1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên

112 1,2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH LÊ VĂN GIANG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THAM GIA BHYT CỦA SINH VIÊN

Trang 1

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ VĂN GIANG

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THAM GIA BHYT CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 2

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LÊ VĂN GIANG

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THAM GIA BHYT CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ GẤM

Trang 4

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 5

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013

Tác giả

Trang 6

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳ ỉ

”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của những

cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Trước hết, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu Nhà trường, Phòng QLĐT Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về kiến thức, tinh thần

và vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học học tập và nghiên cứu

Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Thị Gấm, người đã định hướng nghiên cứu, tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cơ quan Bảo hiểm Xã hội tỉnh Thái Nguyên, Bảo hiểm Xã hội TP Thái Nguyên, Ban giám hiệu, cán bộ

y tế, cán bộ quản sinh, các thầy cô giáo chủ nhiệm, cũng như các bạn sinh viên Trường Đại học Sư Phạ ại học Kỹ Thuật công Nghiệ

Thái Nguyên đã cùng tôi thảo luận, điều tra nghiên cứu Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ nhân viên Bảo hiểm xã hội TP Thái Nguyên và những người đã cung cấp những số liệu khách quan giúp tôi đưa ra những phân tích chính xác

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2013

Tác giả luận văn

Trang 7

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Lê Văn Giang

Trang 8

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

ề 3

3

3

ề 4

5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 6

1.1 Khái niệm và chức năng của Bảo hiểm y tế 6

1.1.1 Bảo hiểm y tế 6

1.1.2 Chức năng của bảo hiểm y tế 6

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế sinh viên các trường đại học, cao đẳng 9

1.2 Tình hình phát triển BHYT của một số nước trên thế giới 12

1.2.1 Canada 12

1.2.2 Nhật Bản 15

1.2.3 Đức 15

1.2.4 Thái Lan 17

1.2.5 BHYT ở Trung Quốc 19

1.3 Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam 20

Trang 9

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.4 Một số đánh giá về kết quả BHYT học sinh sinh viên ở Việt Nam 25

1.5 BHYT bắt buộc 26

1.6 Bảo hiểm y tế ở Thái Nguyên 29

1.7 Một số khó khăn trong việc triển khai BHYT sinh viên 31

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 34

2.2 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.2.1 Số liệu thứ cấp 34

2.2.2 Số liệu sơ cấp 34

2.3 Chọn địa điểm nghiên cứu 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu 35

2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu 36

2.6 Công cụ nghiên cứu 36

2.7 Khống chế sai số 36

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 37

2.9 Xử lý số liệu 37

2.10 Chỉ tiêu nghiên cứu 37

Chương 3: THỰC TRẠNG THAM GIA BHYT CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 41

3.1 Một số thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 41

3.1.1 Vị trí địa lý và đơn vị hành chính 41

3.1.2 Kinh tế - Xã hội 42

3.1.3 Đặc điểm sinh viên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 44

3.1.4 Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bản tỉnh Thái Nguyên 45

Trang 10

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các

trường Đại học, Cao đẳng 50

3.2.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 50

3.2.2 Thực trạng đội ngũ y tế ở các trường học 53

3.2.3 Thực trạng sử dụng nguồn kinh phí y tế học đường và chất lượng, điều kiện vật chất tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học 61

ếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên 63

3.2.4.1 63

3.2.4.2 64

3.3.4.3 ia BHYT 65

3.2.4.4 66

3.2.4.5 69

3.2.4.6 71

3.3 ế 73

3.4 Vai trò của gia đình đã tác động đến việc tham gia BHYT của sinh viên 78

3.5 79

79

81

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THAM GIA BHYT SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN 83

4.1 Định hướng và chủ trương của các cấp lãnh đạo 83

4.2 84

4.3 Một số giải pháp 85

4.3.1 85

4.3.2 86

4.3.3 87

4.3.4 87

Trang 11

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

4.3.5 88

4.4 Kiến nghị 79

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

PHỤ LỤC 96

Trang 12

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Đại học Sư phạm Đại học Kỹ thuật công nghiệp Học sinh sinh viên

Khám chữa bệnh Khám sức khỏe Mức đóng Quản lý sinh viên Tổng số sinh viên

Sử dụng Sinh viên

Y tế trường học

Y tế học đường

Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 13

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1 Số thu BHYT đối tượng bắt buộc năm 2008-2012 24

Bảng 1.2: Tỷ lệ sinh viên các trường đại học, cao đẳng tham gia BHYT 29

Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu phân bổ theo giới 50

Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo dân tộc 52

Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo theo diện chính sách 52

Bảng 3.4 Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế 54

Bảng 3.5 Tỷ lệ cán bộ y tế trên tổng số cán bộ công nhân viên và sinh viên 54

Bảng 3.6 Tỷ lệ sinh viên tham gia bảo hiểm y tế năm 2010-2012 55

Bảng 3.7 Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT phân bố theo dân tộc 57

Bảng 3.8 Số lần sử dụng thẻ bình quân qua các năm tại các trường điều tra 57

Bảng 3.9 Số lần sử dụng thẻ BHYT để KCB (năm 2012) 58

Bảng 3.10 Cơ sở y tế được sinh viên lựa chọn khám chữa bệnh BHYT 59

Bảng 3.11 Tình trạng bệnh tật của sinh viên khi mua BHYT 60

Bảng 3.12 Thực trạng sử dụng quỹ y tế học đường trích từ BHYT sinh viên 62

Bảng 3.13 của sinh viên về quyền lợi khi tham gia BHYT 64

Bảng 3.14 Thái độ của sinh viên với việc mua thẻ BHYT 65

Bảng 3.15 Nguồn cung cấp thông tin cho sinh viên về chính sách BHYT 67

Bảng 3.16 Ý kiến của sinh viên về mức đóng BHYT hiện nay 69

Bảng 3.17 Chất lượng dịch vụ y tế các trường điều tra 72

Bảng 3.18 Ý kiến của sinh viên về khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế 73

Bảng 3.19 Lý do sinh viên không tham gia BHYT 76

Bảng 3.20 Nguyện vọng của sinh viên về mức nộp BHYT 77

2007-2012 31

Trang 14

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm y tế (BHYT) sinh viên là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung, chăm lo cho thế hệ trẻ nói riêng ngay từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường, phù hợp với tiến trình đổi mới hướng tới BHYT toàn dân năm 2014 Từ khi có Luật BHYT đến nay, BHYT sinh viên đã nhanh chóng đi vào đời sống xã hội, được Nhà trường, cha mẹ chấp nhận và đánh giá ngày càng tích cực, khẳng định sự đúng đắn của một chính sách xã hội quan trọng, góp phần làm phong phú thêm quan điểm chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho sinh viên của Đảng và Nhà nước ta Những năm qua, bảo hiểm y tế sinh viên đã góp phần tích cực trong việc củng cố và phát triển y tế trường học Mặt khác, BHYT sinh viên còn mang tính nhân văn, nhân đạo và cộng đồng với tinh thần tương thân tương ái “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”

