1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại tại việt nam

26 716 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 563,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN MINH HUY NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM Chu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN MINH HUY

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH

Phản biện 1: PGS.TS Trần Đình Khôi Nguyên

Phản biện 2: TS Trịnh Thị Thúy Hồng

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản trị kinh doanh họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 26 tháng 01 năm 2015

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm thông tin học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 mở ra một thách thức lớn cho Việt Nam, đó là tái cấu trúc nền kinh tế mà trọng tâm là tái cơ cấu ngân hàng Tại Hội thảo quốc tế “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng – Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” ngày 21 tháng

12 năm 2011 do trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN (VNU-UEB,

Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (NFSC) và Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (DIV) phối hợp đồng tổ chức, các chuyên gia đều nhất trí cho rằng Việt Nam cần phải tăng cường minh bạch thông tin về hệ thống ngân hàng thương mại khi tiến hành tái cơ cấu khu vực huyết mạch của nền kinh tế Việc minh bạch thông tin báo cáo tài chính sẽ giúp lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, giúp cho nhà đầu tư, người gửi tiền … đều có thể tin tưởng vào hoạt động của ngân hàng, hạn chế tình trạng thông tin bất đối xứng và thông qua đó góp phần giảm chi phí thông tin cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, một thực tế hiện nay

là các ngân hàng thương mại Việt Nam dường như lại không chú trọng đến việc công bố thông tin tình hình hoạt động ra bên ngoài, gây ra tâm lý bất an cho xã hội Vậy đâu là nguyên nhân cho việc thiếu minh bạch thông tin ngành ngân hàng và các biện pháp để giải quyết thực trạng này?

Đã có nhiều bài báo, ý kiến chuyên gia, người dân về thực trạng thiếu minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính nhưng chưa có tài liệu nào làm rõ những nguyên nhân khiến việc công bố thông tin ngành ngân hàng vẫn còn bất cập Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào giải quyết thực trạng vấn đề này, tôi đã chọn đề tài:

“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Trang 4

trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm

đề tài tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mức độ công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

- Đánh giá thực trạng công bố thông tin của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, qua đó giúp nâng cao chất lượng công bố thông tin của các ngân hàng thương mại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu mức độ công bố thông tin của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thông tin công bố trong báo cáo tài chính năm 2012 của 16 ngân hàng thương mại tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu các dữ liệu qua thời gian kết hợp giữa lý luận và thực tiến, thu thập số liệu, vận dụng mô hình đã nghiên cứu để kiểm chứng số liệu, phân tích kết quả và đưa

ra kết luận, gợi ý nhằm nâng cao chất lượng công bố thông tin của các ngân hàng thương mại

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt,bảng biểu,

và phụ lục, luận văn được bố cục gồm 04 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về mức độ công bố thông tin và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Trang 5

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức

độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đã có nhiều tài liệu đi trước điều tra về mức độ công bố thông tin của ngân hàng và các công ty, và những nhân tố ảnh hưởng liên quan đến các thuộc tính đặc biệt của công ty như là thời gian hoạt động, quy mô, khả năng sinh lời, thành phần hội đồng quản trị, tài sản cố định, kỷ luật thị trường, v.v…

Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của Kahl và Belhaoui (1981), đây là một nghiên cứu toàn diện, thực hiện điều tra mức độ CBTT của 70 ngân hàng tại 18 quốc gia khác nhau Kết quả chỉ ra rằng mức

độ CBTT thì khác nhau giữa các quốc gia được chọn mẫu, và có một mối quan hệ tích cực giữa quy mô ngân hàng với mức độ CBTT Hossain (2001) điều tra thực nghiệm mức độ CBTT của 25 ngân hàng tại Bangladesh và mối quan hệ giữa khả năng sinh lợi của công

ty, và quy mô công ty kiểm toán với mức độ CBTT Tổng cộng 61 khoản mục thông tin, gồm cả bắt buộc và tự nguyện, đã được bao gồm trong chỉ số CBTT, và phương pháp cho điểm các chỉ mục thì mang tính phân đôi Kết quả cho thấy quy mô và tính sinh lợi của các ngân hàng có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Tuy nhiên, quy mô công

ty kiểm toán không có ý nghĩa thống kê ở các mức độ thông thường trong mô hình Chipalkatti (2002) kiểm tra mối quan hệ giữa bản chất

và chất lượng của CBTT báo cáo thường niên của 17 ngân hàng Ấn

Độ với các biến đại diện cho cấu trúc vi mô của thị trường Tác giả xây dựng một chỉ số minh bạch thông tin ngân hàng bao gồm 90 khoản mục thông tin trong đó có xem xét đến đề xuất của ủy ban

