- Đề tài cũng phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, đề xuất phương hướng và biện pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty trong thời gian tới.. Kết cấu
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
––––––––––––––––––––––––––––
ĐẶNG THỊ MAI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI TNG
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ XUÂN HOÀNG
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập Các
số liệu, tài liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Đặng Thị Mai
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp và các cơ quan, đơn vị liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi sưu tầm tài liệu và tham gia đóng góp
ý kiến về chuyên môn trong quá trình nghiên cứu
Tác giả luận văn
Đặng Thị Mai
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục biểu đồ, sơ đồ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp của luận văn 3
4.1 Về lý luận 3
4.2 Về thực tiễn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 5
1.1 Những vấn đề chung về thị trường 5
1.1.1 Khái niệm thị trường 5
1.1.2 Phân loại thị trường 5
1.1.3 Chức năng và vai trò của thị trường 7
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty 10
1.2 Những vấn đề chung về hoạt động tiêu thụ sản phẩm 26
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.1 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm may mặc 26
1.2.2 Sự cần thiết của mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm 30
1.3 Kinh nghiệm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở thế giới và Việt Nam 32
1.3.1 Kinh nghiệm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở ngoài nước 32
1.3.2 Kinh nghiệm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở trong nước 35
1.4 Bài học kinh nghiệm về mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm 39
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 42
2.2 Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận 42
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 42
2.2.3 Phương pháp tổng hợp thông tin 43
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 44
2.3.1 Hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế 44
2.3.2 Hệ thống về chất lượng sản phẩm 44
Chương 3: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI TNG 46
3.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 46
3.1.1 Quá trình hình thành, phát triển 46
3.1.2 Cơ cấu bộ máy, chức năng và nhiệm vụ 50
3.1.3 Đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 62
3.1.4 Một số đặc điểm nguồn lực của công ty 67
3.2 Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 73
3.2.1 Khái quát thực trạng thị trường và tình hình tiêu thụ sản phẩm 73
3.2.2 Thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 76
3.2.3 Các phương thức Công ty đã áp dụng trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm 84
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.2.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Công ty 89
3.3 Đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 90
3.3.1 Những thành tựu đã đạt được 90
3.3.2 Những mặt còn hạn chế 91
3.3.3 Những nguyên nhân chủ yếu 92
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI TNG 95
4.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển của Công ty trong thời gian tới 95
4.1.1 Chiến lược phát triển của ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 95
4.1.2 Định hướng phát triển Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 99
4.1.3 Phương hướng hoạt động nhằm thúc đẩy mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu tư và thương mại TNG trong thời gian tới 100
4.2 Một số giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 106
4.2.1 Giải pháp về sản phẩm 106
4.2.2 Các giải pháp về giá 110
4.2.3 Các giải pháp xúc tiến hỗn hợp 111
4.2.4 Đổi mới công nghệ 113
4.2.5 Phát huy nhân tố con người, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động 113
4.2.6 Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115
1 Kết luận 115
2 Một số kiến nghị để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 3.1: Tình hình lao động của Công ty TNG năm 2012 67
Bảng 3.2: Đặc điểm cơ sở vật chất và tài sản của Công ty 69
Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu kinh doanh đạt được của công ty 70
Bảng 3.4: Giá trị một số hợp đồng giữa các đối tác và Công ty năm 2010 - 2012 71
Bảng 3.5: Một số loại máy móc thiết bị chuyên dùng của Công ty 72
Bảng 3.6: Một số phần mềm ứng dụng tại Công ty tính đến năm 2012 73
Bảng 3.7: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty năm 2010 - 2012 75
Bảng 3.8: Doanh số tiêu thụ của Công ty từ năm 2010 - 2012 77
Bảng 3.9: Thị trường xuất khẩu của Công ty năm 2011 - 2012 79
Bảng 3.10: Một số hợp đồng đã và đang được thực hiện tại Công ty năm 2010 - 2012 82 Bảng 3.11: Doanh thu các mặt hàng chủ yếu của công ty năm 2010 - 2012 83
Bảng 3.12: Các cửa hàng và các đại lý của Công ty tính đến 31/12/2012 87
Bảng 4.1: Chiến lược phát triển của ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2020 96
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu chủ yếu của chiến lược phát triển của ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 97
Bảng 4.3: Kế hoạch sản xuất kinh doanh từ năm 2013 - 2015 100
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương
mại TNG các năm 2011, 2012 80
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu tiêu thụ sản phẩm chính của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG qua các năm 2010 - 2012 84
Sơ đồ: Sơ đồ 3.1: Mô hình tổ chức quản lý hiện tại của công ty 53
Sơ đồ 3.2: Bộ máy tổ chức Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 63
Sơ đồ 3.3: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG 64
Sơ đồ 3.4: Khái quát quy trình gia công 65
Sơ đồ 3.5: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm 66
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, dù là doanh nghiệp thương mại hay doanh nghiệp sản xuất muốn tồn tại và phát triển phải có thị trường để tiêu thụ sản phẩm của mình Doanh nghiệp thương mại thì hoạt động chủ yếu là trên thị trường Doanh nghiệp công nghiệp phải hoạt động cả trên lĩnh vực sản xuất cả trên thị trường Muốn duy trì và phát triển sản xuất phải làm tốt khâu tiêu thụ sản phẩm và việc đó chỉ thực hiện được qua việc mở rộng thị trường
Trong mỗi doanh nghiệp, quá trình sản xuất và các hoạt động diễn ra không ngừng, các hoạt động diễn ra theo chu kỳ: mua nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị trên thị trường đầu vào, tiến hành sản xuất sản phẩm sau đó bán sản phẩm trên thị trường đầu ra Trong chu kỳ này giai đoạn nào cũng đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên thành công cho doanh nghiệp Nhưng giai đoạn quan trọng hơn cả, quyết định sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp là giai đoạn cuối cùng thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ sản phẩm) Giữa doanh nghiệp và thị trường có mối quan hệ hữu cơ mật thiết, không thể tách rời Mục đích sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là vì lợi nhuận, nói như vậy có nghĩa là lợi nhuận càng lớn thì càng tốt Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm là để bán, muốn bán được thì phải tiếp cận và mở rộng thị trường Thị trường càng lớn thì lượng hàng hoá tiêu thụ được càng nhiều và khả năng thu lợi nhuận càng cao Còn nếu thị trường càng hẹp thì lượng hàng hoá được càng ít có thể gây ra ứ đọng, khả năng quay vòng vốn kém hoặc cũng có nhiều doanh nghiệp phải đình trệ sản xuất Trong cơ chế hiện nay, cơ chế của những cuộc cạnh tranh tàn khốc, thì thị trường có vai trò quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp
Thị trường càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn càng phát đạt, khả năng thu hút khách hàng mạnh, lượng sản phẩm tiêu thụ lớn làm cho sản xuất phát triển, sức cạnh tranh càng mạnh Thị trường rộng giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, nhanh chóng tăng doanh thu và lợi nhuận, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu
tư hiện đại hoá sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm khả năng chiếm lĩnh và
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
mở rộng thị trường Giúp cho doanh nghiệp có khả năng kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Mặt khác, nó còn góp phần giúp cho doanh nghiệp giảm bớt rủi ro do khách quan đem lại
Trong khi đó, thị trường thì có hạn về khối lượng tiêu dùng Do vậy các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để giữ cho mình phần thị trường cũ và tìm kiếm
mở rộng thêm những thị trường mới để mở rộng sản xuất kinh doanh Yêu cầu về