Bảo hiểm y tế là phương thức phù hợp với nền kinh tế thị trường, là biện pháp chi trả tiến bộ, văn minh, đảm bảo tính công bằng, hiệu quả và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đại đa số người dân, nhất là người nghèo, tránh được nguy cơ đói nghèo phát sinh do viện phí Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe người dân, góp phần thể chế hóa chủ trương “Đầu tư bứt phá cho chăm sóc sức khỏe và chuyển dần từ đầu tư trực tiếp cho cơ sở y tế sang đầu tư trực tiếp cho người hưởng thụ thông qua bảo hiểm y tế , 2009]

Tỉnh Thái Nguyên là trung tâm chính trị, kinh tế của khu vực Đông Bắc, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng Trung du miền núi với vùng

Trang 15

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Đồng bằng Bắc bộ Cách thủ đô Hà Nội gần 80km về phía Bắc, Thái Nguyên

có diện tích tự nhiên 3.562,82km2 với dân số khoảng 1,2 triệu người Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) Thái Nguyên còn là trung tâm đào tạo lớn thứ 3 trong cả nước với 8 trường đại học, 11 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề, mỗi năm đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động Vì vậy, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho học sinh, sinh viên càng được các trường và Bảo hiểm xã hội quan tâm hơn [Sở Kế hoạch và Đầu tư, 2012] Trải qua hơn 20 năm triển khai bảo hiểm y tế cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên, Bảo hiểm y tế đã mang lại nhiều lợi ích cho sinh viên khi tham gia Với số lượng lớn sinh viên nên vấn đề tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ mang tính chất xã hội, tính chất nhân đạo mà còn góp phần quan trọng chăm lo sức khỏe và tạo điều kiện cho sinh viên học tập tốt Việc triển khai và phát triển bảo hiểm y tế trong sinh viên có mối quan hệ mật thiết tới sự hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT Tuy nhiên, trong những năm qua bảo hiểm y tế

ứu vấn đề trên sẽ phát hiện được các thông tin quan trọng giúp cho việc cải thiện chất lượng công tác triển khai bảo hiểm

y tế trong sinh viên của các trường đại học, cao đẳng nói chung và nói riêng ở khu vực tỉnh Thái Nguyên

Với những lý do như trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳ ỉ ” làm luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 16

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

cao đẳng ở tỉnh Thái Nguyên

Trang 17

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

và làm rõ việc tại sao tỷ lệ ngườ

Nguyên lại thấp kết quả nghiên cứu cho thấy: chính sách Bảo hiểm y tế, chất lượng phục vụ của các cơ sở khám chữa bệnh chưa được tốt Bên cạnh đó các yếu tố liên quan đến như điều kiện kinh tế và nhận thức của sinh viên cũng ảnh hưởng tới việc tham gia BHYT Kết quả nghiên cứu, thực tế cho thấy nguyên nhân xuất phát chủ yếu là do ý thức của sinh viên (có sự lựa chọn ngược khi tham gia, nghĩa là chỉ khi ốm đau mới tham gia mua thẻ BHYT)

Trang 18

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngoài ra còn có một số yếu tố liên quan như: công tác tuyên truyền, chính sách của nhà nước, tinh thần thái độ phục vụ của các cơ sở khám chữa bệnh, cũng tác động tới việ ủa sinh viên Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đề tài đã đề xuất một số giải pháp nâng cao tỷ lệ sinh viên tham gia với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho sinh viên, tiến tới BHYT toàn dân năm 2014, đây cũng là một trong những chính sách an sinh của Đảng và Nhà nước

Kết quả nghiên cứu của đề tài, là tài liệu tham khảo cho chương trình giảng dạy bậc đại học và cao học trong chuyên ngành Quản lý kinh tế Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách tham khảo để đề ra các chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế

4 chương:

ao sự hiểu biết, trách nhiệ

Trang 19

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ

1.1 Khái niệm và chức năng của Bảo hiểm y tế

1.1.1 Bảo hiểm y tế

Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về BHYT, nhưng mục đích chung của BHYT đều giống nhau, đó là huy động nguồn tài chính để chi trả chi phí KCB cho người tham gia khi bị ốm đau, bệnh tật Nước Đức có bộ Luật BHYT lâu đời nhất trên thế giới, trong đó khái niệm: “BHYT trước hết

là một tổ chức cộng đồng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT”

Tại Việt Nam, chính sách BHYT được Đảng và Nhà nước ta tổ chức thực hiện từ năm 1992 Ngày 14/11/2008 Luật BHYT được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua “BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực CSSK, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm phải tham gia theo quy định của Luật BHYT” Nói cụ thể hơn đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập hàng tháng của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào Quỹ do Nhà nước đứng ra quản lý nhằm mục đích giúp mọi thành viên tham gia Quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ CSSK khi người tham gia không may ốm đau phải sử dụng các dịch vụ đó mà không phải trực tiếp trả chi phí KCB, cơ quan BHXH thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT

1.1.2 Chức năng của bảo hiểm y tế

Trang 20

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Mặc dù ở mỗi nước khác nhau thì sẽ có các hình thức tổ chức khác nhau,

có nước tổ chức độc lập với loại hình bảo hiểm khác, có nước lại coi đây là một trong những chế độ của BHXH Ở nước ta BHYT đã sáp nhập vào BHXH kể từ ngày 24/01/2002 Nhưng mặc dù được tổ chức như thế nào đi chăng nữa, thì BHYT vẫn có vai trò riêng biệt mang tính xã hội rộng rãi như sau:

+ Thứ nhất: BHYT chính là biện pháp để xoá đi sự bất công giữa người giàu và người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị với điều kiện họ

có tham gia BHYT Với BHYT, mọi người sẽ được bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh, đây là một đặc trưng ưu việt của BHYT BHYT mang tính nhân đạo cao cả và được xã hội hoá theo nguyên tắc “Số đông bù số ít” Số đông người tham gia để hình thành quỹ và quỹ này được dùng để chi trả chi phí khám chữa bệnh cho một số ít người không may gặp phải rủi ro bệnh tật Tham gia BHYT vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội Sự đóng góp của mọi người chỉ là đóng góp phần nhỏ so với chi phí khám chữa bệnh khi họ gặp phải rủi ro ốm đau, thậm chí sự đóng góp của cả một đời người cũng không đủ cho một lần chi phí khi mắc bệnh hiểm nghèo Do vậy sự đóng góp của cộng đồng xã hội để hình thành nên quỹ BHYT là tối cần thiết và được thực hiện theo phương châm: “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”, khi khoẻ thì để hỗ trợ người ốm đau, khi không may ốm đau thì ta lại nhận được

sự đóng góp của cộng đồng, điều này đã thực sự mang lại sự công bằng trong khám chữa bệnh

