Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh viết tắt là PCI là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi ch
Trang 1Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH VŨ HUY TỪ
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 7 năm 2013
Học viên
Trần Thị Thủy
Trang 4Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã giảng dạy Tôi trong toàn khóa học, cung cấp những kiến thức cần thiết, cơ sở lý luận khoa học để Tôi có thể hoàn thành chương trình học sau đại học và bài Luận văn này
Thứ hai Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS - TSKH Vũ Huy Từ người thầy
đã tận tình giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình viết và hoàn thành Luận văn, từ chọn
đề tài, xây dựng đề cương đến hoàn thiện một bài Luận văn hoàn chỉnh
Thứ ba Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên, Phòng đào tạo Sau Đại Học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Tôi hoàn thành luận văn này Thứ tư Tôi gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Ban, các đồng nghiệp trong cơ quan Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho tôi được đi học, và giúp đỡ tôi rất nhiều về số liệu trong quá trình hoàn thành bài Luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè, những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 7 năm 2013
Tác giả Luận văn
Trần Thị Thủy
Trang 5Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng, biểu ix
Danh mục các hình vẽ, đồ thị x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học của Luận văn 2
5 Kết cấu của đề tài 2
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 4
1.1 Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 4
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 4
1.1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 4
1.1.1.2 Khái niệm về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 4
1.1.2 Quy trình xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 6
1.1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9
1.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 12
1.4 Kinh nghiệm của một số tỉnh trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh 14
1.4.1 Tỉnh Lào Cai 14
1.4.2 Thành phố Đà Nẵng 16
1.4.3 Tỉnh Bắc Ninh 19
1.4.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Vĩnh Phúc 21
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
Trang 6Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.2.1.1 Nội dung của phương pháp 23
2.2.1.2 Ưu, nhược điểm 25
2.2.1.3 Trường hợp vận dụng của phương pháp 26
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 26
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 27
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 27
2.2.3.2 Phương pháp so sánh 27
2.2.3.3 Phương pháp đồ thị 27
2.2.3.4 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo 27
2.2.3.5 Trường hợp vận dụng 27
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.3.1 Chi phí gia nhập thị trường 31
2.3.2 Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 31
2.3.3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 32
2.3.4 Chi phí thời gian để thực hiện các Quy định của nhà nước 32
2.3.5 Chi phí không chính thức 33
2.3.6 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 33
2.3.7 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 33
2.3.8 Đào tạo lao động 34
2.3.9 Thiết chế pháp lý 35
Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA VĨNH PHÚC 36
3.1 Giới thiệu sơ lược về tỉnh Vĩnh Phúc 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Môi trường kinh tế - xã hội 36
3.1.2.2 Những chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đạt được trong 5 năm 2008-2012 38 3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc 42
3.2.1 Phân tích quá trình diễn biến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc 42
Trang 7Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2.2 Phân tích các yếu tố cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của
Vĩnh Phúc 43
3.3 Đánh giá chỉ số thành phần của PCI dưới góc độ của doanh nghiệp 47
3.3.1 Chỉ số chi phí gia nhập thị trường 48
3.3.2 Chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 52
3.3.3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 56
3.3.4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước 59
3.3.5 Chi phí không chính thức 63
3.3.6 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 66
3.3.7 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 67
3.3.8 Đào tạo lao động 69
3.3.9 Thiết chế pháp lý 72
3.4 Những hạn chế, yếu kém ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Vĩnh Phúc 74
3.4.1 Kết quả đạt được 74
3.4.2 Mối quan hệ giữa chỉ số PCI và sự phát triển kinh tế 76
3.4.3 Những hạn chế, yếu kém 77
3.4.4 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 78
Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA VĨNH PHÚC 81
4.1 Cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của tỉnh Vĩnh Phúc 81
4.1.1 Phương hướng chung 81
4.1.2 Nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2013-2020 81
4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh củaVĩnh Phúc 82
4.2.1 Giải pháp cho chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 82
4.2.2 Giải pháp cho chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin 84
4.2.3 Giải pháp Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai 86
Trang 8Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4.2.4 Giải pháp về đào tạo lao động 92
4.2.5 Giải pháp tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 97
4.2.6 Tăng cường, nâng cao chất lượng thiết chế pháp lý 101
4.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc 102
4.3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền về cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 102
4.3.2 Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính 103
4.3.3 Tăng cường và đổi mới các hoạt động xúc tiến đầu tư 104
4.3.4 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra 104
4.3.5 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 108
Trang 9Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
BT GPMB Bồi thường, giải phóng mặt bằng
BT Xây dựng-chuyển giao (viết tắt của
Build-Transfer)
BTO Xây dựng-chuyển giao-vận hành (viết
tắt của Build-Transfer-Operate) CNH-HĐH Công nghiệp hóa –Hiện đại hóa
CN-XD Công nghiệp – Xây dựng
CBCC Cán bộ công chức
CBCCVC Cán bộ công chức viên chức
CCHC Cải cách hành chính
CNLĐ Công nhân lao động
CNTT Công nghệ thông tin
CGCN Chuyển giao công nghệ
DDI Đầu tư trực tiếp trong nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
ĐBSH Đồng bằng Sông Hông
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GCNĐT Giấy chứng nhận đầu tư
GPXD Giấy phép xây dựng
GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GD-ĐT Giáo dục – Đào tạo
GTNT Giao thông nông thôn
HĐND Hội đồng nhân dân
KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư
KTTĐ Kinh tế trọng điểm
KT-XH Kinh tế - Xã hội
Trang 10Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LĐ-TB&XH Lao động – Thương binh – Xã hội
SXKD Sản xuất kinh doanh
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
VNCI Dự án nâng cao Năng lực cạnh tranh
USAID Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ
United States Agency for International Development
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Provincial
Competitiveness Index
VCCI Phòng thương mại và công nghiệp
Việt Nam
Vietnam Chamber of Commerce and Industry
WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade
Organization
Trang 11Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Trọng số của các chỉ số thành phần 29
Bảng 2.2: Chi tiết cách tính trọng số thành phần 30
Bảng 3.1: Bảng xếp hạng chỉ số PCI tỉnh Vĩnh Phúc qua các năm từ năm 2008-2012 42
Bảng 3.2: Điểm số và thứ hạng của các tỉnh trong khu vực đồng bằng Sông Hồng năm 2012 43
Bảng 3.3: Trọng số của các chỉ số thành phần 44
Bảng 3.4: Bảng thống kê số liệu PCI (điểm số và thứ hạng) của tỉnh Vĩnh Phúc qua các năm 45
Bảng 3.5: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số gia nhập thị trường 49
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất tỉnh Vĩnh Phúc 54
Bảng 3.7: Chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin tỉnh Vĩnh Phúc 59
Bảng 3.8: Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước 62
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu đánh giá chi phí không chính thức của tỉnh Vĩnh Phúc 65
Bảng 3.10: Các chỉ tiêu đánh giá tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc 67
Bảng 3.11: Các chỉ tiêu đánh giá dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệpcủa tỉnh Vĩnh Phúc 68
Bảng 3.12: Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đào tạo lao độngcủa tỉnh Vĩnh Phúc 71 Bảng 3.13: Các chỉ tiêu đánh giá chỉ số thiết chế pháp lý của tỉnh Vĩnh Phúc 73
Trang 12Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Chỉ số PCI qua các năm của tỉnh Lào Cai 14 Hình 3.1: So sánh các chỉ số thành phần của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011-2012 46 Hình 3.2: Biểu đồ chỉ số PCI thành phần của tỉnh Vĩnh Phúc(chỉ số thành phần 3, 4) 57 Hình 3.3: Biểu đồ chỉ số PCI thành phần của tỉnh Vĩnh Phúc(chỉ số thành phần 5, 6) 63 Hình 3.4: Biểu đồ chỉ số đào tạo lao động, thiết chế pháp lý và dịch vụ hỗ trợ
doanh nghiệp qua các năm 71
Trang 13MỞ ĐẦU
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và là cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội Vĩnh Phúc còn là một tỉnh rất thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt
và đường hàng không Nhờ vị trí thuận lợi cùng với cơ chế quản lý kinh tế hợp lý, Vĩnh Phúc đã và đang khai thác các tiềm năng hiện có của Tỉnh để trở thành một trung tâm kinh tế văn hoá phụ trợ, một thành phố vệ tinh quan trọng cho Hà Nội và