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là một tất yếu khách quan đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp
Ngành may mặc ở nước ta hiện nay đã có những bước phát triển vượt bậc và được coi là ngành kinh tế mũi nhọn góp phần đem lại nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách quốc gia Không chỉ có vậy mà ngành may mặc còn là ngành đi đầu trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Sự phát triển lớn mạnh của các doanh nghiệp may thông qua việc nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia
và hướng mở rộng thị trường trong nước, xuất khẩu ra nước ngoài
Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG được thành lập năm 1979 là doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, trong đó hàng may mặc xuất khẩu là mặt hàng chủ lực của Công ty Sản phẩm may mặc của Công ty chủ yếu xuất khẩu sang các nước trên thế giới như: Nhật Bản, Mỹ, EU Tuy nhiên, hiện nay do sự biến động từ thị trường xuất khẩu và hình thức sản xuất kinh doanh theo phương thức gia công không đem lại nhiều lợi nhuận đã gây ra cho công ty một số khó khăn Trong khi
đó, thị trường may mặc nội địa là thị trường đầy tiềm năng với những đặc điểm và điều kiện hết sức thuận lợi lại chưa được công ty quan tâm đúng mức Qua thời gian tìm hiểu, khảo sát và nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
tôi chọn vấn đề “Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp mở rộng thị
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG trong giai đoạn tới
2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường
và hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
- Phân tích, đánh giá thực trạng kinh doanh nói chung và thị trường tiêu thụ sản phẩm nói riêng của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
- Đề xuất phương hướng, giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói chung và hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty
Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG nói riêng
- Đề tài cũng phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, đề xuất phương hướng và biện pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty trong thời gian tới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Đầu tư và
Thương mại TNG
3.2.2 Phạm vi về thời gian: Các tài liệu, số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài thu
thập trong giai đoạn 2010 ÷ 2012
3.2.3 Phạm vi về nội dung: Là những vấn đề có liên quan đến kết quả kinh doanh
của Công ty, trọng tâm là vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần
Đầu tư và Thương mại TNG
4 Những đóng góp của luận văn
4.1 Về lý luận
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về thị trường và công tác tiêu thụ sản phẩm Trên cơ sở đó chỉ ra cách thức vận dụng các lý luận về những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho doanh nghiệp
4.2 Về thực tiễn
- Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG; những mặt đạt được và những hạn chế của Công ty, luận giải những nguyên nhân của những hạn chế đó
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường và hoạt động tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty Cổ phần Đầu
tư và Thương mại TNG
Chương 4: Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Những vấn đề chung về thị trường
1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan được nghiên cứu trong các học thuyết kinh tế Nó gắn với phân công lao động xã hội Ở đâu có phân công động xã hội thì ở đó có thị trường
Ta có thể hiểu nghĩa hẹp của thị trường là chỉ địa điểm hay không gian của trao đổi hàng hóa Đó là nơi gặp gỡ của người bán và người mua, hàng và tiền và ở
đó diễn ra các hoạt động mua bán Sau này khi sản xuất phát triển, hoạt động mua bán, trao đổi được mở rộng cả về không gian thì khái niệm thị trường cũng được mở rộng hơn (cửa hàng, siêu thị, cửa hiệu cố định…) Nghĩa rộng của thị trường là các hiện tượng kinh tế được phản ánh thông qua trao đổi và lưu thông hàng hóa cùng các quan hệ kinh tế giữa người và người trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa
và dịch vụ Vì vậy có thể hiểu thị trường là tổng thể những thỏa thuận cho phép người mua và người bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ Do đó thị trường không nhất
thiết là một địa điểm cụ thể (Trần Minh Đạo, 2011, Marketing căn bản)
1.1.2 Phân loại thị trường
1.1.2.1 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
- Thị trường sản phẩm quốc tế là nơi diễn ra trao đổi, mua bán các sản phẩm giữa các quốc gia với nhau Hoạt động mua bán, giao dịch trên thị trường quốc tế diễn ra rất phức tạp vì nó chịu sự chi phối của các luật lệ, các thông lệ quốc tế
- Thị trường sản phẩm nội địa là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi sản phẩm trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia Các quan hệ kinh tế trên thị trường nằm trong cùng một môi trường văn hóa, xã hội, chính trị, pháp luật
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Thị trường địa phương: Bao gồm tập hợp khách hàng trong phạm vi địa phương nơi thuộc địa phận phân bố của doanh nghiệp
- Thị trường vùng: Bao gồm tập hợp những khách hàng ở một vùng địa lý nhất định Vùng này được hiểu như một khu vực địa lý rộng lớn có sự đồng nhất về kinh
tế - xã hội
- Thị trường toàn quốc: Hàng hoá và dịch vụ được lưu thông trên tất cả các vùng, các địa phương của một nước
1.1.2.2 Căn cứ vào mức độ chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh
- Thị trường các ngành lớn bao gồm thị trường các sản phẩm công nghiệp, thị trường các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp
- Thị trường các sản phẩm cụ thể như quần, áo, giầy, dép…
1.1.2.3 Căn cứ vào tính chất của sản phẩm
- Thị trường sản phẩm xa xỉ: là thị trường của các sản phẩm cao cấp, thường phục vụ cho nhóm có nhu cầu thanh toán cao
- Thị trường sản phẩm thiết yếu: là thị trường của các sản phẩm không cao cấp, thường phục vụ cho nhu cầu hàng ngày, có tính phổ biến
1.1.2.4 Căn cứ vào thời gian sử dụng sản phẩm
- Thị trường sản phẩm lâu bền, sản phẩm có tuổi thọ dài, qua nhiều lần sử dụng
- Thị trường sản phẩm không lâu bền, sản phẩm chỉ sử dụng trong một hoặc một số lần và là sản phẩm thiết yếu cân nhắc khi mua
1.1.2.5 Căn cứ vào mối quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh
- Thị trường sản phẩm đầu vào: là thị trường cung ứng các sản phẩm cho hoạt động sản xuất
- Thị trường sản phẩm đầu ra: là thị trường mà doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của mình Doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường này là người bán, thuộc yếu tố cung
1.1.2.6 Căn cứ vào mối quan hệ giữa người mua và người bán
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Trên thị trường có nhiều người mua và nhiều người bán cùng một loại hàng hoá, dịch vụ Hàng hoá đó mang tính đồng nhất
và giá cả là do thị trường quyết định
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Trên thị trường có nhiều người mua
và người bán cùng một loại hàng hóa, sản phẩm nhưng chúng không đồng nhất Điều này có nghĩa loại hàng hóa sản phẩm đó có nhiều kiểu dáng, mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu kích thước khác nhau Giá cả hàng hóa được ấn định một cách linh hoạt theo tình hình tiêu thụ trên thị trường
- Thị trường độc quyền: Trên thị trường chỉ có một nhóm người liên kết với nhau cùng sản xuất ra một loại hàng hóa Họ có thể kiểm soát hoàn toàn số lượng
dự định bán ra trên thị trường cũng như giá cả của chúng
1.1.2.7 Căn cứ vào quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp
- Thị trường đầu vào: Là nơi doanh nghiệp thực hiện các giao dịch nhằm mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất Có bao nhiêu yếu tố đầu vào thì sẽ có bấy nhiêu thị trường đầu vào (thị trường lao động, thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường khoa học công nghệ, thị trường bất động sản…)
- Thị trường đầu ra: Là nơi doanh nghiệp tiến hành các giao dịch nhằm bán các sản phẩm đầu ra của mình Tùy theo tính chất sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp mà thị trường đầu ra là tư liệu sản xuất hay thị trường tư liệu tiêu dùng
(Trần Minh Đạo, 2011, Marketing căn bản)
1.1.3 Chức năng và vai trò của thị trường
1.1.3.1 Chức năng chủ yếu của thị trường
a Chức năng thừa nhận: Thị trường thừa nhận chính là người mua chấp nhận
mua hàng và do đó hàng hoá bán được
b Chức năng thực hiện: Thị trường là nơi thực hiện trao đổi hàng hoá, thực
hiện cân bằng cung cấp, thực hiện giá trị của hàng hoá thông qua giá cả
c Chức năng điều tiết và kích thích: Thị trường thông qua các quy luật kinh tế
