1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

dùng thủ pháp lập bảng so sánh trong tiết đọc – hiểu văn bản trong chương trình ngữ văn thcs

10 323 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 238,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DÙNG THỦ PHÁP Lập bảng so sánh Trong tiết đọc – hiểu văn bản TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS I.. Đặc biệt đối với các văn bản là tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: Có khi ta hướng dẫn học

Trang 1

TRƯỜNG THCS TÂN BÌNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Giáo viên: Nguyễn Thị Minh Thu

Trang 2

DÙNG THỦ PHÁP

Lập bảng so sánh Trong tiết đọc – hiểu văn bản

TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS

I Đặt vấn đề:

Trong chương trình ngữ văn THCS phần : Đọc – hiểu văn bản chiếm số lượng lớn (1/2 số tiết) Mỗi văn bản có một hướng khai thác riêng tùy thuộc vào đặc điểm cấu trúc, thể loại Đặc biệt đối với các văn bản là tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: Có khi ta hướng dẫn học sinh khai thác theo bố cục, có khi khai thác theo từng khía cạnh của nội dung văn

bản… Tuy nhiên có những văn bản nếu chỉ áp dụng đơn thuần một cách khai thác trên thì hiệu quả bài dạy không cao, không tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình tìm hiểu, khám phá văn bản Điều đó đòi hỏi người thầy phải tìm ra một thủ pháp phù hợp hơn để hướng dẫn học sinh giải mã văn bản một cách hiệu quả nhất Và trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm tòi, thử nghiệm và sử dụng thành công thủ pháp: “Lập bảng so sánh trong phần đọc – hiểu văn bản”

Mặt khác chúng ta cũng biết học sinh bậc THCS đã có khả năng độc lập tích cực trong học tập ngữ văn nói chung, trong tìm hiểu văn bản nói riêng nhưng năng lực và hứng thú cá nhân chưa thật vững bền Các

phẩm chất tư duy như: ghi nhớ - tái hiện, liên tưởng – tưởng tượng,

phân tích – tổng hợp, tìm tòi – phát hiện… đã có bước phát triển hơn nhưng rất cần sự hướng dẫn, hỗ trợ, kích thích của giáo viên mới có thể trở nên vững bền, ổn định Do vậy, trong phần đọc – hiểu văn bản, sự hướng dẫn có tính đột phá, sáng tạo của người dạy trong quá trình tìm hiểu, giải mã văn bản đối với học sinh là vô cùng cần thiết Nó không những thôi thúc học sinh phải động não mà còn kích thích sự say mê, hứng thú tìm tòi, phát hiện của các em

Trang 3

II Giải quyết vấn đề:

Vậy thực chất của thủ pháp “Lập bảng so sánh trong tiết đọc – hiểu văn bản” là như thế nào? Cách tiến hành ra sao? Lập bảng so sánh để phân tích, đối chiếu để thấy rõ sự khác biệt giữa các nhân vật trong từng

phương diện hay từng thời điểm để từ đó làm nổi bật nội dung, ý nghĩa, chủ đề của văn bản Thực ra thủ pháp này là sự vận dụng kết hợp một cách linh hoạt giữa các hướng khai thác văn bản như: phân tích theo bố cục, nhân vật, hoặc từng khía cạnh của nội dung văn bản Một khi sử dụng thành thạo thủ pháp này ta sẽ nắm bắt được chìa khóa để giải mã một số văn bản khó nếu áp dụng theo hướng dẫn trong sách giáo viên MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP VẬN DỤNG CỤ THỂ:

* Văn bản Bức thư của thủ lĩnh da đỏ ( Tiết 125 -126, Ngữ văn 6)

Đối với văn bản này sách giáo viên lớp 6 hướng dẫn tìm hiểu theo bố cục ba phần: phần đầu, phần thân và phần cuối bức thư Qua thực tế

giảng dạy tôi thấy hướng khai thác này chưa thật hợp lí dẫn đến sự trùng lặp khi phân tích Bởi vì vấn đề quan hệ giữa người da đỏ và người da trắng đối với đất đai và thiên nhiên là vấn đề bao trùm xuyên suốt bức thư chứ không phải riêng phần đầu hay phần giữa của văn bản Để khắc phục hạn chế đó, tôi đã sử dụng hướng khai thác không theo bố cục văn bản như sách giáo viên đã định hướng mà là sử dụng thủ pháp lập bảng

so sánh Thủ pháp này được thể hiện trong cấu trúc của bài dạy như sau:

1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ hoàn cảnh ra đồi của bức thư để các

em hiểu rõ thủ lĩnh Xi – át – ton đã viết bức thư vào thời gian nào, gửi cho ai và để làm gì Đồng thời khơi gợi trí tò mò của em: Điều gì đã

khiến bức thư trở nên nổi tiếng và từng được nhiều người xem là một trong những văn bản hay nhất viết về thiên nhiên và môi trường?

