1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn

115 502 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, trong đó đã xác định một chương trình quốc gia về “Đào tạo n

Trang 1

đại học thái nguyên

tr-ờng đại học kinh tế và quản trị kinh doanh

NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC

GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NễNG THễN MIỀN NÚI TRấN ĐỊA BÀN

HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyờn ngành: KINH TẾ NễNG NGHIỆP

THÁI NGUYấN, NĂM 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN MINH YẾN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do tôi thực hiện, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mình viết

Học viên

Nguyễn Thị Bích Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại Học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học và làm luận văn cao học

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành đến cô giáo - TS Trần Minh Yến

người đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã quan tâm, góp ý và nhận xét cho bản luận văn của tôi Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo đã giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian qua

Xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo và gia đình mạnh khỏe hạnh phúc, tiếp tục sự nghiệp đào tạo cho các thế hệ học sinh, sinh viên đạt được nhiều thành công hơn nữa trên con đường học tập và nghiên cứu khoa học

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 07 năm 2013

Học viên

Nguyễn Thị Bích Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết phải nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Giới hạn của đề tài 3

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của luận văn 3

6 Bố cục của luận văn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN MIỀN NÚI 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Đặc điểm việc làm ở nông thôn 16

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm lao động nông thôn 19

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Kinh nghiệm một số nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn 27

1.2.2 Kinh nghiệm tạo việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam 34

1.2.3 Kinh nghiệm giải quyết việc làm của một số địa phương 39

Trang 6

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Câu hỏi đặt ra cho vấn đề nghiên cứu 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 42

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 42

2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 44

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 44

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44

Chương 3 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN MIỀN NÚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN 45

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn 45

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 45

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 49

3.2 Thực trạng lao động nông thôn của huyện 52

3.2.1 Số lượng và cơ cấu lao động 52

3.2.2 Chất lượng lao động… 54

3.3 Thực trạng việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn của huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn 58

3.3.1 Số lượng việc làm ở nông thôn của huyện 58

3.3.2 Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn của huyện 63

3.3.3 Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của huyện 65

Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN MIỀN NÚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN 72

4.1 Quan điểm định hướng 72

4.1.1 Giải quyết việc làm phải gắn với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 72

4.1.2 Giải quyết việc làm phải gắn với phát triển bền vững 72

4.1.3 Giải quyết việc làm phải gắn với không ngừng nâng cao chất lượng lao động 74

Trang 7

4.2 Phương hướng 76

4.2.1 Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của huyện 76

4.2.2 Phương hướng giải quyết việc làm của huyện 77

4.3 Một số giải pháp chủ yếu 78

4.3.1 Các giải pháp về chính sách 78

4.3.2 Các giải pháp cụ thể 83

KẾT LUẬN 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và đóng góp của các khu vực

kinh tế 50 Bảng 3.2: Bảng diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Chợ Mới

2010-2012 52 Bảng 3.3: Bảng diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân

theo địa phương 53 Bảng 3.4: Bảng số học sinh phổ thông huyện Chợ Mới 2010-2012 54 Bảng 3.5: Bảng tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông

huyện Chợ Mới 2010-2012 55 Bảng 3.6: Bảng số giáo viên của các cơ sở dạy nghề trong tỉnh

Bắc Kạn 56 Bảng 3.7: Bảng số trường, số giáo viên của giáo dục trung cấp

chuyên nghiệp tỉnh Bắc Kạn 2010-2012 56 Bảng 3.8: Bảng số trường, số giáo viên của giáo dục cao đẳng tỉnh

Bắc Kạn 2010-2012 56 Bảng 3.9: Bảng tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo trong

các ngành kinh tế của huyện Chợ Mới 2010-2012 57 Bảng 3.10: Bảng phân bổ lao động nông thôn theo ngành 58 Bảng 3.11: Bảng phân bổ lao động nông thôn theo giới tính 60 Bảng 3.12: Tình hình lao động tại xã Nông Thịnh qua 3 năm

2010-2012 62 Bảng 4.1: Mục tiêu giảm nghèo đến năm 2020 của huyện Chợ Mới 77

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo tại huyện Chợ Mới

2010-2012 58 Hình 4.1: Khung củng cố năm trụ cột việc làm bền vững 73

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết phải nghiên cứu

Việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Một nền kinh tế được gọi là phát triển khi nền kinh tế đó không chỉ tăng trưởng, mà còn phải tạo được đầy đủ việc làm cho lao động trong xã hội

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ: “ Chú trọng

đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và lao động nông thôn, nhất là các vùng nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ

sở phi nông nghiệp Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm…”

Ngày 05/08/2008 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đã đề cập nhiều vấn đề bức thiết liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, trong đó đã xác định

một chương trình quốc gia về “Đào tạo nguồn nhân lực nông thôn bổ sung

vào chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo” với mục tiêu

nâng cao khả năng tiếp cận việc làm của lao động nông thôn Vì vậy, tạo việc làm cho lao động nông thôn đang trở thành vấn đề bức thiết trong chính sách đối với nông dân hiện nay cũng như những năm tới

Trong những năm qua huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn đã có những chính sách nhằm giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo Bằng nhiều giải pháp khác nhau huyện đã tạo được nhiều việc làm cho người lao động thong qua các kênh: cho người lao động vay vốn để học nghề; Trung tâm dạy nghề hướng việc làm cho thanh niên; chuyển đổi nghề cho nông dân bị nhà nước thu hồi đất nông nghiệp; khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các trang trại, các hộ kinh doanh nhận thêm nhiều lao động vào làm việc… Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa cao Trong thực tế số lao động thiếu

Trang 12

việc làm và không thể có việc làm ổn định còn khá đông Hơn nữa, hàng năm

số người bước vào độ tuổi lao động lại tăng lên Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn đang đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách không chỉ đối với huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, mà còn đối với nhiều

địa phương khác trong cả nước Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn vấn đề “ Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình trong khóa đào tạo

trình độ thạc sĩ Kinh tế tại trường Đại học Kinh tế và QTKD Thái Nguyên

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Luận văn tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề xuất một số phương hướng, giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất quan điểm, phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề việc làm và tạo việc làm cho người lao động nông thôn ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Trang 13

- Các chủ thể tạo việc làm và thu nhập cho người lao động trên địa bàn huyện…

- Các cơ quan chính quyền, đoàn thể và các hình thức hiệp hội, tổ chức kinh tế khác trong huyện

3 Giới hạn của đề tài

* Về không gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề việc làm và tạo việc làm

cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chợ mới, tỉnh Bắc Cạn

* Về thời gian: nghiên cứu thực trạng việc làm và tạo việc làm của

huyện Chợ Mới từ năm 2010 đến nay; đề xuất phương hướng và giải pháp cho giai đoạn 2012-2020

4 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu giúp huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, thực hiện hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo và đẩy lùi các tệ nạn xã hội trên địa bàn

5 Những đóng góp mới của luận văn

- Đánh giá được thực trạng việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

6 Bố cục của luận văn

Kết cấu luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng việc làm và tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi của huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Chương 4: Một số phương hướng và giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN MIỀN NÚI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Theo từ điển bách khoa toàn thư thế giới thì “Nông thôn là khu vực mà

ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp”

Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị) Cho đến nay, nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị

Hiện nay, khái niệm về nông thôn đã được nêu rõ tại Thông tư số 54

ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là: "Nông thôn

là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã"

1.1.1.2 Khái niệm về lao động

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhưng suy cho cùng lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật và xã hội loài người và xã hội loài vật Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người Theo C.Mác “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt

Trang 15

động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” Ph.Ăngghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới

tự nhiên là cung cấp những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài người”

Như vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, trong quá trình lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình Nói cách khác, trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để tồn tại và phát triển của xã hội

1.1.1.3 Khái niệm lao động nông thôn

* Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt

động trong hệ thống kinh tế nông thôn, được bố trí việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp và ngành nghề tại nông thôn để tạo ra sản phẩm cho xã hội và thu nhập cho gia đình và bản thân

* Đặc điểm của lao động nông thôn

Lao động nông thôn có những đặc điểm cơ bản sau:

- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế

- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường thấp Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động

- Lao động nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động

Trang 16

- Khả năng tự tạo việc làm của lao động hạn chế

1.1.1.4 Khái niệm về việc làm và thất nghiệp

* Khái niệm về việc làm

Việc làm đối với mỗi người lao động, là được làm việc gắn với từng công việc cụ thể, không chỉ để tồn tại mà còn là sự hoàn thiện bản thân Đối với xã hội, việc làm tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động, và giải quyết việc làm là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các quốc gia Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền với tính hiệu quả của chính sách giải quyết việc làm của quốc gia ấy

- Theo từ điển tiếng Việt, “Việc làm là công việc được giao và trả công sau khi hoàn thành” Khái niệm này tương đối rộng, việc làm có thể do người lao động tự tạo ra để có thu nhập mà không cần phải ai giao

- Theo Bộ Luật lao động của Nước CHXHCN Việt Nam, khái niệm việc làm được xác định là: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

- Trong luận văn này, khái niệm “Việc làm” được hiểu bao gồm:

+ Việc làm được trả công khu vực công và khu vực tư nhân (người đang làm việc và người học việc hiện đang làm việc được trả công bằng tiền mặt hoặc hiện vật);

+ Việc làm tự tạo (người lao động trong xã hội tự tao việc làm cho mình); + Việc làm trong gia đình không được trả công;

+ Việc làm tạo sản phẩm cho tiêu dùng của bản thân

Trang 17

Tóm lại, có thể hiểu: Việc làm là hoạt động lao động cụ thể có ích trong những ngành nghề nhất định, không bị pháp luật ngăn cấm, nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình và cộng đồng

* Khái niệm về thất nghiệp

- Ở Việt Nam

+ Theo "Thực trạng lao động việc làm" của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội: Người thất nghiệp là những người thuộc lực lượng lao động có khả năng lao động trong trong tuần lễ điều tra không có việc làm, có nhu cầu

về việc làm nhưng không tìm được việc làm

+ Quan điểm của các nhà kinh tế học

Thất nghiệp là hiện tượng gồm những phần mất thu nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan mô giới về lao động nhưng chưa được giải quyết

Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế Một người thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn:

+ Đang mong muốn và tìm việc làm

+ Có khả năng làm việc

+ Hiện đang chưa có việc làm

Với cách hiểu như thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa làm việc đều được coi là thất nghiệp Do đó một tiêu thức quan trọng để xem xét một người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm hay không Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề nghiệp song không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự trữ” như kế thừa của bố mẹ, nguồn tài trợ

+ Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)

Theo khái niệm của Tổ chức lao động Quốc Tế (ILO), thất nghiệp (Theo nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi

Trang 18

lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm

* Phân loại thất nghiệp

Thất nghiệp và thiếu việc làm đang là vấn đề mang tính toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng và suy giảm kinh tế thế giới hiện nay Chính vì vậy, việc tìm hiểu về các loại hình thất nghiệp, các đặc trưng riêng ở Việt Nam để

từ đó có các các chính sách thích hợp là rất cần thiết Dưới đây là các dạng thất nghiệp chính

Thất nghiệp thời vận hay thất nghiệp chu kỳ là loại hình thất nghiệp xuất hiện theo sự dao động của chu kỳ hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia và trong bối cảnh hiện nay, loại hình thất nghiệp này đang có xu hướng gia tăng Theo cảnh báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO, cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay có thể còn nghiêm trọng hơn cuộc đại suy thoái 1929 - 1933, làm cho số người thất nghiệp trên thế giới có thể lên đến mức kỷ lục, tăng từ

190 triệu năm 2007 lên 210 triệu vào cuối 2009 Các ngành sử dụng nhiều lao động như xây dựng, kinh doanh bất động sản, tài chính - ngân hàng, dịch vụ,

du lịch, công nghiệp ô tô sẽ chịu nhiều tác động nhất

Đây là dạng thất nghiệp kinh tế vĩ mô, có tính bao trùm lên và tác động mạnh mẽ đến các loại hình thất nghiệp khác

Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi cung của những loại lao động nhất định (theo giới tính, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn hay ở từng vùng) vượt hơn cầu lao động cùng loại và không biến chuyển kịp để tìm kiếm việc làm ngắn hạn Có hai điều kiện dẫn tới thất nghiệp cơ cấu là: Cung của một loại lao động nhất định lớn hơn cầu về cùng loại lao động đó và sự hạn chế về tính lưu chuyển của lao động

Nguyên nhân của thất nghiệp cơ cấu là do: Tính cứng nhắc về không gian của sức lao động đã ngăn cản hoặc hạn chế sự lưu chuyển nhằm cân

Trang 19

bằng thị trường lao động trong vùng (gọi là thất nghiệp vùng do sự cứng nhắc điều chuyển); Giảm cung lao động do thay đổi về ứng dụng kỹ thuật mới và tiết kiệm lao động (gọi là thất nghiệp công nghệ); Giảm cung do thay đổi ngay nơi làm việc của từng doanh nghiệp không phù hợp với sự thay đổi lớn

về lao động trong vùng (thất nghiệp cơ cấu vùng do cảm ứng cầu lao động);

và tăng cung lao động do thay đổi các điều kiện về kinh tế hoặc chính trị (thất nghiệp cơ cấu do kích cung lao động)

Thất nghiệp tạm thời hay thất nghiệp chuyển đổi được coi là hình thức thất nghiệp “thông thường”, thể hiện ở khoảng thời gian tìm việc khi người lao động từ bỏ chỗ làm việc cũ để đi tìm chỗ làm việc mới

Trong mối quan hệ với dạng thất nghiệp tạm thời còn có dạng thất nghiệp tìm kiếm, xảy ra cả trong trường hợp chuyển đổi chỗ làm việc mang tính tự nguyện hoặc do bị đuổi việc, người lao động luôn cần có thời gian chờ đợi để tìm kiếm chỗ làm việc mới Thời gian của quá trình tìm kiếm sẽ làm tăng chi phí (phải tìm nhiều nguồn thông tin, người thất nghiệp sẽ mất

đi thu nhập, mất dần kinh nghiệm, sự thành thạo nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội)

Thất nghiệp thời vụ xuất hiện do sự dao động về việc làm diễn ra nhiều hay ít theo quy luật trong quá trình sản xuất của một số lĩnh vực, một số ngành nhất định Nguyên nhân là do sự gián đoạn tự nhiên của quá trình sản xuất (thời tiết xấu trong ngành xây dựng, do thời kỳ mùa vụ đánh bắt cá, gieo trồng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản) và ảnh hưởng của nó trong công nghiệp chế biến nông, thuỷ sản hoặc việc tiêu thụ hàng hoá mang tính mùa vụ (dịp lễ, tết)

Thất nghiệp sức lao động phụ thuộc Khi một bộ phận lao động không

có trình độ chuyên môn hoặc không đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu của một nền sản xuất và quản lý hiện đại, trong quá trình sản xuất sẽ có những người