sẽ điều tiết sản xuất, thu hút vốn đầu tư vào các ngành sản xuất kinh doanh có lợi nhuận cao, điều tiết quá trình lưu thông hàng hoá, điều tiết giá cả; kích thích các nhà sản xuất kinh doanh tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
d Chức năng thông tin: Trên thị trường có rất nhiều mối quan hệ về kinh tế -
chính trị - văn hoá - xã hội Thị trường cho ta biết nhiều thông tin phục vụ cho hoạt động và xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, như thông tin về số lượng cung cầu, giá cả từng loại hàng hoá, hướng vận động của từng loại hàng hoá, các đối thủ cạnh tranh, yêu cầu về số lượng và chất lượng hàng hoá, thị hiếu tiêu dùng …
1.1.3.2 Vai trò của mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
a Đối với doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi bắt đầu sản xuất kinh doanh đều đề ra các mục tiêu của doanh nghiệp mình Muốn đạt được các mục tiêu đó doanh nghiệp phải bán được các sản phẩm mình kinh doanh mà sản phẩm đó chỉ được mua bán, trao đổi trên thị trường Do đó thị trường là mối quan tâm bậc nhất của doanh nghiệp, nó quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Trước đây khi hàng hóa khan hiếm, các nhà kinh doanh chỉ hoạt động ở phạm vi phân phối và trao đổi thông thường, quyền lực lúc này thuộc về người bán, người mua có quyền lựa chọn loại hàng hóa và chịu sự chi phối của người bán, người bán không phải chịu áp lực cạnh tranh cao trong bán hàng Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo ra sự đột biến trong sản xuất, tạo nên sự đa dạng, phong phú về chủng loại sản phẩm và chúng có thể thay đổi, bổ sung cho nhau Chính sự phát triển của khoa học công nghệ đã giúp cho các nhà sản xuất có thể mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm Điều đó làm tăng khối lượng hàng hóa trên thị trường và người mua có nhiều cơ hội lựa chọn sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình Khi cung lớn hơn cầu, người mua có nhiều lợi thế, người bán tham gia trên thị trường sẽ cạnh tranh gay gắt với nhau để thu hút nhiều khách hàng về phía mình Doanh nghiệp nào tạo được lòng tin đối với khách hàng, làm cho họ tin dùng sản phẩm của mình thì doanh nghiệp đó sẽ tồn tại và phát triển Việc mở rộng thị trường là con đường cơ bản giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp và chiến thắng các đối thủ cạnh tranh
Chỉ cần nhìn vào số lượng sản phẩm sản xuất hàng ngày, hàng tháng của doanh nghiệp cũng có thể đánh giá đúng tầm cỡ, sự phát triển của doanh nghiệp, thị phần của doanh nghiệp Vấn đề chiếm lĩnh thị trường, làm chủ thị trường, chi phố
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thị trường sẽ có tất cả, không có thị trường, tất cả tài sản hiện có chỉ là một con số không Ngược lại, một doanh nghiệp có số lượng hàng hóa không nhiều nhưng có thị trường kinh doanh ban đầu, với ý chí quyết tâm chiếm lĩnh một thị trường rộng lớn thì doanh nghiệp sẽ có nhiều triển vọng Trong kinh doanh hiện đại, mở rộng thị trường là chiến lược để doanh nghiệp tự khẳng định mình trong cơn lốc của sự cạnh tranh và loại bỏ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, khẳng định được vị trí và lợi thế của mình trong sản xuất kinh doanh Từ đó tạo ra động lực giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn
Mục tiêu của doanh nghiệp thì có nhiều, đó là mục tiêu sinh lời, mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu lợi nhuận nhưng mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận Chỉ có trên
cơ sở mở rộng thị trường mới giúp cho các doanh nghiệp xây dựng được uy tín, thương hiệu, tăng khách hàng mới cho doanh nghiệp, tăng sản lượng sản phẩm bán
ra từ đó tăng doanh thu, tăng lợi nhuận Mà khi lợi nhuận tăng sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư cho sản xuất, đầu tư vào công nghệ mới, cung ứng các sản phẩm tốt hơn, rẻ hơn cho khách hàng
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ có tác dụng định hướng kinh doanh cho các doanh nghiệp bởi vậy nói tới thị trường là ta nói tới cung, cầu, giá cả sản phẩm, cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Như vậy, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển, vươn lên khẳng định vị trí của mình và đứng vững trên môi trường kinh doanh hoàn toàn mới lạ
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng thể hiện tinh thần dám cạnh tranh, dám cải cách, tinh thần sáng tạo cái mới hướng tới thắng lợi
b Đối với xã hội
Đối với xã hội, doanh nghiệp đóng vai trò là nhà cung ứng và tiêu thụ Doanh nghiệp sẽ cung ứng cho xã hội những hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu xã hội
Nó là nhà tiêu thụ khi nó phải sử dụng, tiêu dùng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, lao động Có mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư cho sản xuất, quy mô cũng tăng lên từ đó nhu cầu về người lao động cũng tăng lên, giúp giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
c Đối với nhà nước
Doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ của nhà nước thông qua nộp thuế Phần thuế này tỷ lệ thuận với doanh thu mà doanh nghiệp đạt được Doanh nghiệp càng
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình thì nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước càng được thực hiện tốt và ngược lại Như vậy mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm theo chiều rộng hay theo chiều sâu đều mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Và để đạt được lợi ích cao đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nỗ lực hết mình, phải phản ứng linh hoạt với những biến động của thị trường
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Nó phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Các đại lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra cũng như trình độ lợi dụng các nguồn lực nó chịu tác động trực tiếp của rất nhiều các nhân tố khác nhau với các mức độ khác nhau, do đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp công nghiệp ta có thể chia nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như sau:
1.1.4.1 Các nhân tố khách quan
a Nhân tố môi trường quốc tế và khu vực
Các xu hướng chính trị trên thế giới, các chính sách bảo hộ và mở cửa của các nước trên thế giới, tình hình chiến tranh, sự mất ổn định chính trị, tình hình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như việc lựa chọn và sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp Do vậy mà nó tác động trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Môi trường kinh tế ổn định cũng như chính trị trong khu vực ổn định là cơ sở để các doanh nghiệp trong khu vực tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
doanh Ví dụ như tình hình mất ổn định của các nước Đông Nam Á trong mấy năm vừa qua đã làm cho hiệu quả sản xuất của nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới nói chung hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu vực nói riêng bị giảm rất nhiều Xu hướng tự do hoá mậu dịch của các nước ASEAN và của thế giới đã ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nước trong khu vực
b Nhân tố môi trường nền kinh tế quốc dân
* Môi trường chính trị, luật pháp: Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là
tiền đề cho việc phát triển và mở rộng các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước Các hoạt động đầu tư lại tác động trở lại rất lớn tới các hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ thuật sản xuất tạo ra một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động, các hoạt động của doanh nghiệp như sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất bằng cách nào, bán cho ai, ở đâu, nguồn đầu vào lấy ở đâu đều phải dựa vào các quy định của pháp luật Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với người lao động như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp ) Có thể nói luật pháp là nhân tố kìm hãm hoặc khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng trực tiếp tới các kết quả cũng như hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
* Môi trường văn hoá xã hội: Tình trạng thất nghiệp, trình độ giáo dục, phong
cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội đều tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Nếu không có tình trạng thất nghiệp, người lao động có nhiều cơ hội lựa chọn việc làm thì chắc chắn chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ cao do đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại nếu tình trạng thất nghiệp là cao thì chi phí sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ giảm làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhưng tình trạng thất nghiệp cao sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm và có thể dẫn đến tình trạng an ninh chính trị mất ổn định, do vậy lại làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ văn hoá ảnh hưởng tới khả năng đào tạo cũng như chất lượng chuyên môn và khả năng tiếp thu các kiến thức cần thiết của đội ngũ lao động, phong cách, lối sống, phong tục, tập quán, tâm lý xã hội nó ảnh hưởng tới cầu về sản phẩm của các doanh nghiệp Nên nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
