ý thức của bản thân cá nhân học sinh trong quá trình tự học ở nhà Hoạt động này

là một hoạt động rất quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của học sinh vì thời lượng mỗi môn học trên lớp không nhiều, giáo viên không thể lúc nào cũng ôn tập cho học sinh Do đó việc tự ôn tập tại nhà đóng một vai trò rất quan trọng, giúp học sinh vừa ghi nhớ kiến thức, cập nhật thêm các nguồn kiến thức mới, giúp mở rộng kiến thức cho học sinh Chính vì vậy, đòi hỏi học sinh phải có một tinh thần tự giác, một thái độ tự học tích cực và một phương pháp tự ôn tập đúng đắn để việc ôn tập củng cố đạt hiệu quả như mong muốn

Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng của việc ôn tập củng cố ngoài giờ lên lớp

và quan điểm lấy học sinh làm trung tâm trong dạy học hiện nay thì việc tạo điều kiện

và khuyến khích học sinh tự ôn tập củng cố là một việc làm cần thiết Cần cho học sinh thấy được vai trò của việc tự ôn tập củng cố và ôn tập củng cố theo nhóm, đồng thời hướng dẫn cho học sinh các phương pháp, cách thức và con đường để các em phát huy hết khả năng của mình trong việc tự học Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của khoa học và kỹ thuật, của công nghệ thông tin như hiện nay thì có rất nhiều phương tiện hỗ trợ cho việc tự ôn tập củng cố của học sinh Thông qua các diễn đàn, các trangWeb, các nguồn thông tin trên mạng Internet, học sinh có thể tìm kiếm và

Trang 39

trao đổi thông tin, củng cố kiến thức với các bài kiểm tra trực tuyến và các trang Web

hỗ trợ học sinh tự học…Nói tóm lại, trong điều kiện hiện nay, có rất nhiều hình thức

hỗ trợ cho hoạt động ôn tập củng cố ngoài giờ lên lớp của học sinh đạt hiệu quả mong muốn

1.4.1.5 Các phương pháp ôn tập ngoài giờ lên lớp

- Đọc lại nội dung bài học, hoàn thành các nhiệm vụ giáo viên giao (như trả lời các câu hỏi, hoàn thành các bài tập trắc nghiệm và tự luận…) giúp học sinh củng cố kiến thức

Ngoài giờ lên lớp, học sinh có thể tự đọc sách, trước hết là đọc lại các nội dung

đã được học để ghi nhớ kiến thức, lưu giữ thông tin bài học Việc đọc sách còn giúp học sinh hiểu sâu hơn các kiến thức đã học và mở rộng thêm kiến thức cho học sinh Sau khi đọc lại nội dung bài học, học sinh có thể tiến hành thực hiện các nhiệm

vụ mà giáo viên đã giao cho Các câu hỏi, các bài tập này giúp học sinh định hướng cho việc hoc tập của mình Các câu hỏi được sắp đặt có chủ định giúp học sinh nhìn thấy được logic của bài học, từ đó giúp các em trong việc cấu trúc lại nội dung bài học một cách khoa học và logic Đồng thời thông qua các bài tập, học sinh sẽ củng cố được kiến thức, vận dụng và phát triển được các kỹ năng, kỹ xảo của bản thân Đối với việc

ra bài tập thì ngoài các bài tập giao cho cả lớp, giáo viên có thể ra thêm các bài tập riêng dành cho các học sinh yếu kém và học sinh giỏi để giúp các học sinh yếu từng bước lấp đầy các lỗ hổng trong kiến thức của mình và giúp các học sinh giỏi phát triển năng lực tư duy sáng tạo của bản thân Tóm lại, các nhiệm vụ của giáo viên giao cho học sinh là nhằm giúp các em ghi nhớ, củng cố, đào sâu, mở rộng kiến thức, đồng thời hình thành các kỹ năng, kỹ xảo Và giáo viên đánh giá khả năng tự ôn tập củng cố của học sinh thông qua kết quả hoàn thành công việc của học sinh

- Xây dựng hệ thống các câu hỏi định hướng và sơ đồ kiến thức để hệ thống các kiến thức đã học của một chương, một phần hoặc một bài, trong đó làm rõ mối quan

hệ giữa các nội dung kiến thức với nhau

Để việc ghi nhớ kiến thức được thực hiện một cách dễ dàng và khoa học, giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi định hướng cho học sinh, từ đó dẫn dắt học sinh tự tìm câu trả lời dựa trên những kiến thức đã học của một chương, một phần hoặc một bài

