ĐẶT VẤN ĐỀ: 1.Cơ sở lí luận : Dạy học là một nghệ thuật,một nghệ thuật đòi hỏi có nhiều cố gắng và kinh nghiệm Một vấn đề cần quan tâm đối với bản thân giáo viên chúng ta là “ Làm t
Trang 1Sáng kiến kinh nghiệm :
MỢT VÀI BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ ĐỢNG
CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC ĐỊA LÝ
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.Cơ sở lí luận :
Dạy học là một nghệ thuật,một nghệ thuật đòi hỏi có nhiều cố gắng và kinh
nghiệm
Một vấn đề cần quan tâm đối với bản thân giáo viên chúng ta là “ Làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy” và trong giờ học các học sinh là đối tượng chủ động, tích cực hóa các hoạt động học tập của mình Muốn thực hiện được vấn đề này, giáo viên cần phải biết tổ chức, phối hợp bài trí bài học như thế nào để tạo sự hăng say học tập của học sinh Đây là mấu chốt để tiết dạy thành công, là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, hiện nay trong nội dung
chương trình SGK mới được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để tổ chức các hoạt động tự giác, tích cực, độc lập của học sinh Bên cạnh việc cung cấp kiến thức, SGK cũng chú trọng đến cách thức làm việc để học sinh có thể tự khám phá, lĩnh hội kiến thức Nội dung SGK đã thể hiện một cách hài hòa cả kênh chữ lẫn kênh hình
Vậy để giáo dục cĩ hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng
ta cần thiết phải đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, trong đĩ đổi mới phương pháp nhằm phát huy tích tích cực của học sinh là vấn đề quan trọng Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học được xác định trong nghị quyết Trung ương 4 khĩa VII(1-93), nghị quyết Trung ương 2 khĩa VII (12-1996), được thể chế hĩa trong Luật Giáo dục (2005), trong chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đăc biệt chỉ thị số 14(4-1999) Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thơng phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, mơn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhĩm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Và thông qua việc giảng dạy thực tế sự cần thiết hướng dẫn học sinh sử dụng đồ
dùng, thiết bị dạy học ( đặt biệt là bản đồ ) trong giờ lên lớp là không thể thiếu được, nó có tác dụng hình thành kĩ năng sử dụng bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh…
Việc sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học và các kênh hình trong SGK địa lí
có ý nghĩa rất quan trọng Các kênh hình thay thế cho các sự vật, hiên tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà giáo viên và học sinh không thể tiếp nhận trực tiếp Sử dụng kênh hình có khả năng hình thành hiệu quả những tri thức cơ bản và vận dụng chúng vào lĩnh hội kiến thức mới, giáo viên có điều kiện để sử dụng các
Trang 2phương pháp dạy học đa dạng, nâng cao hiệu quả ý thức tự lập, tự lĩnh hội kiến thức của học sinh trong hoạt động học tập Mặc khác giúp cho giáo viên trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được chất lượng hơn Điều này là phù hợp với quy luật nhận thức, đặc điểm môn học và mục tiêu giáo dục của môn học Địa lý
2 Cơ sở thực tiễn :
Là một giáo viên giảng dạy nhiều năm tại trường THCS Tân Bình tôi được
nhà trường phân công giảng dạy bộ môn Địa lý qua nhiều khối lớp
Từ những thực tế giảng dạy đó, bản thân tôi thấy rằng việc sử dụng bản đồ và khai thác các kênh hình trong SGK Địa lý c ng như áp dụng đổi mới phương pháp trong giảng dạy rất quan trọng, giúp học sinh hiểu bài, tích cực và chủ động nắm vững kiến thức và có hứng thú học tập bộ môn Trái lại, trong các tiết học giáo viên không sử dụng bản đồ cũng như không khai thác các kênh hình trong SGK va