* Môi trường kinh tế: Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng
nền kinh tế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp Nếu tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại
* Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng: Các điều kiện tự
nhiên như: các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thời tiết khí hậu, ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng
Tình trạng môi trường, các vấn đề về xử lý phế thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội về môi trường, đều có tác động nhất định đến chi phí kinh doanh, năng suất và chất lượng sản phẩm Một môi trường trong sạch thoáng mát sẽ trực tiếp làm giảm chi phí kinh doanh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quyết định sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp Hệ thống đường xá, giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
* Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ: Tình hình phát triển khoa học kỹ
thuật công nghệ, tình hình ứng dụng của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cũng như trong nước ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm tức là ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
* Nhân tố môi trường ngành
- Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành: Mức độ cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành với nhau ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cầu sản phẩm của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng tới giá bán, tốc độ tiêu thụ sản phẩm do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của mỗi doanh nghiệp
- Khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp: Trong cơ chế thị trường ở
nước ta hiện nay trong hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề sản xuất kinh doanh có mức doanh lợi cao thì đều bị rất nhiều các doanh nghiệp khác nhóm ngó và sẵn sàng đầu tư vào lĩnh vực đó nếu như không có sự cản trở từ phía Chính phủ Vì vậy buộc các doanh nghiệp trong các ngành có mức doanh lợi cao đều phải tạo ra các hàng rào cản trở sự gia nhập mới bằng cách khai thác triệt để các lợi thế riêng có của doanh nghiệp, bằng cách định giá phù hợp (mức ngăn chặn sự gia nhập, mức giá này có thể làm giảm mức doanh lợi) và tăng cường mở rộng chiếm lĩnh thị trường
Do vậy ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Sản phẩm thay thế: Hầu hết các sản phẩm của doanh nghiệp đều có sản phẩm
thay thế, số lượng chất lượng, giá cả, mẫu mã bao bì của sản phẩm thay thế, các chính sách tiêu thụ của các sản phẩm thay thế ảnh hưởng rất lớn tới lượng cung cầu, chất lượng, giá cả và tốc độ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do đó ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Người cung ứng: Các nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp được cung
cấp chủ yếu bởi các doanh nghiệp khác, các đơn vị kinh doanh và các cá nhân Việc đảm bảo chất lượng, số lượng cũng như giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phụ thuộc vào tính chất của các yếu tố đó, phụ thuộc vào tính chất của người cung ứng và các hành vi của họ Nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là không có sự thay thế và do các nhà độc quyền cung cấp thì việc đảm bảo yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chi phí về các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhà cung ứng rất lớn, chi phí về các yếu tố đầu vào sẽ cao hơn bình thường nên sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp là sẵn có và có thể chuyển đổi thì việc đảm bảo về số lượng, chất lượng cũng như hạ chi phí về các yếu
tố đầu vào là dễ dàng và không bị phụ thuộc vào người cung ứng thì sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Người mua: Khách hàng là một vấn đề vô cùng quan trọng và được các
doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý Nếu như sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra mà không có người hoặc là không được người tiêu dùng chấp nhận rộng rãi thì doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất được Mật độ dân cư, mức độ thu nhập, tâm lý và sở thích tiêu dùng… của khách hàng ảnh hưởng lớn tới sản lượng
và giá cả sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới sự cạnh tranh của doanh nghiệp vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả của doanh nghiệp
c Vị trí địa lý, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Vị trí địa lý có thể xem xét ở khía cạnh riêng khi phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp sở hữu và khai thác những địa điểm đẹp, hệ thống cửa hàng được thiết kế trang bị đẹp mắt, khoa học sẽ thu được nhiều khách hàng và có khả năng tiêu thụ được khối lược sản phẩm lớn Trong kinh doanh mặt hàng thời trang, nhu cầu của người tiêu dùng ở đâu cũng có song doanh nghiệp phải lựa chọn những địa điểm đẹp, thuận tiện cho việc vận chuyển, bảo quản, dự trữ ngoài những nơi đông dân cư doanh nghiệp cũng phải chú ý phân bố mạng lưới tiêu thụ ở những khu vực dân cư thưa thớt
d Môi trường văn hoá xã hội
Yếu tố văn hoá xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
* Dân số: Quy mô của dân số thể hiện số người hiện hữu trên thị trường Quy
mô dân số càng lớn thì thị trường càng lớn và nhu cầu về nhóm sản phẩm càng lớn
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Đối với sản phẩm là thời trang, dân số càng lớn thì nhu cầu may mặc càng lớn bởi
vì trang phục là sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của con người Mặc dù nhu cầu sử dụng sản phẩm may mặc của mỗi người chỉ ở mức nhất định song do quy mô dân số lớn cho nên nhu cầu sử dụng thực phẩm lớn hơn rất nhiều
Do doanh nghiệp có nhiều cơ hội để tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn
* Xu hướng vận động của dân số: Tỷ lệ sinh tử, độ tuổi trung bình sẽ ảnh
hưởng đến cơ cấu tiêu dùng sản phẩm Do đó cần có cơ cấu sản phẩm để đưa vào tiêu thụ trên thị trường Đặc biệt đối với sản phẩm may mặc, ở mỗi độ tuổi khác nhau nhu cầu sử dụng sản phẩm là khác nhau rất nhiều do đó doanh nghiệp phải
có cơ cấu sản phẩm phù hợp với xu hướng vận động của dân số trong hiện tại và tương lai
* Mật độ dân số: Ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của
doanh nghiệp Mật độ dân số đông cho phép doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn Nhu cầu sử dụng sản phẩm ở khu vực mật độ dân số đông là rất lớn và
sẽ tiêu thụ nhiều sản phẩm cho phép doanh nghiệp tập trung vào hoạt động tiêu thụ trong khu vực với các chi phí thấp hơn khu vực dân số thưa thớt Do đó doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả cao hơn trong hoạt động tiêu thụ
* Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu thụ: Thu nhập ảnh hưởng đến
khả năng tài chính của người tiêu thụ trong việc thoả mãn nhu cầu Trong khả năng tài chính có hạn, họ sẽ lựa chọn sản phẩm hay sản phẩm thay thế Hơn nữa, khi thu nhập của người dân cao hơn, chi tiêu cho may mặc sẽ cao hơn không những về số lượng mà cả về chất lượng, đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều sản phẩm với chất lượng cao hơn đồng thời cơ cấu sản phẩm đưa vào tiêu thụ phải phù hợp với nhu cầu tiêu dùng đó
e Môi trường chính trị pháp luật
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị pháp luật chi phối mạnh mẽ sự hình thành cơ hội tiêu thụ và khả năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Hệ thống chính sách, luật pháp hoàn thiện, nền chính trị ổn định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, hạn chế tệ nạn vi phạm pháp luật như buôn lậu, trốn thuế, hàng giả Bất cứ một quốc gia nào nhu cầu sử dụng sản phẩm
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
may mặc là rất lớn, song để đảm bảo nhu cầu đó, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp tự sản xuất hoặc phải nhập khẩu sản phẩm, bán thành phẩm
f Môi trường kinh tế và công nghệ
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế tác động thay đổi vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân kéo theo chiều hướng phát triển của doanh nghiệp, khả năng mở rộng, thu hẹp quy mô doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế đáng phát triển ở nước nước ta hiện nay cơ cấu đầu tư giữa các ngành có sự thay đổi lớn
- Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực của tích lũy, xu hướng tiêu dùng làm cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm trở nên