là một điểm nhấn trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (viết tắt là PCI) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam trong việc xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp dân doanh Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam (là dự án do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ) Chỉ số này được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 cho 47 tỉnh, thành Từ lần thứ hai, năm 2006 trở đi, tất cả các tỉnh thành Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường Có tất cả 9 chỉ số thành phần nhằm đánh giá và xếp hạng các tỉnh dựa trên thái độ và ứng xử của chính quyền tỉnh đối với khu vực kinh
tế tư nhân
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đo lường hiệu quả, hiệu năng của hoạt động điều hành chính sách kinh tế của chính quyền các địa phương Chỉ số này loại
bỏ các yếu tố tự nhiên, xã hội có thể làm cho địa phương này có lợi thế hơn địa phương khác trong phát triển kinh tế Như vậy, các địa phương đều có cơ hội cạnh tranh ngang nhau trước các chính sách điều hành kinh tế của Nhà nước Việc địa phương ở vị trí nào trong bảng xếp hạng chính là thước đo năng lực và thể hiện một cách chân thực cách nhìn nhận, tư duy và phương pháp điều hành của bộ máy lãnh đạo từng địa phương Nói cách khác, đây là câu trả lời của doanh nghiệp và nhà đầu
tư trước cung cách quản lý, điều hành chính sách kinh tế của chính quyền địa phương PCI trở thành thước đo quan trọng để các địa phương tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian tới Bên cạnh đó, PCI như công cụ hữu hiệu trong quá trình thiết lập chính sách của chính phủ Việt Nam
Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đang là vấn đề được các tỉnh quan tâm trong giai đoạn hiện nay Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh rất coi trọng vấn để này Từ năm 2008 đến năm 2011 Vĩnh Phúc luôn là một trong những tỉnh được
Trang 14đánh giá cao về chỉ số PCI (năm 2008 xếp thứ 3; Năm 2009 xếp thứ 6; Năm 2010 xếp thứ 15; Năm 2011 xếp thứ 17) Tuy nhiên chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc đang có xu thế tụt giảm, và giảm khá sâu trong năm 2012 (năm 2012 xếp thứ 43) Bởi vậy nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh nhằm cải thiện môi trường đầu tư đang là vấn đề đặt ra cho tỉnh Vĩnh Phúc, đưa Vĩnh Phúc trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư, và trở lại vị trí trong tốp 10 tỉnh dẫn đầu về chỉ số PCI
Vì những lý do nêu trên, qua nghiên cứu lý luận và từ thực tế công việc, học viên
chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về vai trò của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, luận văn nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua, những mặt đạt được, những tồn tại hạn chế, phân tích những nhân tố tác động những đòi hỏi khách quan để cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chỉ số năng lực của tỉnh trong giai đoạn tới, góp phần vào phát triển kinh tế tỉnh nhà bền vững, phấn đấu để trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 2020
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của tỉnh Vĩnh Phúc thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) cùng các chỉ số thành phần: Chi phí gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; Chi phí không chính thức; Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Vĩnh phúc từ năm 2008 đến năm 2012
4 Ý nghĩa khoa học của Luận văn
Phân tích đánh giá về thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm qua, từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm có
4 chương như sau:
Trang 15Chương 1: Lý luận chung chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Vĩnh Phúc Chương 4: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Vĩnh Phúc
Trang 16Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
1.1 Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trên thế giới, năng lực cạnh tranh là khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chưa có sự thống nhất Tuy nhiên, hiện nay thế giới sử dụng nhiều khái niệm năng lực cạnh tranh của M.Porter, người sáng lập ra lý thuyết cạnh tranh Theo M.Porter thì năng lực cạnh tranh một quốc gia được đo bằng sự thịnh vượng, thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người và chất lượng sống Sự thịnh vượng chủ yếu do năng suất và huy động lao động vào quá trình tăng trưởng quyết định Do đó, trong khái niệm năng lực cạnh tranh của M.Porter, năng suất là yếu tố quyết định tiêu chuẩn sống bền vững Với khái niệm này, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng có nghĩa là đóng góp và nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế
Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một tỉnh, thành dưới dạng năng lực cạnh tranh quốc gia Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành là quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của kinh tế của một tỉnh, thành Năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên và nguồn vốn có một tỉnh, thành
Năng lực cạnh tranh được các tỉnh cần được chú trọng tới để có thể phát triển hơn nữa kinh tế của tỉnh Các tỉnh cần phải nắm được năng lực cạnh tranh không phải là một tỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực nào đó để phát triển mà là tỉnh đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực
1.1.1.2 Khái niệm về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (viết tắt của Provincial Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách phù hợp để phát triển kinh tế tư nhân
Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu của Quỹ Châu Á
và VCCI có tên gọi “ Những thực hiện tốt trong điều hành kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 – 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam, với nhiều phương pháp tính toán, nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triển kinh tế của các tỉnh đó Kết quả của dự án
Trang 17nghiên cứu này sau đó đã trở thành tiền đề của dự án nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ
Năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID/VNCI) chính thức hợp tác nghiên cứu Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), thực hiện điều tra, nghiên cứu trên 42 tỉnh, thành phố của Việt Nam Về tổng thể, 42 tỉnh, thành phố này chiếm khoảng 90% giá trị GDP của Việt Nam VNCI và VCCI sau đó đã tiếp tục hợp tác xây dựng chỉ số PCI cho năm 2006 và các năm tiếp theo với sự tham gia đầy đủ của 64 tỉnh, thành phố
Từ năm 2010 đến nay, chỉ số PCI vẫn được VNCI và VCCI nghiên cứu trên
cơ sở có sự tham gia đầy đủ của 63 tỉnh thành (năm 2008, tỉnh Hà Tây sát nhập vào thủ đô Hà Nội) Mục đích là nhằm tạo điều kiện để các tỉnh, thành theo dõi những thay đổi trong môi trường kinh doanh của tỉnh mình qua các năm, không chỉ ở thứ hạng PCI mà còn ở điểm số PCI trên các chỉ số thành phần là: Chi phí gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; Chi phí không chính thức; Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý; Trong từng chỉ số thành phần này lại có các chỉ số cụ thể để thu thập số liệu và đánh giá, so sánh giữa các tỉnh, thành phố trên cả nước
PCI 2012 được thực hiện dựa trên điều tra cảm nhận của 8.300 doanh nghiệp trong nước, sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên trên cơ sở các đặc tính về loại hình doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động và tuổi của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo mẫu điều tra đại diện toàn bộ doanh nghiệp tư nhân của tỉnh Chỉ số PCI bao gồm chín chỉ số thành phần, phản ánh các lĩnh vực điều hành kinh
tế tác động lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Những chỉ số đó là :
Chi phí gia nhập thị trường
Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà nước
Trang 181.1.2 Quy trình xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Bước 1 Thu thập số liệu
Có hai loại dữ liệu được thu thập để xây dựng các chỉ số thành phần Thứ nhất
là dữ liệu từ cuộc điều tra qua phiếu điều tra đối với các doanh nghiệp dân doanh
Sự đánh giá này hay còn gọi là dữ liệu “mềm”, được kết hợp với dữ liệu khách quan, còn gọi là dữ liệu “cứng” thu thập từ niên giám thống kê, từ nguồn của bên thứ ba khác như Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các công ty kinh doanh bất động sản và các hiệp hội doanh nghiệp…
Chọn mẫu: Nhóm nghiên cứu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thống nhất qua các
năm là tạo danh sách doanh nghiệp điều tra từ danh sách các doanh nghiệp đang nộp thuế trên cơ sở dữ liệu của cơ quan Thuế Danh sách này đáng tin cậy hơn so với danh sách doanh nghiệp đăng ký kinh doanh vì danh sách doanh nghiệp đăng
ký kinh doanh đôi khi không được cập nhật để loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động và thường gồm cả các doanh nghiệp tuy đã đăng ký nhưng chưa thực sự bắt đầu hoạt động Để tiến hành chọn mẫu, danh sách doanh nghiệp nêu trên được chia thành 24 nhóm theo ba tiêu chí:
1 Loại hình của doanh nghiệp:
a) Công ty Cổ phần
b) Công ty TNHH
c) Doanh nghiệp tư nhân
2 Ngành nghề của doanh nghiệp:
a) Sản xuất, công nghiệp
b) Khai khoáng
c) Thương mại, dịch vụ và du lịch
d) Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
3 Năm của doanh nghiệp:
a) Thành lập trước năm 2000
b) Thành lập từ sau năm 2000
Gửi phiếu điều tra: VCCI gửi phiếu điều tra được gửi tới địa chỉ doanh
nghiệp theo mẫu đã chọn, chỉ phiếu trả lời hợp lệ mới được chấp nhận, đó là phiếu được điền đầy đủ và gửi qua bưu điện đến VCCI
Gọi điện thoại: Để đạt tỷ lệ phản hồi cao, VCCI đã tuyển chọn và huấn luyện
cộng tác viên gọi điện thoại đến các doanh nghiệp để đảm bảo phiếu điều tra được gửi đến đúng địa chỉ thuyết phục doanh nghiệp trả lời
Trang 19Bước 2 Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần
Như đã trình bày ở trên, một trong những ưu điểm quan trọng của PCI là so sánh chất lượng điều hành kinh tế của mỗi tỉnh với thực tiễn tốt nhất về điều hành kinh tế đang có ở Việt Nam, chứ không phải so sánh với một chuẩn mực lý tưởng nào Vì vậy, mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa về thang 10 điểm, trong đó tỉnh có thực tiễn tốt nhất sẽ tương ứng với điểm 10, tỉnh có thực tiễn kém nhất tương ứng với điểm 1; 61 tỉnh còn lại sẽ tương ứng với điểm nằm giữa 1 và 10 Dựa trên những nghiên cứu về môi trường kinh doanh, các chỉ tiêu được nhóm vào 9 chỉ số thành phần Kế thừa những nghiên cứu từ trước, mục tiêu đặt ra là những chỉ số này phải phản ánh được tương đối đầy đủ những trở ngại đối với việc ra đời và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam Trong các chỉ tiêu đã chuẩn hoá, nhóm nghiên cứu tính trung bình các chỉ tiêu để tạo ra từng chỉ số thành phần Đối với các chỉ số thành phần sử dụng dữ liệu “cứng” thì dữ liệu này được sử dụng là chỉ tiêu sau khi được tính giá trị trung bình và gán trọng số
Bước 3 Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI
Nếu lấy điểm của tất cả chỉ số thành phần cộng lại với nhau, tổng điểm sẽ là PCI tổng hợp chưa có trọng số với điểm tối đa là 100 Mặc dù đây là phương pháp đơn giản và dễ thực hiện nhất để tính PCI, nhưng lại không thật phù hợp nếu muốn
sử dụng PCI như một công cụ chính sách Lý do là vì trong các chỉ số thành phần,
có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ số còn lại khi lý giải sự khác biệt về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân Do đó, mỗi chỉ số thành phần cần được tính toán trọng số bằng cách căn cứ vào mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với việc phát triển kinh tế tư nhân
Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốt thì sử dụng công thức sau đây để chuẩn hóa điểm:
{9 x ((Điểm của tỉnh – Điểm nhỏ nhất của mẫu)/(Điểm lớn nhất của mẫu – Điểm nhỏ nhất của mẫu))+1}
Nếu điểm chi tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt thì lấy 11 trừ cho công thức trên: 11-[9x((Điểm của tỉnh – Điểm nhỏ nhất của mẫu)/(Điểm lớn nhất của mẫu – Điểm nhỏ nhất của mẫu))+1]
Để làm được việc này, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi qui đa biến để đo lường tác động của từng chỉ số thành phần tới một số chỉ tiêu vốn được xem là có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế tư nhân
• Tỉ lệ doanh nghiệp dân doanh (bao gồm Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn và Công ty Cổ phần) đang hoạt động trên địa bàn tỉnh trên số dân của tỉnh theo số liệu cập nhật của Tổng Cục thống kê Số
Trang 20doanh nghiệp thực sự đang hoạt động là số doanh nghiệp đã hoàn thành mọi thủ tục đăng ký kinh doanh và đang thực sự sản xuất kinh doanh chứ không chỉ dừng
ở giai đoạn đầu gia nhập thị trường Tổng số doanh nghiệp dân doanh này (không bao gồm hợp tác xã) được chia cho số dân của tỉnh (theo đơn vị 1.000 dân) để loại bỏ ảnh hưởng có thể có do việc tỉnh nào đông dân hơn thường có nhiều doanh nghiệp hơn
• Vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính theo bình quân đầu người được nhóm nghiên cứu chọn để thể hiện mức độ rủi ro mà doanh nghiệp chấp nhận Giả định của nhóm nghiên cứu là chủ doanh nghiệp hay nhà đầu tư sẽ đầu tư nhiều hơn ở nơi có môi trường chính sách hấp dẫn hơn vì ở đó họ có thể tính toán chính xác hơn chi phí và lợi ích dài hạn đối với dự án đầu tư của mình Doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư nhiều ở địa phương mà tài sản của họ ít được đảm bảo, tham nhũng hoành hành hoặc tồn tại nhiều rào cản “vô hình” hạn chế hoạt động kinh doanh
• Lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp tính theo triệu đồng được nhóm nghiên cứu chọn để thể hiện mức độ thành công của các doanh nghiệp dân doanh kể
từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời Lợi nhuận doanh nghiệp trong một thời kỳ là một tín hiệu dự báo tốt về tiềm năng đầu tư trong các giai đoạn tiếp theo vì sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư Những tỉnh cạnh tranh hơn thường tạo ra môi trường khuyến khích tinh thần kinh doanh vì lợi nhuận hơn là bằng những sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước
Trong từng trường hợp, nhóm nghiên cứu hồi qui các biến số đại diện cho các chỉ tiêu phát triển kinh tế tư nhân như vừa nêu trên, có khống chế ảnh hưởng mà các điều kiện truyền thống ban đầu đem lại cho sự phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể
là các điều kiện truyền thống sau:
- Khoảng cách với thị trường, được tính bằng số ki-lô-mét từ trung tâm tỉnh tới
Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh
- Chất lượng nguồn nhân lực, được tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số tốt nghiệp phổ thông trung học trong năm 2000, để đại diện cho lực lượng lao động phù hợp
mà các doanh nghiệp dân doanh có thể tuyển dụng
- Cơ sở hạ tầng ban đầu, được đo bằng số máy điện thoại bình quân đầu người trong năm 1995 để tính toán mức độ đóng góp tương đối (hay còn gọi là trọng số) của chúng đối với các chỉ số thành phần
Trang 211.1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi ở mức độ như thế nào cho sự phát triển của doanh nghiệp Năm 2005, chỉ số tổng hợp này bao gồm bảy chỉ số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải khá nhiều sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh của Việt Nam Năm 2006 có thêm hai chỉ số thành phần mới được đưa vào (Đào tạo lao động
và Thiết chế pháp lý) để phản ánh hai khía cạnh quan trọng khác về nỗ lực của chính quyền tỉnh nhằm cải thiện môi trường kinh doanh ở địa phương Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu của các chỉ số thành phần hiện có cũng được cải tiến và hoàn thiện hơn Tới thời điểm năm 2009, Chỉ số CPI bao gồm 9 chỉ số thành phần là: Chi phí gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai; Tính minh bạch và trách nhiệm; Chi phí về thời gian và việc thực hiện các quy định của Nhà nước; Chi phí không chính thức; Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý; Trong từng chỉ số thành phần này lại có các chỉ số
cụ thể để thu thập số liệu và đánh giá, so sánh giữa các tỉnh, thành phố trên cả nước PCI 2012 được thực hiện dựa trên điều tra cảm nhận của 8.053 doanh nghiệp dân doanh trên cả nước
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Ngày nay, tất cả các địa phương đều tìm mọi cách thu hút các nguồn lực từ bên
ngoài cho sự phát triển của địa phương Tuy nhiên, có những địa phương có sức hấp dẫn tốt với các khách hàng và có những địa phương kém hấp dẫn hơn Điều này thể hiện khả năng cạnh tranh của các địa phương Khả năng cạnh tranh của địa phương được đánh giá bằng khả năng của địa phương đối với việc hướng tới nguồn lực, hướng tới việc quảng cáo, khuếch trương địa phương và lợi thế cạnh tranh về mặt địa lý Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại các địa phương
Thứ nhất, chính quyền địa phương: Đây là nhân tố chủ yếu quyết định lợi
thế cạnh tranh của địa phương thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách phát triển thị trường địa phương, chính sách đối xử với các lực lượng kinh tế và các lực lượng xã hội khác Các chính sách và hoạt động của chính quyền địa phương ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương cả trong ngắn hạn và dài hạn
Chính quyền địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến cầu về đầu tư tại địa phương thông qua các chính sách thu hút đầu tư, thông qua các các hoạt động tạo ra cơ hội đầu tư tại địa phương, thông qua định hướng chiến lược phát triển địa phương Chính quyền địa phương có thể quyết định các biện pháp ảnh hưởng trực tiếp sự hấp dẫn của địa phương so với các địa phương cạnh tranh
Trang 22Chính quyền địa phương có tác động đến các nguồn lực thông qua việc ban hành và thực hiện các chính sách về nguồn nhân lực sẽ tạo cho địa phương một môi trường hấp dẫn đối với việc thu hút nguồn lao động có chất lượng cao đến với địa phương Khi đó địa phương hấp dẫn đối với nhà đầu tư bởi có nguồn lao động có chất lượng tốt Các chính sách về tài chính, sử dụng các nguồn vốn đầu tư ngân sách của địa phương sẽ ảnh hưởng khả năng của địa phương trong việc thoả mãn các nhu cầu về vốn và đánh giá về cơ hội và nguy cơ về tài chính của nhà đầu tư khi kinh doanh tại địa phương Các chính sách về quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên của địa phương sẽ ảnh hưởng sự hấp dẫn của địa phương về khả năng cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu đối với nhà đầu tư
Chính quyền có thể tác động đến môi trường cạnh tranh thông qua các quy định về thương mại Nhìn chung, các nhà đầu tư đều mong muốn ở địa phương một môi trường cạnh tranh lành mạnh Chính vì vậy, các chính sách ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của địa phương có ảnh lớn đến sự đánh giá của nhà đầu tư về sự hấp dẫn của địa phương Các chính sách ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh như
là các quy định về quản lý cạnh tranh, thái độ của chính quyền đối với khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, thái độ của chính quyền đối với các ngành kinh doanh, thái độ của chính quyền trong việc bảo hộ các doanh nghiệp của địa phương, các quy định về quản lý thị trường địa phương…
Thứ hai, nguồn lao động
Nhà đầu tư khi đến kinh doanh tại địa phương có nhu cầu sử dụng lao động tại địa phương Nguồn lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư tại địa phương Chính vì vậy nguồn lao động của địa phương sẽ ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của địa phương đối với nhà đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của địa phương Khi đánh giá về nguồn lao động người ta xem xét dưới hai góc độ: số lượng và chất lượng nguồn lao động Các yếu tố sử dụng để đánh giá nguồn lao động như: số lượng người lao động, chất lượng nguồn lao động, trình độ người lao động, mức lương và đạo đức nghề nghiệp của người lao động Các địa phương cần xem xét nhu cầu về nguồn lao động của nhóm các nhà đầu tư mà địa phương mong muốn thu hút có các chính sách và biện pháp nhằm phát triển nguồn lao động cho phù hợp