Trang 20

được tiếp nhận vào làm việc và có những người bị loại ra Trong một số trường hợp, người lao động được thu hút vào nền sản xuất xã hội lại thấp hơn

số người bị thải loại ra, làm xuất hiện thất nghiệp sức lao động phụ thuộc

Thất nghiệp “thừa” hoặc thất nghiệp “tồn đọng” xuất phát từ thất nghiệp chuyển đổi do người thất nghiệp không thể hoặc rất khó có thể được giới thiệu một chỗ làm việc mới (như người thất nghiệp chỉ còn vài năm nữa đủ tuổi nghỉ hưu, người thất nghiệp hạn chế về năng lực làm việc, bị suy giảm sức khoẻ hoặc có đạo đức nghề nghiệp kém) và khó có thể xoá bỏ khỏi danh sách “tồn đọng” của thất nghiệp

Thất nghiệp “xuất khẩu” Khi một quốc gia phá giá đồng tiền để tăng xuất khẩu sẽ làm các nước khác tăng thất nghiệp do tăng nhập khẩu hàng hoá khiến doanh nghiệp trong nước đình đốn; hoặc khi một nước sử dụng số lượng lớn lao động nước ngoài, kinh tế gặp khó khăn phải sa thải lao động và buộc họ trở về quê hương làm gia tăng số lượng người thất nghiệp “xuất khẩu”

Thất nghiệp “che dấu” chủ yếu diễn ra trong ngành nông nghiệp ở các nước đang phát triển do giới hạn năng suất lao động còn thấp kém

Khi xem xét dạng thất nghiệp và nguyên nhân thất nghiệp, người ta khó

có thể giải thích một cách đầy đủ theo quan hệ nhân quả giản đơn nghĩa là từ nguyên nhân này thì dẫn đến dạng thất nghiệp tương ứng kia hoặc ngược lại

mà thực tế luôn thấy có sự giao nhau, sự tác động tương hỗ lẫn nhau giữa các nguyên nhân và một người thất nghiệp có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý khi xem xét các giải pháp mang tính toàn diện và đồng bộ nhằm hạn chế hay thu hẹp nạn thất nghiệp đang diễn ra

Ở Việt Nam, thất nghiệp cũng bao gồm các loại hình nêu trên Tuy nhiên do đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội và dân số mà các nguyên nhân thất nghiệp cũng như phạm vi và đối tượng thất nghiệp có sự khác nhau cả về mức độ, quy mô và thời gian thất nghiệp Do việc quản lý thị trường lao động

Trang 21

ở nước ta còn chưa được chặt chẽ, đến nay cũng chưa có một hệ thống đăng

ký việc làm cho từng người lao động từ cấp trung ương đến xã phường, cho nên số lượng cụ thể về người thất nghiệp ở từng thời kỳ, từng địa bàn cũng chỉ mang tính tương đối Vì vậy, việc phân tích thị trường lao động, việc thực hiện các biện pháp của chính sách việc làm và chính sách thị trường lao động cũng như đánh giá hiệu quả của nó chưa được chính xác

Đến nay, có một điều dễ nhận thấy là, với tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, Việt Nam cũng gặp phải nạn thất nghiệp thời vận mà theo dự báo trong năm 2009, lượng lao động mất việc làm sẽ lên tới 150.000 đến 300.000 người

Một dạng thất nghiệp phổ biến và còn kéo dài trong suốt quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cũng như ở các nước đang phát triển khác

và đặc biệt với một nước có cơ cấu dân số trẻ hoá như ở Việt Nam là tình trạng thất nghiệp sức lao động phụ thuộc với quy mô lớn (ở đây cũng cần giải thích thêm: người lao động phụ thuộc là người không có tư liệu sản xuất, phải

đi làm thuê, làm công - thông qua các quan hệ lao động giữa chủ sử dụng lao với người lao động - để hưởng tiền lương, tiền công) Điều đó có nghĩa là chúng ta luôn thiếu chỗ làm việc hay tổng cung lao động luôn vượt cao so với tổng cầu Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tốc độ tăng chỗ làm việc mới luôn thấp hơn tốc độ tăng dân số bước vào tuổi lao động và có nhu cầu lao động Sự tồn tích của một bộ phân lao động trẻ, kể cả đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn hoặc chưa qua đào tạo, đang thất nghiệp, từ năm này qua năm khác là một thách thức cần giải quyết từ góc độ kinh tế vĩ mô kể

cả trước mắt cũng như lâu dài Cũng chịu ảnh hưởng của sự thiếu hụt nghiêm trọng giữa tổng cung và cầu trên thị trường lao động còn phải kể đến một tình trạng thất nghiệp phổ biến là thất nghiệp tìm kiếm vì thực tế thời gian để tìm lại được một chỗ làm việc mới không phải là ngắn mà có thể kéo dài hàng năm hoặc lâu hơn

Trang 22

Nước ta có khoảng 70% dân cư và lao động sống ở nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nên nạn “thất nghiệp che dấu” lại trở thành phổ biến, rất nhiều nông dân vẫn phải gắn bó với nông nghiệp, gắn bó với đất đai để tồn tại với mức thu nhập và năng suất lao động thấp Đồng thời, ngay ở nông thôn cũng diễn tình trạng thất nghiệp thời vụ Khi vào vụ gieo trồng hoặc thu hoạch, người nông dân tập trung làm việc khoảng 4 - 5 tháng trong năm Thời gian còn lại họ kéo nhau lên thành phố tìm kiếm việc làm tạm thời hoặc đi làm ăn xa Mặt khác, theo tập quán của người Việt Nam, trong nhiều gia đình, con em của họ vẫn phải sống cùng bố mẹ, nhận sự trợ giúp từ gia đình hoặc tham gia phụ giúp việc cho bố mẹ… thì đây cũng là nhóm đối tượng “thất nghiệp che dấu”

Trong những năm vừa qua, cùng với nhịp độ tăng trưởng cao của nền kinh tế quốc dân, sự thu hút mạnh mẽ các nguồn đầu tư từ nước ngoài, sự hình thành các khu công nghiệp mới với công nghệ hiện đại, chúng ta mới đề cập nhiều đến loại hình thất nghiệp cơ cấu, nhất là nhu cầu lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề hay trình độ quản lý cao

Tình trạng “thất nghiệp thừa” hay “thất nghiệp tồn đọng” chính là những đối tượng thuộc diện “dư thừa” do chuyển đổi cơ chế kinh tế từ các doanh nghiệp nhà nước sang các công ty cổ phần Một điều khác cũng đáng quan tâm là chúng ta đang đẩy mạnh xuất khẩu lao động, điều này mang lại hiệu quả trước mắt là giảm bớt sức căng trên thị trường lao động trong nước Nhưng về lâu dài cũng cần tính đến khả năng khi người lao động hết thời hạn trở về và tìm việc làm trong nước, nếu không sẽ đẩy họ vào tình trạng thất nghiệp xuất khẩu, và tình trạng này sẽ càng nghiêm trọng hơn khi nền kinh tế nước ta vẫn nghiêng về nhập siêu

1.1.1.5 Khái niệm về thiếu việc làm và tạo việc làm mới

* Khái niệm về thiếu việc làm

Người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc ít hơn giờ quy định đối với các

Trang 23

công việc theo quy định hiện hành của Nhà nước Họ có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm, hoặc họ có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm

+ Tổng số giờ làm việc/tuần < 40 giờ

+ Có nhu cầu làm việc thêm giờ

+ Nhưng không có việc để làm

+ Nhưng không tìm được việc làm

Theo tổ chức lao động thế giới (Viết tắt là ILO) thì khái niệm thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng sau:

- Thiếu việc làm vô hình

Là những người có đủ việc làm làm đủ thời gian, thậm chí còn quá thời gian qui định nhưng thu nhập thấp do tay nghề, kỹ năng lao động thấp, điều kiện lao động xấu, tổ chức lao động kém, cho năng suất lao động thấp thường

có mong muốn tìm công việc khác có mức thu nhập cao hơn

Thước đo của thiếu việc làm vô hình là:

Thu nhập thực tế

Mức lương tối thiểu hiện hành

- Thiếu việc làm hữu hình

Là hiện tượng người lao động làm việc với thời gian ít hơn quỹ thời gian qui định, không đủ việc làm và đang có mong muốn kiếm thêm việc làm

Số giờ làm việc theo quy định

* Khái niệm tạo việc làm

Tạo việc làm cho người lao động là một công việc hết sức khó khăn và

nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Vốn đầu tư, sức lao động, nhu cầu thị trường về sản phẩm

Trang 24

Bởi vậy tạo việc làm là quá trình kết hợp các yếu tố trên thông qua nó

để người lao động tạo ra các của cải vật chất (số lượng, chất lượng), sức lao động (tái sản xuất sức lao động) và các điều kiện kinh tế xã hội khác

Ta nhận thấy rằng: Khối lượng của việc làm được tạo ra tỉ lệ thuận với các yếu tố trên Chẳng hạn như vốn đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc, nhà xưởng mở rộng quy mô sản xuất là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn Khi vốn đầu tư tăng thì tạo ra được nhiều chỗ làm việc mới và ngược lại đầu tư ít thì quy mô bị thu nhỏ lại kéo theo sự giảm đi về số lượng việc làm được tạo ra

Mặt khác nhu cầu của thị trường về sản phẩm sản xuất ra còn ảnh hưởng không nhỏ đến việc tạo ra chỗ làm mới Nếu sản phẩm sản xuất ra được đưa ra thị trường đảm bảo cả về chất lượng và số lượng, mà thị trường chấp nhận Bởi vì sản phẩm tiêu thụ được sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, các doanh nghiệp các nhà xưởng sẽ mởp rộng quy mô sản xuất, đi đôi với mở rộng sản xuất là cầu về lao động tăng lên Ngược lại khi cầu về sản pohẩm hàng hoá giảm sẽ làm ngừng trệ sản xuất làm cho lao động không có việc làm

và dẫn đến tình trạng thất nghiệp

Ngoài ra còn một số các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến việc làm ở tầng vĩ mô: Gồm các chính sách kinh tế của nhà nước vì khi các chính sách kinh tế phù hợp sẽ tạo điều kiện khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển làm cho cầu lao động tăng đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều chỗ làm mới

Dân số và lao động là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, quy

mô dân số càng lớn thì nguồn lao động càng nhiều và ngược lại khi nguồn lao động càng lớn lại là sức ép đối với công tác tạo việc làm cho người lao động bởi vì: Khi cung về lao động lớn sẽ tạo ra một lượng lao động dư thừa cần giải quyết việc làm Ngược lại khi cầu lao động lớn hơn cung lao động sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động tham gia vào các ngành kinh tế.Vì vậy tỉ lệ tăng dân số và nguồn nhân lực có ảnh hưởng đến vấn đề lao động và tạo việc làm cho người lao động

Trang 25

Tạo việc làm được phân loại thành:

- Tạo việc làm ổn định: Công việc được tạo ra cho người lao động mà

tại chỗ làm việc đó và thông qua công việc đó họ có thu nhập lớn hơn mức thu nhập tối thiểu hiện hành và ổn định theo thời gian từ 3 năm trở lên: Việc làm ổn định luôn tạo cho người lao động một tâm lý yên tâm trong công việc

để lao động hiệu quả hơn

- Tạo việc làm không ổn định:Được hiểu theo hai nghĩa.Đó là:

+ Công việc làm ổn định nhưng người thực hiện phải liên tục năng động theo không gian, thường xuyên thay đổi vị trí làm việc nhưng vẫn thực hiện cùng một công việc

+ Công việc làm không ổn định mà người lao động phải thay đổi công việc của mình liên tục trong thời gian ngắn

- Mục đích ý nghĩa của tạo việc làm

Tạo việc làm là quá trình tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất, công cụ sản xuất và sức lao động Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động luôn là vấn đề bức xúc và quan trọng,nó mang mục đích ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với từng người lao động

và toàn xã hội

Mục đích của tạo việc làm nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránh lãng phí nguồn lực xã hội Về mặt xã hội tạo việc làm nhằm mục đích giúp con người nâng cao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm được tình trạng thất nghiệp trong xã hội Không có việc làm là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, lừa đảo, nghiện hút giải quyết việc làm cho người lao động nhất là các thanh niên là hạn chế các tệ nạn xã hội do không có ăn việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội đòi hỏi Về mặt kinh tế khi con người có việc làm sẽ thoả mãn được các nhu cầu thông qua các hoạt động lao động để thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần, ổn định và nâng cao đời

Trang 26

sống của người lao động Việc làm hiện nay gắn chặt với thu nhập Người lao động không muốn làm ở những nơi có thu nhập thấp đó là một thực tế do nhu cầu đòi hỏi của xã hội Hiện nay nhiều người lao động được trả công rất rẻ mạt, tiền công không đủ sống dẫn đến tâm lý không thích đi làm, hiệu quả làm việc không cao, ỷ lại ngại đi xa các thành phố thị xã Một mặt thất nghiệp nhiều ở thành thị nhưng nông thôn lại thiếu cán bộ, thiếu người có trình độ chuyên môn Bởi vậy tạo điều kiện có việc làm cho người lao động thôi chưa

đủ mà còn tạo việc làm gắn với thu nhập cao mang lại sự ổn định cuộc sống cho người lao động

Giải quyết việc làm, tạo việc làm cho người lao động có ý nghĩa giúp họ tham gia vào quá trình sản xuất xã hội cũng là yêu cầu của sự phát triển, là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người Như vậy, có thể nói, giải quyết việc làm, tạo việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế-xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động để có thể có việc làm

1.1.2 Đặc điểm việc làm ở nông thôn

Việc làm của lao động ở nông thôn là những hoạt động trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội của một bộ phận lực lượng lao động sinh sống ở nông thôn để mang lại thu nhập mà pháp luật không ngăn cấm

Người lao động ở nông thôn thường làm việc trong những ngành nông, lâm, thuỷ sản - những loại việc làm có thể khai thác từ nguồn tài nguyên tự

nhiên chính nơi họ sinh sống Ví dụ, người sống ở rừng núi hay làm nghề

rừng, người sống ở vùng duyên hải hay làm nghề biển…Việc làm của họ chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và sức lao động của chính mình Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, việc làm của người lao động ở nông thôn càng mang tính thủ công, nặng nhọc và có thu nhập thấp Khi kinh

tế nông thôn vẫn chủ yếu là nông nghiệp, ở đó ẩn chứa nhiều nguy cơ thiếu

Trang 27

việc làm hữu hình Vì vậy, đa dạng hoá các ngành nghề, mở nhiều loại việc làm, phát triển kinh tế, xã hội ở nông thôn là phương hướng chủ yếu giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn

Ở nông thôn, dân cư chủ yếu sản xuất nông nghiệp và những ngành gắn với nông nghiệp, nông thôn Các loại việc làm ở nông thôn rất đa dạng với hàng trăm ngành nghề khác nhau Tuy nhiên có thể phân thành các loại việc làm thuần nông và việc làm phi nông nghiệp