Trang 6

Basel và IAS 30 Nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ CBTT với phần trăm cổ phần do chính phủ nắm giữ, và phần trăm cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ Kết quả cũng chỉ ra rằng ngân hàng càng lớn thì cung cấp càng nhiều thông tin minh bạch

và không có sự khác biệt giữa điểm số CBTT của ngân hàng với mức

độ sinh lời, nhưng ngân hàng có mức sử dụng đòn bẩy thấp có xu hướng CBTT nhiều hơn Bauman và Nier (2003) xác định vấn đề của việc phát triển một bộ các yêu cầu CBTT theo trụ cột 3 Basel II mà cải thiện khả năng của các thành phần tham gia thị trường trong việc đánh giá giá trị của ngân hàng trong đó có sử dụng bộ dữ liệu độc nhất của gần 600 ngân hàng tại 31 quốc gia trong thời kì 1993-2000

Bộ dữ liệu bao gồm thông tin chi tiết về các khoản mục được công bố bởi các ngân hàng trong tài khoản hàng năm của các ngân hàng Các khoản mục này cấu thành nên chỉ số CBTT tổng hợp phản ánh mức

độ CBTT của ngân hàng, và tác giả sau đó phân tích từng tiểu mục trong số 17 tiểu mục CBTT mà làm nên chỉ số CBTT tổng hợp để điều tra liệu có khoản mục nào về CBTT bảng CĐKT của ngân hàng thì có lợi nhất với ngân hàng và hữu dụng nhất với thị trường tài chính Kết quả nhìn chung khẳng định giả thiết rằng CBTT giúp làm giảm dao động cổ phiếu, gia tăng giá trị thị trường, và gia tăng tính hữu dụng của các tài khoản công ty trong dự đoán việc định giá Nier and Baumann (2006) thực hiện điều tra 729 ngân hàng ở 32 quốc gia Kết quả chỉ ra rằng mức độ công bố tự nguyện đòi hỏi các ngân hàng giảm khẩu vị rủi ro và tăng cường việc bù đắp rủi ro bằng vốn cổ phần Mohammed Hossain (2008) cũng đã tiến hành một cuộc điêu tra thực nghiệm về mức độ công bố bắt buộc và tự nguyện của các công ty ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ Kết quả nghiên cứu lại chỉ ra rằng các biến quy mô, lợi nhuận, thành phần hội đồng quản trị và kỷ

Trang 7

luật thị trường có ý nghĩa, trong khi các biến về thời gian hoạt động,

sự phức tạp của kinh doanh và quy mô tài sản dài hạn đang nắm giữ không có ý nghĩa trong giải thích mức độ công bố thông tin Jameel

và cộng sự (2013) điều tra thực nghiệm mức độ CBTT trong BCTN của 15 ngân hàng tại Sri Lanka Tổng cộng 140 khoản mục thông tin (gồm cả bắt buộc và tự nguyện) đã được chọn trong xây dựng chỉ số CBTT Kết quả cho thấy các ngân hàng ở Srilanka CBTT bắt buộc tốt hơn thông tin tự nguyện, đồng thời cũng chỉ ra rằng quy mô tài sản, hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROA), tỷ lệ nợ xấu và thành phần HĐQT ảnh hưởng tích cực đến mức đô CBTT trong khi các biến thời gian hoạt động, tài sản cố định, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không có ý nghĩa thống kê Raoudha Dhouibi (2013) thực hiện khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định công bố thông tin tự nguyện của các ngân hàng niêm yết ở Thổ nhĩ Kỳ, và sử dụng mô hình hồi qui Prais-winsten để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện với mẫu gồm 10 ngân hàng trong thời kỳ 2000-2011 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô hội đồng quản trị,

số lượng cổ phần sở hữu bởi cổ đông lớn và cổ đông nhà nước thì đều có ảnh hưởng tiêu cực đến việc công bố thông tin Tuy nhiên, quy mô ngân hàng, số lượng cổ phần nắm giữ bởi nhà đầu tư nước ngoài và hiệu quả hoạt động ngân hàng lại có tác động tích cực đến việc công bố thông tin của công ty

Nghiên cứu của Kamal, Al-Hussaini, AL-Kwari và Nuseibeh, (2006) tìm ra rằng có mối quan hệ đáng kể giữa quy mô công ty với mức độ CBTT Aljifri (2008) kiểm tra mức độ CBTT trong BCTN của 31 công ty niêm yết trong UAE và cho thấy lĩnh vực kinh doanh khác nhau có ảnh hưởng mức độ CBTT Tuy nhiên, quy mô, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần, và khả năng sinh lời không có ảnh hưởng đến mức

