Mục đích việc tổ chức các hoạt động dạy học ngữ văn nhằm hướng tới việc phát huy năng lực học sinh.. Tổ chức các hoạt động giáo dục trong giờ học có vai trò rất quan trọng trong việc hìn
Trang 1kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay chưa thì thật sự còn có nhiều điều đáng bàn
Đứng trước bối cảnh hiện nay, chúng tôi thực hiện chuyên đề “ Tổ chức một
số hoạt động trong giờ Ngữ văn nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh” Qua đây chúng tôi mong muốn được cùng trao đổi và được cùng học tập từ các thầy cô nhằm nâng cao chất lượng bộ môn và trau dồi về chuyên môn
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Thực trạng việc dạy và học Ngữ văn hiện nay
Kể từ vài năm trở lại đây, vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp dạy Ngữ văn thực sự là giải pháp có tính chiến lược để nâng cao chất lượng dạy và học môn Văn trong trường phổ thông Giáo viên mặc dù có ý thức đổi mới phương pháp dạy học văn nhưng việc thực hiện chỉ mới mang tính hình thức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Tình trạng đổi mới nội dung, phương
Trang 2pháp dạy học ở môn Ngữ Văn còn rơi vào vòng luẩn quẩn, ít có chuyển biến mạnh
và hiệu quả cao
Trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng cũng như qua trao đổi, phản ảnh của nhiều nhà giáo trực tiếp dạy học bộ môn, trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh chúng ta nhận thấy một thực trạng đáng buồn về chất lượng dạy học Ngữ văn Khảo sát nhiều bài kiểm tra của nhiều học sinh cho thấy các em viết sai chính tả là lỗi phổ biến nhất Những lỗi chính tả thường gặp là tên riêng không viết hoa, rất nhiều bài văn từ đầu đến cuối không có dấu chấm câu, hoặc có chăng cũng là dùng dấu câu tùy tiện không theo quy luật nào, không phù hợp với cách diễn đạt Nhiều từ đơn giản các em vẫn viết không đúng Cùng với lỗi chính tả là lỗi dùng từ, đặt câu Đoạn văn thì viết câu què, câu cụt, câu sai cấu trúc ngữ pháp, sai lô-gich diễn đạt Nhiều câu văn của học sinh khi đọc lên người đọc không hiểu nổi là học sinh muốn viết gì Điều đó cho thấy học sinh hết sức lơ mơ
về kiến thức bộ môn Có một thực tế hiện nay là rất ít học sinh biết rung động trước những tác phẩm văn chương hay Do vậy, khi làm bài học sinh còn suy luận chủ quan, dung tục hóa văn chương Vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh làm bài sai kiến thức cơ bản Tình trạng “Bức râu ông nọ cắm cằm bà kia” không phải
là không phổ biến Học sinh nhầm chi tiết của tác phẩm này với tác phẩm khác, sai tên tác giả, tác phẩm, lẫn lộn nhà văn này với nhà văn khác Những tồn tại trên là do:
- Một số nội dung kiến thức không phù hợp vẫn chiếm thời lượng khá lớn
- Việc đổi mới phương pháp dạy –
học chưa đồng bộ, nhiều giáo
viên chưa tích cực trong việc đổi
mới phương pháp: vẫn tồn tại
phương pháp dạy học một chiều:
thầy giảng trò chép ( lối dạy nhồi
nhét kiến thức để thi cử)
- Thói thụ động trong học tập là nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng dạy – học Ngữ văn chưa đạt với yêu cầu
- Các em không quan tâm đến các hoạt động để tự tìm đến tri thức
mà quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy
Trang 3của học sinh được trình bày mà
không đúng với những gì giáo
viên đã đọc được, đã nghiên cứu
thì không được ghi nhận, thậm
luận về phương pháp dạy – học
văn mới trong thời đại ngày nay
- Sự thiếu thốn về phương tiện,
thiết bị dạy – học bộ môn
- Số lượng công việc của người
giáo viên Ngữ văn ở trường
THCS còn quá nhiều, vì vậy ảnh
hưởng không nhỏ đến quá trình
tự học, tự nghiên cứu để phục vụ
cho giờ dạy
- Người giáo viên ngữ văn THCS
phải cán đán một số lượng công
việc rất lớn về chuyên môn:
Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn
Ngoài ra, người giáo viên Ngữ
văn phải dành không ít thời gian
vào việc chấm, chữa bài cho học
sinh, làm hồ sơ sổ sách theo quy