- Việc làm thuần nông là hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Hiện nay, chăn nuôi và trồng trọt vẫn là công việc chính của nhà nông các nước đang phát triển Trong trồng trọt cây lương thực chiếm chủ yếu diện tích cơ cấu cây trồng, cây rau màu và cây công nghiệp chỉ chiếm một diện tích nhỏ… Còn chăn nuôi ở nông thôn phần lớn chỉ để tận dụng thức ăn dư thừa và cung cấp phần nào nhu cầu thực phẩm ở nông thôn

Thế mạnh của lĩnh vực này là người lao động được kế thừa kinh nghiệm sản xuất của cha ông để lại Người lao động ở nông thôn lớn lên đã theo cha mẹ ra đồng làm việc nên họ thường quan niệm rằng không cần phải qua trường lớp đào tạo Kiến thức nhà nông được tích luỹ dần trong quá trình người lao động tham gia sản xuất từ nhỏ với tư cách là lao động phụ của gia đình Bên cạnh đó, loại công việc này còn nhiều hạn chế, đó là:

+ Sản xuất chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện tự nhiên nên năng suất và hiệu quả công việc không cao

+ Sản xuất năm này theo năm khác, lặp đi lặp lại nên người lao động chỉ làm việc theo kinh nghiệm, ít có cải tiến, sáng tạo…làm cho tiến trình phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn diễn ra một cách chậm chạp

+ Sản xuất có tính chất mùa vụ nên lao động ở nông thôn sẽ thiếu việc làm lúc nông nhàn Mặt khác, cùng với quá trình đô thị hoá, đất nông nghiệp

bị chuyển mục đích sử dụng làm cho người nông dân mất tư liệu sản xuất và với trình độ tay nghề thấp họ sẽ gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm và phải

Trang 28

làm những công việc nặng nhọc với mức lương thấp…Đặc biệt là trong quá trình hội nhập, người lao động làm việc trong lĩnh vực thuần nông có nguy cơ

bị thiếu việc làm và bị thất nghiệp cao

- Việc làm phi nông nghiệp là lĩnh vực rộng lớn, gồm tất các ngành, nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn Hiện nay đã có nhiều loại hình công việc ngoài nông nghiệp ra đời và phát triển mạnh Bên cạnh sự phát triển của các ngành nghề truyền thống nhiều ngành nghề chế biến nông, lâm, thuỷ sản mới xuất hiện Đặc biệt cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, dịch vụ ở nông thôn cũng phát triển mạnh mẽ Nhiều loại hình dịch vụ đời sống trước kia chỉ có ở thành thị thìnay đã có ở nông thôn như dịch vụ vệ sinh nông thôn, dịch vụ cung cấp nước sạch…Nhiều việc làm trước đây đã bị xã hội coi rẻ như giúp việc gia đình, chạy chợ…thì nay đã được công nhận như một nghề Tất cả những biến đổi đó đã tạo ra nhiều loại hình việc làm đa dạng cho người lao động ở nông thôn

Việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn có vai trò tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn:

- Phát triển ngành nghề ngoài việc đem lại việc làm ổn định, thường xuyên cho người lao động trong lĩnh vực đó, còn có khả năng thu hút thêm lao động nhàn rỗi ở nông thôn Ngoài ra sự phát triển của nó lại nảy sinh những ngành nghề mới, những hoạt động dịch vụ liên quan tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động

- Loại việc làm này thường đem lại thu nhập ổn định và cao hơn cho người lao động

- Việc làm phi nông nghiệp có vai trò to lớn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới

Tuy nhiên, sự phát triển của loại việc làm này cũng gặp khó khăn do hạn chế về trình độ tay nghề của người lao động, về công nghệ cũng như giới

Trang 29

hạn về khả năng quản lý của chủ hộ sản xuất kinh doanh, về nguồn vốn và phong tục tập quán Người dân có nghề phi nông nghiệp vẫn chưa mạnh dạn

bỏ ruộng để tập trung sản xuất ngành nghề

Tóm lại, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển ngành nghề ở

nông thôn, nhưng so với việc làm thuần nông thì sự phát triển gia tăng của việc làm phi nông nghiệp hiện nay đang chiếm ưu thế và đang trong xu thế phát triển Bởi vì so với lĩnh vực thuần nông, lĩnh vực phi nông nghiệp ít gặp những giới hạn của giới tự nhiên, ngược lại nó còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nếu như việc làm thuần nông ngày càng bị thu hẹp thì việc làm phi nông nghiệp đang trong

xu thế phát triển mở rộng do chính sự phát triển của một nền nông nghiệp hàng hoá đưa lại Hơn nữa, nông thôn các nước đang phát triển đang vươn mình phát triển Điều đó tạo ra thị trường rộng lớn cho sản xuất, hình thành

cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp, dịch vụ và cơ cấu tiến bộ ở nông thôn

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo việc làm lao động nông thôn

Thứ nhất: Điều kiện tự nhiên

Trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng nguồn công việc, tạo việc làm cho người lao động, trước hết phải nói đến nhân tố có tính chất tự nhiên, vốn có sẵn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đó là nhân tố tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Vì thế nó là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là

cơ sở quan trọng đầu tiên để tạo việc làm cho người lao động

Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tất cả các nguồn khoáng sản, đất đai, năng lượng có trên mặt đất, dưới lòng đất, trong rừng, dưới biển Ngay cả vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết thuận lợi cũng là những tài nguyên quý giá cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội

Trang 30

Mỗi quốc gia, mỗi địa phương nằm trên những vị trí địa lý nhất định,

có thể thuận lợi hoặc khó khăn về mặt khí hậu thời tiết, nhiệt độ, lượng gió, mưa, bão lụt, hạn hán Những yếu tố này ảnh hưởng đến sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Do đó, mỗi nước, mỗi địa phương có thể có những cách thức tổ chức sản xuất lao động khác nhau Với những vùng có vị trí địa lý thuận lợi về thời tiết khí hậu như nước ta: cây cối xanh tươi, hoa quả bốn mùa, các loại cây con, thủy hải sản đa dạng phong phú, đất đai màu mỡ, chúng ta có thể phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xuất khẩu các mặt hàng đặc sản quý hiếm trên thị trường quốc tế Đây cũng là những lợi thế nhất định ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương trong việc tạo việc làm, mở rộng số lượng loại việc làm thu hút người lao động Tất nhiên, cũng có khi khí hậu, thời tiết ảnh hưởng xấu đến sản xuất lao động Nắng lắm, mưa nhiều, hạn hán,

lũ lụt, bão, những cơn "sóng thần" gây rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức

sản xuất Vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi địa phương phải căn cứ vào điều kiện thiên nhiên nước mình, địa phương mình để tổ chức tạo việc làm cho người lao động sao cho có hiệu quả cao nhất

Cùng với vị trí địa lý, nguồn tài nguyên đất đai, khoáng sản, sông ngòi,

bờ biển, rừng núi cũng ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm Vai trò của đất đai đối với lao động, việc làm là cực kỳ quan trọng Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, đất canh tác là tư liệu lao động đồng thời là đối tượng lao động của người nông dân Tỷ lệ đất canh tác ở Việt Nam chỉ chiếm 21% đất tự nhiên nên bình quân diện tích canh tác trên một lao động nông nghiệp rất thấp

