Muốn làm sống dậy quá khứ của lịch sử, mỗi bài dạy ở trên lớp ngoài việc cung cấp đầy đủ những kiến thức cơ bản cần phải sử dụng một cách hợp lý, khéo léo đồ dùng dạy học mới tái hiện đư
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH
TRƯỜNG THCS TÂN BÌNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“ GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT BỘ MÔN LỊCH SỬ 9
THÔNG QUA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ”
GIÁO VIÊN : HUỲNH VĂN TUẤN EM
NĂM HỌC: 2014 – 2015
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Một trong những nội dung quan trọng của đổi mới giáo dục hiện nay là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Đổi mới dạy học nói chung và đổi mới dạy học lịch sử nói riêng là một quá trình được thực hiện thường xuyên và kiên trì, trong đó có nhiều yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau Dạy như thế nào? Học như thế nào? để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất là điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo
Phân môn Lịch sử là một bộ môn khoa học xã hội rất quan trọng trong nhà trường Nó giúp cho thế hệ trẻ hiểu được cội nguồn dân tộc, biết được quá khứ của
tổ tiên Từ những hiện vật cụ thể, những sự kiện lịch sử, học sinh tự hào về truyền thống dân tộc, tiếp theo, biết kế thừa và phát huy những tinh hoa của tổ tiên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay Muốn làm sống dậy quá khứ của lịch
sử, mỗi bài dạy ở trên lớp ngoài việc cung cấp đầy đủ những kiến thức cơ bản cần phải sử dụng một cách hợp lý, khéo léo đồ dùng dạy học mới tái hiện được sự việc
đã qua
Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch
sử nói riêng, tôi xin trình bày một số kinh nghiệm về việc “Sử dụng sơ đồ tư duy
trong dạy học môn Lịch Sử 9 ”
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã kiểm chứng được việc sử dụng bản đồ tư duy trong quá trình giảng dạy đã phát huy một cách tối đa tính sáng tạo, khả năng phát triển tư duy của học sinh để nắm vững và khắc sâu kiến thức một cách logic qua hình thức ghi chép bằng mạng liên tưởng với các màu sắc, hình ảnh, từ ngữ, đường nét trong việc đào sâu kiến thức mới cũng như hệ thống hóa kiến thức cũ Từ dó có thể giúp các em tự tin hơn trong học tập
Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần giúp giáo viên tiến hành giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn, học sinh tích cực hơn trong việc tiếp thu, chiếm lĩnh kiến thức của bài học
Trang 3đạo đức chính trị cho học sinh
Trong những năm qua khi thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được nhiều người quan tâm và khẳng định vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy học Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức
đã học vào cuộc sống Cho nên, cùng với các môn học khác, việc học tập Lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh, sáng tạo Đã có quan niệm sai lầm cho rằng học Lịch sử chỉ cần học thuộc lòng sách giáo khoa, ghi nhớ các sự kiện - hiện tượng lịch
sử là đạt, không cần phải tư duy - động não, không có bài tập thực hành… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảm chất lượng môn học
Điều quan trọng nhất trong trong việc đổi mới phương pháp dạy học là thầy dạy thế nào để học sinh động não, làm thay đổi chất lượng hoạt động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của các em Hiện nay, trong quá trình dạy học trên lớp, hoạt động trí tuệ chủ yếu của học sinh là ghi nhớ và tái hiện Ở nhà, học sinh tự học dưới dạng học bài và làm bài…nhưng về căn bản đã được hướng dẫn
ở lớp, nên hoạt động trí tuệ của học sinh vẫn nặng về rèn luyện trí nhớ và khả năng tái hiện Như vậy, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng tưởng tượng, sáng tạo phát
Trang 4triển trí tuệ, trí thông minh…của học sinh nói chung, được xem là nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ quan trọng nhất của quá trình dạy học hiện đại Vì vậy, then chốt của việc đổi mới phương pháp dạy học là điều chỉnh mối quan hệ giữa tái hiện và sáng tạo, đến việc tăng cường các phương pháp sáng tạo nhằm đổi mới tính chất hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học