- Vì chưa có hào hứng, chưa quen bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của cá nhân trước tập thể cho nên khi phải nói và viết, học sinh cảm thấy rất khó khăn
- Nhiều học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn Ngữ văn và việc học lệch vì mục đích thi cử Số đông học sinh và
cả định hướng của phụ huynh là tập trung vào các môn học tự nhiên để sau này thi cử thuận lợi còn học môn Ngữ văn chỉ là đủ điểm lên lớp
- HỆ QUẢ: dẫn đến lối học ghi
nhớ máy móc, nhàm chán, không yêu thích bộ môn
II GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1 Mục đích việc tổ chức các hoạt động dạy học ngữ văn nhằm hướng tới việc phát huy năng lực học sinh
Tổ chức các hoạt động giáo dục trong giờ học có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát huy năng lực cho học sinh Nếu chức năng của
Trang 4xảo tương ứng từ đó phát triển thế giới quan, nhân sinh quan cho học sinh thì giáo dục còn có chức năng giúp hình thành thái độ, niềm tin, năng lực thông qua các hoạt động giáo dục
a.Về nhận thức:
- Hoạt động giáo dục giúp học sinh nắm chắc các tri thức đã học, củng cố,
bổ sung, nâng cao hiểu biết, có khả năng vận dụng các tri thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Giúp phát triển tư duy, phẩm chất trí tuệ
b.Về kỹ năng:
- Hoạt động giáo dục giúp học sinh hình thành và phát huy các năng lực:
+ Năng lực tự học: Học tập một cách tự giác, chủ động
+ Năng lực giải quyết vấn đề: Phân tích, phát hiện và nêu được tình huống
có vấn đề trong học tập, từ đó đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề phù hợp
+ Năng lực sáng tạo: Phát hiện yếu tố mới, tự do trong suy nghĩ, chủ động
nêu ý kiến
+ Năng lực tự quản lý: Tự đánh giá, điều chỉnh hoạt động cũng như cảm xúc
của mình trong học tập và cuộc sống hàng ngày
+ Năng lực giao tiếp: Biết lắng nghe và biết diễn đạt ý tưởng một cách tự tin + Năng lực hợp tác: Biết vai trò, nhiệm vụ của mình trong nhóm, hoàn thành
phần nhiệm vụ được giao
+ Năng lực sử dụng CNTT và truyền thông: Sử dụng ICT thành thạo để
thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong học tập
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ: Phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu Vận
dụng từ vựng trong mọi ngữ cảnh
+ Năng lực tính toán: Hiểu được mối quan hệ toán học giữa các yếu tố
trong các tình huống học tập và trong đời sống
- Hoạt động giáo dục còn giúp học sinh tự điều chỉnh, hành vi, thái độ phù hợp
- Dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh đòi hỏi phải tổ chức các hoạt động dạy học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, đặc biệt quan tâm đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn
- Người học không phải đặt trước những kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa hay trong bài giảng của thầy mà được đặt vào những tình huống của đời sống
Trang 5thực tế, từ đó có nhu cầu hứng thú giải quyết vấn đề Người học trực tiếp quan sát, thảo luận, đặt giả thiết, vấn đề để tìm ra kiến thức, chân lí
- Các hoạt động phải hướng đến rèn luyện phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể giúp học sinh:
Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao
Lĩnh hội tri thức trong các cuộc học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, theo phương pháp khoa học
Học trong sự tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân thiện, cùng nhau giải quyết các vấn đề học tập
- Tuy nhiên, việc lựa chọn tổ chức các hoạt động dạy học cần phải chú ý:
* Sự tương thích với nội dung học tập:
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định
Hoạt động được gọi là tương thích với nội dung nếu nó được tiến hành trong quá trình hình thành hoặc vận dụng nội dung đó
Ví dụ 1: Đối với phân môn Tiếng Việt
Áp dụng trong bài “ Điệp ngữ” Trong phần hình thành kiến thức: Điệp ngữ là gì?