dễ dàng hay khó khăn hơn, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm Sản phẩm may mặc là những mặt hàng có giá trị nhỏ trên một đơn vị sản phẩm, tuy nhiên khối lượng tiêu dùng rất lớn Khi có lạm phát xảy ra, việc đầu cơ tích trữ sẽ tạo ra khan hiếm giả tạo trên thị trường Hơn nữa trên thị trường có sản phẩm song người tiêu dùng sẽ không đủ tiền mua sản phẩm, đồng thời các các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc mua sắm nguyên vật liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất và do đó giá thành sản phẩm sẽ rất cao Trong tình hình đó sản phẩm rất khó tiêu thụ trên thị trường dẫn đến doanh nghiệp không thu hồi được vốn để tái đầu và hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ Đặc biệt với các doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn sẽ bị ảnh hưởng lớn đến khối lượng sản phẩm đưa vào tiêu thụ trên thị trường
- Hoạt động ngoại thương, xu hướng mở cửa nền kinh tế tác động đến cơ hội phát triển của doanh nghiệp Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ ở trên nội địa mà có thể tiêu thụ sản phẩm trên thị trường quốc tế với lợi thế so sánh hoặc cũng gây ra sự cản trở việc tiêu thụ sản phẩm ngay trong nội địa đối với doanh nghiệp không có lợi thế so sánh
- Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực thi: liên quan đến sự công bằng trong cạnh tranh, thể hiện xu hướng ưu tiên phát triển nền kinh tế
g Môi trường cạnh tranh
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn, tham gia vào thị trường doanh nghiệp phải nghiên cứu tính cạnh tranh trên thị trường trên các góc độ
* Điều kiện chung về cạnh tranh trên thị trường
Quan điểm khuyến khích hay hạn chế cạnh tranh trên thị trường, vai trò và khả năng của chính phủ trong việc điều khiển cạnh tranh và các quy định về cạnh tranh
Từ đó doanh nghiệp có chiến lược cạnh tranh phù hợp với các quy định của Chính phủ Ở nước ta Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp tự do cạnh tranh trong ngành may mặc trong khuôn khổ những quy định của pháp luật về sự công bằng trong cạnh tranh
* Số lượng đối thủ cạnh tranh: Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh trên thị trường
để biết được có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh cùng tiêu thụ sản phẩm đồng nhất, bao nhiêu đối thủ cạnh tranh sản phẩm có khả năng thay thế Trên thị trường ở nước ta hiện nay, số lượng các doanh nghiệp tham gia kinh doanh sản xuất sản phẩm may mặc là rất lớn bao gồm cả các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp tư nhân, các cơ sở sản xuất ở các làng nghề ở các địa phương trong cả nước do đó tính cạnh tranh trên thị trường ở nước ta hiện nay là rất khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những sản phẩm đặc biệt, có chất lượng tốt, nhiều chủng loại, mẫu mã đẹp
Ưu, nhược điểm của đối thủ cạnh tranh: Liên quan đến sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu ưu nhược điểm mạnh yếu của đối thủ cạnh tranh đồng thời cũng phải tìm hiểu điểm mạnh của mình để từ đó có biện pháp hạn chế điểm mạnh của đối thủ, phát huy điểm mạnh của mình Ưu, nhược điểm của đối thủ cạnh tranh cũng như của doanh nghiệp thể hiện trên nhiều mặt chẳng hạn như: số lượng,
cơ cấu sản phẩm; chất lượng sản phẩm; giá cả; sự nổi tiếng của nhãn hiệu…
* Nghiên cứu chiến lược cạnh tranh của đối thủ trên thị trường từ đó doanh
nghiệp có giải pháp, cách thức cạnh tranh phù hợp với khả năng và mục tiêu của doanh nghiệp
h Môi trường địa lý, sinh thái
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
* Vị trí địa lý của doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Độ rộng địa lý về thị trường sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển do đó ảnh hưởng tới tổng chi phí trong tiêu thụ và giá sản phẩm đưa vào tiêu thụ Địa điểm thuận lợi cho việc mua bán, giao dịch sẽ giúp cho doanh nghiệp
có khả năng tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn
* Khí hậu thời tiết, tính chất mùa vụ ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất, tiêu
dùng các loại sản phẩm của khách hàng, ảnh hưởng đến chi phí bảo quản, dự trữ
* Mục tiêu, khả năng theo đuổi mục tiêu của ban lãnh đạo doanh nghiệp và những người tham gia quản lý doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp Nhà nước, thì ngoài việc kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận và mở rộng sản xuất kinh doanh còn phải thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao như: bình ổn giá cả thị trường, giúp Nhà nước quản lý thị trường, sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường nâng cao đời sống nhân dân Đặc biệt đối với sản phẩm may mặc là những một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn
về xuất khẩu; thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực
và thế giới Đảm bảo cho các doanh nghiệp Dệt May phát triển bền vững, hiệu quả trên cơ sở công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng, quản lý lao động, quản
lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế được Nhà nước khuyến khích do vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp không những bị ảnh hưởng bởi mục tiêu của ban lãnh đạo, khả năng theo đuổi mục tiêu của ban lãnh đạo doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào mục tiêu của cơ quan quản lý cấp trên của doanh nghiệp
1.1.4.2 Các nhân tố chủ quan (nhân tố bên trong doanh nghiệp)
a Bộ máy quản trị doanh nghiệp: Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế
thị trường, bộ máy quản trị doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp, bộ máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau:
- Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp và xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xây dựng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
được một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp hợp lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp) sẽ là cơ sở là định hướng tốt để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp đã xây dựng
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đề ra
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên Với chức năng
và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ máy quản trị doanh nghiệp, ta có thể khẳng định rằng chất lượng của bộ máy quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu bộ máy quản trị được tổ chức với cơ cấu phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hợp hành động hợp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Nếu bộ máy quản trị doanh nghiệp được tổ chức hoạt động không hợp lý (quá cồng kềnh hoặc quá đơn giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiêm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt động không chặt chẽ, các quản trị viên thì thiếu năng lực và tinh thần trách nhiệm sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không cao
b Lao động tiền lương: Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng,
nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác động trực tiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, tác động tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra công tác tổ chức phải hiệp lao động hợp lý giữa các bộ phận sản xuất, giữa các cá nhân trong doanh nghiệp, sử dụng người đúng việc sao chi phát huy tốt nhất năng lực sở trường của người lao động là một yêu cầu không
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thể thiếu trong công tác tổ chức lao động của doanh nghiệp nhằm đưa các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao Như vậy nếu ta coi chất lượng lao động (con người phù hợp trong kinh doanh) là điều kiện cần để tiến hành sản xuất kinh doanh thì công tác tổ chức lao động hợp lý là điều kiện đủ để doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả
c Tình hình tài chính của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có khả năng tài chính
mạnh thì không những đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu
tư đổi mới công nghệ và áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu như khả năng về tài chính của doanh nghiệp yếu kém thì doanh nghiệp không những không đảm bảo được các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do đó không nâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí băng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào Vì vậy tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
d Đặc tính của sản phẩm và công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm
- Đặc tính của sản phẩm: Ngày nay chất lượng của sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường, vì chất lượng của sản phẩm thoả mãn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, chất lượng sản phẩm càng cao sẽ đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng tốt hơn Chất lượng sản phẩm luôn luôn là yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp, khi chất lượng sản phẩm không đáp ứng được những yêu cầu của khách hàng, lập tức khách hàng
sẽ chuyển sang tiêu dùng các sản phẩm khác cùng loại Chất lượng của sản phẩm góp phần tạo nên uy tín danh tiếng của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Những đặc tính mang hình thức bên ngoài của sản phẩm như: Mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu… trước đây không được coi trọng nhưng ngày nay nó đã trở thành những yếu tố cạnh tranh quan trọng không thể thiếu được Thực tế cho thấy, khách hàng thường lựa chọn các sản phẩm theo trực giác, vì vậy những loại hàng hoá có mẫu
mã bao bì nhãn hiệu đẹp và gợi cảm… luôn giành được ưu thế hơn so với các hàng hoá khác cùng loại
Các đặc tính của sản phẩm là nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp góp phần rất lớn tới việc tạo uy tín, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm: Tiêu thụ sản phẩm là một khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định tới các khâu khác của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có tiêu thụ được hay không mới là điều quan trọng nhất Tốc độ tiêu thụ nó quyết định tốc độ sản xuất và nhịp độ cung ứng nguyên vật liệu Cho nên nếu doanh nghiệp tổ chức được mạng lưới tiêu thụ sản phẩm phù hợp với thị trường và các chính sách tiêu thụ hợp lý khuyến khích người tiêu dùng sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng và chiếm lĩnh được thị trường, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng vòng quay của vốn, góp phần giữ vững và đẩy nhanh nhịp độ sản xuất cũng như cung ứng các yếu tố đầu vào nên góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
e Nguyên vật liệu và công tác tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng và không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Số lượng, chủng loại, cơ cấu, chất lượng, giá cả của nguyên vật liệu và tính đồng bộ của việc cung ứng nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu, ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng của sản phẩm do đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí sử dụng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp công nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí kinh doanh và giá thành đơn vị
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sản phẩm cho nên việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu đồng nghĩa với việc tạo ra kết quả lớn hơn với cùng một lượng nguyên vật liệu
Bên cạnh đó, chất lượng của công tác đảm bảo nguyên vật liệu cũng ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu công tác tổ chức đảm bảo nguyên vật liệu được tốt, tức là luôn luôn cung cấp đầy đủ, kịp thời
và đồng bộ đúng số lượng, chất lượng, chủng loại các loại nguyên vật liệu cần thiết theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh, không để xảy ra tình trạng thiếu hay là ứ đọng nguyên vật liệu, đồng thời thực hiện việc tối thiểu hoá chi phí kinh doanh sử dụng của nguyên vật liệu thì không đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn góp phần rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
f Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Cơ sở vật chất đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời của tài sản
Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, nó thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi… Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng được bố trí hợp lý bao nhiêu thì càng góp phần đem lại hiệu quả cao bất nhiêu Điều này thấy khá rõ nếu một doanh nghiệp có hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi được bố trí hợp
lý, nằm trong khu vực có mật độ dân cư lớn, thu nhập về cầu về tiêu dùng của người dân cao… và thuận lợi về giao thông sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô hình rất lớn đó là lợi thế kinh doanh đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao
Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất còn có công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp rất thấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu
g Giá bán sản phẩm
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa và giá cả xoay quanh giá trị hàng hóa Theo cơ chế thị trường hiện, giá cả được hình thành theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán, theo đó thuận mua vừa bán Nhân tố giá cả ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệp có thể hoàn toàn sử dụng giá cả như một công cụ sắc bén để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Người tiêu dùng sẽ chấp nhận nếu doanh nghiệp đưa ra một mức giá phù hợp với chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu định giá quá cao, người tiêu dùng không chấp nhận lượng hàng tồn kho sẽ lớn, doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng ế đọng hàng và vốn Mặt khác, nếu làm tốt công tác định giá sản phẩm tạo nên lợi thế trong cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp có thể thu hút được cả khách hàng của các đối thủ cạnh tranh
h Chất lượng sản phẩm
Chất lượng là một vũ khí cạnh tranh sắc bén để cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động tiêu thụ sản phẩm Chất lượng sản phẩm tốt sẽ thu hút được khách hàng, tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tạo điều kiện nâng cao uy tín cho doanh nghiệp, đồng thời có thể doanh nghiệp nâng cao giá bán sản phẩm một cách hợp lý mà vẫn thu hút được khách hàng Ngược lại, chất lượng sản phẩm thấp thì hoạt động tiêu thụ sẽ gặp khó khăn
i Việc tổ chức bán hàng của doanh nghiệp
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp là nhân tố quan trọng thúc đẩy kết quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Công tác tổ chức bán hàng bao gồm nhiều mặt:
- Hình thức bán hàng: Kết hợp tổng hợp các hình thức như: bán buôn, bán lẻ,
thông qua các đại lý doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn một doanh nghiệp chỉ áp dụng duy nhất một hình thức bán hàng nào đó
- Dịch vụ kèm theo trước, trong và sau khi bán: Các doanh nghiệp tổ chức các
dịch vụ trước khi bán, trong khi bán và sau khi bán hàng như: dịch vụ tư vấn, dịch
vụ vận chuyển, bảo quản, lắp ráp, hiệu chỉnh sản phẩm và có bảo hành, sửa chữa
Để cho khách hàng được thuận lợi, nhờ vậy mà khối lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ tăng lên và tăng thêm sức cạnh tranh doanh nghiệp trên thị trường
- Tổ chức thanh toán: Áp dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau như:
thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán chậm, thanh toán ngay dẫn tới khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái hơn, có thể lựa chọn cho mình phương thức thanh toán tiện lợi nhất, hiệu quả nhất
j Quảng cáo giới thiệu sản phẩm
Quảng cáo giới thiệu sản phẩm nhằm cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết và cô đọng, những điểm đặc trưng nhất về sản phẩm của doanh nghiệp
để khách hàng có thể biết tới sản phẩm và so sánh với những sản phẩm khác để đi đến quyết định là nên mua sản phẩm nào đó
k Tiềm lực tài chính
Là yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối và quản lý nguồn vốn có hiệu quả Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm, một doanh nghiệp có nguồn vốn lớn và có khả năng đảm bảo một khoản ngân sách cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm phù hợp sẽ tạo cho doanh nghiệp một sức mạnh để đạt được những mục tiêu nhất định
l Tiềm lực con người
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tiềm lực con người là một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công trong kinh doanh Tiềm lực con người của doanh nghiệp thể hiện khả năng ở tất cả cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp tạo thành sức mạnh tinh thần của doanh nghiệp Tài năng của Ban lãnh đạo, sự nháy bén linh hoạt của đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác tiêu thụ sẽ tạo ra những môi trường lớn, khả năng tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn Đặc biệt là kiến thức về thị trường, về sản phẩm và khả năng nhận biết sự biến động nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng của ban lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác tiêu thụ sản phẩm
m Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp
Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm thể hiện thông qua khả năng bán hàng gián tiếp của doanh nghiệp Tiềm lực vô hình không
tự nhiên mà có Tuy nó có thể được hình thành một cách tự nhiên nhưng nhìn chung