học sinh sẽ thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, đa số các em không hiểu bài và không có hứng thú học tập bộ môn Như vậy đối với giờ học Địa lý ở tất cả các khối, việc hướng dẫn sử dụng đồ dùng dạy học cũng như các kênh hình, biểu bản
trong SGK là cần thiết và không thể thiếu đó là lí do tôi chọn đề tài “ “
II NỘI DUNG :
Khi đã xác định mục đích trên, tôi đã thực hiện nhiều biện pháp và đầu tư thích đáng cho từng nội dung bài giảng
1 Nội dung 1: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
2 Nội dung 2: Phương pháp sử dụng số liệu thống kê và các biểu đồ
3 Nội dung 3: Phương pháp khai thác các tranh ảnh trong sách giáo khoa
4 Nội dung 4: kỹ thuật khăn phủ bàn
III GIẢI PHÁP :
1 Giải pháp 1: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
a/ Hướng dẫn sử dụng bản đồ :
Trong giảng dạy Địa lý, bản đồ giữ vai trò rất quan trọng không thể thiếu
Bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và các mối quan hệ của các đối tượng Địa lý trên bề mặt Trái đất một cách cụ thể với nhiều ưu điểm riêng mà không một phương tiện nào có thể thay thế được Do đó bản đồ vừa là một phương tiện trực quan, vừa là nguồn tri thức quan trọng của việc dạy học Địa lý và sử dụng bản đồ là phương pháp đặc trưng trong dạy học Địa lý
Hệ thống bản đồ trong dạy học Địa lý rất đa dạng và phong phú, mỗi loại bản
đồ có chức năng riêng Vì vậy trong dạy học phải biết sử dụng phối hợp các loại
Trang 3bản đồ với nhau trên cơ sở đó sẽø nắm vững tri thức, phát triển tư duy và kĩ năng sử dụng bản đồ
Việc dạy học sinh hiểu bản đồ phải được tiến hành thường xuyên, liên tục và
được tiến hành theo các bước sau :
Bước 1 : Đọc tên bản đồ để biết nội dung được thể hiện trong bản đồ là gì ?
Bước 2 : Đọc bản chú giải để biết cách người ta thể hiện nội dung đó trên bản đồ như thế nào, bằng các kí hiệu và màu sắc gì?
Bước 3 : Tìm xem từng kí hiệu, màu sắc xuất hiện ở những vị trí nào trên bản đồ, nếu cần thì dùng thước tỉ lệ để đo tính khoảng cách
Bước 4 : Phân tích bản đồ
Ví dụ : Quan sát địa hình Tây Bắc và Đông Bắc trên bản đồ tự nhiên khu
vực Trung Du và Miền núi Bắc Bộ Học sinh tiến hành theo như sau:
Dựa vào kí hiệu bảng chú giải, quan sát toàn bộ bản đồ xem hai khu vực này có những dạng địa hình nào chiếm ưu thế
Tìm xem dạng núi nào phổ biến của mỗi khu vực và hướng núi chính, ảnh hưởng của chúng đến các yếu tố tự nhiên khác như thế nào?
Quan sát các đối tượng trên bản đồ, xác lập mối quan hệ địa lý đơn giản giữa các yếu tố và các thành phần tự nhiên như : địa hình, khí hậu, sông ngòi, thảm thực vật …v v…
Ví dụ : Khi dạy bài 25: Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ GV cho HS quan sát
bản đồ tự nhiên Việt Nam kết hợp lược đồ 25.1 SGK yêu cầu HS xác định vị trí, giới hạn của vùng ? Sau khi HS xác định được vị trí, giới hạn của vùng GV có thể đặt câu hỏi : Với vị trí có tính chất trung gian, vùng có ý nghĩa như thế nào đối với kinh tế và an ninh và quốc phòng?
Thông qua bản đồ HS có thể nêu được vị trí của vùng có ý nghĩa chiến lược về giao lưu kinh tế Bắc – Nam, nhất là Đông – Tây Đặt biệt về an ninh quốc phòng ( có 2 quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa )
Như vậy chúng ta thấy bản đồ giúp giáo viên trau dồi kiến thức, rèn luyện kĩ
năng khai thác kiến thức địa lý, củng cố phần lý thuyết nhằm giúp bài giảng sinh động hơn và đạt hiệu quả cao hơn Đối với HS giúp các em biết cách khai thác kiến thức từ bản đồ, đạc biệt các bản đồ Địa lý để phục vụ trong học tập và cuộc sống
Ví dụ : Khi dạy bài 24 : Vùng Bắc Trung Bộ GV cho HS quan sát bản đồ giao
thông vận tải Việt Nam kết hợp lược đồ 24.3 SGK yêu cầu xác định vị trí các quốc lộ 7, 8, 9 và nêu tầm quan trọng của các tuyến đường này?