+ Thứ hai: BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng như ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau Nhờ có BHYT, người dân sẽ an tâm được phần nào về sức khoẻ cũng như kinh tế, bởi

Trang 21

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vì họ đã có một phần như là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt với những người nghèo chẳng may mắc bệnh Như vậy BHYT ra đời có tác dụng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định được cuộc sống cho người dân khi họ bị ốm đau, tạo cho họ một niềm lạc quan trong cuộc sống, từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho chính bản thân họ và sau đó là cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của xã hội

+ Thứ ba: Bảo hiểm y tế ra đời còn góp phần giáo dục cho mọi người dân trong xã hội về tính nhân đạo theo phương châm: “Lá lành đùm lá rách”, đặc biệt là giúp giáo dục cho trẻ em ngay từ khi còn nhỏ tuổi về tính cộng đồng thông qua loại hình BHYT học sinh - sinh viên

+ Thứ tư: BHYT làm tăng chất lượng khám chữa bệnh và quản lý y tế thông qua hoạt động quỹ BHYT đầu tư Lúc đó trang thiết bị về y tế sẽ hiện đại hơn, có kinh phí để sản xuất các loại thuốc đặc trị chữa bệnh hiểm nghèo,

có điều kiện nâng cấp các cơ sở khám chữa bệnh một cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, giúp người dân đi khám chữa bệnh được thuận lợi Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, các y, bác sỹ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm, có trách nhiệm đối với công việc hơn, dẫn đến sự quản lý dễ dàng và chặt chẽ hơn trong khám chữa bệnh

+ Thứ năm: BHYT còn có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Hiện nay kinh phí cho y tế được cấu thành chủ yếu từ 4 nguồn:

- Từ ngân sách Nhà nước

- Từ quỹ BHYT

Trang 22

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Thứ sáu: Chỉ tiêu phúc lợi xã hội trong mỗi nước cũng biểu hiện trình

độ phát triển của nước đó Do vậy, BHYT là một công cụ vĩ mô của Nhà nước

để thực hiện tốt phúc lợi xã hội, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động chăm sóc sức khoẻ của người dân

+ Thứ bảy: BHYT còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh hiểm nghèo theo phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” bằng việc kết hợp với các cơ sở khám chữa bệnh BHYT kiểm tra sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cho đại đa số những người tham gia BHYT, từ đó phát hiện kịp thời những căn bệnh hiểm nghèo và có phương pháp chữa trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu Vì nếu không tham gia BHYT, tâm lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh viện, do đó mà coi thường hoặc bỏ qua những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế sinh viên các trường đại học, cao đẳng

Chính sách của Nhà nước

Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH ngày 14/11/2008, Nghị định 62/CP

và Thông tư 09/2009/TTLT-BYT-TC là cơ sở pháp lý cần thiết cho sự phát

Trang 23

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

triển của Bảo hiểm y tế Tuy nhiên, trong quá trình triển khai không tránh khỏi những bất cập, cụ thể:

Đối tượng tham gia BHYT bắt buộc cơ bản là những người có thu nhập

ổn định và bắt buộc phải tham gia, nghĩa là những đối tượng này 100% là có thẻ BHYT, được chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám chữa bệnh khi không may bị ốm đau bệnh tật

Đối tượng sinh viên được ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí khi mua thẻ BHYT, nhưng còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế của gia đình Nên việc tham gia BHYT của sinh viên còn thấp

Đối tượng khác như trẻ em, bảo trợ xã hội, người nghèo, dân tộc thiểu số… được ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí mua thẻ BHYT, do vậy những đối tượng này cũng thuộc diện 100% là có thẻ BHYT và cũng được hưởng quyền lợi về chăm sóc sức khỏe

Sự quan tâm và nhận thức của người tham gia

Việc triển khai thực hiện BHYT sinh viên gặp không ít khó khăn, vướng mắc do một bộ phận sinh viên vẫn nghĩ tham gia BHYT là tự nguyện Mặc dù đã được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Đây cũng là thực trạng đang diễn ra ở nhiều nơi.Vấn đề đặt ra hiện nay là đối tượng sinh viên chưa thấy hết tầm quan trọng, giá trị của bảo hiểm y tế Người tham gia bảo hiểm chưa mang ý thức chia sẻ vì cộng đồng

Mức giá tham gia BHYT

Hiện nay mức phí tham gia BHYT của sinh viên là: 70% * [3% x mức lương tối thiểu (theo quy định của Nhà nước) x 12 tháng]/ một năm, mức phí

Trang 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

này so với người dân Việt nam thì đây là mức hợp lý Tuy nhiên, với đối tượng sinh viên là đối tượng còn phụ thuộc vào kinh tế gia đình (do bố, mẹ và người thân chu cấp kinh phí chi tiêu và sinh hoạt) thì thu nhập của gia đình là yếu tố quan trọng quyết định đến việc tham gia hay không tham gia BHYT

Tổ chức thực hiện và tuyên truyền

Hiện nay, một bộ phận nhỏ sinh viên các trường đại học, cao đẳng vẫn chưa được biết đến BHYT sinh viên Nguyên nhân do công tác tuyên truyền vẫn chưa đến được với sinh viên và cơ bản do sinh viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tham gia BHYT, chủ quan xem thường bệnh tật Do vậy, tỷ lệ tham gia còn thấp nên một số trường không có đại lý thu BHYT sinh viên

- Chất lượng dịch vụ của công tác chăm sóc sức khỏe (các trung tâm khám chữa bệnh, bệnh viện)

Theo thông tin đăng tải của các cơ quan báo chí, tại 1 số diễn đàn trên trang Web và qua tiếp xúc với một số đối tượng Sinh viên, KCB bằng thẻ BHYT nhận thấy chất lượng cơ sở KCB tại các trường học, tuyến xã phường còn yếu về chuyên môn lẫn cơ sở vật chất, các bệnh viện tuyến trên thì lại quá tải bệnh nhân

- Vai trò của gia đình

Việc tham gia BHYT sinh viên có liên quan đến nghề nghiệp và nhận thức cha mẹ sinh viên, nhóm cha mẹ là cán bộ công chức tỷ lệ tham gia BHYT cho con mình cao hơn nhóm cha mẹ làm nghề nông dân và nội trợ Đó

là cán bộ công chức có mức tiền lương có thể trang trải được các khoản chi cho cuộc sống còn người nông dân thì phải bán nông sản, thực phẩm, gia súc

Trang 25

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

để có tiền chi phí vào đầu năm học cho con nên việc tham gia BHYT còn chưa được quan tâm đúng mức