nó cần được tạo dựng một cách có ý thức và thông qua mục tiêu và chiến lược cụ thể Tiềm lực của doanh nghiệp bao gồm:
- Hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp Điều này cho phép doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm dễ dàng hơn Đối với sản phẩm là thực phẩm ngoài việc đảm bảo chất lượng còn phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
- Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu sản phẩm
- Uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp
n Một số nhân tố khác
- Mục tiêu và chiến lược phát triển: Trong từng thời kỳ, doanh nghiệp xác
định mục tiêu ngắn hạn cho mình, vì thế nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong thời kỳ đó Một mục tiêu đúng đắn sẽ đề ra chiến lược kinh doanh chính xác và sát với thực tế thị trường sẽ giúp doanh nghiệp tăng khối lượng tiêu thụ sản phẩm cung cấp cho khách hàng trên thị trường
- Nguồn tài lực: Con người là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của hoạt động tiêu thụ sản phẩm Nghiệp vụ, kỹ năng, tay nghề, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp có tốt thì doanh nghiệp mới vững, mới
có sức cạnh tranh
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Nguồn vật lực: Nguồn vốn đầu tư, trang thiết bị máy móc, nhà xưởng của doanh nghiệp sẽ tạo đà cho doanh nghiệp đẩy nhanh tiến độ tiêu thụ sản phẩm, nâng
cao uy tín cho doanh nghiệp trên thị trường
1.2 Những vấn đề chung về hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.2.1 Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm may mặc
Việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là quá trình mở rộng hay tăng khối lượng khách hàng và lượng bán ra của doanh nghiệp bằng cách lôi kéo người tiêu dùng đang có nhu cầu mua hàng trở thành khách hàng của doanh nghiệp và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh sang tiêu thụ sản phẩm của mình Hay mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là việc doanh nghiệp tăng thị phần của mình bằng cách đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng trong toàn bộ thị trường Việc mở rộng thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp có thể tiến hành theo 2 cách: mở rộng thị trường theo chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu
1.2.1.1 Mở rộng thị trường theo chiều rộng
Đây là quan niệm mở rộng thị trường tiêu thụ với quy mô lớn hơn bằng chính những sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp Theo quan niệm này, doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ theo mô hình thị trường mới, sản phẩm cũ, tức là doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới ở các khu vực địa lý khác nhau, doanh nghiệp sẽ xâm nhập vào thị trường mới của đối thủ cạnh tranh, thu hút khách hàng của đối thủ khác trở thành khách hàng của doanh nghiệp mình Mở rộng thị trường theo chiều rộng bao gồm các yếu tố sau:
a Mở rộng thị trường theo vùng địa lý: Mở rộng thị trường theo vùng địa lý
tức là mở rộng thị trường theo khu vực địa lý hành chính Việc mở rộng theo vùng địa lý làm cho số lượng người tiêu thụ tăng lên, hàng hóa được bán nhiều hơn, tùy theo khả năng phát triển tới đâu mà ngành hàng có chiến lược phát triển của mình, hiện nay ngành hàng có thể đưa sản phẩm sang các thị trường khác trong nước và hướng phát triển thị trường của ngành hàng không những ở trong nước mà còn mở rộng sang các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên để có thể mở rộng thị trường theo từng vùng thì mặt hàng này cần có sự cải tiến về chất lượng, hình thức
về mẫu mã phải phù hợp với thị hiếu và khả năng thanh toán người tiêu dùng Có
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
như vậy khả năng chấp nhận nó của thị trường mới sẽ cao khi đó mới tăng được khối lượng hàng hóa bán ra công tác phát triển thị trường mới thu được kết quả Song không thể dễ dàng mang hàng hóa của mình đến một nơi khác bán là thành công mà trước khi quyết định mở rộng thị trường phải nghiên cứu thị trường, xem xét thị hiếu người tiêu dùng, điều kiện thu nhập sự phân bố dân cư, phong tục tập quán, đối thủ cạnh tranh (những mặt hàng thay thế) và đánh giá đúng khả năng cạnh tranh trên thị trường mới Do đó để có thể mở rộng thị trường theo vùng địa lý đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định để hàng hóa có thể tiếp cận được với người tiêu dùng và thích ứng với từng khu vực thị trường và ngành hàng phải tổ chức được mạng lưới tiêu thụ tối ưu nhất
b Mở rộng thị trường tính đến thời vụ của sản phẩm: Khi sản xuất một sản
phẩm mới ta phải tính đến chu kỳ sống của sản phẩm, trong chu kì sống đó nó phụ thuộc vào tính thời vụ của sản phẩm vì quá trình tồn tại sản phẩm nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, mà từng khu vực một có một điều kiện tự nhiên khác nhau tạo ra tính thời vụ nó chia làm bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông) Cho nên khi mở rộng thị trường phải đặc biệt chú ý đến
c Mở rộng thị trường theo đối tượng người tiêu dùng: Cùng với việc phát
triển thị trường theo vùng địa lý, chúng ta có thể mở rộng thị trường bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm khách hàng của đối thủ cạnh tranh chuyển sang
sử dụng mặt hàng của ngành hàng mình Nếu trước đây mặt hàng này chỉ nhằm vào một đối tượng nhất định trên thị trường thì nay thu hút thêm nhiều đối tượng khác Một số hàng hoá đứng dưới góc độ người tiêu dùng xem xét thì nó đòi hỏi phải đáp ứng nhiều mục tiêu sử dụng khác nhau Do đó có thể nhằm vào những nhóm người tiêu dùng khác nhau hoặc ít quan tâm tới hàng hóa của ngành hàng một cách dễ dàng Nhóm người này có thể được xếp vào khu vực thị trường còn bỏ trống mà ngành hàng có thể khai thác Có thể cùng một loại hàng hóa, đối với nhóm khách hàng có khả năng thường xuyên thì nhìn nhận dưới một công dụng khác nhưng khi hướng vào một nhóm khách hàng thì ngành hàng phải hướng người sử dụng vào một công dụng khác, mặc dù đó là hàng hóa duy nhất
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tóm lại: Mở rộng thị trường theo chiều rộng nhằm vào nhóm người mới là một trong những cách phát triển thị trường sống, nó đòi hỏi công tác nghiên cứu thị trường mới phải chặt chẽ, cẩn thận tỷ mỉ bởi vì thị trường hàng hóa đầy biến động
và tiêu dùng ngày càng cao Vì vậy tăng số lượng người tiêu dùng hàng hóa nhằm vào tăng số bán và doanh thu nhiều lợi nhuận là nội dung quan trọng của công tác
mở rộng thị trường theo chiều rộng
1.2.1.2 Mở rộng thị trường theo chiều sâu
Theo quan điểm này, doanh nghiệp sẽ khai thác tốt hơn thị trường mới và thị trường hiện có của doanh nghiệp bằng cách tạo ra những sản phẩm mới Đây là việc phát hiện thêm những đoạn thị trường còn bỏ ngỏ mà các doanh nghiệp khác chưa tiếp cận tới và chế tạo ra các sản phẩm mới Doanh nghiệp sẽ thực hiện chính sách
về sản phẩm, cải tiến phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại và nhu cầu thị trường mới, doanh nghiệp tiến hành phân đoạn, cắt lát thị trường, cải tiến hệ thống phân phối sao cho có hiệu quả nhất Mở rộng thị trường theo chiều sâu bao gồm những yếu tố sau:
a Xâm nhập sâu hơn vào thị trường
Đây là hình thức mở rộng và phát triển thị trường theo chiều sâu trên cơ sở khai thác tốt hơn những hàng hóa hiện tại trên thị trường hiện tai Để tăng được doanh số bán trên thị trường này, các ngành hàng nói chung và mặt hàng may mặc nói riêng phải thu hút được khách hàng hiện tại Với thị trường này khách hàng đã quen với hàng hóa của ngành hàng vì vậy để thu hút hơn ngành hàng có thể sử dụng chiến lược giảm giá thích hợp, tiến hành quảng cáo, xúc tiến, khuyến mại, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng để không mất đi một khách hàng nào và tập trung những khách hàng đồng thời sử dụng nhiều hàng hóa tương tự sang sử dụng duy nhất hàng hóa của ngành hàng Việc xâm nhập sâu hơn vào thị trường hàng hóa hiện tại là một cố gắng lớn của ngành hàng Mặc dù ngành hàng có thuận lợi với sản phẩm của ngành Do vậy để gây được chú ý tập trung của người tiêu dùng ngành hàng phải chi phí thêm một khoản tài chính nhất định Tùy thuộc vào quy mô thị trường hiện tại mà ngành hàng lựa chọn chiến lược xâm nhập sâu hơn vào thị trường Nếu quy mô của thị trường hiện tại quá nhỏ bé thì việc xâm nhập sâu hơn
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vào thị trường có thể thực hiện ngay cả tại những thị trường mới song điều quan trọng là những chi phí bỏ ra để thực hiện có được bồi đắp bởi lợi nhuận thu được khi khai thác các khách hàng mới
b Đa dạng hóa sản phẩm
Xã hội ngày nay càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng tăng, chu kỳ sống của sản phẩm trên thị trường ngày càng ngắn, do vậy sản phẩm ngày càng đòi hỏi phải được đổi mới theo chiều hướng phù hợp với người tiêu dùng Quy luật dụng ích trên cơ chế thị trường chỉ ra rằng mục tiêu cuối cùng của người tiêu dùng đang ở dụng ích tối đa họ phải trả bất cứ giá nào, tránh bán hàng ở dụng ích tối thiểu vì người tiêu dùng sẽ dửng dưng với hàng hóa Do vậy tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm mà ngành hàng nghiên cứu dụng ích tối đa và sử dụng lợi tối thiểu của các hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh từ đó không ngừng cải tiến
hàng hóa để thay đổi độ dụng ích của người tiêu dùng
c Phân đoạn, lựu chọn thị trường mục tiêu
Các nhóm người tiêu dùng có thể hình thành theo các đặc điểm khác nhau như tâm lý, trình độ, tuổi tác, giới tính, sở thích, quá trình phân chia người tiêu dùng thành các nhóm trên cơ sở các đặc điểm khác biệt gọi là phân đoạn thị trường Mỗi đoạn thị trường khác nhau quan tâm tới đặc tính khác nhau của sản phẩm Do vậy mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành hàng đều tập trung mọi nỗ lực của chính mình vào việc thoả mãn tốt nhu cầu đặc thù của mỗi đoạn thị trường nào để tăng doanh số bán
và thu nhiều lợi nhuận, công tác phân đoạn thị trường giúp cho ngành hàng tìm được thị phần hấp dẫn nhất, tìm ra thị trường trọng điểm để tiến hành khai thác
d Phát triển kênh phân phối
Là việc ngành hàng khống chế kênh tiêu thụ hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng Mở rộng thị trường tiêu thụ bằng cách khống chế kênh tiêu thụ có nghĩa là ngành hàng tổ chức mạng lưới tiêu thụ, kênh phân phối hàng hóa đầy đủ hoàn hảo cho đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng Thông qua hệ thống kênh phân phối và đường dây tiêu thụ sản phẩm được quản lý chặt chẽ, thị trường sản phẩm sẽ
có khả năng phát triển và đảm bảo cho người tiêu dùng sẽ nhận được những mặt hàng mới với mức giá tối ưu do ngành hàng đặt ra mà không phải chịu bất cứ một
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khoản chi phí nào khác Việc mở rộng thị trường đồng nghĩa với việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ và kênh phân phối hàng hóa hoàn hảo của ngành hàng, hệ thống tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng bao nhiêu thì khả năng mở rộng thị trường càng lớn bấy nhiêu Việc phát triển và quản lý các kênh phân phối đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng, cùng với việc tổ chức các dịch vụ tiêu thụ đầy đủ và hoàn hảo sẽ không ngừng góp phần làm cho lợi ích cho chính ngành hàng mà còn bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, của xã hội
e Phát triển ngược
Đó là ngành hàng mở rộng thị trường hàng hóa bằng cách cùng lúc vừa khống chế đường dây tiêu thụ vừa đảm bảo nguồn cung cấp ổn định, đây là một mô hình phát triển lý tưởng song chỉ dễ dàng thực hiện đối với ngành hàng tự tìm cho mình một cách phát triển thị trường phù hợp nhất và mang lại hiệu quả cao nhất
- Tóm lại: Mở rộng thị trường theo chiều sâu nghĩa là phân đoạn cắt lớp thị trường để thoả mãn nhu cầu muôn hình muôn vẻ của con người, mở rộng chiều sâu là qua sản phẩm để thoả mãn từng lớp nhu cầu để từ đó mở rộng theo vùng địa
lý Đó là vừa tăng số lượng sản phẩm bán ra, vừa tạo nên sự đa dạng về chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường Đó là việc mà doanh nghiệp giữ vững, thậm chí tăng số lượng sản phẩm cũ đã tiêu thụ trên thị trường đó Sự đa dạng hoá
về chủng loại mặt hàng và nâng cao số lượng bán ra và mở rộng thị trường theo chiều sâu
1.2.2 Sự cần thiết của mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm làm cho giá cả sản phẩm giảm Trên thị trường không chỉ có một nhà cung cấp sản phẩm mà có nhiều nhà cung cấp sản phẩm với cùng một loại sản phẩm hoặc cùng chủng loại sản phẩm với các mẫu mã, chất lượng, tính năng, công dụng như nhau, doanh nghiệp nào bán ra với giá rẻ hơn các đối thủ thì sẽ chiếm lĩnh được khách hàng Bởi vì người tiêu dùng luôn tìm đến nơi có sản phẩm chất lượng tốt, giá rẻ để mua Và ngược lại, doanh nghiệp nào bán sản phẩm với giá cao sẽ bán chậm hoặc sẽ không bán được sản phẩm Vì vậy, để bán được sản phẩm các doanh nghiệp thường cạnh tranh với nhau và đẩy giá sản phẩm giảm xuống đồng thời mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm Do vậy,
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các doanh nghiệp cần phải tối ưu các yếu tố đầu vào để giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, từ đó định ra giá bán sản phẩm thấp hơn đối thủ cạnh trạnh, từ đó đưa ra những chiến lược để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Nhờ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm mà nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng được đáp ứng và thỏa mãn Do trên thị trường có nhiều nhà sản xuất, doanh nghiệp cung cấp nhiều sản phẩm với chủng loại, mẫu mã khác nhau nên nó kích thích nhu cầu của người tiêu dùng và đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng Người tiêu dùng được quyền chọn mua những sản phẩm chất lượng tốt, giá rẻ, đáp ứng được nhu cầu Hơn nữa, để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tăng tính cạnh tranh với đối thủ, các doanh nghiệp phải thay đổi dây chuyền sản xuất, áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất Nhà sản xuất nào có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch Do đó, cạnh tranh là áp lực đối với nhà sản xuất, buộc họ phải cải tiến kỹ thuật, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nhờ đó kỹ thuật và công nghệ sản xuất của toàn xã hội ngày càng phát triển
Để doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thì buộc các doanh nghiệp phải giữ “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng lên Trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh, chỉ doanh nghiệp nào cung cấp sản phẩm chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giao hàng đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời hạn, dịch vụ bảo hành, chăm sóc khách hàng tốt… sẽ giữ được “chữ tín” với khách hàng và uy tín của doanh nghiệp ngày càng tăng và sẽ chiếm lĩnh được thị trường Ngược lại, doanh nghiệp nào không giữ được “chữ tín” với khách hàng thì uy tín của doanh nghiệp đó sẽ giảm, người tiêu dùng không còn tin tưởng và tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp đó nữa Doanh nghiệp đó sẽ không
có chỗ đứng trên thị trường và không thể mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm có vai trò sắp xếp lại thị trường Trên thị trường bây giờ không chỉ có một nhà cung ứng mà có nhiều nhà cung ứng sản phẩm Các nhà cung ứng này giành giật nhau thị phần trên thị trường Để có thể tồn tại trên thị trường các doanh nghiệp cần phải xác định mình kinh doanh sản phẩm gì
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và tập trung vào đối tượng khách hàng nào để khai thác tốt đối tượng khách hàng đó
và dần chiếm lĩnh thị phần của thị trường Tuy nhiên, nhu cầu của khách hàng là đa
dạng và nguồn lực doanh nghiệp là có hạn nên mỗi doanh nghiệp không thể đáp ứng hết tất cả nhu cầu của khách hàng và do đó không thể chiếm lĩnh hết thị trường mà chỉ khai thác được một phần của thị trường
1.3 Kinh nghiệm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở thế giới và Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở ngoài nước
Có nhiều công ty xuất khẩu sản phẩm vào thị trường Mỹ, mỗi công ty đều có những hướng đi riêng nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Các công ty ở Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất, sau đó là các công ty ở Ấn Độ
1.3.1.1 Tập đoàn gia công và sản xuất sản phẩm Esquel China Holdings của Trung Quốc
Tập đoàn gia công và sản xuất sản phẩm Esquel China Holdings của Trung Quốc là một trong những nhà cung cấp sản phẩm lớn nhất của Trung Quốc trên thị trường Mỹ, hiện nay trung bình Tập đoàn sản xuất 800 triệu sản phẩm/năm trong đó kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt trung bình 450 triệu USD/năm đó là con số tương đối lớn Một số biện pháp mà Tập đoàn sản phẩm Esquel China Holdings của Trung Quốc đã sử dụng để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Mỹ:
Thứ nhất: Nâng cao chất lượng
Trong nhiều năm qua, tập đoàn đã không ngừng đổi mới đồng loạt máy móc thiết bị hiện đại sản xuất sản phẩm, những máy may, là, hấp, cắt, thêu được nhập khẩu từ Nhật Bản, Châu Âu Do được đổi mới đầu tư đồng bộ máy móc đã làm cho sản phẩm của Tập đoàn ngày càng có chất lượng cao hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm có chất lượng của khách hàng Mỹ
Thứ hai: Giá bán thấp
Nói chung, giá sản phẩm của Tập đoàn thấp hơn các đối thủ cạnh tranh do chi phí sản xuất sản phẩm ở Trung Quốc thấp như các nguyên phụ liệu được sản xuất trong nước và do lợi thế sản xuất theo quy mô lớn, giúp cho sản phẩm may mặc của