Thứ ba, quy mô thị trường địa phương
Đối với một địa phương, cầu của địa phương cũng ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của địa phương đối với các nhà đầu tư Nếu địa phương có quy mô cầu lớn sẽ tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư bởi họ có thị trường lớn tại địa phương do đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển và chi phí kinh doanh Khi đến kinh doanh tại
Trang 23một địa phương, nhà đầu tư luôn xem xét địa phương dưới góc độ của một thị trường tiêu thụ sản phẩm Nói một cách khác, những điểm hấp dẫn của một thị trường luôn là yếu tố đầu tiên được các nhà đầu tư xem xét đánh giá khi lựa chọn địa điểm đầu tư Khi nghiên cứu ảnh hưởng của cầu địa phương đến khả năng cạnh tranh của địa phương người ta thường nghiên cứu các yếu tố quy mô cầu, cơ cấu của cầu, mô hình và tốc độ tăng trưởng của cầu Quy mô cầu tạo sự hấp dẫn của địa phương về số lượng hàng hoá được mua và tiêu dùng tại địa phương Cơ cấu của cầu tạo nên sự hấp dẫn của địa phương về cơ cấu các loại hàng hoá được mua và tiêu dùng tại địa phương Mô hình và tốc độ tăng trưởng của cầu chi phối sức hấp dẫn về cầu của địa phương trong tương lai Các địa phương cần xác định được sức hấp dẫn của địa phương đối với nhà đầu tư với tư cách là một thị trường tiêu thụ và
có những hoạt động truyền thông phù hợp để khách hàng biết và quan tâm đến thị trường địa phương
Thứ tư, các ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ phục vụ kinh doanh tại địa phương
Một doanh nghiệp muốn hoạt động được thì ngoài những nguyên, vật liệu chính còn phải sử dụng những hàng hoá và dịch vụ do các doanh nghiệp khác cung ứng Trong điều kiện ngày nay, mức độ chuyên môn hoá trong sản xuất kinh doanh ngày một tăng dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn Chính vì vậy, khi quyết định lựa chọn một địa phương làm địa điểm kinh doanh các nhà đầu tư còn quan tâm đến các ngành công nghiệp phụ trợ và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ phục vụ kinh doanh của địa phương Các ngành công nghiệp phụ trợ sẽ cung cấp cho nhà đầu tư những vật tư phụ, dịch vụ gia công, cung cấp các chi tiết sửa chữa máy móc, thiết bị… Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ kinh doanh
sẽ cung cấp các dịch vụ như là tư vấn, kiểm toán, ngân hàng, tài chính, tư vấn luật, đào tạo… Địa phương có ngành công nghiệp phụ trợ và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh thoả mãn được nhu cầu của nhà đầu tư sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của địa phương Chính vì vậy, địa phương cần quy hoạch và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đi cùng với việc thúc đẩy phát triển các dịch vụ phục vụ kinh doanh
để cải thiện năng lực cạnh tranh của các nhà đầu tư
Thứ năm, đặc điểm về mức độ hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tại địa phương
Mức độ hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tại địa phương thể hiện văn hoá ứng xử trong kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn, điều này ảnh hưởng đến sự hấp dẫn hoặc kém hấp dẫn của các doanh nghiệp tại địa phương Sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau của các doanh nghiệp tại địa phương thúc đẩy việc thu
Trang 24hút tài năng đến với địa phương, thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao uy tín và hình ảnh của địa phương đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại địa phương Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tại địa phương phản ánh thế mạnh của các doanh nghiệp hiện có tại địa phương, nó có thể
là rào cản sự gia nhập thị trường của các nhà đầu tư từ bên ngoài Mặt khác, các doanh nghiệp tại địa phương có năng lực cạnh tranh mạnh sẽ góp phần xây dựng thương hiệu địa phương Địa phương có thương hiệu tốt thì lại hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
Năm yếu tố trên đây có thể được xem như là năm lực lượng cạnh tranh của địa phương Khi nghiên cứu khả năng cạnh tranh, sức hấp dẫn của địa phương đối với nhà đầu tư, chúng ta cần nghiên cứu phối hợp cả năm yếu tố trên
1.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đang là vấn đề được các tỉnh quan tâm trong giai đoạn hiện nay Theo VCCI, đã có trên 40 cuộc hội thảo được tổ chức tại các tỉnh thành nhằm đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của các địa phương Cũng tại đây, nhiều bài học kinh nghiệm đã được đưa ra để các địa phương có thể học hỏi lẫn nhau Kể cả các tỉnh thuộc nhóm dẫn đầu như Đà Nẵng, Bình Dương cũng đã tổ chức các hội thảo chuyên đề để nhìn nhận những điểm yếu trong chỉ số PCI của địa phương mình
Đánh giá về kết quả PCI, Đại sứ Hoa Kỳ Michael W.Michalak cho rằng, Chính phủ VN có thể sử dụng PCI như công cụ hữu hiệu trong quá trình thiết lập
http://vccinews.vn/?page=detail&folder=62&Id=57)
Ông Vũ Tiến Lộc, chủ tịch VCCI khẳng định, các tỉnh thành rất quan tâm đến chỉ số PCI, với nhiều địa phương, kết quả điều tra hàng năm được công bố giúp lãnh đạo cấp tỉnh nhìn nhận rõ năng lực điều hành và có động lực để thực hiện cải cách, cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh Cũng theo ông Lộc, cải thiện PCI không chỉ cải thiện hình ảnh mà còn góp phần thu hút đầu tư, tăng cường nguồn thu
http://vccinews.vn/?page=detail&folder=62&Id=57)
PCI được đo lường trong nhiều năm và cho tất cả các tỉnh thành nên nó vừa có tính so sánh theo thời gian vừa có tính so sánh theo không gian Chẳng hạn như nhìn vào chỉ số PCI của một địa phương, chúng ta có thể đánh giá được những tiến
bộ hay thoái bộ của địa phương ấy so với các năm trước Đồng thời chúng ta có thể
so sánh được chất lượng điều hành của địa phương này so với các địa phương khác
Trang 25trong cùng một năm Từ cách xây dựng chỉ số PCI, có thể thấy rằng PCI là chỉ số
có tính tương đối chứ không có tính tuyệt đối
PCI có thể được nhiều đối tượng khác nhau sử dụng, tất nhiên vì những mục đích khác nhau Các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi cân nhắc khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh hay chọn địa điểm đầu tư có thể nhìn vào PCI như một nguồn tham khảo về chất lượng điều hành của các địa điểm đầu tư tiềm năng vì thường thì
“đất lành chim đậu”
Báo cáo PCI năm nay chỉ ra rằng nếu như một tỉnh tăng được PCI (không có trọng số) lên 1 điểm phần trăm thì trung bình sẽ thu hút thêm được ba nhà đầu tư Tương tự, nếu nhìn vào các chỉ số bộ phận, nếu một tỉnh tăng được chỉ số tính minh bạch lên 10 điểm phần trăm thì sẽ tăng được 13% số doanh nghiệp/1.000 dân, 17% đầu tư/đầu người và 62 triệu đồng lợi nhuận/doanh nghiệp Nếu như PCI là một nguồn thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, và nếu như chính quyền địa phương coi các nhà đầu tư là một nhóm khách hàng quan trọng thì hiển nhiên PCI có thể trở thành một công cụ hữu dụng giúp chính quyền địa phương cải thiện chất lượng phục vụ khách hàng của mình
Theo kết quả phân tích định lượng của VCCI và Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI), việc cải thiện PCI đã giúp các tỉnh thành đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu hút trong đầu tư của khu vực dân doanh và FDI, tăng công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo
Trên thực tế, đối với một số tỉnh bất lợi về điều kiện tự nhiên hay cơ sở hạ tầng thì việc cải thiện chất lượng điều hành của chính quyền nhờ đó trở nên thân thiện hơn với doanh nghiệp, gần như là biện pháp duy nhất để có thể nâng đỡ khu vực dân doanh phát triển để tạo động lực phát triển kinh tế địa phương
Như trên đã phân tích, PCI là một chỉ số có tính so sánh theo không gian và thời gian Như vậy, một địa phương muốn đánh giá chất lượng điều hành của mình
có thể so sánh từng chỉ số thành phần của PCI trong năm nay so với các năm trước
và xem xét sự tiến bộ hay thụt lùi của mình Từ đó tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân và đưa ra những chính sách thích hợp để cải thiện tình hình, đặc biệt là đối với những chỉ tiêu quan trọng nhất
Một bài học quan trọng cần được nhắc lại là để có thể thu hút đầu tư từ bên ngoài, chính quyền địa phương trước hết phải làm hài lòng các nhà đầu tư hiện tại trước đã
Trang 26Với những vai trò như phân tích ở trên thì vấn đề đặt ra là phải tiếp tục nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại các địa phương
1.4 Kinh nghiệm của một số tỉnh trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Mặc dù xuất phát điểm thấp so với các tỉnh, thành phố trong cả nước, song Lào Cai luôn được sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung ương, cùng những nỗ lực phấn đấu không ngừng, đổi mới toàn diện từ tư duy đến hành động, từ chỉ đạo đến điều hành nhằm hỗ trợ, thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân, góp phần đẩy mạnh tốc
độ phát triển kinh tế - xã hội chung của toàn tỉnh Thay đổi đáng kể nhất là Lào Cai đã quyết tâm cải thiện chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp
Năm 2010, ngay sau kết quả công bố vị trí xếp hạng PCI đứng thứ hai, lãnh đạo tỉnh Lào Cai nhận thấy rằng việc duy trì thứ hạng cao trong bảng xếp hạng PCI
Trang 27là cần thiết bởi đây là kết quả khẳng định sự nỗ lực của các cấp, các ngành trong việc điều hành kinh tế của chính quyền địa phương Cụ thể là sau khi rà soát thấy một số chỉ số còn chậm được cải thiện hoặc cải thiện không đáng kể, Tỉnh đã có ngay những giải pháp kịp thời như đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo, đội ngũ cán bộ công chức trong việc hỗ trợ doanh nghiệp; Cải cách thủ tục hành chính; Tập trung đẩy mạnh công khai minh bạch thông tin cho doanh nghiệp; Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ công; Phát huy vai trò tính năng động sáng tạo và tiên phong trong công tác quản lý, điều hành kinh tế; Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực; Tạo chuyển biến mạnh
mẽ trong các hoạt động của tổ chức tư pháp, cơ quan thi hành án trên địa bàn tỉnh; Tạo sự thông thoáng trong việc tiếp cận đất đai, duy trì tính ổn định trong việc sử dụng đất Nhờ vậy sau một năm thực hiện kết quả đem lại là Lào Cai đã nhận được những điểm số tốt qua sự chấm điểm của các doanh nghiệp trong Tỉnh và vị trí đầu bảng xếp hạng PCI 2011 là rất xứng đáng
Để giữ vững vị trí đầu bảng trong những năm tiếp theo, Lào Cai đã đưa ra 8 giải pháp, đó là:
1 Chú trọng công tác thông tin truyền thông; tích cực nâng cao nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo và đội ngũ cán bộ công chức trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp
2 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tăng cường giám sát thực hiện các quy trình, thủ tục tại đơn vị để không gây cản trở cho doanh nghiệp và người dân
3 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, tập trung thực hiện hải quan điện
tử trên địa bàn; phổ biến, công khai các văn bản pháp quy trên Cổng giao tiếp điện
tử, đặc biệt trên Website “Cơ sở dữ liệu điện tử PCI tỉnh Lào Cai”
4 Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh trên địa bàn; phát huy vai trò Hội Doanh nghiệp tỉnh; xây dựng và thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp; bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng và thông tin, từng bước nâng cao năng lực quản lý của các doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
5 Tiếp tục duy trì các hội nghị, hội thảo giữa lãnh đạo chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, đồng thời có giải pháp để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp
6 Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực trên cơ sở Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2011 - 2020 được cấp thẩm quyền phê duyệt, tiến hành ký kết và tổ chức các chương trình phối hợp đào tạo giữa các
cơ sở đào tạo và doanh nghiệp ở cả 3 cấp trình độ cao đẳng nghề, trung cấp
Trang 28nghề và sơ cấp nghề với nhiều ngành nghề khác nhau, tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn ngành nghề hơn
7 Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, nâng cao lòng tin của doanh nghiệp, người dân đối với hoạt động của hệ thống
tư pháp
8 Tạo thuận lợi nhất trong việc tiếp cận đất đai, duy trì tính ổn định trong việc
sử dụng đất, vận dụng hài hòa, linh hoạt và chính xác chính sách đền bù giải phóng mặt bằng
Với những đột phá trong công tác điều hành kinh tế, Lào Cai đã và đang trở thành điểm hẹn tin cậy của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
1.4.2 Thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng đứng đầu PCI năm thứ 2 liên tiếp : “Chúng tôi đặt mình vào vị thế DN” Theo Ông Trần Văn Minh – Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng để giữ vững ngôi quán quân, chính quyền Đà Nẵng đã chủ động chỉ đạo khảo sát các DN nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chỉ số PCI ngay từ đầu năm 2009 (Nguồn: Tâm Vũ, Đà Nẵng đứng đầu PCI năm thứ 2 liên tiếp: “Chúng tôi đặt mình vào vị thế của doanh nghiệp” Địa chỉ: http: ///www.dddn.com.vn, )
Trên thực tế, tỉnh đã thực hiện các công việc theo quan điểm đặt mình vào vị thế của DN Ngay đầu năm 2009, UBND thành phố đã trực tiếp chỉ đạo Trung tâm xúc tiến Đầu tư Đà Nẵng và Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng dựa vào các chỉ tiêu cơ bản của chỉ số PCI năm 2008, khảo sát các DN về các chỉ số năng lực cạnh tranh của Đà Nẵng để vạch ra kế hoạch quyết tâm giữ vững ngôi vị
số 1 trong năm 2009 Kết quả cho thấy, nổi bật nhất là chỉ số tính năng động của chính quyền thành phố, có tới 82,87% DN cho rằng thành phố luôn linh động trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng DN; 92,34% DN cho rằng thành phố triển khai tốt trong khuôn khổ các quy định của Trung ương… Thời gian chờ đợi thực sự để có mặt bằng kinh doanh từ 75 ngày năm 2008 sang năm 2009 còn 60 ngày; Tỷ lệ DN khó khăn có đủ giấy phép cần thiết tăng từ 2,8% năm 2008 lên 10,98% năm 2009
Tuy nhiên, một số chỉ số cấu thành PCI biến động đáng lo ngại như: Chỉ số
“Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất” năm 2008 Đà Nẵng xếp vị trí 58/64 (cách Bình Dương khá xa là 2,2 điểm); Chỉ số “chi phí không chính thức” Đà Nẵng xếp hạng thấp trên bảng xếp hạng 63 tỉnh thành năm 2008 và đứng sau Bình Dương với cách biệt 0,40 điểm
Nắm được các hạn chế đó, UBND thành phố chỉ đạo cho các sở, ban ngành liên quan thực hiện tốt kế hoạch “một cửa liên thông” Chỉ đạo tổ chức Hội thảo
Trang 29“Nâng cao Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của thành phố Đà Nẵng” và mời TS Jim Winkler – GĐ Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh VN (VNCI) tham dự để tư vấn cho chính quyền Đà Nẵng đưa ra những giải pháp tốt nhất nâng cao chỉ số PCI Từ
đó UBND thành phố đã chính thức chỉ đạo các đơn vị tập trung tăng cường hơn nữa tính công khai minh bạch về chủ trương chính sách, mở rộng dân chủ, đi kèm một
số định hướng mang tầm chiến lược như lựa chọn mô hình phát triển thân thiện với môi trường, cải thiện mạnh mẽ cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các loại hình dịch vụ, quy hoạch, xúc tiến đầu tư…; phát triển kinh
tế mũi nhọn du lịch dịch vụ…
Theo Ông Lâm Quang Minh – Giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư TP Đà Nẵng: một trong những nguyên nhân chính trong thành công của Đà Nẵng là việc chế độ một cửa liên thông đã được thực hiện từ năm 2000 Ngay từ đó, UBND thành phố điều cán bộ đi nhiều nước trên thế giới để học tập cách quản lý hành chính theo chế độ một cửa liên thông Tiếp đó, UBND thành phố chỉ đạo Trung tâm xúc tiến đầu tư (TTXTĐT) chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND thành phố, chứ không thuộc sự quản lý của Sở KHĐT như các tỉnh thành khác Từ đây, tất cả các
dự án đầu tư vào Đà Nẵng đều thông qua TTXTĐT Những dự án lớn chủ đầu tư sẽ làm việc trực tiếp với UBND thành phố TTXTĐT chuyển hồ sơ liên quan đến từng
sở, ban ngành để hợp thức hóa hồ sơ cấp phép đầu tư Như vậy, các nhà đầu tư đến
Đà Nẵng không phải chạy đi xin “con dấu” bất kỳ cơ quan nào, mà chỉ cần đến làm thủ tục tại TTXTĐT Năm 2003, chế độ một cửa được đẩy mạnh, mở rộng đến các
sở, ban ngành Mỗi sở có “một cửa liên thông” (một bộ phận tổng hợp hồ sơ – PV)
Từ đó, TTXTĐT chỉ cần mang hồ sơ dự án nộp cho bộ phận duy nhất của các sở
Bộ phận tổng hợp đó chịu trách nhiệm thực hiện theo trình tự quy định Đến nay, có nhiều sở đã lắp camera ngay tại cơ quan để lãnh đạo Sở theo dõi cụ thể về quy trình
“một cửa liên thông” của sở Từ thành công từ mô hình “chế độ một cửa liên thông” đẩy mạnh thu hút đầu tư của TP Đà Nẵng, Bộ KHĐT đã thành lập TTXTĐT miền Trung theo mô hình này để hỗ trợ các TTXTĐT các tỉnh miền Trung và chính TTXTĐT nhiều tỉnh thành như: Hà Nội, Đồng Nai, Đắk Lắk đã đến Đà Nẵng tìm hiểu về mô hình này Chính nhờ sự thông thoáng ấy, năm 2009, TP Đà Nẵng đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới cho khoảng 2.350 DN, tổng vốn đăng ký ước đạt 5.300 tỷ đồng Lũy kế đến nay, trên địa bàn thành phố có trên 11.800 DN, tổng vốn đăng ký đạt 28,5 ngàn tỷ đồng, tăng 21,6% về số DN và 12,3% về vốn đăng ký so với cuối năm 2008 Tiếp tục triển khai hiệu quả việc đăng ký kinh doanh trực tuyến và thực hiện mô hình một cửa liên thông trong đăng ký kinh doanh, đăng
ký mã số thuế, khắc dấu, triển khai áp dụng một mã số cho đăng ký kinh doanh và
Trang 30đăng ký thuế, tạo môi trường thông thoáng, thuận tiện cho nhà đầu tư trong việc thành lập, khởi sự (Nguồn: Tâm Vũ, Đà Nẵng đứng đầu PCI năm thứ 2 liên tiếp:
“Chúng tôi đặt mình vào vị thế của doanh nghiệp” Địa chỉ: http: ///www.dddn.com.vn, )
Năm 2010 là năm thứ 3 liên tiếp đứng đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI với 69,77 điểm, Đà Nẵng đã khẳng định nỗ lực cố gắng vược bật trong việc tích cực cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư Trong đó những chỉ số như: đào tạo lao động Đà Nẵng đứng đầu trong cả nước (1/63), tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin đứng thứ 2/63 và nhiều chỉ số như: tính năng động và tiên phong của chính quyền, chi phí gia nhập thị trường, thiết chế pháp lý cũng nằm trong tốp dẫn đầu của cả nước
Tuy nhiên, sau ba năm liên tiếp dẫn đầu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, đến năm 2011, Đà Nẵng tụt xuống tận vị trí thứ 5
Vậy nguyên nhân là do đâu? Qua khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội thành phố cũng như Trung tâm Xúc tiến đầu tư trong nửa năm
2012 cho thấy việc lấy lại vị thế dẫn đầu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Đà Nẵng như trước đây không dễ dàng
Theo báo cáo của Viện trưởng Hồ Kỳ Minh, đa số DN phản ánh có nhiều trở ngại khi đầu tư, hoạt động kinh doanh ở Đà Nẵng Cụ thể, nhiều cán bộ chính quyền trục lợi, DN phải trả phí hoa hồng, chi phí không chính thức khi đăng ký kinh doanh; DN khó khăn tiếp cận đất, mở rộng mặt bằng; dịch vụ hỗ trợ DN yếu; chất lượng lao động thấp Nếu năm 2011, chất lượng lao động phổ thông và có đào tạo nghề được đánh giá tốt và rất tốt từ 54 – 67% thì con số này tụt xuống 29 – 47% trong 6 tháng đầu năm 2012 Năm 2011, có 46,63% DN phải trả phí bôi trơn thì con
số này hiện tại là 47,2% Ngoài ra, có 44.9% DN tố cáo cán bộ nhũng nhiễu khi giải quyết các thủ tục Còn theo Trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng: Tất cả DN đều cho rằng công việc sẽ được giải quyết êm đẹp sau khi đã trả chi phí không chính thức,
và chi phí này cao hơn năm ngoái Có tới 62% DN trả lời phải có hoa hồng để có được hợp đồng từ các cơ quan nhà nước Dịch vụ hỗ trợ DN tuy được cải thiện trong đợt khảo sát mới nhưng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng Sau khi mất điểm thê thảm trong năm 2011, các DN đánh giá, thành phố đã có bước cải tiến trong vấn
đề giúp đỡ DN trong môi trường kinh doanh
Theo Viện trưởng Hồ Kỳ Minh, ngoài những yếu tố trên thì chất lượng lao động và đào tạo lao động là nội dung mà các DN đánh giá thấp nhất mặc dù chỉ số này giảm điểm mạnh trong năm 2011 Năm 2011, 47,86% DN ngỏ ý muốn tiếp tục
sử dụng nguồn lao động do nhà nước cung cấp, nhưng hiện tại, con số này chỉ còn 27,6% Điều này chứng tỏ, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm của thành phố và các
Trang 31địa phương là chưa hiệu quả (Nguồn: Đà Nẵng tự chẩn bệnh PCI Địa chỉ: http://www.pcivietnam.org/articles_detail.php?article=83)
Và một nguyên nhân nữa mà theo Chủ tịch UBND thành phố Văn Hữu Chiến cho biết, sau nhiều năm đứng đầu PCI, lãnh đạo cũng như nhiều cán bộ ở Đà Nẵng
đã có dấu hiệu thỏa mãn, chủ quan và đó chính là nguyên nhân chính khiến PCI tụt hạng Vì thế, 6 tháng cuối năm sẽ là một cuộc bứt phá đầy gian khó của Đà Nẵng nếu muốn lấy lại vị thế dẫn đầu Vì vậy ngay từ bây giờ Đà Nẵng cần phải thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm, kiên quyết gạt bỏ tiêu cực, cán bộ yếu kém, nhũng nhiễu để giúp môi trường kinh doanh, đầu tư sáng hơn (Nguồn: Đà Nẵng tự chẩn bệnh PCI Địa chỉ: http://www.pcivietnam.org/articles_detail.php?article=83) Theo Th.s Lê Văn Hiểu – Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Đà Nẵng, cần tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao tính minh bạch của môi trường kinh doanh, thay đổi vai trò chủ thể trong dịch vụ hỗ trợ DN và nâng cao chất lượng lao động Nếu thực hiện tốt những điều cơ bản trên, nhất định vị trí số 1 PCI sẽ quay trở lại với Đà Nẵng “Cần công khai, minh bạch các văn bản, chính sách liên quan đến DN” (Nguồn:
Đà Nẵng tự chẩn bệnh PCI Địa chỉ:
http://www.pcivietnam.org/articles_detail.php?article=83)
Cùng ý kiến, ông Văn Hữu Thiết - Tổng thư ký Hội DNNVV Đà Nẵng đề nghị cần công khai, minh bạch các dự án, chương trình đầu tư, mua sắm công “Nhiều DN nói phải bồi dưỡng cán bộ mới được vay vốn, hoặc tình trạng nhũng nhiễu tăng” (Nguồn:
Đà Nẵng tự chẩn bệnh PCI Địa chỉ:
http://www.pcivietnam.org/articles_detail.php?article=83)
Vậy thành phố phải gia tăng làm sạch đội ngũ cán bộ Cán bộ phải coi việc phục vụ DN là phục vụ thành phố, đó là thể hiện sự tri ân của viên chức đã nhận lương qua thuế mà người dân, DN đóng góp
1.4.3 Tỉnh Bắc Ninh
Theo công bố của VCCI về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm
2011, Bắc Ninh đã vươn lên đứng thứ 2 toàn quốc và là năm thứ 3 liên tiếp nằm trong tốp 10 địa phương dẫn đầu trong bảng xếp hạng Đây là kết quả của sự lãnh đạo thường xuyên, sâu sát của Tỉnh uỷ, sự điều hành tập trung, quyết liệt hiệu quả trong phát triển kinh tế của chính quyền tỉnh trong thời gian qua; là nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhanh, bền vững
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội Năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 16,24%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng CNH, HĐH với tỷ trọng nông, lâm,
Trang 32ngư nghiệp giảm còn 8,6%, công nghiệp - xây dựng tăng lên 70,6%; GDP bình quân đầu người đạt 2.130 USD…
PCI của Bắc Ninh qua các năm thăng hạng nhanh và vững chắc: Năm 2008 xếp thứ 16; năm 2009 xếp thứ 10, năm 2010 xếp thứ 6 và năm 2011 với điểm số PCI là 67,27, Bắc Ninh đã vượt lên xếp vị trí thứ 2 của cả nước (tăng 1,79 điểm và tăng 4 hạng
so với năm 2010) So với các tỉnh trong vùng, trong 9 tiêu chí dùng để đánh giá chỉ số PCI thì có 3 tiêu chí Bắc Ninh đứng ở vị trí số 1, đó là: Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; Chi phí thời gian để thực hiện các qui định của Nhà nước và Thiết chế pháp lý Các tiêu chí: Chi phí gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp đứng ở vị trí thứ 2; Đào tạo lao động đứng thứ 3; Chi phí không chính thức đứng thứ 4; Tính minh bạch và tiếp cận thông tin đứng thứ 5
So với năm 2010 thì có 6 chỉ số tăng điểm, 3 chỉ số giảm điểm…
Nhìn chung, Bắc Ninh được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao trong việc tạo lập được môi trường kinh doanh đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp Song kết quả trên cho thấy nhiều chỉ số được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao nhưng vẫn còn có chỉ số ở mức thấp so với các địa phương khác và nhất là so với năm
2010 đã có những chỉ số giảm điểm
Chỉ số PCI của Bắc Ninh có sự đi lên khá vững chắc, điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó trọng tâm là sự nỗ lực không ngừng của chính quyền tỉnh trong việc cải thiện công tác điều hành kinh tế Với chủ trương phát huy tối đa nội lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thời gian qua Bắc Ninh đã không ngừng cố gắng cải thiện môi trường kinh doanh nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của doanh nghiệp Đặc biệt, năm 2011, Bắc Ninh đã cải thiện đáng kể môi trường kinh doanh, thông qua việc ban hành chính sách và tập trung chỉ đạo quyết liệt của tỉnh về cải thiện chỉ số PCI và phân công trách nhiệm cho từng ngành, đơn vị chỉ đạo cải thiện từng chỉ số thành phần làm tăng điểm PCI; Hàng năm, căn cứ vào từng chỉ số thành phần trong chỉ số PCI được công bố, UBND tỉnh giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các sở, ngành, cơ quan liên quan nghiên cứu, phân tích tìm ra những điểm mạnh, yếu trong môi trường kinh doanh của tỉnh, sau đó so sánh với các tỉnh xung quanh,
từ đó có biện pháp chỉ đạo yêu cầu các ngành, các cấp chính quyền khắc phục Cùng với đó, tỉnh chú trọng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính với những bước
đi đột phá như xây dựng thành công mô hình “Một cửa và một cửa liên thông hiện đại” giúp doanh nghiệp và người dân tiết giảm tối đa thời gian, công sức, tạo tính công khai minh bạch trong tiếp nhận và giải quyết các thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước Tỉnh cũng đẩy mạnh đầu tư các trang web về công nghệ thông tin hỗ trợ doanh nghiệp;
Trang 33Đặc biệt, lãnh đạo tỉnh luôn đồng hành và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, nhất là những vướng mắc về đất đai, mặt bằng sản xuất, nguồn lao động, chính sách thuế, an ninh trật tự,… Trong việc kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp, tỉnh cũng làm hết sức thận trọng với kế hoạch rõ ràng, thống nhất giữa các ngành chứ không chồng chéo, gây khó khăn cho doanh nghiệp
1.4.4 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc đã học tập kinh nghiệm trong việc cải cách chất lượng điều hành kinh tế của một số tỉnh có thành tích tốt Rút ra một số bài học kinh nghiệm cho mình cụ thể như sau: Từ những việc làm được và chưa làm được trong 5 năm qua,
có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển toàn diện từ trong
lãnh đạo, chỉ đạo đến khâu tổ chức thực hiện; trong tất cả các ngành, các lĩnh vực; trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị; từ việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đến từng chương trình, đề án, dự án cụ thể Phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, thực hiện các mục tiêu xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, giữ vững sự ổn định về chính trị, bảo vệ môi trường, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo phát triển bền vững
Hai là, trong chỉ đạo phát triển kinh tế, trước hết phải xác định được mục tiêu mang
tính chiến lược, mục tiêu ưu tiên phát triển; lựa chọn hướng đi đúng; có bước đi thích hợp; đề ra được các nhiệm vụ và giải pháp đột phá để thực hiện mục tiêu phát triển
Ba là, xác định nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển KT-XH
nhanh và bền vững, là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa có tính chiến lược lâu dài Chiến lược phát triển nguồn nhân lực phải gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển KT-XH;
Bốn là, việc xây dựng cơ chế, chính sách trước hết, phải bám sát định hướng quy
hoạch và các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, căn cứ vào các điều kiện khách quan, chủ quan, từ đó lựa chọn các vấn đề có tính đột phá để ban hành các cơ chế, chính sách
Năm là, phải có các giải pháp để tạo môi trương đầu tư hấp dẫn nhằm giải
phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế trong tỉnh, đồng thời thu hút các nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển
Trước hết, cần tập trung làm tốt công tác qui hoạch, công tác qui hoạch đi trước một bước (bao gồm qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH, các qui hoạch chuyên ngành) Nâng cao chất lượng qui hoạch, điều chỉnh, bổ sung kịp thời qui hoạch và thực hiện đầu tư theo qui hoạch
Trang 34Làm tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Chủ động quĩ đất để đầu tư phát triển sản xuất và dịch vụ Ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là các tuyến đường vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp Đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là thủ tục hành chính, loại bỏ các khâu rườm rà, cản trở đến tốc độ thu hút đầu tư
Ngoài những bài học rút ra từ sự thành công của các tỉnh thì một số bài học rút ra được từ sự thất bại của các tỉnh, đó là tiến trình cải cách phải được duy trì, cải cách với chất lượng cao hơn, đặc biệt tăng cường hơn nữa tính minh bạch và khả năng sẵn sàng đón nhận làn sóng đầu tư lớn Đây là một kinh nghiệm xương máu rút ra từ sự tụt hạng của một số tỉnh Từ đó Vĩnh Phúc cần tránh lập lại sai lầm giống như tỉnh bạn
Trang 35Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
Để giải quyết được nội dung nghiên cứu đề tài chính là việc trả lời được các câu hỏi sau:
a Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được tính toán dựa trên các chỉ số thành phần nào?
b Đánh giá của các doanh nghiệp về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc trong thời gian qua như thế nào?
c Giải pháp nào giúp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Nội dung của phương pháp
Thu thập dữ liệu là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội Việc thu thập dữ liệu thường tốn nhiều thời gian, công sức và chi phí; do đó cần phải nắm chắc các phương pháp thu thập dữ liệu để từ đó chọn ra các phương pháp thích hợp với hiện tượng, làm cơ sở
để lập kế hoạch thu thập dữ liệu một cách khoa học, nhằm để đạt được hiệu quả cao nhất của giai đoạn quan trọng này
Dữ liệu sơ cấp: là những dữ liệu chưa qua xử lý, được thu thập lần đầu, và thu thập trực tiếp từ các đơn vị của tổng thể nghiên cứu thông qua các cuộc điều tra thống kê Dữ liệu sơ cấp đáp ứng tốt yêu cầu nghiên cứu, tuy nhiên việc thu thập dữ liệu sơ cấp lại thường phức tạp, tốn kém, người ta không tiến hành điều tra hết toàn
bộ các đơn vị của tổng thể, mà chỉ điều tra trên 1 số đơn vị gọi là điều tra chọn mẫu
Có nhiều phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp Nhìn chung khi tiến hành thu thập dữ liệu cho một cuộc nghiên cứu, thường phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp với nhau để đạt được hiệu quả mong muốn
Trong luận văn của mình, Học viên sử dụng 2 loại số liệu thứ cấp; đó là số liệu thống kê công bố hàng năm của VCCI về chỉ số PCI của 63 tỉnh thành trong cả nước, và số liệu điều tra các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Hiện tại trên địa bàn tỉnh có khoảng 15.000 doanh nghiệp, vì số lượng quá lớn học viên không thể điều tra hết mà chỉ chọn ra 150 doanh nghiệp mẫu để gửi bảng câu hỏi điều tra
a) Phương pháp chọn mẫu
Điều tra chọn mẫu có nghĩa là không tiến hành điều tra hết toàn bộ các đơn vị của tổng thể, mà chỉ điều tra trên 1 số đơn vị nhằm để tiết kiệm thời gian, công sức
Trang 36và chi phí Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho tổng thể mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung
Quá trình tổ chức điều tra chọn mẫu thường gồm 6 bước sau:
- Xác định tổng thể chung (ta phải xác định rõ tổng thể chung, bởi vì ta sẽ chọn
mẫu từ đó) Tổng thể chung là 15.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên địa
bàn tỉnh theo số liệu của phòng Đăng ký kinh doanh, sở Kế hoạch và Đầu tư
- Xác định khung chọn mẫu hay danh sách chọn mẫu: Các khung chọn mẫu có sẵn, thường được sử dụng là: Các danh bạ điện thoại hay niên giám điện thoại xếp theo tên cá nhân, công ty, doanh nghiệp, cơ quan; các niên giám điện thoại xếp theo tên đường, hay tên quận huyện thành phố; danh sách liên lạc thư tín: hội viên của các câu lạc bộ, hiệp hội, độc giả mua báo dài hạn của các toà soạn báo…; danh sách tên và địa chỉ khách hàng có liên hệ với công ty (thông qua phiếu bảo hành), các khách mời đến dự các cuộc trưng bày và giới thiệu sản phẩm
- Lựa chọn phương pháp chọn mẫu: Dựa vào mục đích nghiên cứu, tầm quan trọng của công trình nghiên cứu, thời gian tiến hành nghiên cứu, kinh phí dành cho nghiên cứu, kỹ năng của nhóm nghiên cứu,… để quyết định chọn phương pháp chọn mẫu xác suất hay phi xác suất; sau đó tiếp tục chọn ra hình thức cụ thể của phương pháp này
- Xác định quy mô mẫu (sample size): Xác định quy mô mẫu thường dựa vào :
yêu cầu về độ chính xác, khung chọn mẫu đã có sẵn chưa, phương pháp thu thập dữ liệu, chi phí cho phép Đối với mẫu xác suất: thường có công thức để tính cỡ mẫu; đối với mẫu phi xác suất: thường dựa vào kinh nghiệm và sự am hiểu về vấn đề nghiên cứu để chọn cỡ mẫu
- Xác định các chỉ thị để nhận diện được đơn vị mẫu trong thực tế: Đối với
mẫu xác suất: phải xác định rõ cách thức để chọn từng đơn vị trong tổng thể chung vào mẫu sao cho đảm bảo mọi đơn vị đều có khả năng được chọn như nhau
- Kiểm tra quá trình chọn mẫu: thường kiểm tra trên các mặt sau: Kiểm tra đơn
vị trong mẫu có đúng đối tượng nghiên cứu không? (vì thường mắc sai lầm ở khâu chọn đối tượng: do thu thập thông tin ở nơi không thích hợp, ở những người không thích hợp, hoặc bỏ qua thông tin của những người lẽ ra phải được phỏng vấn…) Kiểm tra sự cộng tác của người trả lời (hỏi càng dài thì sự từ chối trả lời càng lớn) Kiểm tra tỷ lệ hoàn tất (xem đã thu thập đủ số đơn vị cần thiết trên mẫu chưa): trong phỏng vấn bằng thư có khi thư bị trả lại do không có người nhận, trong phỏng vấn bằng điện thoại có thể không tiếp xúc được với người cần hỏi vì họ không có mặt hay họ không có điện thoại
Trang 37Sau khi đã chọn được 150 mẫu đáp ứng các yêu cầu thì gửi bảng câu hỏi qua thư trực tiếp qua đường bưu điện, đồng thời gửi qua email
b-Phương pháp phỏng vấn bằng thư, email (mail interview):
Gửi bảng câu hỏi đã soạn sẵn, kèm phong bì đã dán tem đến người muốn điều tra qua đường bưu điện Nếu mọi việc trôi chảy, đối tượng điều tra sẽ trả lời và gửi lại bảng câu hỏi cho cơ quan điều tra cũng qua đường bưu điện
2.2.1.2 Ưu, nhược điểm
Có thể điều tra với số lượng lớn đơn vị, có thể đề cập đến nhiều vấn đề riêng
tư tế nhị, có thể dùng hình ảnh minh hoạ kèm với bảng câu hỏi Thuận lợi cho người trả lời vì họ có thời gian để suy nghĩ kỹ câu trả lời, họ có thể trả lời vào lúc rảnh rỗi Chi phí điều tra thấp, chi phí tăng thêm thấp, vì chỉ tốn thêm tiền gởi thư, chứ không tốn kém tiền thù lao cho phỏng vấn viên Tuy nhiên tỷ lệ trả lời thường thấp, mất nhiều thời gian chờ đợi thư đi và thư hồi âm, không kiểm soát được người trả lời, người trả lời thư có thể không đúng đối tượng mà ta nhắm tới…
* Các biện pháp làm tăng tỷ lệ trả lời thư :
- Thông báo trước cho người được phỏng vấn: Dùng một bưu ảnh thông báo trước khoảng chừng năm ngày trước khi gởi bảng câu hỏi Trong đó ghi cụ thể: họ tên người nhận (ghi rõ chức danh) và thông báo mục đích Hoặc dùng một thư báo hay dùng điện thoại báo trước
- Chuẩn bị kỹ phong bì: Phong bì cần trang trọng bằng giấy tốt, có in tên nơi gởi và họ tên địa chỉ người nhận Trên đó in đậm dòng chữ: Đây là cuộc điều tra chúng tôi đã thông báo với quý vị Tuỳ trường hợp có thể in hay không in tên công
ty mà ta cần điều tra vì để tạo tâm lý tốt nơi người nhận thư
- Chuẩn bị kỹ bức thư: Bức thư phải kích thích người nhận thư điền vào bảng câu hỏi và gởi trả lại Bức thư phải được in đẹp trang trọng, mang màu sắc cá nhân, tránh tạo ra cảm giác là thư in hàng loạt để gửi cho bất cứ ai Bắt đầu thư là lời kêu gọi sự giúp đỡ, nêu tầm quan trọng của vấn đề để thuyết phục họ trả lời Thư đề cập vắn tắt đến mục đích nghiên cứu, đề cao tầm quan trọng của đối tượng được hỏi, hứa hẹn lợi ích nếu họ tham gia (chẳng hạn sẽ gởi họ tóm tắt bảng kết quả điều tra), cuối cùng nhắc đến tính đơn giản của bảng câu hỏi, và thời gian ngắn để trả lời
- Dùng kích thích vật chất: Đôi khi cần có một món quà nhỏ như một cây bút, một tấm thiếp đẹp…kèm theo thư Cũng có người kèm theo 50.000đ mới để “mời một cốc cà phê” hay “tặng cháu bé trong gia đình” Nếu món quà có giá trị tương đối, ta có thể hứa hẹn gởi đến sau khi nhận được bảng trả lời Có thể đánh số thứ tự vào bức thư để người trả lời được tham dự xổ số trúng thưởng khi trả lời thư Tuy
Trang 38nhiên một món quà quá hậu hỹ đôi khi làm người trả lời làm cho bạn vui lòng thay
vì trả lời trung thực theo ý họ
- Chú ý đến hình thức trình bày của bảng câu hỏi: Bảng câu hỏi nên có bề ngoài đơn giản, hấp dẫn, dễ đọc, dễ trả lời Đối với các câu hỏi mở cần chừa trống
đủ để trả lời Nên dùng tranh khôi hài nhỏ để gây sự thích thú và kích thích trả lời
- Chuẩn bị phong bì có dán tem trả lời với địa chỉ nơi nhận
- Theo dõi quá trình hồi đáp: Khoảng từ 3 đến 5 ngày sau khi gửi bảng câu hỏi, nên có bưu thiếp gởi đến để nhắc nhở Ngoài ra phải dùng một bức thư mới để kêu gọi sự trả lời, kèm theo một bảng câu hỏi và phong bì có dán tem thư trả lời, gửi khoảng 3 đến 4 tuần sau khi gửi bảng câu hỏi lần thứ nhất, để dự phòng khi đối tượng bận công tác hay đi nghỉ phép…
2.2.1.3 Trường hợp vận dụng của phương pháp
Áp dụng khi người mà ta cần hỏi rất khó đối mặt, do họ ở quá xa, hay họ sống quá phân tán, hay họ sống ở khu dành riêng rất khó vào, hay họ thuộc giới kinh doanh muốn gặp phải qua bảo vệ thư ký…; khi vấn đề cần điều tra thuộc loại khó nói, riêng tư (chẳng hạn: kế hoạch hoá gia đình, thu nhập, chi tiêu,…); khi vấn đề cần điều tra cực kỳ hấp dẫn đối với người được phỏng vấn (chẳng hạn: phụ nữ với vấn đề mỹ phẩm, nhà quản trị với vấn đề quản lý,…); khi vấn đề cần điều tra cần thiết phải có sự tham khảo tra cứu nhất định nào đó…
Có hai loại dữ liệu được thu thập để xây dựng các chỉ số thành phần Thứ nhất
là dữ liệu từ các phiếu điều tra đối với doanh nghiệp dân doanh Sự đánh giá này gọi là dữ liệu “mềm”, được kết hợp với dữ liệu “cứng” khách quan thu thập từ niên giám thống kê, từ nguồn của bên thứ ba khác như ngân hàng Nhà nước, các công ty kinh doanh bất động sản và các hiệp hội doanh nghiệp
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin
Áp dúng trong xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần:
Một trong những cách tiếp cận quan trọng của PCI là so sánh chất lượng điều hành kinh tế của mỗi tỉnh với thực tiễn tốt nhất về điều hành kinh tế đang có ở Việt Nam, chứ không phải so sánh với một chuẩn mực lý tưởng nào Vì vậy, mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa theo thang điểm mười Vì vậy, những chỉ số được đưa ra phải phản ánh được tương đối đầy đủ những trở ngại đối với việc thành lập mới và phát triển của khu vực KTTN ở Việt Nam Sau khi chuẩn hóa, người ta tính trung bình các chỉ tiêu để tạo ra từng chỉ số thành phần
Các tài liệu sau khi điều tra, thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa để tính toán các chỉ tiêu phù hợp cho đề tài Các công cụ và kỹ thuật tính toán được xử
Trang 39lý trên chương trình excel Công cụ phần mềm này được kết hợp với phương pháp phân tích chính được vận dụng là thống kê mô tả để phản ánh thực trạng về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Vĩnh Phúc trong những năm qua thông qua các số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân, được thể hiện thông qua các bảng biểu số liệu, sơ đồ và đồ thị
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này được dùng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu được thống kê từ nhiều nguồn khác nhau Đề tài sử dụng phương pháp này để phản ánh tình hình cơ bản, các thông tin về tình hình quản lý hoạt động thu, chi BHXH bắt buộc tại BHXH tỉnh Vĩnh phúc thông qua các số tuyệt đối, số tương đối và số bình
quân, thể hiện ở các biểu, bảng số liệu, đồ thị và sơ đồ
2.2.3.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp này dùng để so sánh kết quả nghiên cứu ở những thời điểm và không gian khác nhau, so sánh số thực hiện kỳ này với kỳ trước để thấy rõ được sự biến động hay khác biệt của từng chỉ tiêu phân tích
2.2.3.3 Phương pháp đồ thị
Phương pháp này dùng các đồ thị, biểu đồ, sơ đồ để biểu hiện kết quả nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau, qua đó cho ta thấy được
2.2.3.4 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo
Phương pháp này được tiến hành hỏi ý kiến chuyên gia chuyên sâu về vấn đề nghiên cứu Các chuyên gia được hỏi ý kiến là các cán bộ lãnh đạo ngành, các cán
bộ công tác lâu năm trong ngành BHXH, cán bộ hiện đang làm công tác thu BHXH
và giải quyết chế độ chính sách BHXH tại các đơn vị trong ngành BHXH Những ý kiến chuyên gia đã giúp học viên phát hiện vấn đề nghiên cứu và phân tích để rút
kết quả khảo sát và đề ra các giải pháp hoàn thiện
vì trong các chỉ số thành phần có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ
số còn lại khi lý giải sự khác biệt về kết quả phát triển khu vực kinh tế tư nhân Do
đó, mỗi chỉ số thành phần cần được tính toán trọng số tương đối với mức đóng góp
Trang 40thực sự của từng chỉ số đối với việc phát triển KTTN Để làm được điều này người
ta sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến để đo lường tác động của từng chỉ số thành phần tới một số chỉ tiêu sau được xem là có vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân: Số doanh nghiệp trên đầu người, đầu
tư trên đầu người, lợi nhuận trên mỗi doanh nghiệp
Số doanh nghiệp trên đầu người: số doanh nghiệp thực sự đang hoạt động là
số doanh nghiệp đã hoàn thành mọi thủ tục đăng kí kinh doanh và đang thực sự sản xuất kinh doanh chứ không chỉ dừng lại ở giai đoạn gia nhập thị trường Tổng số doanh nghiệp dân doanh này được chia cho số dân của tỉnh (theo đơn vị 1000 dân)
để loại bỏ ảnh hưởng có thể có do việc tỉnh nào đông dân hơn thường có nhiều doanh nghiệp hơn
Vốn đầu tư trên đầu người: để thể hiện mức độ rủi ro mà doanh nghiệp chấp nhận Nhà đầu tư sẽ thích đầu tư ở nơi có môi trường kinh doanh thuận lợi hơn Nhà đầu tư sẽ không dám đầu tư nhiều ở những địa phương mà tài sản của họ ít được đảm bảo, hạn chế hoạt động kinh doanh
Lơi nhuận trên mỗi doanh nghiệp: điều này để thể hiện mức độ thành công của các doanh nghiệp dân doanh kể từ khi Luật Doanh nghiệp ra đời Lợi nhuận doanh nghiệp là một tín hiệu dự báo tốt về tiềm năng đầu tư trong các giai đoạn tiếp theo
vì sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư Những tỉnh cạnh tranh hơn thường tạo ra môi trường khuyến khích tinh thần kinh doanh vì lợi nhuận hơn là bằng những sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước
Phương pháp tính trọng số của các chỉ tiêu thành phần
Xếp hạng PCI năm 2009 thể hiện tổng điểm của chín chỉ số thành phần đã tính trọng số (mức trọng số được trình bày trong bảng 2 dưới đây Các trọng số này đã được nhằm đảm bảo chỉ số PCI phản ánh đúng những vận động của nền kinh tế và thay đổi trong môi trường thể chế của Việt Nam Các trọng số này được tính toán bằng quy trình thống kê ba bước Mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng trọng số là nhằm đảm bảo Chỉ số PCI được tính toán và phản ánh theo kết quả hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, cung cấp cho lãnh đạo, cán bộ địa phương những thông tin phù hợp nhất về tác động của việc thực hiện chính sách đối với hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân Các chỉ số thành phần có tác động lớn nhất tới tăng trưởng, đầu
tư và mức lợi nhuận của khu vực kinh tế tư nhân có mức trọng số cao nhất là 20% Theo đó, các chỉ số thành phần ít ảnh hưởng tới kết quả phát triển của khu vực kinh