Có bản đồ HS sẽ dễ xác định được các tuyến đường và nêu được tầm quan trọng của các quốc lộ 7, 8, 9 nối liền các cửa khẩu biên giới Lào – Việt với cảng biển nước ta
Trang 4 Giáo viên mở rộng thêm đường số 9 được chọn là một trong những tuyến đường xuyên ASEAN và Lao Bảo trở thành khu vực trọng điểm phát triển kinh tế, thương mại Việc quan hệ về mọi mặt với các nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới thông qua hệ thống đường biển mở ra nhiều khả năng to lớn hơn nhiều đối với vùng Bắc Trung Bộ
Khi dạy học bằng phương pháp trực quan, đối với phần khai thác tri thức từ bản
đồ, giáo viên phải nắm vững kĩ năng khai thác các kiến thức từ bản đồ, tìm cách khai thác sao cho học sinh dễ hiểu, tiếp thu bài nhanh và có hiệu quả
Ví dụ : Khi dạy bài 3 : Phân bố dân cư và các loại hình quần cư, giáo viên treo
bản đồ phân bố dân cư Việt Nam và yêu cầu học sinh cho biết dân cư nước ta tập trung đông đúc ở những vùng nào? Thưa thớt ở những vùng nào? Vì sao?
Bản đồ phân bố dân cư Việt Nam
Qua bản đồ học sinh có thể trả lời được một cách dễ dàng, dân cư nước ta tập trung đông đúc ở các đồng bằng, ven biển và các đô thị lớn Thưa thớt ở các vùng
Trang 5núi, cao nguyên nơi có điều kiện sống khó khăn Mặt khác học sinh cũng có thể thấy rõ sự phân bố dân cư còn có sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn
Tri thức bản đồ sẽ giúp học sinh giải mã các kí hiệu trên bản đồ, từ đó phát
hiện ra các kiến thức Địa lý mới ẩn trong bản đồ Tất nhiên ở đây chỉ có tri thức bản đồ cũng chưa đủ mà cần phải có tri thức Địa lý
Đối với phương pháp này giáo viên cần xác định kiến thức trong bài sao cho phù
hợp để học sinh có thể sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học và tự phát hiện ra kiến thức mới thông qua bản đồ
Ví dụ: Khi dạy bài 15: Thương mại và du lịch nhằm giúp HS có thể mở rộng tầm
hiểu biết của mình về các trung tâm du lịch Quốc gia và trung tâm du lịch vùng cũng như cả nước hình thành 3 vùng du lịch Giáo viên treo bản đồ du lịch Việt Nam giới thiệu cho các em biết thêm những kiến thức mới ngoài những nội dung đã được giới thiệu trong SGK
Bản đồ du lịch Việt Nam
Dựa vào chú giải của bản đồ học sinh sẽ xác định được các trung tâm du lịch Quốc gia : Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Thành Phố Hồ Chí Minh Trung tâm du lịch vùng : Hải Phòng, Hạ Long, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ
Trang 6 Cả nước hình thành 3 vùng du lịch :
+ Bắc Bộ ( 28 tỉnh – Thành )
+ Bắc Trung Bộ ( 6 tỉnh )
+ Nam Trung Bộ và Nam Bộ ( 29 tỉnh – thành )
Ngoài ra bản đồ này còn giúp giáo viên khai thác triệt để các kiến thức có trong nội dung bài học, học sinh có thể quan sát được các địa danh có di sản thiên nhiên thế giới ( Vịnh Hạ Long, Động Phong Nha) di sản văn hóa thế giới ( Cố Đô Huế, Di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An ), các phong cảnh, bãi tắm đẹp, các vườn quốc gia, các công trình kiến trúc, di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề truyền thống, văn hóa dân gian…thông qua các kí hiệu được biểu hiện trên bản đồ Cuối cùng giáo viên có thể kết luận du lịch ngày càng khẳng định vị thế của mình trong cơ cấu kinh tế cả nước, đem lại nguồn thu nhập lớn, góp phần mở rộng giao lưu giữa nước ta với các nước trên thế giới và đồng thời cải thiện đời sống nhân dân