2.Hướng dẫn học sinh tìm hiểu thái độ của người da đỏ và người da

trắng đối với đất đai và thiên nhiên bằng cách lập bảng so sánh Học

Trang 4

sinh thực hiện vào giấy khổ lớn hoặc ghi lên bảng những phát hiện của mình, các em khác nhận xét bổ sung, sau đó giáo viên chuẩn kiến thức trên màn hình ( hoặc bảng phụ) để các em đối chiếu

- Một tấc đất là điều thiêng

liêng không thể quên

- Thường quên đi đất nước họ sinh ra

- Đất là mẹ thương yêu gần

gũi

- Coi đất như kẻ thù

- Thiên nhiên là anh em chung

một gia đình

- Coi đất và thiên nhiên như những vật mua được, tước đoạt được

- Không khí là vô cùng quý

giá

- Cũng hít thở không khí nhưng chẳng để ý gì

- Yêu thương, nâng niu các loài

muôn thú

- Tàn sát muôn thú không thương tiếc

=> Đất và thiên nhiên là sự

sống của người da đỏ

=> Đất và thiên nhiên chỉ để thỏa lòng them khát lợi nhuận của người da trắng

- Những vùng quê trù phú, yên

ả trong lành

- Những bãi hoang mạc

Sau khi phân tích so sành làm nổi bật sự đối lập giữa thái độ của người

da đỏ và người da trắng đối với đất đai và thiên nhiên giáo viên nêu câu hỏi để học sinh thảo luận nhằm khắc sâu kiến thức: Tại sao người da đỏ lại coi đất đai, thiên nhiên là điều thiêng liêng, là sự sống của mình? Giáo viên có thể gợi ý: Khi viết bức thư này, thủ lĩnh Xi – át - tơn chưa thể có được ý thức đầy đủ xét từ góc độ khoa học vấn đề bảo vệ thiên nhiêu và môi trường nhưng trong thực tế khi người da trắng vào châu

Mỹ thì người Anh – điêng còn ở trình độ bộ lạc nghĩa là đang sống một cách hòa đồng với thiên nhiên Thiên nhiên như một bà mẹ hiền che chở

họ, cung cấp cho họ những thứ cần thiết Một khi thiên nhiên bị hủy hoại thì cuộc sống của họ cũng bị đe đọa

Trang 5

3 Điều kiện bán đất và lời cảnh báo của người da đỏ đối với Tổng thống Mỹ (người mua đất) …

*Văn bản: Cô bé bán diêm (Tiết 21,22 – Ngữ văn 8)

Thủ pháp lập bảng so sánh được sử dụng trong cấu trúc của bài dạy: Phần I: Đọc – Tìm hiểu chung

Phần II: Đọc – Tìm hiểu chi tiết

1 Hoàn cảnh của cô bé bán diêm

2 Cô bé bán diêm trong đêm gia thừa

a Bối cảnh:

b Cô bé với những lần quẹt diêm: (Thảo luận nhóm) Trên cơ sở kết quả thảo luận của các nhóm học sinh, giáo viên hướng dẫn lập bảng so sánh:

Các lần quẹt diêm Khi lửa diêm sáng

(mộng tưởng)

Khi lửa diêm tắt (thực tại)

tỏa hơi nóng dịu dàng, ấm áp

Lò sưởi biến mất, nỗi lo sợ bị bố đánh mắng

thịnh soạn, có cả ngỗng quay

Chỉ còn lại bức tường lạnh lẽo, phố

xá vắng teo…

lộng lẫy, ánh nến lấp lánh rực rỡ…

Những ngọn nến bay lên …

với em…

Ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em

bé biến mất

Lần cuối (quẹt hết

những que diêm còn

lại)

Bà to lớn, đẹp lão,

bà cầm tay em, bay lên cao, cao mãi, họ

Em bé đã chết

Trang 6

đã về chầu Thượng

đế

Dựa vào bảng so sánh này ta tiếp tục đưa ra các câu hỏi để học sinh trao đổi thảo luận:

? Em có nhận xét gì về cảnh tượng khi ánh lửa diêm bừng sáng ( mộng tưởng) và khi ánh lửa diêm tắt (thực tại)

? Sự đối lập tương phản gay gắt giữa mộng tưởng đẹp đẽ và thực tế đen tối phũ phàng giúp ta cảm nhận rõ ước mơ khao khát gì của em bé?

? Tác dụng của nghệ thuật đan xem giữa mông tưởng và thực tế ?

? Ý nghĩa nhân văn của hình tượng ngọn lửa diêm?