2 Cơ sở thực tiễn
Dạy học Lịch sử là dạy những gì đã xảy ra trong quá khứ, mỗi bài học đều có rất nhiều sự kiện và khái niệm lịch sử học sinh phải nhớ và hiểu Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy Học sinh chỉ học bài nào biết
bài đấy, nhớ các kiến thức lịch sử một cách rời rạc và rất nhanh quên
Ngoài ra, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thường bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần đầu tư công sức nhiều, dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trường
Qua nhiều năm giảng dạy lịch sử, bản thân tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp giúp học sinh hứng thú học tập bộ môn hơn và đạt kết quả cao hơn Một trong những phương pháp có hiệu quả tôi đã thực hiện gây hứng thú học tập cho học sinh là sử dụng các sơ đồ để dạy và củng cố bài học Trên cơ sở đó, bản thân tôi
đã chọn đề tài nhỏ về đổi mới phương pháp dạy học: Giúp học sinh học tốt bộ môn Lịch sử ở trường THCS thông qua việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học dạy học
II MỤC ĐÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Giúp học sinh dễ nhớ: lịch sử là những gì đã trải qua trong quá khứ Do vậy,
bộ môn cung cấp một lượng kiến thức rất lớn trong một khoảng thời gian hạn hẹp.Vì thế, mô hình hoá kiến thức lịch sử sẽ giúp các em dễ học dễ nhớ, khắc sâu kiến thức
Trang 5Giúp học sinh hiểu được bản chất, quy luật phát triển của lịch sử, lịch sử bao giờ cũng phát triển theo chiều đi lên Cái xuất hiện sau thường tiến bộ hơn cái trước
nó Quy luật của lịch sử là không có cái gì tự nhiên sinh ra hay mất đi Mà bao giờ
nó cũng kèm theo những căn nguyên nhất định
Ví dụ: Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta từ 1858-nay không phải ngẫu nhiên
lại lần lượt đào thải hai con đường cứu nước: phong kiến và tư sản Mà chính do những hạn chế của hai con đường này đã dẫn tới hàng loạt phong trào yêu nước – con đẻ của nó bị thất bại và mục tiêu giành độc lập không đạt được Chỉ đến khi con đường vô sản xuất hiện, vừa khắc phục những điểm yếu của hai con đường trước nó, vừa chứng minh bằng những thắng lợi của mình Vì vậy, con đường vô sản thực sự được lựa chọn…
Do đó, hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh so sánh, đánh giá, lý giải vấn đề Nhờ vậy mà hiểu được lịch sử, phát triển tư duy logic trong nhận thức lịch sử
Để thực hiện tốt đề tài nghiên cứu bản thân đã thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các tài liệu về “ Phương pháp dạy học Lịch sử”
- Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy
- Nghiên cứu tài liệu gây hứng thú về dạy học lịch sử
- Nghiên cứu tài liệu tâm lí học
- Sách giáo khoa, sách giáo viên lịch sử
- Kiểm tra đánh giá học sinh và làm bài để từ đó có điều chỉnh và bổ sung hợp
lí
- Phương pháp thực nghiệm, đối chiếu, so sánh
III PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập của các em học sinh
lớp 9 với việc sử dụng “Bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử 9” Đối tượng nghiên
cứu mà tôi áp dụng là học sinh lớp 9 trường THCS Tân Bình
Trang 6B NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong phương pháp dạy học trước đây thì việc dạy học bằng bản đồ tư duy đã được áp dụng, như vẽ sơ đồ hay biểu bảng nhưng ở mức độ đơn giản áp dụng không thường xuyên Còn đối với phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy hiện nay là một phương pháp được thực hiện với mức độ cao và ưu điểm vượt trội nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong việc tìm tòi, đào sâu hay mở rộng một ý tưởng,… bằng việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét và chữ viết với sự tư duy tích cực Cùng một chủ đề nhưng có thể trình bày dưới dạng bản đồ tư duy theo một cách riêng, với cách dùng màu sắc, hình ảnh và cụm từ diễn đạt khác nhau Chính từ
đó mà việc lập bản đồ tư duy luôn phát huy được khả năng sáng tạo của mỗi giáo viên và học sinh
Trong dạy học lịch sử, do không trực tiếp quan sát các sự kiện nên phương pháp trực quan góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học Nhiều bài dạy lịch sử có rất nhiều thông tin và sự kiện học sinh không thể nhớ hết, nhưng GV hệ thống bằng bản