Bản đồ sẽ giúp các em tự phân tích, nhận xét, từ đó trả lời một cách chính xác
đầy đủ các câu hỏi của giáo viên Giúp các em phát triển tư duy nghe, nhìn, suy nghĩ, đối chiếu và so sánh các sự vật hiện tượng địa lý Lớp học sẽ sinh động nhờ có sự tham gia của thầy và trò Phù hợp với phương pháp mới “ Lấy học sinh làm
trung tâm “
Yêu cầu đối với giáo viên :
Giáo viên khi lên lớp phải cĩ bản đồ, tranh ảnh, mơ hình…phù hợp với nội dung bài học
để học sinh dựa vào bản đồ tìm ý
làm cơ sở giúp học sinh lĩnh hội kiến thức nhẹ nhàng và cĩ hiệu quả hơn ở những bài sau
việc làm thường xuyên trong mỗi tiết học trên lớp c ng như hướng dẫn học sinh học ở nhà
pháp khác với việc tập cho học sinh nhận xét, phân tích đối chiếu, so sánh trên bản đồ
hình trong sách giáo khoa
viên
Trang 7pháp vấn đáp và cho học sinh phân tích, giải thích trên bản đồ Có thể cho các em đứng tại chỗ nhìn bản đồ phân tích hoặc gọi lên chỉ bản đồ tùy từng trường hợp cụ thể
giáo viên theo dõi kỹ để kịp thời uốn nắn những lỗi sai của học sinh, giúp các em hoàn thiện hơn kỹ năng chỉ bản đồ
Với những vấn đề có tính phức tạp, giáo viên gọi học sinh củng cố lại kiến thức vừa tiếp thu và kỹ năng bản đồ, kết hợp với bản đồ câm ( nếu cần ) để kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh
Cần kết hợp hài hòa giữa việc quan sát, phân tích bản đồ treo tường với bản đồ trong sách giáo khoa vì điều này là cơ sở rèn luyện kỹ năng bản đồ cho học sinh trong thời gian học bài, chuẩn bị bài ở nhà
Cuối giờ học giáo viên dành thời gian dặn dò học sinh, có 2 phần cần chú ý : + Câu hỏi trọng tâm bài cũ có kết hợp với việc phân tích lược đồ sách giáo khoa hoặc bản đồ
+ Câu hỏi chuẩn bị bài mới có kết hợp lược đồ, bản đồ chủ yếu hướng học sinh vào mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố Địa lý
c/ Kết luận :
Trong một tiết Địa lý phương pháp trực quan không thể thiếu được Dùng
phương pháp trực quan không khỏe hơn cho giáo viên vì phải tính toán, cân nhắc kỹ, giáo viên phải nắm rõ vấn đề, kiến thức phải chắc chắn, nhưng học sinh sẽ hiểu rõ bài và nắm bài sâu hơn
Cuối cùng chỉ có tiết dạy của mình, học trò của mình mới dạy mình, buộc
mình tổ chức tìm ra mọi phương pháp sao cho phù hợp, có hiệu quả và giúp học sinh càng yêu thích môn Địa Lý hơn
Giải pháp 2 : Phương pháp sử dụng số liệu thống kê và biểu đồ :
a/ Các bảng số liệu thống kê :
nghĩa lớn trong dạy học Địa lý
Bảng số liệu thống kê là phương tiện dùng làm cơ sở để rút ra các nhận xét
địa lý khái quát hoặc có thể dùng để cụ thể hóa, minh họa làm rõ kiến thức địa lý Chúng không phải là tri thức địa lý cần ghi nhớ mà đóng vai trò là phương tiện của