đã ảnh hưởng đến việc làm và năng suất của lao động nông nghiệp

Thứ hai: Sự biến đổi dân số

Dân số và kinh tế xã hội là những yếu tố vận động theo các quy luật khách quan trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhưng lại có quan hệ hữu cơ với nhau Một trong những mối liên hệ quan trọng giữa dân số và lao động là vấn đề tăng trưởng lực lượng lao động và cơ hội tạo việc làm phù hợp

Trang 31

Khi dân số thay đổi, một vấn đề cần được đặc biệt quan tâm là sự thay đổi lực lượng lao động trong dân số Chúng ta đều biết rằng quy mô, cơ cấu

và sự phân bố dân số có quan hệ ảnh hưởng quyết định đến quy mô, cơ cấu, phân bổ, sử dụng LLLĐ

Dân số tăng nhanh là áp lực đối với vấn đề tạo việc làm cho LLLĐ Quan sát cho thấy, ở tất cả các nước trên thế giới, tỷ lệ tham gia LLLĐ của nhóm tuổi 15 - 60 là cao nhất trong LLLĐ so với các nhóm tuổi khác Nếu tỷ

lệ dân số trong độ tuổi 15 - 60 tăng thì LLLĐ sẽ tăng ngay cả khi sự tham gia LLLĐ theo nhóm tuổi không tăng Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nhiều nước, việc khống chế mức tăng dân số thường được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm Việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là

có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa nhằm nâng cao chất lượng lao động

Một vấn đề quan trọng cần được chú ý là, trong vòng 15 năm tới, cho

dù mức sinh có đạt đến tỷ lệ giới hạn nào đó thì những người tham gia vào LLLĐ sẽ vẫn còn cao hơn tốc độ tăng dân số Các nhà quản lý cần phải thấy trước để tạo việc làm cho người lao động Số lượng việc làm trong xã hội ngày càng phải mở rộng để khai thác tốt LLLĐ này

Theo chiến lược dân số và kế hoạch hoá gia đình, đến năm 2020 Việt Nam sẽ có một LLLĐ khoảng 56 triệu người, vì vậy nhu cầu việc làm ngày càng lớn Về mặt kinh tế xã hội, đây là một điều vừa có lợi vừa bất lợi LLLĐ dồi dào là một lợi thế trong phát triển kinh tế xã hội, nếu biết khai thác và sử dụng có hiệu quả, nhưng nếu không tạo được việc làm thì sẽ gây nên những hậu quả khó lường

Thứ ba: Trình độ tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang làm thay đổi tính chất và nội dung nghề nghiệp của người lao động Cách mạng công nghệ

đã dẫn đến việc sử dụng công cụ, phương tiện hiện đại, phức tạp nên lao động

Trang 32

trí óc dần dần đã thay thế lao động chân tay Nếu trình độ học vấn, mặt bằng dân trí được nâng cao thì năng lực làm việc của con người sẽ được mở rộng Người lao động có trí tuệ không chỉ nắm vững sâu sắc chuyên môn một nghề

mà họ còn có thể tham gia ở những nghề khác, nghĩa là họ có thể có khả năng làm nhiều loại công việc Tuy nhiên, theo C.Mác thì khi ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại thường dẫn đến tăng kết cấu hữu cơ tư bản

và tăng năng xuất lao động, mà:

Sự tăng năng xuất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lượng lao động so với khối lượng tư liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động, hay là thể hiện ra ở sự giảm bớt đại lượng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với nhân tố khách quan của quá trình đó

Vì vậy, phần bất biến của tư bản vận động cùng chiều với sự tăng lên của tích luỹ tư bản, còn bộ phận tư bản khả biến thì nói chung sẽ vận động ngược chiều với sự tăng lên của tích luỹ

Không những thế, khi đổi mới tư bản cố định, thường thường người ta thay bằng máy móc thiết bị hiện đại hơn, khiến cho một số lao động ít hơn cũng đủ để vận dụng một khối lượng máy móc và nguyên liệu lớn hơn, gây ra

sự giảm sút tuyệt đối lượng cầu về lao động Đồng thời công nghệ hiện đại đòi hỏi người vận hành, quản lý công nghệ phải có trình độ tương ứng với trình độ công nghệ sử dụng làm cho lao động có kỹ năng thấp bị xa thải để tuyển chọn lao động có kỹ năng, trình độ tiên tiến

Ở nước ta hiện nay, trình độ công nghệ sử dụng trong các ngành kinh tế lạc hậu so với trình độ trung bình tiên tiến trên thế giới từ 2 đến 3 thế hệ kỹ thuật (không kể một số lĩnh vực mới như: dầu khí, viễn thông) Một số ngành công nghiệp then chốt như cơ khí, chế tạo động cơ có trình độ công nghệ lạc hậu 30-50 năm so với các nước phát triển trung bình Vì vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế mở và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm rút

Trang 33

ngắn khoảng cách lạc hậu về trình độ công nghệ so với các nước là con đường tất yếu để phát triển nhanh nền kinh tế nước ta

Nhưng hiện nay, việc đổi mới công nghệ lại mâu thuẫn với tiềm năng nguồn lực về vốn ít và lực lượng lao động dồi dào Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đặt ra một vấn đề: lựa chọn công nghệ cần đổi mới trong từng thời kỳ, từng giai đoạn như thế nào cho phù hợp Ngành nào, khâu nào, lĩnh vực nào cần lựa chọn trình độ công nghệ ra sao để vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá sản xuất, vừa tận dụng được tiềm năng lao động để tăng việc làm trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp đang là bài toán đặt ra trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thứ tư: Cơ cấu kinh tế:

Quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa cùng với việc thực hiện phân công lao động và hợp tác quốc tế tất yếu đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng một cơ cấu kinh tế mới

Sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo cơ chế thị trường làm cho mâu thuẫn giữa lao động và việc làm ngày càng gay gắt Việc tổ chức lại lao động trên phạm vi toàn xã hội, điều chỉnh cơ cấu lao động xã hội cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tất sẽ dẫn đến

dư thừa lao động Theo V.I Lênin, thì sự phát triển kinh tế hàng hóa khiến một bộ phậm ngày càng đông trong dân cư tách khỏi nông nghiệp, tức là nhân khẩu công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống, V.I.Lênin nhắc lại luận điểm của C.Mác:

Xu hướng tách và đẩy lao động là rất lớn, trước hết là lao động ở khu vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đó là sự không phù hợp giữa cơ cấu lao động cũ với cơ cấu nền kinh tế đang trong quá trình chuyển dịch: chúng ta vừa thiếu lao động kỹ thuật, lao động chất xám, lại thừa khá nhiều lao động phổ thông, làm cho năng suất xã hội còn thấp Từ đó dẫn đến các dòng "di chuyển" chất xám ngày càng lớn, chủ yếu là từ khu vực nhà nước sang khu

Trang 34

vực tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, sự di chuyển lao động

từ nông thôn ra các thành phố lớn, các đô thị ngày càng tăng lên cùng với sự gia tăng các vấn đề xã hội nổi cộm cần phải giải quyết

Do đó, tạo việc làm cho người lao động phải lấy mục tiêu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế để xác định hướng phát triển Để có một đội ngũ lao động đáp ứng những việc làm đa dạng phù hợp với cơ cấu kinh tế mới, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng, hướng nghiệp đến tổ chức nơi làm việc, cần phải nắm bắt các cơ hội, đi tắt, đón đầu, hình thành những ngành kỹ thuật mũi nhọn, phát triển theo trình độ khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới Tạo việc làm tập trung vào những khâu cần thiết và có thể thực hiện có hiệu quả các công nghệ tiên tiến, đồng thời cải tiến công nghệ truyền thống nhằm tạo