Trang 8

độ CBTT Alsaeed (2006) nghiên cứu mối quan hệ giữa các đặc tính đặc biệt của công ty với mức độ CBTT ở Saudi Arabia Một tổng 20 khoản mục công bố tự nguyện được xây dựng để đánh giá mức độ CBTT trong BCTN của 40 công ty Các kết quả chỉ ra rằng trung bình của chỉ số CBTT đã thấp hơn mức trung bình Kết quả cũng chỉ

ra rằng quy mô công ty có quan hệ tích cực với mức độ CBTT tuy nhiên nợ, quyền sở hữu bị phân tán, thời gian hoạt động, biên lợi nhuận, ngành công nghiệp và quy mô công ty kiểm toán không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Hossain và Reaz’s (2007) điều tra thực nghiệm mức độ CBTT tự nguyện mức độ CBTT của 38 công ty ngân hàng niêm yết ở Ấn Độ Kết quả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ giữa các đặc biệt của công ty với mức độ CBTT tự nguyện Nghiên cứu cho thấy các ngân hàng Ấn Độ đang công bố một lượng đáng kể thông tin tự nguyện Các kết quả chỉ ra rằng quy mô và tài sản cố định có ý nghĩa thống kê trong khi những biến khác thời gian hoạt động, sự đa dạng hóa, thành phần HĐQT, niêm yết nhiều ngoại tệ và tính phức tạp của kinh doanh không có ảnh hưởng đến mức độ CBTT Craig và Diga (1998) nghiên cứu thực nghiệm thực trạng CBTT của 145 công ty đại chúng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán ASEAN vào thơi điểm 31/12/1993 và được chọn một cách ngẫu nhiên Tổng cộng, 530 khoản mục CBTT đã được chọn để tính chỉ số chỉ số CBTT sau khi xem xét pháp luật của công ty và các quy định trên thị trường chứng khoán trong các quốc gia khác nhau Kết quả chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ giữa điểm số CBTT của các công

ty với tài sản, quy mô, lợi nhuận, và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu Tại Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT mới chỉ tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán gồm:

Trang 9

Nghiên cứu của Lê Trường Vinh, Hoàng Trọng (2008) về tính minh bạch của thông tin được công bố từ các doanh nghiệp niêm yết cho thấy nhân tố Q có ảnh hưởng đến sự minh bạch trong CBTT Nghiên cứu của tác giả Đoàn Nguyễn Phương Trang (2010) về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả cho thấy nhân tố chủ thể kiểm toán và khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của các doanh nghiệp niêm yết Tiếp đến nghiên cứu của tác giả Lê Thị Trúc Loan (2012) chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận (ROE) có ảnh hưởng đến mức độ CBTT của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam Nguyễn Công Phương và đồng sự (2012) trong “Nghiên cứu thực trạng CBTT trong BCTC của các công ty niêm yết trên SGDCK TP HCM” đã xây dựng hệ thống chỉ mục đo lường mức độ công bố khá hoàn chỉnh, đồng thời lập luận một cách chặt chẽ về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, qua đó đưa ra nhiều giải pháp hữu ích để cải thiện mức độ CBTT trong BCTC Tuy nhiên nghiên cứu chưa phân tích ảnh hưởng của các nhân tố thuộc về đặc điểm quản trị và sở hữu đến mức độ CBTT của doanh nghiệp

Tác giả Phạm thị Bích Vân trong bài viết về “Mối quan hệ giữa

cơ chế quản trị công ty và CBTT trong BCTN: Nghiên cứu tại TTCK VN” (2012) đã thực hiện nghiên cứu dựa trên BCTN năm 2011 của

101 công ty niêm yết Kết quả cho thấy các biến đại diện cho cơ chế quản trị công ty như: số lượng thành viên HĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập không điều hành, sở hữu vốn là tổ chức có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với biến mức độ CBTT Tuy nhiên, sự tách rời giữa CEO và chủ tịch HĐQT có mối tương quan nghịch với mức độ CBTT

Kế thừa và phát triển các nghiên cứu ở nước ngoài, luận văn tiếp

Trang 10

tục xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam thông qua sử dụng các mô hình, kết quả các nhân tố của các tác giả đã nghiên cứu trước đây như: quy mô tài sản ngân hàng, tỷ suất sinh lợi, tỷ trọng TSCĐ… những nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ

CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VÊ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết thì “CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng” Công bố thông tin kế toán (Accounting Disclosure) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)

1.2 PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.2.1 Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hoặc tự nguyện Thông tin bắt buộc, thông tin tự nguyện

1.2.2 Phân loại thông tin theo phạm vi bao quát

Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán, thông tin ngành, thông tin nhóm ngành, thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường, thông tin của SGDCK hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế

Trang 11

1.2.3 Phân loại thông tin theo thời gian

Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai, thông tin theo thời gian (phút, ngày…), thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm…)