Trang 8học sinh trong nhận thức Bằng việc phân tích các số liệu, học sinh có thể thu nhận các kiến thức địa lý hoặc nhờ việc xem xét các mối liên quan của các số liệu tương ứng, học sinh sẽ nắm chắc hơn các tri thức cần thiết
Các bảng số liệu thống kê trong SGK Địa Lý 9 cung cấp cho học sinh những
kiến thức về cơ cấu, tình hình phát triển của một số ngành kinh tế, sự phân bố của một số cây trồng theo vùng Qua đó rèn luyện cho học sinh các kĩ năng phân tích bảng thống kê, vẽ biểu đồ kinh tế
Trước tiên các em cần hiểu được nội dung của cột dọc, hàng ngang và cách
trình bày bảng, cách sắp xếp các số liệu trong bảng Sau khi học sinh hiểu kĩ về
các bảng số liệu bằng nhiều cách khác nhau Giáo viên hướng dẫn học sinh tính
toán số liệu ở bảng số liệu để rút ra kiến thức cần thiết
Ví dụ : ă ứ à bả số l ệu ã ậ xét sự tă t ở t ị ơ
Giáo viên yêu cầu học sinh phân tích bảng số liệu, tính xem giá trị sản xuất cơng
nghiệp của Duyên Hải NTB và cả nước tăng gấp mấy lần từ 1995 đến 2002, so sánh giá trị cơng nghiệp của vùng chiếm khoảng bao nhiêu % so với cả nước Từ đĩ cĩ thể rút ra kết luận giá trị sản xuất cơng nghiệp của vùng cịn thấp so với các vùng khác của cả nước Việc này mất thời gian khơng nhiều nhưng để cho học sinh thấy rằng các số liệu thống kê khơng khơ khan Tiếp đến giáo viên chốt lại các con số 2002, khẳng định các chỉ tiêu về giá trị sản xuất cơng nghiệp của vùng c ng như cả nước qua các năm đều tăng, mặc dù vùng cịn thầp nhưng đây c ng là thành tựu lớn của ngành cơng nghiệp nước ta trong thời kì đổi mới đất nước
Phân tích bảng số liệu theo một chủ đề và rút ra nhận xét
Ví dụ: Căn cứ vào bảng số liệu sau cho biết cơ cấu các loại rừng ở nước ta?
Loại rừng nào có diện tích nhiều nhất của nước ta hiện nay?
Bảng 2: Diện tích rừng nước ta, năm 2000 (nghìn ha) Rừng sản xuất Rừng phòng hộ Rừng đặc dụng Tổng cộng
Trang 9Quan sát bảng số liệu, học sinh có thể thấy rằng cơ cấu rừng nước ta gồm 3
loại chính là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, trong đó rừng phòng hộ có diện tích nhiều nhất…
Chuyển bảng số liệu thành biểu đồ và rút ra nhận xét, giải thích Đây là kĩ
năng địa lý cơ bản đối học sinh lớp 9 trong chương trình môn Địa lý Trong nhiều bài học ở SGK Địa lý 9 đều yêu cầu học sinh thành thạo kĩ năng vẽ biểu đồ từ bảng số liệu đã cho và rút ra nhận xét từ biểu đồ đã vẽ Do đó giáo viên cần hướng dẫn các em thành thạo các thao tác để vẽ được tất cả các loại biểu đồ trong chương trình và nêu cách nhận xét, giải thích từ biểu đồ đã vẽ cùng với bảng số liệu đã cho
Ví dụ: Cho bảng số liệu sau:
Bảng3: Diện tích gieo trồng, phân theo nhóm cây ( nghìn ha)
a) Hãy vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây Biểu đồ năm 1990 có bán kính là 20mm; biểu đồ năm 2002 có bán kính là 24mm? b) Từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ, hãy nhận xét sự thay đổi quy mô diện tích và tỉ trọng diện tích gieo trồng của các nhóm cây?