1.2 Tình hình phát triển BHYT của một số nước trên thế giới

1.2.1 Canada

Canada là một nước có diện tích lớn tại Bắc Mỹ Pháp luật ở Canada nói chung và pháp luật về BHXH - BHYT rất phức tạp Chỉ riêng lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Canada có rất nhiều luật khác nhau Mặt khác, riêng một vấn đề BHYT phải thực hiện theo nhiều luật khác nhau Ví dụ như vấn đề về chế độ được hưởng, về khiếu kiện, về chi trả,…nói chung hoạt động BHYT

có quan hệ và chịu sự điều chỉnh của rất nhiều luật Hàng năm có sự thỏa thuận giữa chính quyền trung ương và chính quyền tỉnh về việc cung cấp tài chính cần thiết để thực hiện BHYT, được gọi là Chương trình chăm sóc sức khỏe công cộng

Về cơ cấu tổ chức, Canada dường như không có tổ chức chuyên về BHYT Người có chức vụ cao nhất trực tiếp thực hiện chương trình gọi là Tổng quản lý (General Manager) Bên dưới là các chi nhánh và giúp việc cho Tổng quản lý là các Ủy ban Tổng quản lý và người đứng đầu Ủy ban do Thống đốc bổ nhiệm theo nhiệm kỳ Các thành viên Ủy ban do Bộ trưởng Y

tế tỉnh bổ nhiệm hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, được trả thù lao tính theo giờ hoặc ngày làm việc Các nhân viên làm việc theo Hợp đồng lao động

Do đặc thù, là chi phí khám chữa bệnh hoàn toàn do Ngân sách Nhà nước cấp hàng năm, nên không có Quỹ BHYT, do đó không có bộ phận làm nhiệm vụ quản lý quỹ Chính quyền địa phương có vai trò quan trọng đối với chương trình Có tỉnh hàng năm chính quyền địa phương ký hợp đồng về

Trang 26

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

khám chữa bệnh, với các cơ sở khám chữa bệnh và thầy thuốc hoặc người hành nghề khám chữa bệnh đủ tư cách (được cấp phép) Sau này tổ chức BHYT của tỉnh căn cứ vào hợp đồng này để thực hiện thanh toán chi phí

Ngoài các cơ sở khám chữa bệnh được cấp phép khám chữa bệnh, các thầy thuốc tư đủ điều kiện cũng được cấp phép khám chữa bệnh BHYT Đặc biệt là những người hành nghề khám chữa bệnh, dù không có bằng bác sĩ, thậm chí không có bất cứ bằng cấp gì nhưng nếu đủ điều kiện (tư cách, trình

độ, kinh nghiệm,…) thì cũng được cấp phép khám chữa bệnh BHYT trong một số lĩnh vực nhất định (ví dụ như vật lý trị liệu, xoa bóp, một số phương pháp điều trị không dùng thuốc, một số thuật nắn xương theo phương pháp cổ truyền…) Tuy nhiên, các hoạt động này được kiểm soát rất chặt chẽ Bộ Y tế tỉnh chịu trách nhiệm xem xét, cấp phép đủ tư cách hành nghề của các thầy thuốc và người hành nghề chữa bệnh

Về điều kiện tham gia Chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, mọi người dân có quốc tịch Canada đều là đối tượng được BHYT Các tỉnh ở Canada có luật BHYT khác nhau, nhưng đối tượng đi khám chữa bệnh trong tỉnh khác trong những trường hợp theo pháp luật quy định thì cũng được thanh toán, thậm chí khám chữa bệnh ở nước ngoài nếu đủ điều kiện cũng được thanh toán Người dân Canada được hưởng nhiều chế độ BHYT mà ít nơi có, như chữa bệnh tâm thần, chữa bệnh răng, vật lý trị liệu… Mọi người dân được hưởng miễn phí các dịch vụ khám chữa bệnh và các chi phí về thuốc Người dân có thể ký hợp đồng với các thầy thuốc tư đủ tư cách làm bác

sĩ riêng của cá nhân hoặc gia đình Các dịch vụ y tế và chi phí về thuốc do bác

sĩ riêng thực hiện cũng được BHYT thanh toán Tuy nhiên khi điều trị nội trú,

Trang 27

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

người bệnh không được thanh toán tiền ăn và tiền giường bệnh, trong những trường hợp đặc biệt được thanh toán tiền giường bệnh cũng chỉ được thanh toán đến 23 giờ ngày thực hiện phẫu thuật, còn từ ngày hôm sau người bệnh phải tự trả Tuy được hưởng chế độ khám chữa bệnh miễn phí, nhưng không phải dịch vụ khám chữa bệnh nào người dân cũng được thanh toán, mà chỉ được thanh toán những dịch vụ có tên trong bảng danh sách các dịch vụ BHYT Hàng năm Bộ Y tế sẽ công bố Danh mục bảng giá các dịch vụ BHYT

và Danh mục thuốc được thanh toán

Về phương thức thanh toán BHYT: Sau khi khám chữa bệnh hoặc điều trị, người dân phải ký xác nhận vào biên bản theo mẫu quy định về các dịch

vụ và thuốc đã được dùng Sau đó, thầy thuốc hoặc người hành nghề khám chữa bệnh chuyển đề nghị thanh toán các chứng từ kèm theo đến một bộ phận của chi nhánh BHYT, gọi là Tổ kiểm toán y tế chuyển tiếp Sau khi kiểm tra,

Tổ kiểm toán sẽ thông báo cho thầy thuốc hoặc người hành nghề khám chữa bệnh số tiền được thanh toán Nếu hai bên đồng ý thì việc thanh toán sẽ được thực hiện thông qua Ngân hàng Nếu thầy thuốc không đồng ý sẽ chuyển đề nghị tới Ủy ban nào đó (tùy từng tỉnh) Sau khi xem xét, Ủy ban sẽ thông báo cho thầy thuốc số tiền được thanh toán Nếu hai bên đồng ý thì việc thanh toán sẽ xảy ra, không đồng ý thì thầy thuốc sẽ kiện ra Tòa án theo trình tự thủ tục quy định Trong mọi trường hợp, số tiền thanh toán được trả cho cá nhân thầy thuốc hoặc người hành nghề khám chữa bệnh, cho dù đó là thầy thuốc tư hay làm việc trong một bệnh viện tư Nếu thầy thuốc làm việc trong một bệnh viện tư, thì tỷ lệ trích nộp lại bao nhiêu là tùy thuộc vào hợp đồng làm việc giữa thầy thuốc và bệnh viện

Trang 28

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ta thấy bức tranh về BHYT tại Canada thật hoàn hảo Để đạt được điều

đó, Chính phủ Canada đã chi rất nhiều tiền cho BHYT Năm 2003, Chính phủ Canada đã chi hơn 103 tỷ đô la Canada (chiếm 10.1% GDP) cho BHYT, tính bình quân mỗi người dân Canada được hưởng trợ cấp hơn 3.200USD/năm cho chăm sóc sức khỏe Nhưng bù lại, Chính phủ đã thực hiện được việc chăm sóc sức khỏe toàn dân - niềm tự hào của người dân Canada.[Nguyễn Thị Tứ, 2007]