Mục đích: giúp học sinh phát hiện ra lỗi lặp từ ngữ và nhận dạng được biện pháp nghệ thuật điệp ngữ
Hoạt động: Chúng ta có thể áp dụng phép so sánh
Bước 1: giáo viên đưa ngữ liệu
Bước 2: học sinh phát hiện, đưa ra ý kiến
Bước 3: giáo viên nhận xét, chốt ý
Ví dụ 2: Đối với phân môn Văn
Áp dụng trong văn bản: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới (lớp 6) Mục đích: học sinh nhận biết được vẻ đẹp bình dị cũng như phẩm chất
Em trồng hoa thược dược Em trồng hoa đồng tiền Em trồng hoa hồng Em trồng
cả hoa lay ơn nữa Ngày Phụ nữ quốc tế,
em hái hoa sau vườn nhà em tặng mẹ
em Em hái hoa tặng chị em…”
Lỗi lặp từ
Trang 6Hoạt động: tổ chức hoạt động thuyết trình
Bước 1: các tổ cử đại diện lên thuyết trình phần chuẩn bị trước ở nhà Bước 2: giáo viên nhận xét
Bước 3: giáo viên chốt Học sinh quan sát hình ảnh thực tế: cây tre trong
đời sống thường nhật và cây tre trong chiến đấu
Ví dụ 3: Đối với phân môn Tập làm văn
Áp dụng trong tiết: Tìm hiểu chung về văn nghị luận
Mục đích: giúp học sinh nhận biết về thể loại văn nghị luận
Hoạt động: tổ chức hoạt động thảo luận nhóm Học sinh thảo luận về một vấn đề đã cho
Tên vấn đề thảo luận: “ Vì sao môi trường ngày càng bị ô nhiễm?”
Bước 1: Giáo viên chia nhóm, phổ biến thời gian
Bước 2: Đại diện các nhóm lên trình bày
Bước 3: Giáo viên nhận xét phần trình bày của các nhóm
Bước 4: Giáo viên chốt
* Sự hứng thú, thói quen của học sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo
viên
- Hứng thú được biểu hiện ở sự tập trung cao độ, ở sự say mê, hấp dẫn
bởi nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu của hứng thú
- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của
hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc
- Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng
+ Tạo hứng thú học tập bằng cách tác động vào nội dung dạy học
Nội dung dạy học được chia ra rất nhiều cấp độ Ví dụ trong môn Tiếng Việt, trước hết đó là các phân môn, các mạch kiến thức - kĩ năng, cụ thể hóa đến nhóm, kiểu, dạng bài tập và cho đến tận từng bài tập cụ thể Từ bình diện nội dung dạy học, trên một bài tập, ta có thể tác động vào phần lệnh hoặc phần ngữ liệu
Trang 7Ngữ liệu tiếng Việt trở nên hấp dẫn khi thể hiện tính năng sản sinh của ngôn ngữ Ví dụ, tiếng “học”, từ “tay” hoàn toàn trở thành ngữ liệu hấp dẫn trong các bài tập: Tìm các từ có chung tiếng “học”, tìm thành ngữ, tục ngữ cùng chứa từ “tay” Vì tiếng “học” có mặt trong rất nhiều từ ngữ: học bạ, học bổng, học cụ, học đòi, học đường, học gạo, học giả, học hành, học hỏi, học kì, học lỏm, học phí, học sinh, học tập từ tay xuất hiện trong thành ngữ, tục ngữ
+Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy
và trò, trò và trò
Bên cạnh việc tác động vào nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, việc thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực tốt đẹp giữa thầy và trò, giữa các trò cũng sẽ tạo hứng thú cho học sinh Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả thầy và trò
Ngoài những hoạt động trên, từ kinh nghiệm giảng dạy việc giúp học sinh có hứng thú trong các môn học còn có một số nguyên nhân khác như:
+ Giáo viên và học sinh tạo không khí học tập vui vẻ
+ Học sinh có niềm đam mê với môn học
+ Học sinh biết học để tìm tòi những điều mới mẻ, tư duy logic, sáng tạo hơn
+ Học sinh thấy được tầm quan trọng của việc học…
+ Giáo viên ưu tiên lựa chọn áp dụng các hoạt động nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện trong tiết dạy