đà cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng ở những thập kỷ sau

Thứ năm: Thị trường lao động

Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động ) ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động [6, tr.112]

Giải quyết việc làm trong cơ chế thị trường về thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu về lao động trên thị trường lao động

Cung về lao động biểu hiện khối lượng lao động (số lượng, chất lượng

và cơ cấu của lực lượng lao động) tham gia vào thị trường lao động trong một thời gian nhất định

Cầu về lao động là khả năng thuê lao động trên thị trường lao động Trên thị trường lao động, mức cung - cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp tới mức tiền lương và ngược lại, sự thay đổi mức tiền lương cũng làm thay đổi cung - cầu lao động, điều chỉnh quan hệ cung - cầu lao động trên thị trường

Trang 35

Khi cung lớn hơn cầu sẽ dẫn đến dư thừa lao động, làm gia tăng số người không có việc làm và ngược lại Trên thị trường lao động, cung cầu lao động thường xuyên biến động và chịu sự tác động của nhiều yếu tố, tạo

ra mâu thuẫn giữa cung và cầu Đối với nước ta hiện nay, trình độ phát triển kinh tế còn thấp, khả năng mở rộng sản xuất có hạn trong khi nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ tăng cung lao động cao, cung lao động luôn lớn hơn cầu, dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm, đòi hỏi Chính phủ phải có những biện pháp nhằm giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Thứ sáu: Các chính sách vĩ mô của Nhà nước

Các chính sách vĩ mô của Nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo việc làm, đồng thời điều chỉnh việc làm phù hợp với mục tiêu, trình độ phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ

Có rất nhiều chính sách tác động đến việc làm như chính sách tạo vốn, chính sách đất đai, chính sách thuế hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau Thực chất

là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động

Khi các chính sách vĩ mô của Nhà nước đúng đắn và thích hợp sẽ tạo ra nhân tố, môi trường, động lực khuyến khích các chủ doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động mở rộng đầu tư nhằm thu lợi nhuận, tạo việc làm, khai thác tối

ưu mọi nguồn lực vào mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh Ngược lại, khi các chính sách vĩ mô của Nhà nước không phù hợp, nó sẽ kìm hãm và tạo nên tâm lý chán nản trong đầu tư kinh doanh, quy mô sản xuất thu hẹp dẫn đến việc làm giảm sút

Vì vậy, số lượng, chất lượng việc làm, khả năng tạo việc làm chính là một trong những thước đo quan trọng biểu hiện trình độ hoạch định và tính

Trang 36

khả thi của hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước trong quản lý, điều hành kinh tế - xã hội

Ở nước ta, phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm cho người lao động

là chính sách xã hội cơ bản, là hướng ưu tiên trong toàn bộ các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta, vấn đề giải quyết việc làm được đặt biệt nhấn mạnh:

Phương hướng quan trọng nhất là Nhà nước cùng toàn thể nhân dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế - xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch

vụ việc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh - quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn [9]

Như vậy, từ quan điểm giải quyết việc làm chỉ là trách nhiệm của Nhà nước với hai thành phần kinh tế cơ bản là quốc doanh và tập thể trong thời kỳ

kế hoạch hoá tập trung thì nay quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi lớn "Cùng với Nhà nước, mỗi công dân, mỗi gia đình, mỗi tổ chức đều có thể được phép tạo mở việc làm, người lao động được làm việc trong các thành phần kinh tế bao hàm mọi hình thức tổ chức kinh doanh không bị pháp luật ngăn cấm, kinh tế hộ gia đình, các hoạt động trong khu vực kinh tế không kết cấu "

Với quan điểm nhất quán về giải quyết việc làm, trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: "Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản", với các phương hướng:

Trang 37

Bằng nhiều giải pháp tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng

sử dụng nhiều lao động Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn

vệ sinh lao động, phòng chống thiên tai và bệnh nghề nghiệp cho người lao động Khôi phục và phát triển các làng nghề Tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động ở nước ngoài Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội, xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp [10]

Từ quan điểm và định hướng trên đây, Nhà nước ta đã có các chính sách kinh tế xã hội chủ yếu tác động tới phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm như: Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần: chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa xuất khẩu; chính sách tín dụng ưu đãi để các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ; chính sách khuyến khích tìm kiếm thị trường xuất khẩu lao động, chính sách giáo dục đào tạo nghề cho lao động; chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước thông qua chính sách đất đai, thuế, đầu tư

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm một số nước về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Đưa mục tiêu giải quyết việc làm vào trong kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế trong các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Cải cách kinh tế theo hướng phát triển nhanh khu vực dịch vụ, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; phát triển khu vực kinh

tế phi nhà nước; thực hiện chính sách tài chính tích cực để tăng độ co giãn của cấu về lao động

Các biện pháp thúc đẩy thị trường lao động Chính phủ trung quốc đã xác định các mục tiêu rất cụ thể; thị trường lao động Trung Quốc phải phát

Trang 38

triển một cách thống nhất, theo hướng mở cửa, cạnh tranh và quy phạm hoá Trong đó, các biện pháp được chú trọng nhất hiện nay là;

Hoàn thiện thể chế thị trường lao động, để người lao động được thực sự

tự do đi tìm việc làm, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hoá sức lao động có thể lưu thông dễ dàng trên thị trường, khơi thông các rào làm phân mảng thị trường giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, tạo điều kiện để lao động nông thôn có cơ hội tốt hơn tham gia vào các ngành nghề phi nông nghiệp

Hoàn thiện các chức năng của thị trường lao động bằng cách rút bớt cách chức năng không cần thiết, giảm bớt sự can thiệp của bộ hoặc cơ quan nhà nước vào hoạt động của thị trường lao động

Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho thị trường lao động.Trước hết là xây dựng các trung tâm, các cơ sở giao dịch lao động, cung cấp cá trang thiết

bị, điều kiện làm việc cần thiết cho các cơ sở này; cải tạo cơ sở dịch vụ giới thiệu việc làm

Nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại các thị trường lao động: cụ thể là có các biện pháp để thu hút những người

có trình độ chuyên môn và phẩm chất phù hợp với loại hình công việc này; đào tạo nhân viên mới, có tính chuyên nghiệp về quản lý và vận hành thị trường lao động

Cải tiến công tác quản lý của nhà nước của Chính phủ đối với thị trường lao động Chính phủ quản lý thị trường một cách thống nhất, có bài bản, tuân thủ đúng pháp luật Chuyển công nhân "dôi dư" thành dạng công nhân "thất nghiệp" để tách họ ra khỏi sự "bảo trợ" của doanh nghiệp, thực thi chế độ hợp đồng lao động toàn diện, bắt buộc số lao động dôi dư phải có sự

nỗ lực để tìm kiếm việc làm mới

Xác định chính sách thu hút nhân tài một cách hợp lý Hiện nay, Trung Quốc có chính sách ưu tiên hộ khẩu cho các nhân tài để thu hút lao động có chình độ cao Các nhân tài ở Trung Quốc còn được ưu đãi đặc biệt

Trang 39

về trả công lao động; lương của người lao động có trình độ cao hơn nhiều so với lương của lao động trung bình Lao động có trình độ cao ở Trung Quốc còn được hưởng các ưu đãi đặc biệt về điều kiện làm việc và sinh hoạt (thí dụ: ưu đãi về nhà ở, ưu tiên mua cổ phiếu, được cử đi học tập và tu nghiệp ở nước ngoài) Trung Quốc coi đây là một biện pháp giữ chân và thu các nhân tài ở trong và ngoài nước