1.2.2 Nhật Bản

BHYT ở Nhật Bản ra đời năm 1922, đến nay đã phát triển với hiệu quả đáp ứng ngày càng cao nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân Nhật Bản thực hiện BHYT toàn dân trong vòng 36 năm Mức đóng BHYT Nhật Bản không cao, mức đóng góp BHYT do Chính phủ quản lý trong phạm vi

từ 6,6% đến 9,1% thu nhập, trong đó người lao động đóng góp 50%, người sử dụng lao động đóng góp 50% Mức đóng BHYT do nghiệp đoàn quản lý, phạm

vi từ 3% đến 9,5% thu nhập, trong đó người lao động đóng 43% và người sử dụng lao động đóng 57% Nhà nước hỗ trợ tài chính cho phí hành chính của BHYT trong phạm vi từ 16,4% đến 20% nhu cầu chăm sóc BHYT Người tham gia BHYT được khám, chữa bệnh tại tất cả các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc, và chịu mức chi trả 30% số tiền trên mỗi hóa đơn Hệ thống BHYT Nhật Bản phát triển rộng lớn, thông nhất thuận lợi cho việc quản lý Hàng năm, rà soát định kỳ 8.300 danh mục thuốc BHYT thực sự góp phần làm phát triển kinh tế, đảm bảo An sinh xã hội của Nhật Bản.[Thái Dương, 2012]

1.2.3 Đức

Trang 29

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ở Cộng hòa Liên Bang Đức, Bảo hiểm Y tế là bắt buộc đối với toàn dân và có nhiều công ty BHYT (độc lập) được tham gia trong thị trường chăm sóc sức khỏe (CSSK) Do đó đã tránh được sự độc quyền của quỹ BHYT Tỷ

lệ người dân tham gia BHYT Nhà nước đạt 90% dân số, do khoảng mười công ty BHYT quản lý Khoảng 9% dân số là những người giàu tham gia BHYT tư nhân trong thị trường này

Trong thị trường này, bệnh nhân không phải trả tiền trực tiếp cho bệnh viện và không quan tâm đến chi phí của dịch vụ Cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm y tế có quyền chấm dứt hợp đồng với các bệnh viện không đạt tiêu chuẩn và vi phạm hợp đồng Cơ quan này kiểm soát không những hoạt động chuyên môn thông qua một hệ thống văn bản pháp quy quy định chặt chẽ về hoạt động chuyên môn của hệ thống bệnh viện - hệ thống DRG (Diagnosis Related Group) mà còn giám sát các chi phí của bệnh viện đối với bệnh nhân Đây là kết quả của quá trình thống kê một cách hệ thống về chi phí y tế cho các nhóm bệnh viện trong toàn nước Đức Toàn bộ chi phí điều trị, ngày nằm viện được tính một cách khoa học dựa trên các dữ liệu có được từ hoạt động thống kê y tế Các nhóm bệnh tương tự như nhau sẽ được BHYT thanh toán theo một gói chi phí cố định, tất nhiên có hệ số điều chỉnh cho các trường hợp phức tạp Việc điều trị nhờ đó thống nhất hơn và chi phí trở nên minh bạch hơn Sự cạnh tranh diễn ra một cách tương đối lành mạnh ở các Nhà cung cấp dịch vụ y tế nhằm có được hợp đồng với quỹ BHYT, cạnh tranh giữa các quỹ BHYT với nhau trong việc thu hút người mua BHYT Bệnh nhân BHYT không trực tiếp chi trả chi phí và hầu như được thanh toán không hạn chế

Trang 30

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong danh mục dịch vụ được phép chi trả Do đó, tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe được thực hiện tốt hơn

Tuy nhiên, từ đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Một trong số đó

là các rủi ro về đạo đức Các bệnh viện không phải chịu áp lực trực tiếp từ bệnh nhân nên sẵn sàng đưa ra các loại dịch vụ chưa thật sự hợp lý mà nếu bệnh nhân phải trả tiền túi thì chưa chắc việc này đã cần thiết Rồi việc điều trị và thanh toán theo DRG cũng gây phiền toái cho hệ thống bệnh viện ở tính cứng nhắc của nó trong áp dụng các phác đồ điều trị Việc điều chỉnh chỉ được thực hiện trong vòng một năm nên nhiều khi các bác sĩ gặp khó khăn trong việc áp dụng một phương pháp điều trị mới chưa nằm trong quy định của DRG

Có thể thấy thị trường sức khỏe với tính đặc thù của nó không thể tự vận hành một cách tự do theo quay luật của cung cầu Nó cần một sự can thiệp vĩ mô của Nhà nước Nhà nước cần đưa ra các chính sách nhằm tạo ra một khuôn khổ để từ đó, các chủ thể có quyền cạnh tranh một cách lành mạnh [Dương Huy Liệu, 2010]

1.2.4 Thái Lan

Là nước có hệ thống y tế đại diện cho hệ thống y tế thị trường; đương đầu với nguy cơ thương mại hóa chăm sóc sức khỏe Biện pháp là phát triển các loại BHYT để bảo đảm an sinh xã hội Đối tượng chính tham gia BHYT

là người lao động làm công ăn lương trong các doanh nghiệp từ 1 lao động trở lên (khoảng 7 triệu người) Tỷ lệ đóng là 4,5% trong đó Nhà nước đóng 1/3, chủ sử dụng đóng 1/3 và người lao động đóng 1/3

Trang 31

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thị trường chăm sóc sức khỏe tự do là đặc thù của Thái Lan Phần khám chữa bệnh ngoại trú của nhân dân chủ yếu do thị trường y tế tư nhân thực hiện

BHYT tại Thái Lan có hai thời kỳ lịch sử, đó là chương trình BHYT tính đến năm 2001 và sau năm 2001 áp dụng BHYT toàn dân

Trước năm 2001: sự yếu kém khi chưa thực hiện BHYT toàn dân thể hiện người dân chưa có khả năng thanh toán cho bệnh nặng và chi phí lớn, chương trình BHYT cho công chức gặp nhiều khó khăn do áp dụng cơ chế kiểm soát chi phí để đối phó với phương thức chi trả theo phí dịch vụ, việc phân loại đối tượng nghèo và không nghèo thiếu chính xác, chương trình BHYT tự nguyện chỉ có người ốm tham gia

Đến đầu năm 2002, qua những biện pháp được thực hiện để hướng tới BHYT toàn dân thì Thái Lan đã có 3 chương trình BHYT công, bảo hiểm cho 96% dân số, còn 4% chưa được bảo hiểm Chương trình BHYT toàn dân ở Thái Lan có những nét đặc trưng như sau:

+ Gói quyền lợi chủ yếu: toàn diện (nội, ngoại trú, cấp cứu, dự tăng cường sức khỏe, chi phí kỹ thuật cao) Thuốc theo danh mục của Bộ Y tế

phòng-+ Đăng ký nơi khám chữa bệnh có thể là cơ sở khám chữa bệnh tư nhân hoặc Nhà nước “đơn vị nhận hợp đồng chăm sóc sức khỏe ban đầu” Nếu khám tại nơi đăng ký ban đầu này thì được miễn phí và chuyển lên tuyến trên khi bệnh nặng và người tham gia phải chịu toàn bộ chi phí nếu đi thẳng lên tuyến trên

Trang 32

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+Phương thức chi trả: Đối với bệnh nhân ngoại trú áp dụng phương thức khoán định suất Bệnh nhân nội trú thì áp dụng khoán tổng quỹ và chi theo nhóm chẩn đoán

1.2.5 BHYT ở Trung Quốc

BHYT ở Trung Quốc có hai loại: BHYT ở nông thôn (hợp tác y tế nông thôn) và BHYT ở thành phố (bảo hiểm cho nhân viên Nhà nước; BH cho các xí nghiệp Nhà nước; bảo hiểm cho những người ăn theo công nhân xí nghiệp; BH cho các xí nghiệp tuyến quận, huyện; bảo hiểm cho các xí nghiệp tuyến xã, phường; bảo hiểm cho những người ăn theo công nhân địa phương) Trung Quốc ưu tiên đầu tư vào các dịch vụ cơ bản, nâng cao chất lượng cho các cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu Tháng 9/2009, Đảng Cộng sản Trung Quốc có kế hoạch cải cách chính sách y tế, đầu tư 850 tỷ nhân dân tệ, tương đương với 92 tỷ euro trong ba năm nhằm nâng cấp các dịch vụ y tế Mục tiêu sau cùng là từ nay cho đến năm 2020, 1.3 tỉ dân Trung Quốc phải được hưởng các khoản BHYT tối thiểu Năm 2010, Trung Quố o danh mục điều trị

Tuy nhiên, thách thức đặt ra là khoảng cách thu nhập các khu dân cư lớn, mức đóng cao Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc đang

Trang 33

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thực hiện cải cách mức đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, cải thiện thái độ phục

vụ người dân.[Thái Dương, 2012]

1.3 Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam

Bảo hiểm y tế Việt Nam là một chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, chính sách BHYT chính thức được thực hiện theo nghị định 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều

lệ Bảo hiểm y tế đánh dấu sự ra đời của BHYT ở nướ , 1992] Điều lệ BHYT đã ban hành trước đây có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, là tiền đề cho việc mở rộng phát triển BHYT ở nước ta trong những năm tiếp theo Trải qua hơn 20 năm thực hiện, BHYT đã chứng minh sự cần thiết và từng bước trở thành một nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội Các chính sách BHYT đã có những bước phát triển đáng kể và đang dần được hoàn thiện

về cơ sở pháp lý cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân trong từng giai đoạn

Những thay đổi về chính sách BHYT qua các giai đoạn:

Giai đoạn 1: từ năm 1992 đến 28/9/1998 Giai đoạn này hệ thống BHYT ở Việt Nam được tổ chức và quản lý theo qui định của Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và điều lệ BHYT Bảo hiểm y tế Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội vừa để tạo nguồn ngân sách y tế ổn định theo cơ chế trả trước, vừa là một hoạt động mang tính nhân đạo, nhiều người giúp một người khi bị ốm đau phải khám và điều trị Tuy

Trang 34

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhiên do cơ cấu tổ chức và quản lý của hệ thống BHYT Việt Nam nên trong quá trình thực hiện nảy sinh một số tồn tại cơ bản là:

- Quyền lợi của người tham gia BHYT chưa được đảm bảo thống nhất trong cả nước Một số tỉnh, thành phố tự ý đặt ra những qui định riêng trong việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT

- Một số địa phương có số thu BHYT ít phải hạn chế chi trả chi phí khám chữa bệnh trong khi một số địa phương có số thu nhiều, quĩ BHYT còn

dư nhưng không thể điều tiết được từ nơi thừa sang nơi thiếu

- Bảo hiểm y tế Việt Nam khó thực hiện chức năng giám sát, điều tiết hoạt động bảo hiểm y tế trên phạm vi toàn quốc

Giai đoạn 2: từ 29/9/1998 đến 31/12/2002 Giai đoạn này hệ thống BHYT Việt Nam được tổ chức và quản lý theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ đã ban hành điều lệ BHYT và Nghị định số 47/CP ngày 06/06/1994 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Điều

lệ BHYT với những điểm mới cơ bản là: mở rộng chính sách BHYT, đa dạng hóa các loại hình BHYT để đông đảo các tầng lớp dân cư có điều kiện tham gia hoạt động vì lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người có thẻ BHYT, xác định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức chế độ BHYT, thực hiện phương thức cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT (cơ quan BHYT chi trả 80% cho các

cơ sở điều trị theo giá viện phí hiện hành, còn 20% người bệnh tự trả cho các

cơ sở điều trị), thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh, thống nhất công tác quản lý hệ thống BHYT theo ngành dọc để chính sách xã hội này được

Trang 35

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

thực hiện đồng bộ, công bằng, hiệu quả, đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm y tế

Giai đoạn 3: từ năm 2002 đến 30/6 năm 2009 Thực hiện quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống BHYT Việt Nam được chuyển từ Bộ Y tế sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý Theo đó BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý các quỹ BHXH, BHYT theo qui định của pháp luật Trong giai đoạn này rất nhiều nghị định, thông tư hướng dẫn của Chính phủ, của ngành được ban hành nhằm mục đích đảm bảo nguồn tài chính phục vụ công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp trong y tế, xã hội hóa việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công chức và người lao động, đảm bảo sự ổn định và bền vững của hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam Các chính sách BHYT trong giai đoạn này đã và đang được thực hiện là:

Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/05/2005 của Chính phủ ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế, từ 1/7/2005 quyền lợi của người tham gia BHYT được mở rộng đó là: người có thẻ BHYT không cùng chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh, không thực hiện trần điều trị nội trú; được thanh toán các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, bệnh bẩm sinh, tai nạn giao thông, chi phí vận chuyển Mức thanh toán khám chữa bệnh tự chọn tăng lên Gần 1000 loại dịch vụ kỹ thuật được bổ sung Mở rộng các đối tượng BHYT bắt buộc

Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/07/2005 của

Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT bắt buộc đó là: mở rộng nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, qui định mức chi phí bình quân tại

Trang 36

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

các tuyến chuyên môn kỹ thuật áp dụng thanh toán trực tiếp cho người có thẻ BHYT khám chữa bệnh theo yêu cầu riêng

Thông tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 24/08/2005 của

Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn việc triển khai thực hiện BHYT tự nguyện có sửa đổi điều kiện triển khai như sau: Đối với thành viên hộ gia đình phải có 100% thành viên có tên trong sổ hộ khẩu và cư trú trên địa bàn của cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đăng ký tham gia BHYT

tự nguyện (trừ người đã có thẻ BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện theo các nhóm đối tượng khác, trẻ em dưới 6 tuổi) và có ít nhất 10% số hộ gia đình trong phạm vi địa bàn xã đăng ký tham gia BHYT tự nguyện Đối với học sinh sinh viên triển khai theo Nhà trường thì phải có ít nhất 10% số học sinh sinh viên trong danh sách HSSV của Nhà trường tham gia BHYT tự nguyện Đối với hội viên hội đoàn thể phải có ít nhất 30% số hội viên trên tổng số hội viên của hội đoàn thể tham gia

Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT- BYT- BTC ngày 30/03/2007 của

Bộ Y tế và Bộ Tài chính qui định khám chữa bệnh nội, ngoại trú BHYT tự nguyện như sau: đối với KCB ngoại trú được thanh toán 100% chi phí khi có chi phí dưới 100.000 đồng , được thanh toán 80% chi phí khi có chi phí trên 100.000 đồng Đối với KCB nội trú được thanh toán 80% chi phí KCB

Thông tư liên tịch số 14/2007/TTLT- BYT- BTC ngày 10/12/2007 của

Bộ Y tế và Bộ Tài chính sửa đổi: điều kiện triển khai đó là bỏ điều kiện 100% thành viên trong hộ gia đình, 10% số hộ gia đình trong phạm vi địa bàn xã và

Trang 37

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

10% số HSSV trong danh sách HSSV của Nhà trường tham gia, qui định khung mức đóng và phương thức đóng BHYT tự nguyện

Giai đoạn 4: từ ngày 01 tháng 07 năm 2009 đến nay Đây là giai đoạn quan trọng nhất, Luật Bảo hiểm y tế được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm

2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 Theo qui định của Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 01 năm 2014 thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân Luật BHYT quy định về chế độ, chính sách BHYT, bao gồm đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng BHYT, phạm vi được hưởng BHYT, thanh toán chi phí khám chữa bệnh, quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đến BHYT

Bảng 1.1 Số thu BHYT đối tƣợng bắt buộc năm 2008-2012

Nguồn số liệu: Quyết toán BHXH tỉnh Thái Nguyên

Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng được mở rộng

và chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao như: không thực hiện trần điều trị nội trú, được thanh toán các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí

Trang 38

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lớn, bệnh bẩm sinh, tai nạn giao thông, chi phí vận chuyển , mức thanh toán KCB tự chọn tăng lên, gần 1000 loại dịch vụ kỹ thuật được bổ sung

1.4 Một số đánh giá về kết quả BHYT học sinh sinh viên ở Việt Nam

Những thành tựu: Chính sách BHYT sinh viên ở nước ta đã được người dân chấp nhận, thể hiện ở mức độ bao phủ tăng dần hàng năm, đến cuối năm

2006, số học sinh tham gia đạt 44% số học sinh cả nước

Quyền lợi của sinh viên tham gia bảo hiểm y tế được mở rộng Sinh viên tham gia bảo hiểm y tế từ chỗ chỉ được điều trị nội trú và chăm sóc sức khỏe tại y tế trường học đến được hưởng quyền lợi như đối tượng bắt buộc, có một số quyền lợi cao hơn các đối tượng bắt buộc như trợ cấp tử vong và có một tỷ lệ quỹ BHYT để chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học

Hoạt động của y tế trường học dần dần được cụ thể hóa thông qua việc

tổ chức cấp cứu, sơ cứu và khám chữa bệnh thông thường cho sinh viên kịp thời, không để bệnh tiến triển nặng lên và chi phí tốn kém ở tuyến trên Phối hợp với các chương trình y tế quốc gia như nha học đường, mắt học đường, phòng chống giun sán học đường, vệ sinh học đường để tuyên truyền và giáo dục cho sinh viên có kiến thức tối thiểu về phòng chống các bệnh học đường Tổ chức khám sức khỏe cho sinh viên đầu cấp, phân loại thể lực, bệnh tật của sinh viên, phát hiện kịp thời các bệnh cấp tính, mãn tính, bẩm sinh để phối hợp với gia đình chữa trị

Quỹ BHYT sinh sinh viên đã hòa nhập thống nhất trên địa bàn cả nước,

sự san sẻ trong cộng đồng lớn sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người tham gia cũng như cân đối quỹ BHYT học sinh Quỹ BHYT học sinh cơ bản đã giải quyết khó khăn về mặt tài chính cho học sinh khi ốm đau bệnh tật, tai nạn, bị

Trang 39

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mắc các bệnh hiểm nghèo phải điều trị nội trú tại các cơ sở y tế từ tuyến Trung ương đến địa phương

Tiềm năng phát triển bảo hiểm y tế sinh viên ở nước ta còn rất lớn, hiện

có trên 8 triệu học sinh tham gia bảo hiểm y tế, đạt 44% tổng số sinh viên viên cả nước, nhưng vẫn còn khoảng hơn 10 triệu học sinh nữa chưa có bảo hiểm y tế Mặc dù sinh viên ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh Tây Nguyên và một số vùng khó khăn đang có bảo hiểm y tế người nghèo nhưng khi đời sống kinh tế khá lên và thoát nghèo thì số dân ở các tỉnh này trong đó

có học sinh sinh viên lại trở thành đối tượng không có bảo hiểm y tế Chính vì vậy, tiềm năng phát triển BHYT học sinh ở nước ta trong những năm tới còn rất lớn và công tác tuyên truyền vận động sinh viên tham gia BHYT khi Nhà nước đưa vào diện tham gia bắt buộc [ , 2008]

1.5 BHYT bắt buộc

Theo Luật BHYT số: 25/2008/QH12, ngày 14 tháng 11 năm 2008 Diện bắt buộc tham gia BHYT: Áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam gồm:

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật về tiền lương, tiền công; cán

bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là người lao động)

- Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân

Trang 40

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng

- Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

- Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước

- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm

xã hội hằng tháng

- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp từ ngân sách nhà nước hằng tháng

- Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Người có công với cách mạng

- Cựu chiến binh theo quy định của pháp luật về cựu chiến binh

- Người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo quy định của Chính phủ

- Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm

- Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật

- Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn

- Thân nhân của người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng

Ngày đăng: 04/12/2015, 18:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Ban (2008), “Tình hình và kết quả thực hiện chính sách BHXH”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (04), Tr.12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình và kết quả thực hiện chính sách BHXH
Tác giả: Nguyễn Huy Ban
Năm: 2008
6. Vũ Xuân Bằng (2009), “Cùng chi trả- biện pháp quản lý khoa học, hiệu quả”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (04), Tr.19 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cùng chi trả- biện pháp quản lý khoa học, hiệu quả
Tác giả: Vũ Xuân Bằng
Năm: 2009
16. Chính phủ (1998), Quyết định số135/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình phát triển kinh tế -xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển kinh tế -xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
22. Quang Hùng (2008), “Nhận thức của chúng tôi đã thay đổi”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (11), Tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của chúng tôi đã thay đổi
Tác giả: Quang Hùng
Năm: 2008
23. Nguyễn Thị Mai Loan (2008), “BHYT toàn dân theo luật định ở CHLB Đức”, Tạp chí BHXH Việt Nam (04), Tr. 48,49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BHYT toàn dân theo luật định ở CHLB Đức
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Loan
Năm: 2008
24. Nguyễn Huy Nghị (2008), “Đánh giá tổng kết và các giải pháp phát triển” Tạp chí BHXH Việt Nam (08), Tr.10-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tổng kết và các giải pháp phát triển
Tác giả: Nguyễn Huy Nghị
Năm: 2008
25. Nguyễn Khang (Theo Today in Asia & Pacific) (2009), “Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân”, Báo BHXH Việt Nam (10), Tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân
Tác giả: Nguyễn Khang (Theo Today in Asia & Pacific)
Năm: 2009
27. Nguyễn Vinh Quang (2005), “Kinh nghiệm BHYT toàn dân”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (05), Tr.57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm BHYT toàn dân
Tác giả: Nguyễn Vinh Quang
Năm: 2005
29. Phan Toàn- Thu Hoàng (2006), “Một số vấn đề mấu chốt trong thực hiện bảo hiểm y tế học sinh ở Thái Nguyên”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (10), Tr.30-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề mấu chốt trong thực hiện bảo hiểm y tế học sinh ở Thái Nguyên
Tác giả: Phan Toàn- Thu Hoàng
Năm: 2006
30. Lam Thanh (2008), “Y tế trường học- “sản phẩm” tốt nhất của Bảo hiểm y tế HSSV”, Báo BHXH Việt Nam, (96), Tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y tế trường học- “sản phẩm” tốt nhất của Bảo hiểm y tế HSSV
Tác giả: Lam Thanh
Năm: 2008
31. Công Thành- Thu Trang (2006), “Tiền đề tiến tới BHYT toàn dân”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (08), Tr.11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền đề tiến tới BHYT toàn dân
Tác giả: Công Thành- Thu Trang
Năm: 2006
32. Nguyễn Thị Bích Thọ (2008), “Một số kinh nghiệm về xây dựng BHYT toàn dân”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (06), Tr.24-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm về xây dựng BHYT toàn dân
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thọ
Năm: 2008
33. Đặng Thảo (2008), “BHYT ở Pháp- Kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (07), Tr. 52,56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BHYT ở Pháp- Kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Đặng Thảo
Năm: 2008
34. Hoàng Trang (2008), “Hai năm thực hiện chỉ thị 23 của Thủ tướng Chính phủ”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (09), Tr. 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai năm thực hiện chỉ thị 23 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Hoàng Trang
Năm: 2008
35. Hoàng Trang- Hải Hồng (2006), “BHYT- thực trạng, thách thức và giải pháp”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (11), Tr.19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BHYT- thực trạng, thách thức và giải pháp
Tác giả: Hoàng Trang- Hải Hồng
Năm: 2006
38. Hoàng Kiến Thiết (2006), “Chính sách BHYT ở Philippines”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (10), Tr.53-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách BHYT ở Philippines
Tác giả: Hoàng Kiến Thiết
Năm: 2006
39. Hoàng Kiến Thiết (2007), “Phát triển BHYT học sinh trong năm học mới 2007-2008”, Tạp chí BHXH Việt Nam, (08), Tr. 4,5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển BHYT học sinh trong năm học mới 2007-2008
Tác giả: Hoàng Kiến Thiết
Năm: 2007
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Báo cáo đánh giá công tác giám định y tế năm 2007 và phương hướng nhiệm vụ năm 2008 Khác
3. Bảo hiểm xã hội Thái Nguyên (2005), Tài liệu hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế tự nguyện Khác
4. Bảo hiểm xã hội Thái Nguyên (2008), Tài liệu hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế tự nguyện Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Tỷ lệ sinh viên các trường đại học, cao đẳng tham gia BHYT - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 1.2 Tỷ lệ sinh viên các trường đại học, cao đẳng tham gia BHYT (Trang 42)
Bảng 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu phân bổ theo giới - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu phân bổ theo giới (Trang 63)
Bảng  3.1  Cho  thấy  sinh  viên  nam  chiếm  tỷ  lệ  54.72%,  sinh  viên  nữ  chiếm  tỷ  lệ  45.28% - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
ng 3.1 Cho thấy sinh viên nam chiếm tỷ lệ 54.72%, sinh viên nữ chiếm tỷ lệ 45.28% (Trang 64)
Bảng 3.2. Đối tƣợng nghiên cứu phân bố theo dân tộc - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2. Đối tƣợng nghiên cứu phân bố theo dân tộc (Trang 65)
Bảng 3.6. Tỷ lệ sinh viên tham gia bảo hiểm y tế năm 2010-2012                 Năm - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6. Tỷ lệ sinh viên tham gia bảo hiểm y tế năm 2010-2012 Năm (Trang 68)
Bảng 3.8. Số lần sử dụng thẻ bình quân qua các năm tại các trường điều tra - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.8. Số lần sử dụng thẻ bình quân qua các năm tại các trường điều tra (Trang 70)
Bảng 3.7. Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT phân bố theo dân tộc - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7. Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT phân bố theo dân tộc (Trang 70)
Bảng 3.9. Số lần  sử dụng thẻ BHYT để KCB (năm 2012) - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9. Số lần sử dụng thẻ BHYT để KCB (năm 2012) (Trang 71)
Bảng 3.10. Cơ sở y tế đƣợc sinh viên lựa chọn khám chữa bệnh BHYT  Đối tƣợng - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10. Cơ sở y tế đƣợc sinh viên lựa chọn khám chữa bệnh BHYT Đối tƣợng (Trang 72)
Bảng 3.11. Tình trạng bệnh tật của sinh viên khi mua BHYT - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Tình trạng bệnh tật của sinh viên khi mua BHYT (Trang 73)
Bảng 3.12. Thực trạng sử dụng quỹ y tế học đường trích từ BHYT sinh viên - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.12. Thực trạng sử dụng quỹ y tế học đường trích từ BHYT sinh viên (Trang 75)
Bảng 3.13.   của sinh viên về quyền lợi khi tham gia BHYT           Trường - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.13. của sinh viên về quyền lợi khi tham gia BHYT Trường (Trang 77)
Bảng 3.15. Nguồn cung cấp thông tin cho sinh viên về chính sách BHYT                     Trường - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.15. Nguồn cung cấp thông tin cho sinh viên về chính sách BHYT Trường (Trang 80)
Bảng 3.18. Ý kiến của sinh viên về khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.18. Ý kiến của sinh viên về khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa (Trang 86)
Bảng 3.19. Lý do sinh viên không tham gia BHYT - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở tỉnh thái nguyên
Bảng 3.19. Lý do sinh viên không tham gia BHYT (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w