3 Cái chết của cô bé: …

* Văn bản Chiếc lược ngà ( Tiết 71, 72 – Ngữ văn 9)

Sách giáo viên Ngữ văn 9 định hướng khai thác văn bản này tuần tự theo các nhân vật: Bé Thu, anh Sáu để từ đó làm nổi bật chủ đề của văn bản: Tình cha con sâu nặng Nếu khai thác theo hướng này thì vừa dài dòng, không đủ thời gian vừa có sự trùng lặp Vì tâm trạng tình cảm, tính cách của các nhân vật được bộc lộ trong cùng thời điểm; hành

động, cử chỉ của nhận vật này có sự tác động liên quan đến nhân vật kia Nếu ta sử dụng thủ pháp lập bảng so sánh sẽ khắc phục được những hạn chế đó

Ta có thể hình dung cấu trúc của bài dạy:

Phần I: Đọc, tìm hiểu chú thích

Phần 2: Đọc, tìm hiểu văn bản

1 Tình huống truyện

2 Tình cha con: (Hoạt động nhóm)

Trang 7

Nhân vật

Thời điểm

Khi anh Sáu mới

về đến nhà

- Thuyền chưa cập bến, anh đã nhảy thót lên, gọi con, dang tay đón con…

- Giật mình, ngơ ngác, mặt tái đi, kêu thét lên, lo lắng, sợ hãi

Trong ba ngày

nghỉ phép

- Tìm cách vỗ về, yêu thương con, muốn nghe con gọi

ba

- Gắp trứng cá cho con

- Không nén nổi tức giận đã đánh con -> Yêu con, đau đớn, bất lực

- Càng đẩy ra cự tuyệt, kiên quyết không chịu nhận ba

- Nói trổng

- Hắt trứng cá

- Giận dỗi bỏ về nhà ngoại …

-> NT miêu tả tâm lý: Cô bé hổn nhiên, bướng bỉnh, yêu tha thiết người ba trong ảnh

khẽ chào con

- Vô cùng sung sướng hạnh phúc trong cảm giác ngọt ngào của tình phụ

tử

- Đứng nép trong góc nhà, đôi mắt mênh mông

- Gọi thét “ba”, chạy đến, nhảy thót lên, ôm chặt, hôn tóc, hôn cổ, hôn cả vết thẹo… bíu chặt, không muốn rời ba

=> NT: Tự sự + miêu tả _ bình luận -> Tình yêu ba mãnh liệt, sâu sắc,

Trang 8

dồn nén

Khi anh Sáu trở lại

khu căn cứ

- Ân hận vì đã đánh con

- Làm cho con chiếc lược ngà: Tỉ mỉ cưa từng chiếc rang, khắc từng nét chữ

- Trước lúc hi sinh vẫn nhớ mong ước của con

-> Tình yêu con sâu nặng

=> Tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh

Trên đây là một số trường hợp vận dụng cụ thể thủ pháp lập bảng so sánh khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản là tác phẩm truyện hoặc nhiều văn bản khác nhưng ở đây tôi không có điều kiện để trình bày hết tất cả

1 KẾT QUẢ:

1.1 Khi chưa vận dụng thủ pháp lập bảng so sánh mà vận dụng cách khai thác thông thường:

- Bài dạy thường không đảm bảo dung lượng thời gian

- Khi phân tích văn bản thường có sự trùng lặp dẫn đến sự nhàm chán, đơn điệu

- Học sinh thụ động, thiếu hứng thú trong tìm hiểu khám phá văn bản 1.2 Khi vận dụng thủ pháp lập bảng so sánh:

Trang 9

- Trước hết là tiết kiệm thời gian, đảm bảo dung lượng kiến thức bài dạy

- Tránh được sự trùng lặp khi phân tích dễ làm nổi bật chủ đề của văn bản

- Học sinh tỏ ra tích cực, chủ động, hứng thú trong giờ học

- Đa số học sinh hiểu bài, nắm vững kiến thức trọng tâm, biết vận dụng kiến thức

2 PHẠM VI ỨNG DỤNG

Thủ pháp lập bảng so sánh có thể sử dụng khi dạy các văn bản truyền hoặc đoạn trích trong chương trình ngữ văn THCS Cụ thể:

*Lớp 6:

- “ Ông lão đánh cá và con cá vàng: (Tiết 34 – 35)

- “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” (Tiết 125 – 126)

*Lớp 7:

- “Sống chết mặc bay” (Tiết 105 -106)

- “Những trò lố hay là Va- ren và Phan Bội Châu” (Tiết 109 – 110)

- “Quan âm Thị Kính”

*Lớp 8:

- “Trong lòng mẹ” (Tiết 5 -6)

- “Tức nước vỡ bờ” (Tiết 9)

- “Cô bé bán diêm” (Tiết 21 -22)

- “Đánh nhau với cối xay gió” (Tiết 25 – 26)

*Lớp 9:

Trang 10

- “Chiếc lược ngà” (Tiết 71 – 72)

- “ Cố Hương” (Tiết 77 -78)

III Kết thúc vấn đề:

Đề tài này là một vài kinh nghiệm nhỏ, tôi rút ra trong thực tiễn giảng dạy của mình và các đồng nghiệp để góp phần nâng cao hiệu quả trong tiết học – hiểu văn bản và tạo hứng thú say mê học văn cho các em học sinh.Có thể kinh nghiệm này còn có nhiều hạn chế chủ quan Kính mong các đồng nghiệp góp ý bổ sung

Ngày đăng: 04/12/2015, 19:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w