đồ tư duy thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu Qua thực tế giảng dạy bản thân xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong việc sử dụng bản đồ tư duy để dạy học bộ môn lịch sử
II CƠ SỞ THỰC TIỂN
Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với
Trang 7nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương
Vì thế, vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học lịch sử sẽ giúp học sinh có phương pháp học hợp lý, nhằm phát huy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh một cách triệt để
Việc thể hiện bản đồ tư duy có thể được vẽ trên giấy bìa, bảng, sử dụng bút chì, màu, phấn,… hoặc có thể thiết kế trên Powerpoint hay các phần mềm tin học chuyên dùng để hỗ trợ việc thiết kế bản đồ tư duy” Với phương pháp này không chỉ phát triển được trí tuệ của học sinh qua khả năng vẽ và viết ngắn gọn, cô đọng nội dung bài học trên bản đồ tư duy, mà các em học sinh còn hệ thống được kiến thức khi tổng hợp và chọn lọc ý để trình bày trên bản đồ
Với hình thức trình bày kết hợp hình vẽ, chữ viết và sự vận dụng kiến thức trong sách vở và trong cuộc sống đã khiến cho bài học thêm sinh động và hấp dẫn hơn Đây là phương pháp hỗ trợ tích cực cho tiết dạy, ôn tập kiến thức cho học sinh một cách khoa học Qua đó học sinh ghi nhớ sâu sắc kiến thức, tránh được kiểu học vẹt, học thuộc lòng một cách máy móc”
III THỰC TRẠNG
1 Ưu ®iÓm:
1.1 VÒ phÝa gi¸o viªn:
Hiện nay, việc dạy và học đang được áp dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực để từng bước chuyển dần cách dạy học từ chỗ trang bị kiến thức cho học sinh sang dạy cho học sinh cách tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức Từ đó, vận dụng kiến thức vào thực tế và biến đổi thành kỹ năng cho riêng bản thân mình Việc áp dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp học nhóm, công nghệ thông tin,… vào trong giảng dạy hiện đang là công cụ phù hợp và đạt hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong giáo dục hiện nay Đây là một phương pháp mới, nhưng tính hiệu quả rất cao Qua thực tế giảng dạy, bản thân thấy
Trang 8tõm đắc vỡ phương phỏp này giỳp cho học sinh phỏt huy được sự tự tin, sự logic, sỏng tạo và phỏt triển được khả năng tư duy Ngoài ra, dạy học bằng bản đồ tư duy giỳp cho học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sõu và chớnh xỏc nội dung bài học của mỡnh Đặc biệt, đối với phương phỏp này cũn giỳp cho học sinh khụng nhàm chỏn mà luụn sụi nổi và hào hứng trong tiết học, từ đú tạo được điều kiện cho học sinh tập trung thảo luận và cựng tỡm ra vấn đề cốt lừi trong nội dung của bài học Với phương phỏp này buộc học sinh phải chủ động trong việc học của mỡnh, từ đú
mà hiệu quả trong việc học khụng ngừng được nõng cao
1.2 Về phía học sinh:
Học sinh đa số chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra nh- các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi cuối mục trong bài cho nên khi học các em luôn chú ý để nắm chắc bài hơn
Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đ-a lại hi quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức
Học sinh yếu kém đã và đang cố gắng nắm bắt các kiến thức trọng tâm cơ bản thông qua các hoạt động học nh- thảo luận nhóm, vấn đáp, đọc sách giáo khoa…các
em đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi hay ghi nhớ các sự kiện, nhân vật, một quá trình cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình
2 Hạn chế:
2.1 Về phía giáo viên:
Vẫn còn một số ít giáo viên ch-a thực sự thay đổi hoàn toàn ph-ơng pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy, ch-a tích cực hoá hoạt động của học sinh tạo điều kiện cho các em suy nghĩ , chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức nh- vẫn còn sử dụng ph-ơng pháp dạy học “ thầy nói, trò nghe ” , “ thầy đọc, trò chép ” Do đó nhiều học sinh ch-a nắm vững đ-ợc kiến thức mà chỉ học thuộc một cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn
Đa số giáo viên ch-a nêu câu hỏi nhận thức đầu giờ học tức là sau khi kiểm tra bài cũ giáo viên vào bài luôn mà không giới thiệu bài qua việc nêu câu hỏi nhận thức,
Trang 9điều này làm giảm bớt sự tập trung, chú ý bài học của học sinh ngay từ hoạt động
đầu tiên
Một số tiết học giáo viên chỉ nêu vài ba câu hỏi và huy động một số học sinh khá, giỏi trả lời, ch-a có câu hỏi giành cho đối t-ợng học sinh yếu kém Cho nên đối t-ợng học sinh yếu kém ít đ-ợc chú ý và không đ-ợc tham gia hoạt động, điều này làm cho các em thêm tự ti về năng lực của mình và các em cảm thấy chán nản môn học của mình
2.2 Về phía học sinh:
Học sinh th-ờng trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa và nhắc lại, ch-a có sự độc lập t- duy Một số học sinh còn đọc nguyên bản sách giáo khoa để trả lời câu hỏi
Học sinh còn l-ời học và ch-a có sự say mê môn học, một số bộ phận học sinh không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy đủ, trên lớp các em thiếu tập trung suy nghĩ Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện t-ợng, nhân vật lịch sử còn yếu
Học sinh chỉ có trả lời đ-ợc những câu hỏi dễ, đơn giản (nh- trình bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì học sinh còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời thì mang tính chất chung chung
IV GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN
1 Chuẩn bị:
Nghiờn cứu kĩ tài liệu tập huấn về sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học
Tải và luyện tập sử dụng phần mền thiết kế bản đồ tư duy
Luyện tập vẽ bản đồ tư duy bằng phương phỏp thủ cụng: trờn mỏy, trờn bảng Lập kế hoạch hướng dẫn học sinh cỏc bước vẽ bản đồ tư duy vào tập
Lựa chọn nội dung, bài giảng phự hợp sử dụng bản đồ tư duy
Trang 102 Hướng dẫn học sinh vẽ bản đồ:
Bước 1: chọn từ trung tâm
Bước 2: xác định các nhánh cấp 1
Bước 3 xác định các nhánh cấp 2 theo từng nhánh cấp 1
Lưu ý: hướng dẫn học sinh phân biệt cấp độ của các nhánh bằng màu sắc, kí
tự hình học hoặc kí tự hình học hoặc bằng cách của riêng các em Điều này sẽ dẫn đến sự sáng tạo riêng từng học sinh giúp các em nhớ được nội dung bài, tác phẩm của mình
Ví dụ 1:
BÀI 5: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Giáo viên tổ chức khai thác kiến thức bài học thông qua những kênh chữ trong sách giáo khoa và yêu cầu học sinh vẽ bản đồ tư duy về quá trình hình thành
và phát triển của tổ chức ASEAN, sau đó Giáo viên kết luận bằng sơ đồ của mình như sau:
Trang 11BÀI 5: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Trang 12Qua bản đồ tư duy này giúp học sinh nắm một cách khái quát về tình hình Đông Nam Á trước và sau năm 1945
Sự ra đời của tổ chưc ASEAN, vai trò của nó với sự phát triển của các nước trong khu vực Đông Nam Á
Ví dụ 2:
BÀI 8 :NƯỚC MĨ
Giáo viên hình thành bản đồ tư duy phần I , thì học sinh sẽ dễ nhớ bài và khi nhìn vào bản đồ tư duy, học sinh thấy được tình hình kinh tế Mĩ sau chiến tranh và học sinh có thể tự hình thành bản đồ tư duy theo ý tưởng của mình
Đây là dạng bài không có sơ đồ được vẽ sẵn trong sách giáo khoa, không yêu cầu học sinh kĩ năng vẽ sơ đồ, mục tiêu của phần 1 làm cho học sinh hiểu rõ được sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đã vươn lên trở thành nước tư bản giàu mạnh nhất về kinh tế, khoa học- kĩ thuật và quân sự trong thế giới tư bản chủ nghĩa
Để thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng tôi đã tổ chức hoạt động dạy học như sau:
- Bước 1: Học sinh đọc kênh chữ ở sách giáo khoa “I TÌNH HÌNH KINH TẾ NƯỚC MĨ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI” trang 33 SGK lịch sử 9
- Bước 2: Cho học sinh hoạt động theo 6 nhóm, dựa trên thông tin của kênh chữ để vẽ bản đồ tư duy về tình hình kinh tế Mĩ sau chiến tranh thế giới thứ hai
- Bước 3: Các nhóm vẽ bản đồ tư duy trên bản phụ và trình bày bản đồ bằng lời nói sau khi giáo viên yêu cầu
- Bước 4: Học sinh nhận xét, bổ sung hoàn chỉnh phần bản đồ, giáo viên kết luận, đánh giá hoạt động của học sinh
- Bước 5: Học sinh quan sát tự vẽ sơ đồ vào vở
Với hình thức tổ chức hoạt động dạy đã nêu trên, giáo viên đã cho học sinh hoạt động dưới hình thức nhóm, học sinh đã tự hoạt động dựa trên phần kiến thức