* Thay đổi hình thức tổ chức dạy học
- Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học
cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học
-Trong tiết dạy giáo viên cần tổ chức nhiều hình thức dạy học khác nhau, xen kẽ, lồng ghép trong bài dạy một cách linh hoạt tránh rập khuôn để gây hứng thú cho học sinh Có thể khi giới thiệu bài mới giáo viên tổ chức trò chơi, khi hình thành kiến thức giáo viên có thể lồng cho thực hành, củng cố từng phần
* Phải phù hợp với điều kiện dạy học
- Khi tổ chức các hoạt động dạy học giáo viên cần phải áp dụng phù hợp với điều kiện vật chất của trường như: không gian lớp học, sĩ số học sinh của từng lớp, trình độ học sinh; thiết bị dạy học như: các thiết bị nghe, nhìn, máy chiếu, bảng phụ, phiếu học tập, bảng tương tác…
Trang 8-Ngoài ra, giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học phải khai thác cao nhất các tính năng của các thiết bị dạy học tại cơ sở nhằm đạt được các mục tiêu dạy học và thể hiện rõ tư tưởng sư phạm
2 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
2.1.Những định hướng chung
Đối với môn Ngữ Văn, khi vận dụng các PPDH, cách tổ chức dạy học đặc biệt chú trọng các phương pháp dạy học, hướng dẫn học sinh biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hoá cho bản thân từ những cảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống Tăng cường tính giao tiếp, khả năng hợp tác của học sinh trong giờ học Ngữ Văn qua các hoạt động thực hành,
luyện tập trao đổi,
2.2 Những định hướng cụ thể
2.2.1 Đối với phân môn văn – Đọc hiểu văn bản
a Hoạt động khởi động:
Đây là công việc tạo tâm thế “nhập cuộc” cho học sinh Nói đến “tâm thế”
là nói đến khái niệm “chú ý”- một khái niệm của khoa tâm lí học Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một đối tượng, sự vật, nào đó, để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh – tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả Nhờ sự tập trung chú ý mà trong một thời điểm, giữa sự chi phối của nhiều hướng và nhiều vấn đề tác động, có thể tách được một phạm vi chú ý xác định thành đối tượng để chủ thể hướng vào đó mà tiến hành hoạt động chiếm lĩnh đối tượng ấy
Mục đích:
Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh về chủ đề sẽ học Học sinh cảm thấy vấn đề gần gũi với các em Không khí lớp học vui, chờ đợi, thích thú Hoạt động này sẽ giúp cho học sinh phát huy năng lực hợp tác, sáng tạo,
giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ,
Cách thực hiện:
Giáo viên có thể dẫn dắt từ bài cũ sang bài mới, có thể đặt câu hỏi, kể chuyện, đặt một tình huống, khai thác kênh nhạc, kênh phim, kênh hình, tổ chức
trò chơi hoặc sử dụng 1 số hình thức khác để giới thiệu bài mới
Ví dụ: Để giới thiệu bài “Chiếc lược ngà” (lớp 9) Ta có thể cho HS xem
bức tranh sau và cho biết nhân vật trong tranh nói gì, từ đó giới thiệu về tình cha con rồi dẫn đến văn bản cần học Với hoạt động này, ta có thể giúp HS phát triển kĩ năng sáng tạo, năng lực sử dụng ngôn ngữ
Trang 9kế giáo án Có nhiều dạng câu hỏi để học sinh sử dụng:
- Loại câu hỏi gợi mở
- Loại câu hỏi tái hiện
- Loại câu hỏi nêu vấn đề
- Loại câu hỏi cảm thụ
- Loại câu hỏi phân tích
…
Tất cả các loại câu hỏi trên giúp học sinh phải chú ý vào bài và tăng cường tư duy hơn Tuy nhiên, để tránh sự nhàm chán, mệt mỏi, tập trung kém của học sinh, người giáo viên nên tổ chức nhiều hoạt động để dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh kiến thức Có thể là những hoạt động sau:
- Hoạt động thảo luận nhóm
- Hoạt động học theo góc
- Hoạt động đóng vai, tranh luận, giải quyết tình huống,…
- Hoạt động thông qua hình thức trò chơi
Dưới đây là một vài hoạt động mà chúng tôi đã chọn để áp dụng:
* Tổ chức đọc – hiểu văn bản:
Mục đích:
Trang 10- Cung cấp cho học sinh cách đọc, cách tiếp cận khám phá những vấn đề nội dung nghệ thuật của văn bản từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân
Các dạng đọc: Đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm, đọc từng phần, đọc cả bài, đọc trước khi tìm hiểu bài để có ấn tượng chung, đọc trong quá trình phân tích (đọc định hướng), đọc sau phân tích, đọc nghệ thuật
- Các cách đọc: đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm, đọc sáng tạo,…
- Tuỳ vào thể loại, kiểu văn bản, phương thức biểu đạt, giáo viên giao nhiệm
vụ cho học sinh theo mục đích đọc như sau:
Đọc để nhận diện văn bản, thơ: thể thơ, gieo vần, nhịp, giọng điệu, kết cấu, chủ thể trữ tình, thời gian, không gian Đọc để hiểu từ, hiểu câu và tìm ra ý
đồ nghệ thuật, chiều sâu tư tưởng tác phẩm
Đọc theo vai nhân vật để hiểu tác giả, tác phẩm một cách sâu sắc
Cách thực hiện:
- Giáo viên hướng dẫn cách đọc: văn bản cần phải đọc như thế nào là phù hợp? Vì sao phải đọc với giọng ấy? Em hãy đọc thể hiện?
- Cho học sinh nhận xét: nhận xét cách thể hiện của bạn? Em hãy chứng minh
vì sao được hoặc chưa được? Em hãy đọc theo ý của em!
Ví dụ 1: Bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương, các em cần đọc với
giọng thành kính trang nghiêm phù hợp với không khí thiêng liêng ở lăng; giọng tha thiết, sâu lắng phù hợp với cảm xúc tiếc thương, biết ơn, giọng nhanh phù hợp với nguyện ước sống đẹp và tiếp bước truyền thống dân tộc
Ví dụ 2: Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, các em cần đọc với nhịp 2/3;
3/2; 1/2/2 Ba khổ đầu giọng kể chuyện, khổ 4 giọng ngạc nhiên, thề thốt; khổ 5/6 giọng suy tư
Ví dụ 3: Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” trích Tắt đèn của Ngô Tất Tố học
sinh có thể đóng vai nhân vật chị Dậu, Cai lệ, người nhà Lí trưởng, anh Dậu Mỗi nhân vật đóng vai đọc với giọng khác nhau Chẳng hạn với vai chị Dậu lúc đầu đọc với giọng van xin, sợ hãi, thiết tha, … về sau đọc với giọng mạnh mẽ, cứng cỏi, dứt khoát, … Còn Cai lệ đọc với giọng ngang tàng, hống hách, kẻ cả,…
Ưu điểm:
- Bước đầu học sinh cảm nhận được nội dung, cảm xúc của tác phẩm
- Học sinh hiểu được dụng ý của tác giả và tâm trạng của nhân vật
Trang 11- Giúp học sinh khám phá các giá trị của văn bản, có khả năng tự tìm kiếm nguồn thông tin đa dạng của cuộc sống để đáp ứng năng lực, sở thích cá nhân Vận dụng trong cuộc sống những hiểu biết từ văn bản đã học vào việc suy luận, bàn luận, trình bày những giải pháp để giải quyết một vấn đề cụ thể Qua đó giúp học sinh phát huy được năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt là năng lực viết sáng tạo
- Qua đó, giáo viên có thể tổ chức các hình thức hoạt động sau:
*Hoạt động thảo luận nhóm:
Đây là dạng hoạt động mà trong đó các thành viên đều giải quyết vấn đề cùng quan tâm nhằm đạt tới một hiểu biết chung
Hoạt động nhóm là phương tiện học hỏi có tính dân chủ tạo thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân để đi đến giải quyết vấn đề
Cách thực hiện:
Giáo viên thông qua mục tiêu hoạt động (hoạt động nhóm nhằm giải quyết vấn đề gì? ), hoạt động như thế nào, chia lớp thành mấy nhóm, mỗi nhóm bao nhiêu học sinh, mỗi học sinh phát huy tính chủ động tích cực của mình như thế nào?
Bước 1: Giáo viên phát phiếu hoặc treo bảng phụ ghi câu hỏi (có khi nêu
bằng miệng), ấn định thời gian thảo luận, các nhóm nhận nhiệm vụ, sau đó giao nhiệm vụ cụ thể cho nhóm trưởng, thư ký, các thành viên khác trong nhóm, các nhóm tập trung giải quyết vấn đề (tức là nêu ý kiến thảo luận) Trong khi học sinh thảo luận, giáo viên quan sát, theo dõi, nhắc nhở để nhóm làm việc đều tay, đúng tiến độ
Bước 2: Thông báo kết quả: hết thời gian ấn định, các nhóm hoàn thành
công việc, giáo viên cho từng nhóm báo cáo bằng miệng kết quả đã trình bày trong phiếu học tập hoặc cùng học sinh kiểm tra kết quả mỗi nhóm trên bảng mà nhóm các em đã trình bày Các học sinh khác bổ sung, thống nhất ý kiến
Bước 3: Giáo viên tóm tắt kết quả thảo luận của học sinh, sau đó cùng học
sinh đi đến thống nhất và hướng dẫn cho các em ghi lại một vài ý kiến đúng, hay
để các em làm tư liệu
Lưu ý: Với hoạt động thảo luận nhóm, giáo viên cần nêu câu hỏi ngắn
gọn, rõ ràng, vừa sức, khuyến khích học sinh suy nghĩ để có câu trả lời
- Cần đưa câu hỏi suy luận, tưởng tượng, sáng tạo nhằm phát triển tư duy hơn
là những câu hỏi gợi mở
- Câu hỏi thảo luận nên là những câu hỏi sau:
Suy nghĩ, đánh giá, cảm nhận về 1 chi tiết hoặc 1 nét nghệ thuật tiêu biểu trong văn bản
Trang 12Ví dụ 1: Suy nghĩ của em về chi tiết cuối truyện “Cuộc chia tay của những
con búp bê” (Khánh Hoài) – Tôi (Thành) đứng như chôn chân dưới đất nhìn theo cái dáng bé nhỏ liêu xiêu của em gái tôi trèo lên xe?
Thảo luận về ý nghĩa cuộc sống mà tác giả gợi ra hoặc thông điệp tác giả muốn gởi tới người đọc
Ví dụ 2: Trong bài “Tiếng gà trưa”, từ việc gợi lại những kỉ niệm đẹp của
tuổi thơ và tình bà cháu, tác giả Xuân Quỳnh muốn gởi tới chúng ta thông điệp gì?
Ví dụ 3: Sau khi học xong văn bản “ Chuyện người con gái Nam Xương”
của Nguyễn Dữ, em thấy người phụ nữ cần phải làm gì để bảo vệ hạnh phúc gia đình?
Ưu điểm:
Hạn chế được lối học thụ động của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh hiểu sâu nội dung trọng tâm hoặc vấn đề khó của đơn vị bài học, tạo được động lực nhóm và phát huy năng lực của học sinh Học sinh có tinh thần hợp tác, hỗ trợ, chia sẻ lẫn nhau
*Hoạt động học theo góc:
- Học theo góc là một kĩ thuật dạy học tích cực Học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau Học theo góc khiến học sinh tích cực hơn trong các hoạt động, mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái đồng thời nâng cao tính tương tác giữa giáo viên và học sinh, góp phần thúc đẩy sự học sâu và tính hiệu quả của
quá trình dạy học
- Sử dụng kĩ thuật học theo góc trong tổ chức dạy học, giáo viên tạo ra một môi trường hoạt động có tính khuyến khích hoạt động tự giác tích cực nơi mỗi học sinh Học sinh có cơ hội độc lập (khám phá, thực hành, thử nghiệm, ) Học sinh
được lựa chọn các hoạt động phù hợp
- Học sinh được hoạt động, trải nghiệm khác nhau tại các góc khác nhau Học sinh có thể hợp tác học tập với các bạn khác Giáo viên có nhiều thời gian hơn cho hoạt động hướng dẫn riêng cho từng học sinh, từng nhóm nhỏ tại các góc Giáo viên có thể điều chỉnh các nội dung học tập cho phù hợp với trình độ và nhịp
độ của học sinh