Trang 40

Học sinh dựa trên các câu hỏi định hướng đó có thể tự đi tìm được mối liên quan giữa các phần kiến thức với nhau Dựa vào các câu hỏi định hướng đó, học sinh có thể tự xây dựng một sơ đồ kiến thức của một chương hoặc một phần Thông qua sơ đồ đó, học sinh có thể thấy được mối quan hệ logic giữa các kiến thức và từ đó học sinh có thể hệ thống hóa được nội dung kiến thức của một chương hoặc một phần Giáo viên

có thể định hướng cho học sinh bằng cách đặt các câu hỏi hoặc định hướng cách xây dựng sơ đồ để học sinh hoàn thiện, hay cũng có thể để học sinh tự cấu trúc lại nội dung bài học và từ đó khái quát hóa, hệ thống hóa các kiến thức trên một sơ đồ để việc ghi nhớ và ôn tập trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn Nếu xây dựng được một sơ đồ khoa học, thông qua đó học sinh có thể hiểu rõ được nội dung kiến thức của một chương hay một phần, đồng thời có thể đi sâu tìm và giải thích các chỗ còn thắc mắc trong bài học

Như vậy thông qua việc xây dựng các sơ đồ kiến thức, học sinh vừa ôn tập được nội dung bài học vừa phát triển được kỹ năng tư duy logic và cách thức học khoa học

và hợp lý Nhìn vào một sơ đồ học sinh có thể nhìn thấy nội dung của cả chương đồng thời thấy được quan hệ thông qua các từ nối giữa các phần kiến thức với nhau

1.4.1.6 Phương tiện hỗ trợ việc ôn tập củng cố

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: Phương tiện dạy học bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho

sự truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Các phương tiện dạy học thay thế cho những sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà giáo viên và học sinh không thể tiếp cận được

Chúng giúp phát huy tất cả các giác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, từ đó giúp học sinh nhận biết được quan hệ giữa những hiện tượng và tái hiện được những khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học vào thực tế và đời sống

Các phương tiện dạy học được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học và trong việc ôn tập củng cố kiến thức cho học sinh Hiện nay, các phương tiện được sử dụng rộng rãi trong quá trình ôn tập củng cố đó là:

Ngày đăng: 04/12/2015, 23:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tô Nguyên Cương (2012), Dạy học kết hợp – Một hình thức tổ chức dạy học tất yếu của một nền giáo dục hiện đại, Tạp chí giáo dục số (283), tr. 27-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học kết hợp – Một hình thức tổ chức dạy học tất yếu của một nền giáo dục hiện đại
Tác giả: Tô Nguyên Cương
Năm: 2012
3. Giáo trình giáo dục học (1971) (tủ sách Đại học Sư phạm Hà Nội II) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục học
4. Đặng Vũ Hoạt (2006), Lí luận dạy học đại học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
5. Phạm Xuân Lam, Khóa luận Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy sinh học 10 (THPT) nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận Xây dựng mô hình học kết hợp để dạy sinh học 10 (THPT) nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle
6. Nguyễn Danh Nam (2007), Các mức độ ứng dụng E-Learning ở các trường đại học Sư phạm, Tạp chí Giáo dục số (175) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mức độ ứng dụng E-Learning ở các trường đại học Sư phạm
Tác giả: Nguyễn Danh Nam
Năm: 2007
7. Quách Tuấn Ngọc (2003), Đổi mới giáo dục bằng CNTT & TT, Hội thảo CNTT & TT trong giáo dục, Hà Nội ngày 28/02 – 01/03/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo dục bằng CNTT & TT
Tác giả: Quách Tuấn Ngọc
Năm: 2003
8. Trần Thị Tuyết Oanh (2005), Giáo trình giáo dục học, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
9. Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2009), Xây dựng lớp học Vật lí trực tuyến nhằm hỗ trợ học sinh tự học chương “Động lực học chất điểm”– Vật lí 10 Nâng cao, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lớp học Vật lí trực tuyến nhằm hỗ trợ học sinh tự học chương “Động lực học chất điểm”– Vật lí 10 Nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Phượng
Năm: 2009
10. Trần Triệu Phú (2008), Nghiên cứu Moodle và ứng dụng Moodle để xây dựng “Lớp học Vật lí phổ thông”, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Moodle và ứng dụng Moodle để xây dựng "“Lớp học Vật lí phổ thông”
Tác giả: Trần Triệu Phú
Năm: 2008
11. Phạm Xuân Quế (2004), E – Learning và khó khăn trong việc xây dựng trang Web có nội dung thực nghiệm – Các giải pháp khắc phục, Tạp chí Giáo dục số (90 – Chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: E – Learning và khó khăn trong việc xây dựng trang Web có nội dung thực nghiệm – Các giải pháp khắc phục
Tác giả: Phạm Xuân Quế
Năm: 2004
12. Nguyễn Cảnh Toàn (1999), Luận bàn và kinh nghiệm về tự học, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận bàn và kinh nghiệm về tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1999
13. Thái Duy Tuyên (1998), Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
14. Trần Thị Hương Xuân (2012), Xây dựng Website hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần “Quang hình học” Vật lí 11 Ban cơ bản, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Website hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm tra đánh giá kết quả học tập phần “Quang hình học” Vật lí 11 Ban cơ bản
Tác giả: Trần Thị Hương Xuân
Năm: 2012
15. Bonk, C. J. & Graham, C. R. (Eds.). (in press). Handbook of blended learning: Global Perspectives, local designs, chapter 11. San Francisco, CA: Pfeiffer Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of blended learning
23. Website chính thức của LCMS nguồn mở Moodle, http://moodle.org/course,http://moodle.org/mod/forum/discuss.php?d=35845,Hồ Thị Kim Liên Đại học sư phạm Nha trang Link
2. Đoàn Hoàng Duy, Nguyễn Đức Hiều, Nguyễn Gia Như, Mô hình dạy học điện tử - một cách tiếp cận, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Khác
16. John Watson, Blending Learning: The Convergence of Online and Face-to-Face Education, Evergreen Consulting Associates, Pg6 Khác
19. Terry Anderson, Fathi Elloumi, Theory and Practice of Online Learning cde.athabascau.ca/online-book, Athbasca University Khác
20. William H.Rice IV, Moodle E-Learning Course Development, Birmnghay Mumbai, Packt Publishing.Trang Web Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mô hình về giải pháp kết hợp giữa E - learning và lớp học truyền thống - - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 1.1. Mô hình về giải pháp kết hợp giữa E - learning và lớp học truyền thống - (Trang 23)
Hình 1.2. Sơ đồ cho thấy các mức độ ứng dụng E - learning vào lớp học truyền thống - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 1.2. Sơ đồ cho thấy các mức độ ứng dụng E - learning vào lớp học truyền thống (Trang 24)
Hình 1.3. Những hình thức kết hợp [15] - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 1.3. Những hình thức kết hợp [15] (Trang 28)
Bảng 1.5. Phân loại Website trong giáo dục và đào tạo [21] - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Bảng 1.5. Phân loại Website trong giáo dục và đào tạo [21] (Trang 42)
Hình 2.1. Cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn” - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.1. Cấu trúc nội dung chương “Các định luật bảo toàn” (Trang 50)
Hình 2.2. Hệ thống các nguyên tắc dạy học [8],[13] - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.2. Hệ thống các nguyên tắc dạy học [8],[13] (Trang 64)
-  Nguyên tắc 3: Hình ảnh minh họa có thể kết hợp với giải thích bằng lời hoặc âm  thanh - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
guy ên tắc 3: Hình ảnh minh họa có thể kết hợp với giải thích bằng lời hoặc âm thanh (Trang 65)
Hình 2.4. Giao diện và tổ chức thông tin trang chủ - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.4. Giao diện và tổ chức thông tin trang chủ (Trang 90)
Hình 2.5. Giao diện và tổ chức thông tin trang liên kết - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.5. Giao diện và tổ chức thông tin trang liên kết (Trang 91)
Hình 2.7. Ôn tập thông qua sơ đồ tóm tắt bài học - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.7. Ôn tập thông qua sơ đồ tóm tắt bài học (Trang 92)
Hình 2.9. Dạng câu hỏi chọn từ điền vào chỗ trống - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.9. Dạng câu hỏi chọn từ điền vào chỗ trống (Trang 94)
Hình 2.12. Các câu hỏi trắc nghiệm trong phần ôn tập thông qua bài tập trắc nghiệm - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.12. Các câu hỏi trắc nghiệm trong phần ôn tập thông qua bài tập trắc nghiệm (Trang 96)
Hình 2.17. Học sinh chăm chú trong giờ ôn tập - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
Hình 2.17. Học sinh chăm chú trong giờ ôn tập (Trang 99)
Đồ thị 3.1. Đồ thị biểu diễn tần suất kết quả học tập của học sinh lớp TN và lớp ĐC - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
th ị 3.1. Đồ thị biểu diễn tần suất kết quả học tập của học sinh lớp TN và lớp ĐC (Trang 110)
Đồ thị 3.2. Đồ thị biểu diễn tần suất tích luỹ kết quả học tập của lớp TN và lớp ĐC - luận văn giáo dục học vận dụng mô hình b  learning vào dạy chương các định luật bảo toàn  vật lí 10 THPT
th ị 3.2. Đồ thị biểu diễn tần suất tích luỹ kết quả học tập của lớp TN và lớp ĐC (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w