1.2.4 Phân loại theo nguồn thông tin

Thông tin trong nước và quốc tế Thông tin của các tổ chức tham

gia thị trường Thông tin tư vấn của các tổ chức tư vấn đầu tư và tổ

chức xếp hạng tín nhiệm Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng

1.3 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.3.1 Yêu cầu thông tin kế toán

Theo VAS 01: Chuẩn mực chung, quy định rõ các yêu cầu cơ

bản đối với kế toán, trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu,

có thể so sánh

1.3.2 Yêu cầu thông tin kế toán thuộc BCTC

Theo VAS 01: Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của báo cáo tài chính

Bên cạnh chuẩn mực chung quy định các yếu tố của BCTC thì chuẩn mực 21: Trình bày BCTC quy định và hướng dẫn các yếu tố và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm: Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo cáo tài chính

1.3.3 Yêu cầu công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Các yêu cầu của CBTT được quy định lần đầu tiên tại thông tư 57/2004/TT-BTC Thông tư 38/2007/TT-BTC đã quy định cụ thể hơn các yêu cầu của việc CBTT Đến thông tư 52/2012/TT-BTC càng nhấn mạnh việc CBTT phải đầy đủ chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật hoạt động CBTT phải do giám đốc hoặc người ủy

Trang 12

quyền CBTT thực hiện, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do người được ủy quyền

1.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

 Đối với công tác quản lý thị trường

 Đối với nhà đầu tư

 Đối với Trung tâm giao dịch chứng khoán

1.5 CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1.5.1 Chỉ số chất lượng

+ Chỉ số số lượng quan hệ (RQT) được tính toán bởi sự khác nhau giữa công bố thực hiện và công bố kỳ vọng, nó được ước tính thông qua phần dư được chuẩn hóa của hồi quy OLS, sử dụng kích

cỡ và ngành công nghiệp như một biến độc lập

+ Chỉ số độ giàu có của thông tin (RCN): mục đích để nhắm đến chất lượng công bố, nó bao gồm hai phương diện khác: độ rộng và độ sâu của thông tin

1.5.2 Chỉ số phạm vi

Chỉ số phạm vi (SCI) là một chỉ số tự xây dựng, nó tương tự với các chỉ số đã được chấp nhận trong các nghiên cứu lý thuyết trước Sáu loại thông tin hiện hành sẽ được xem xét: môi trường; Sự phát triển của công ty; mục tiêu, chiến lược và chính sách kinh doanh; thông tin về đầu tư trong tương lai; tổ chức và cấu trúc hợp nhất

1.5.3 Chỉ số số lượng

Chỉ số số lượng (QNI) được thiết kế để đo lường số lượng thông tin được công bố bởi công ty, nhắm vào chỉ số đơn vị (số câu) thông tin hiện hành Từng câu thông tin sẽ được xem xét Nó là một chỉ số đơn giản chỉ nắm bắt số lượng tuyệt đối của công bố

Trong nghiên cứu tác giả đã chọn cách ghi nhận theo phương

Trang 13

pháp tiếp cận không lượng hóa để tính chỉ số công bố thông tin Trong trường hợp này, điều quan trọng là công bố tư liệu có công bố thông tin trên báo cáo tài chính hay không Nếu mục thông tin được công bố, giá trị 1 sẽ được mã hóa cho dữ liệu, nếu không công bố sẽ nhận giá trị 0 Như vậy, chỉ số công bố thông tin của công ty sẽ được tính như sau:

ij 1

nj

i j j

d I

n

Với:

Ij: chỉ số công bố thông tin của công ty j, 0Ij1;

d =1 nếu mục thông tin được công bố, = 0 nếu mục thông tin I không được công bố

n = số lượng mục thông tin mà công ty có thể công bố

1.6 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN

1.6.1 Lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

a Lý thuyết đại diện

Theo lý thuyết đại diện thì một số các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin như là: Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài

chính, khả năng sinh lời

b Lý thuyết dấu hiệu

Lý thuyết dấu hiệu cho rằng các quyết định tài chính của công ty

là các dấu hiệu được gửi đi bởi các nhà quản lý cho các nhà đầu tư để xem xét những thông tin phản hồi và dấu hiệu này là nền tảng cho chính sách truyền thông tài chính Lý thuyết tín hiệu giả định rằng các công ty có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài

Ngày đăng: 04/12/2015, 23:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Kết quả kiểm định tính phân phối chuẩn Shapiro-Wilk - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 2.3 Kết quả kiểm định tính phân phối chuẩn Shapiro-Wilk (Trang 20)
Bảng 3.7: Giả thuyết và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng  đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại tại việt nam
Bảng 3.7 Giả thuyết và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các ngân hàng thương mại (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w