Đối với bài tập này, trước hết giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài nêu cho
học sinh quy trình vẽ biểu đồ cơ cấu các bước như sau:
Bước1: Lập bảng số liệu đã xử lí theo mẫu Chú ý khâu làm tròn số sao cho tổng
các thành phần phải dúng 100%
Bước 2: Vẽ biểu đồ cơ cấu theo qui tắc bắc đầu vẽ từ “ tia 12 giờ”, vẽ thuận theo
chiều kim đồng hồ Vẽ các hình quạt với tỉ trọng của từng thành phần trong cơ cấu Ghi trị số phần trăm vào các hình quạt tương ứng Vẽ đến đâu, tô màu ( kẽ vạch) đến đó Đồng thời ghi tên biểu đồ và thiết lập bảng chú giải
Giáo viên tổ chức cho học sinh tính toán, kẻ lên bảng khung các số liệu đã
được xử lí (các cột số liệu được bỏ trống) hướng dẫn học sinh xử lí số liệu 1,0% tương ứng với 3,6 độ ( góc ở tâm) Kết quả cụ thể như bảng sau:
Tổng số diện tích gieo trồng là 100%, góc ở tâm biểu đồ hình tròn là 3600
nghĩa là 1,0 gần bằng 3,60 sau đó gọi một vài học sinh lên điền kết quả tính toán vào bảng kết quả
Trang 10Năm 1990 Năm 2002 Năm 1990 Năm 2002
Cây ăn quả, cây thực phẩm, cây
khác
Giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ biểu đồ
Yêu cầu học sinh vẽ: Biểu đồ năm 1990 có R = 20mm; năm 2002 có R= 24mm
Giáo viên chỉ dẫn học sinh vẽ một biểu đồ năm 1990 Sau đó cho học sinh
vẽ tiếp biểu đồ 2002 thiết lập chú giải và ghi tên biểu đồ
* B ể ồ ơ ấ DT e ồ â e ạ â ăm 1990 ăm 2002( %)
Sau khi vẽ xong biểu đồ giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét sự thay đổi
quy mô diện tích và tỷ trọng diện tích gieo trồng của các nhóm cây dựa vào bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ
b/ Các sơ đồ :
Các sơ đồ trong sách giáo khoa Địa lý cung cấp cho học sinh những kiến thức
về cơ cấu của một số đối tượng kinh tế như hệ thống cơ sở vật chất – kĩ thuật trong nông nghiệp, vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển của một số ngành công nghiệp trọng điểm, hệ thống giao thông vận tải của nước ta… Thông qua phân tích các sơ đồ rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc, phân tích sơ đồ và lập sơ đồ dựa vào nội dung bài học
Các sơ đồ được sử dụng trong nhiều khâu khác nhau của bài học Địa lý như
kiểm tra kiến thức cũ đầu tiết học, định hướng nhận thức của học sinh lúc mở đầu bài học, giảng bài mới, củng cố bài học, ra bài tập về nhà cho học sinh…Việc sử dụng sơ đồ trong SGK có thể được tiến hành bằng nhiều cách khác nhau Giáo viên có thể yêu cầu học sinh quan sát và đọc các yêu cầu của SGK để nêu các đối
năm 1990
71.6
15.1 13.3
Trang 11tượng được thể hiện trong sơ đồ từ đó phân tích, rút ra kết luận, nắm kiến thức cơ bản của nội dung bài học
Ví dụ : Dựa vào sơ đồ cắt ngang của vùng biển Việt Nam, hãy nêu giới hạn từng
bộä phận của vùng biển nước ta ?
Đất liền Nội thủy 12 hải lí 12 hải lí
Lãnh hải Vùng
THỀM LỤC ĐỊA
Hình 38.1 Sơ đồ cắt ngang vùng biển Việt Nam
Thông qua sơ đồ học sinh có thể nêu được giới hạn từng bộ phận của vùng biển
nước ta một cách dễ dàng Bên cạnh đó khắc sâu được những kiến thức đã học một cách chắc chắn
Mặt khác có thể dựa vào nội dung bài học xây dựng hệ thống các sơ đồ trống,
yêu cầu học sinh điền các kiến thức vào sơ đồ cho hợp lí
Ví dụ : Dựa vào nội dung bài học, em điền vào sơ đồ các ngành kinh tế biển của
nước ta theo mẫu sau ?
thành sơ đồ Đây là hình thức dạy học cĩ sự tham gia tích cực của học sinh Bằng phương pháp dạy học giảng giải, nêu vấn đề, thảo luận nhĩm…hình thành sơ đồ tương ứng với tiến trình dạy học
CÁC NGÀNH KINH TẾ BIỂN