Tăng cường công tác tào đạo và đào tạo lại người lao động Đứng trước năm vấn đề nan giải về trình độ chuyên môn và tay nghề lao động thấp, và sự bất hợp lý trong kết cấu kỹ năng lao động, chính Phủ Trung Quốc đã đề ra nhiều chính sách bằng cách huy động cả sức dân vào công tác đào tạo nguồn nhân lực Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã cho phép thành lập một số lượng lớn các trường đại học và trường dạy nghề dân lập, các lớp đào tạo sinh viên có thu học phí (đáp ứng 50% nhu cầu chi phí đào tạo cao đẳng của Trung Quốc)

Cải cách chính sách tiền công tiền lương hoặc tiền công lao động Chính sách tiền công tiền lương lao động của Trung Quốc có thể được tóm gọn trong tám từ sau: "ưu tiên hiệu quả, chiếu cố công bằng" Yếu tố hiệu quả trên thị trường lao động dược đặt lên hàng đầu Yếu tố công bằng trong trả công lao động ở giai đoạn này chỉ được đặt trong hàng "chiếu cố công bằng" trong thời điểm hiện nay, Trung Quốc cũng đã phải áp dụng những biện pháp vừa cụ thể, vừa kiên quyết sau:

Tăng cường việc thu thuế thu nhập cá nhân

Hoàn thiện chế độ trợ cấp xã hội và mở rộng phạm vi dịch vụ của hệ thống an sinh xã hội

Yêu cầu chính quyền địa phương, nhất là chính quyền thành phố lớn phải xây dựng hệ thống an sinh xã hôi của địa phương mình để mọi người đều được hưởng mức sống tối thiểu

Trung Quốc không áp dụng quy định về mức lương tối thiểu

Trang 40

Nâng cao hiệu quả của các "Trung tâm tái tạo việc làm" cho lao động dôi dư của các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc

Thực trạng giải quyết việc làm ở Trung Quốc thời gian qua có thể gợi cho chúng ta một số kinh nghiệm sau:

Phải có sự thống nhất nhận thức về việc làm, tầm quan trọng của việc làm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, có công ăn việc làm là cái gốc của dân sinh

Xác định rõ nhiệm vụ của Đảng và chính quyền các cấp là phải lấy việc cải thiện và tạo ra công ăn việc làm là nhiệm vụ trọng tâm

Đa dạng hoá các hình thức giải quyết việc làm: phát triển kinh tế, phát triển việc dạy nghề, nâng cao chất lượng nghề nghiệp, phát triển hệ thống dịch vụ và chất lưọng tìm việc làm của người lao động

- Bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động

- Nâng cao thu nhập của dân cư thành thị và nông thôn

- Phát triển hệ thống an sinh xã hội như chính sách bảo hiểm, bảo trợ xã hội thiết lập hệ thống dịch vụ y tế và hệ thống bảo vệ sức khoẻ của cư dân, bảo vệ môi trường sinh thái ở khu dân cư

Một mục tiêu quan trọng của công tác giải quyết việc làm là: "nhanh chóng làm cho những người chưa thoát nghèo, giải quyết vấn đề no ấm, đồng thời từng bước đi lên cuộc sống khá giả"

1.2.1.2 Kinh nghiệm của Đài Loan

Đài Loan là một nước có điều kiện tự nhên không thuận lợi, diện tích tự nhiên là 35981km2 với dân số hơn 20 triệu người, là nước có mật độ dân số rất cao, diện tích canh tác bình quân đầu người vào loại thấp nhất thế giới

Kinh nghiệm của Đài Loan có hai điểm đáng chú ý:

- Thứ nhất là thực hiện cải cách ruộng đất và phát triển mạnh các trang trại nông nghiệp, đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hoá nông thôn

Ngày đăng: 04/12/2015, 19:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
2. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2004), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2003, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương 2003
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
3. Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung (1997), Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4. Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội
Tác giả: Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2000
5. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (1999), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật lao động Việt Nam
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1999
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
9. Trần Đình Hoan - Lê Mạnh Khoa (1991), Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Hoan - Lê Mạnh Khoa
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
10. Học viện Hành chính Quốc gia, Quản lý nguồn nhân lực xã hội, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực xã hội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
11. Hội đồng Lý luận Trung ương (1999), Giáo trình kinh tế học chính trị Mác- Lê nin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế học chính trị Mác- Lê nin
Tác giả: Hội đồng Lý luận Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
12. Nguyễn Thị Lan Hương (2002), Thị trường lao động Việt Nam - định hướng và phát triển, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động Việt Nam - định hướng và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Nhà XB: Nxb Lao động-xã hội
Năm: 2002
13. Nguyễn Thị Mỹ Hương (2004), Thị trường lao động ở Nghệ An - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động ở Nghệ An - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Hương
Năm: 2004
15. Đặng Tú Lan (2001), Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Tú Lan
Năm: 2001
16. Nguyễn Bá Ngọc - Trần Văn Hoan (2002), Toàn cầu hoá: Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam, Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá: Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bá Ngọc - Trần Văn Hoan
Nhà XB: Nxb Lao động-xã hội
Năm: 2002
17. Hà Quý Tình (2004), Hoàn thiện các chính sách vĩ mô của Nhà nước để tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các chính sách vĩ mô của Nhà nước để tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Hà Quý Tình
Năm: 2004
18. Lưu Ngọc Trịnh (1996), Chiến lược con người trong "thần kỳ" kinh tế Nhật Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thần kỳ
Tác giả: Lưu Ngọc Trịnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
19. Trung tâm Khoa học và nhân văn quốc gia, Viện Thông tin khoa học và xã hội (1999), Thị trường lao động trong kinh tế thị trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động trong kinh tế thị trường
Tác giả: Trung tâm Khoa học và nhân văn quốc gia, Viện Thông tin khoa học và xã hội
Năm: 1999
20. Nông Đức Vinh (2004), Việc làm ở Lạng Sơn: Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm ở Lạng Sơn: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nông Đức Vinh
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3: Bảng diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.3 Bảng diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 (Trang 63)
Bảng 3.4: Bảng số học sinh phổ thông huyện Chợ Mới 2010-2012 - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.4 Bảng số học sinh phổ thông huyện Chợ Mới 2010-2012 (Trang 64)
Bảng 3.6: Bảng số giáo viên của các cơ sở dạy nghề trong tỉnh Bắc Kạn - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.6 Bảng số giáo viên của các cơ sở dạy nghề trong tỉnh Bắc Kạn (Trang 66)
Bảng 3.7: Bảng số trường, số giáo viên của giáo dục trung cấp - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.7 Bảng số trường, số giáo viên của giáo dục trung cấp (Trang 66)
Bảng 3.9: Bảng tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo trong các - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.9 Bảng tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo trong các (Trang 67)
Hình 3.1: Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo tại - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Hình 3.1 Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo tại (Trang 68)
Bảng 3.10: Bảng phân bổ lao động nông thôn theo ngành - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.10 Bảng phân bổ lao động nông thôn theo ngành (Trang 68)
Bảng 3.11: Bảng phân bổ lao động nông thôn theo giới tính - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.11 Bảng phân bổ lao động nông thôn theo giới tính (Trang 70)
Bảng 3.12: Tình hình lao động tại xã Nông Thịnh qua 3 năm 2010-2012 - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Bảng 3.12 Tình hình lao động tại xã Nông Thịnh qua 3 năm 2010-2012 (Trang 72)
Hình 4.1: Khung củng cố năm trụ cột việc làm bền vững - Giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn miền núi trên địa bàn huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn
Hình 4.1 Khung củng cố năm trụ cột việc làm bền vững (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm