Hoàn thiện tổ chức lao động ở Công ty vận tải Biển Bắc
Trang 1Đại hội Đảng lần thứ VI là một bước ngoặt quan trọng đưa nền kinh tếnước ta chuyển từ cơ chế kinh tế tập trung sang cơ chế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Con người trong hoạt động sản xuất kinh doanh là mộtvấn đề rất quan trọng, không phải chỉ có Đại hội VI mới đề cập đến mà nó liêntục được đề cập đến trong các kỳ Đại hội VII, và đặc biệt là Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VIII Đại hội nhấn mạnh: "Đào tạo bồi dưỡng và nâng cao nguồnnhân lực đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá".
Thực tế cho thấy vấn đề nhân sự được lãnh đạo của Công ty vận tảiBiển Bắc rất quan tâm, Công ty đang cố gắng tìm ra những giải pháp thíchhợp để nhằm hoàn thiện đội ngũ cán bộ công nhân viên
Là một sinh viên theo học ngành Quản trị nhân lực của trường Đại họcKinh tế Quốc dân em đã nhận thức được rõ ràng: Quản trị nhân lực là mộttrong những chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản trị kinhdoanh trong các loại hình doanh nghiệp Quản trị nhân lực không những manglại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn góp phần nâng caonăng suất lao động, đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động và phúclợi cho toàn xã hội
Trong thời gian thực tập tại Công ty vận tải Biển Bắc cùng với sự kếthợp giữa lý thuyết đã được học tại trường và việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểucông tac quản trị nhân lực tại Công ty, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:
"Hoàn thiện tổ chức lao động ở Công ty vận tải Biển Bắc"
Về kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Vai trò của tổ chức lao động và sự cần thiết phải hoàn thiệnlao động
Chương II: Thực trạng công tác tổ chức lao động ở Công ty vận tải biểnBắc
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức lao động ởCông ty vận tải Biển Bắc
Trang 2Cũng qua bài viết này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô, chútrong Công ty vận tải Biển Bắc đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trìnhnghiên cứu và thực tập tại công ty Cũng như sự tận tình hướng dẫn của thầygiáo Tống Văn Đường đã giúp em hoàn thành chuyên đề này Tuy nhiên, dothời gian nghiên cứu và kiến thức thực tế còn hạn chế nên bài viết vẫn khôngthể tránh khỏi một vài thiếu sót nhất định Em rất mong được sự nhận xét, góp
ý của các thầy, cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện một cách tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI HOÀN THIỆN LAO ĐỘNG
I KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
1 Khái niệm về tổ chức lao động
Quá trình lao động là một hiện tượng kinh tế xã hội và vì thế, nó luônluôn được xem xét trên hai mặt: mặt vật chất và mặt xã hội Về mặt vật chất,quá trình lao động dưới bất kỳ hình thái kinh tế -xã hội nào muốn tiến hànhđược đều phải bao gồm ba yếu tố: bản thân lao động, đối tượng lao động vàcông cụ lao động Quá trình lao động chính là sự kết hợp tác dụng giữa ba yếu
tố đó, trong đó con người sử dụng công cụ lao động để tác động lên đối tượnglao động nhằm mục đích làm cho chúng thích ứng với những nhu cầu củamình Còn mặt xã hội của quá trình lao động được thể hiện ở sự phát sinh cácmối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau trong lao động Cácmối quan hệ đó làm hình thành tính chất tập thể, tính chất xã hội của lao động
Dù quá trình lao động được diễn ra dưới những điều kiện kinh tế xã hộinhư thế nào thì cũng phải tổ chức sự kết hợp tác động giữa các yếu tố cơ bản củaquá trình lao động và các mối quan hệ qua lại giữa những người lao động vớinhau vào việc thực hiện mục đích của quá trình đó, tức là phải tổ chức lao động
Như vậy: Tổ chức lao động là một phạm trù gắn liền với lao động sống,với việc đảm bảo sự hoạt động của sức lao động Thực chất, tổ chức lao độngtrong phạm vi một tập thể lao động nhất định là một hệ thống các biện phápđảm bảo sự hoạt động lao động của con người nhằm mục đích nâng cao năngsuất lao động và sử dụng đầy đủ nhất các tư liệu sản xuất
Nghiên cứu tổ chức lao động cần phải tránh đồng nhất nó với tổ chứcsản xuất Xét về mặt bản chất, khi phân biệt giữa tổ chức lao động và tổ chứcsản xuất chúng khác nhau ở chỗ: tổ chức lao động là một hệ thống các biệnpháp để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của lao động sống Còn tổ chức
Trang 4sản xuất là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng đầy đủ nhất toàn bộ nguồnlao động và các điều kiện vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp, đảm bảo choquá trình sản xuất được liên tục ổn định, nhịp nhàng và kinh tế Đối tượng của
tổ chức sản xuất là cả ba yếu tố của quá trình sản xuất, còn đối tượng của tổchức lao động chỉ bao gồm lao động sống - yếu tố cơ bản nhất của quá trìnhsản xuất mà thôi
Trong doanh nghiệp, tổ chức lao động là một bộ phận cấu thành khôngthể tách rời của tổ chức sản xuất Tổ chức lao động giữ vị trí quan trọng trong
tổ chức sản xuất là do vai trò quan trọng của con người trong quá trình sảnxuất quyết định Cơ sở kỹ thuật của sản xuất dù hoàn thiện như thế nào thìquá trình sản xuất cũng không thể tiến hành được nếu không sử dụng sức laođộng, không có sự hoạt động có mục đích của con người đưa cơ sở kỹ thuật
đó vào hoạt động
Do đó, lao động có tổ chức của con người trong bất kỳ doanh nghiệpnào cũng là điều kiện tất yếu của hoạt động sản xuất, còn tổ chức lao động làmột bộ phận cấu thành của tổ chức quá trình sản xuất Tổ chức lao độngkhông chỉ cần thiết trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà nó cũng cần thiếttrong các doanh nghiệp dịch vụ
Do vậy, tổ chức lao động được hiểu là tổ chức quá trình hoạt động củacon người trong sự kết hợp giữa ba yếu tố cơ bản của quá trình lao động vàcác mối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau nhằm đạt đượcmục đích của quá trình đó
2 Vai trò của tổ chức lao động trong doanh nghiệp
Tổ chức lao động là tổng thể các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng, thúcđẩy, phát triển và duy trì một lực lượng làm việc có hiệu suất cao trong một tổchức Do đó, tổ chức lao động có vai trò quan trọng trong công tác quản trịcủa doanh nghiệp Hơn thế nữa, đối với mỗi doanh nghiệp nguồn nhân lựcđóng vai trò cực kỳ quan trọng, là mấu chốt của việc nâng cao năng suất laođộng, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Điều đó thể hiện rõ ở năng lực làm
Trang 5việc, cơ cấu lao động, tổ chức Ngày nay, khi có sự tác động mạnh mẽ củakhoa học công nghệ thì việc ứng dụng thành công hay không những thành tựu
đó trong dây chuyền sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào nhân tố con người vàcông tác tổ chức lao động của doanh nghiệp đó
Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ,
để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng, hạ giá thànhsản phẩm nhằm tăng năng lực cạnh tranh Muốn làm được điều đó, một trongnhững yếu tố quan trọng nhất là công nghệ sản xuất Việc áp dụng các côngnghệ mới vào sản xuất buộc các doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị về conngười, hay nói cách khác doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác tổ chức laođộng để đạt được hiệu quả một cách cao nhất
Trong quá trình vận động và phát triển doanh nghiệp có thể có nhữngthay đổi về nhân lực do nhiều nguyên nhân khác nhau Do đó công tác hoạchđịnh nguồn nhân lực theo định kỳ để có kế hoạch tuyển chọn là hết sức cầnthiết Công tác này đảm bảo cho doanh nghiệp có được nguồn nhân lực mộtcách kịp thời đáp ứng được yêu cầu cần thiết của hoạt động sản xuất kinhdoanh
Hơn thế nữa, thực hiện tốt công tác QTNL sẽ mang lại những thành tựu
Trang 6Tuyển dụng nhân lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với một doanhnghiệp vì nó quyết định số lượng, chất lượng cán bộ công nhân viên có hợp lýhay không Nếu quá trình tuyển dụng được thực hiện tốt sẽ giúp công ty tìmđược những lao động phù hợp với yêu cầu của công việc Những nhân viênkhông đủ năng lực cần thiết để thực hiện công việc sẽ làm ảnh hưởng trực tiếpđến chất lượng và hiệu quả công việc, có khi còn là nguồn gốc của sự mấtđoàn kết, chia rẽ nội bộ doanh nghiệp Mặt khác, do chi phí tuyển dụng lớnnên khi công tác tuyển dụng không đạt được yêu cầu sẽ làm lãng phí cho côngtác cả về thời gian lẫn chi phí.
* Yêu cầu của việc tuyển chọn nhân viên vào làm việc cho doanhnghiệp phải đảm bảo:
- Tuyển chọn những người có chuyên môn cần thiết, có thể làm việc đạttới năng suất lao động cao, hiệu suất công tác tốt
- Tuyển dụng được những người có kỷ luật, trung thực, gắn bó côngviệc với doanh nghiệp
- Tuyển được những người có sức khoẻ, làm việc lâu dài trong doanhnghiệp
Nếu tuyển chọn không kỹ, tuyển chọn sai, tuyển theo cảm tính hoặctheo một sức ép nào đó, sẽ dẫn đến hậu quả lớn trong việc sử dụng nguồnnhân lực đã được tuyển chọn
* Nguồn tuyển chọn bao gồm 2 nguồn là nguồn nội bộ và nguồn bênngoài
- Nguồn nội bộ: Nguồn này được tạo lập bằng cách đề bạt, thuyênchuyển, cân nhắc từ bộ phận này sang bộ phận khác, từ cấp này sang cấpkhác
+ Ưu điểm:
Tạo ra sự thi đua cạnh tranh tích cực trong nhân viên, kích thích họlàm việc nhiệt tình, sáng tạo, năng suất, chất lượng và hiệu quả hơn
Trang 7 Họ là người đã quen thuộc, nắm vững được điều lệ, phong cách hoạtđộng, mục tiêu chiến lược công ty, cho nên khi tiếp nhận công việc mới họ dễdàng thích nghi hơn.
Các nhân viên này đã được thử thách lòng trung thành, thái độ và ýthức làm việc cũng như các mối quan hệ, kinh nghiệm làm việc trong công ty
Các ứng cử viên tự nộp đơn xin việc
+ Ưu điểm: Là việc đưa nhân lực mới vào tổ chức sẽ mang lại nguồnsinh khí mới cho tổ chức
+ Nhược điểm: Mất thời gian tuyển dụng, huấn luyện, đào tạo và thửviệc do đó sẽ phải tiêu tốn một khoản chi phí cao
3.2 Cải tiến việc tổ chức và phục vụ nơi làm việc
Nơi làm việc là một phần diện tích và không gian sản xuất được trang
bị thiết bị các phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để hoàn thành nhiệm vụsản xuất đã xác định
Trong điều kiện sản xuất hiện đại, giữa các nơi làm việc trong doanhnghiệp có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ Nhịp độ sản xuất của từng bộphận của phân xưởng hoặc toàn doanh nghiệp là do nhịp độ sản xuất của từngnơi làm việc quyết định Vì vậy, muốn nâng cao năng suất lao động, muốn
Trang 8tiến hành sản xuất với hiệu quả cao và đào tạo lớp người lao động mới thìphải tổ chức và phục vụ nơi làm việc Trình độ tổ chức và phục vụ nơi làmviệc cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và hứng thú của người lao động.
Nhiệm vụ của tổ chức và phục vụ nơi làm việc là:
- Tạo ra những điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết để tiến hành cácnhiệm vụ sản xuất với năng suất cao
- Bảo đảm cho quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và nhịp nhàng
- Bảo đảm những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình laođộng và tạo sự hứng thú tích cực cho người lao động
- Bảo đảm khả năng thực hiện các động tác lao động trong tư thế thoảimái, cho phép áp dụng các phương pháp và thao tác lao động tiên tiến
3.2.1 Tổ chức nơi làm việc
Tổ chức nơi làm việc là một hệ thống các biện pháp nhằm thiết kế nơilàm việc, trang bị cho nơi làm việc những công cụ thiết bị cần thiết và sắp xếp
bố trí chúng theo một trật tự nhất định
Tổ chức nơi làm việc gồm có ba nội dung chủ yếu:
- Thiết kế nơi làm việc: Là việc xây dựng các thiết kế mẫu cho các nơi
làm việc nhằm nâng cao hiệu quả lao động của công nhân
- Trang bị nơi làm việc: Là đảm bảo đầy đủ các loại máy móc, thiết bị,
dụng cụ… cần thiết cho nơi làm việc theo yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất vàchức năng lao động Nơi làm việc thường được trang bị các thiết bị chính(thiết bị công nghệ) và thiết bị phụ
- Bố trí nơi làm việc: Là việc sắp xếp một cách hợp lý trong không gian
tất cả các phương tiện vật chất của sản xuất tại nơi làm việc
- Chỉ tiêu đánh giá trình độ tổ chức nơi làm việc
Hệ số trình độ tổ chức nơi làm việc :
KNLV nhóm = Nlv : Tổng số nơi làm việc của nhóm , ( bộ phận )
Trang 9NlvK : Tổng số nơi làm việc không đạt yêu cầu
Hệ số trình độ tỏ chức nơi làm việc của đơn vị :
KNLV = (n : số nhóm hay bộ phận của đơn vị )
Trang 103.2.2 Tổ chức phục vụ nơi làm việc
Tổ chức phục vụ nơi làm việc là cung cấp cho nơi làm việc các loạiphương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết và tạo các điều kiện thuận lợi để tiếnhành quá trình lao động Nói khác đi, tổ chức phục vụ nơi làm việc là tổ chứcđáp ứng đầy đủ các nhu cầu cho các nơi làm việc để quá trình lao động diễn
ra một cách liên tục và có hiệu quả
Nếu việc tổ chức phục vụ nơi làm việc mà không tốt thì sẽ dẫn đến lãngphí thời gian lao động rất lớn Vì vậy, tổ chức phục vụ nơi làm việc là điềukiện không thể thiếu được của bất kỳ quá trình sản xuất nào
Để phục vụ nơi làm việc một cách đồng bộ và có hiệu quả thì việc tổchức phục vụ nơi làm việc trong doanh nghiệp cần phải tuân theo các nguyêntắc sau đây:
- Phục vụ theo chức năng nghĩa là việc xây dựng hệ thống phục vụ
nơi làm việc phải theo các chức năng phục vụ riêng biệt, phải căn cứ vào nhucầu của sản xuất về số lượng, chất lượng và tính quy luật của từng chức năng
để tổ chức phục vụ được đầy đủ và chu đáo
- Phục vụ theo kế hoạch nghĩa là phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất để
xây dựng kế hoạch phục vụ sao cho việc phục vụ phù hợp với tình hình sảnxuất, sử dụng một cách có hiệu quả lao động và thiết bị, giảm bớt thời gianlãng phí do chờ đợi phục vụ
- Phục vụ phải mang tính dự phòng, nghĩa là hệ thống phục vụ phải
chủ động đề phòng những hỏng hóc thiết bị để đảm bảo sản xuất được liên tụctrong mọi tình huống
- Phục vụ phải mang tính đồng bộ, nghĩa là cần phải cần có sự phối hợp
giữa các chức năng phục vụ khác nhau trên quy mô toàn doanh nghiệp để đápứng mọi nhu cầu phục vụ, không để thiếu một nhu cầu nào
- Phục vụ phải mang tính linh hoạt, nghĩa là hệ thống phục vụ phải
nhanh chóng loại trừ các hỏng hóc, thiếu sót không để sản xuất chính bịngừng trệ
Trang 11- Đảm bảo chất lượng và độ tin cậy cao.
- Phục vụ phải mang tính kinh tế, nghĩa là phục vụ tốt cho sản xuất với
chi phí về lao động và tiền vốn ít nhất
Trong một doanh nghiệp thường áp dụng một trong các hình thức phục
vụ là: phục vụ tập trung, phục vụ phân tán hoặc phục vụ hỗn hợp
Để đánh giá khả năng phục vụ người ta dùng hệ số phục vụ nơi làmviệc
KPV =
3.3 Hoàn thiện các hình thức phân công và hiệp tác lao động.
Phân công và hiệp tác lao động là nội dung cơ bản nhất của tổ chức laođộng Do phân công lao động mà tất cả các cơ cấu về lao động trong doanhnghiệp được hình thành, tạo nên một bộ máy với tất cả các bộ phận, chứcnăng cần thiết, với những tỉ lệ tương ứng theo yêu cầu của sản xuất Hiệp táclao động là sự vận hành của cơ cấu ấy trong không gian và thời gian Hai nộidung này liên hệ với nhau một cách mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau,củng cố và thúc đẩy nhau một cách biện chứng Phân công lao động càng sâuthì hiệp tác lao động càng rộng
3.3.1 Phân công lao động
Phân công lao động trong doanh nghiệp là sự chia nhỏ toàn bộ các côngviệc của doanh nghiệp để giao cho từng người hoặc nhóm người lao độngthực hiện Đó chính là quá trình gắn từng người lao động với những nhiệm vụphù hợp với khả năng của họ Theo C.Mác thì phân công lao động: “là sự tách
rẽ các hoạt động lao động hoặc là lao động song song, tức là tồn tại các dạnglao động khác nhau “
Trong nội bộ doanh nghiệp, phân công lao động bao gồm các nội dung sau:
- Xác định những yêu cầu kỹ thuật của công việc và con người phải đápứng
Trang 12- Xây dựng danh mục những nghề nghiệp của xí nghiệp, thực hiện việctuyên truyền, hướng nghiệp và tuyển chọn cán bộ, công nhân một cách kháchquan theo những yêu cầu của sản xuất
- Thực hiện sự bố trí cán bộ, công nhân theo đúng những yêu cầu củacông việc, áp dụng những phương pháp huấn luyện có hiệu quả Sử dụng hợp
lý những người đã được đào tạo, bồi dưỡng tiếp những người có khả năngphát triển, chuyển và đào tạo lại những người không phù hợp với công việc
Phân công lao động hợp lý chính là điều kiện để nâng cao năng suất laođộng và hiệu quả của sản xuất Do phân công lao động mà có thể chuyên mônhoá được công nhân, chuyên môn hoá được công cụ lao động, cho phép tạo rađược những công cụ chuyên dụng có năng suất lao động cao, người côngnhân có thể làm một loạt bước công việc, không mất thời gian vào việc điềuchỉnh lại thiết bị, thay dụng cụ để làm các thiết bị khác nhau
Phân công lao động trong doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo phù hợp giữa nội dung và hình thức của phân công lao động
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Để đảm bảo sự phù hợp giữa những khả năng sản xuất và phẩm chấtcủa con người, phải lấy yêu cầu công việc làm tiêu chuẩn để lựa chọn ngườilao động
- Đảm bảo sự phù hợp giữa công việc phân công với đặc điểm và khả
năng của lao động, phát huy được tính sáng tạo của họ
Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp bao gồm:
- Phân công lao động theo chức năng: Là hình thức phân công lao
động trong đó tách riêng các công việc khác nhau thành những chức năng laođộng nhất định
- Phân công lao động theo công nghệ: Là hình thức phân công lao
động trong trong đó tách riêng các loại công việc khác nhau theo tính chất,quy trình công nghệ thực hiện chúng
Trang 13- Phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc: Là hình
thức phân công lao động trong trong đó tách riêng các công việc khác nhautuỳ theo tính chất phức tạp của nó
Hệ số phân công lao động :
KPC = Trong đó : tK : Tổng thời gian thực hiện công việc không được quy địnhtrong nhiệm vụ của công nhân trong ca , giờ làm làm việc
TC a : Thời gian ca , giờ làm việc
n : Số công nhân của nhóm được phân tích
3.3.2 Hiệp tác lao động.
C Mác đã định nghĩa hiệp tác lao động như sau: “hình thức làm việc
mà trong đó nhiều người làm việc bên cạnh nhau một cách có kế hoạch vàtrong sự tác động qua lại lẫn nhau trong một quá trình sản xuất nào đó, hoặc
là trong những quá trình sản xuất khác nhau nhưng lại liên hệ với nhau gọi làhiệp tác lao động”
Cũng có thể hiểu hiệp tác lao động là sự chuyển từ lao động cá nhânsang dạng lao động kết hợp của nhiều người trong cùng một quá trình hoặctrong những quá trình lao động khác nhau
Hiệu quả mà hiệp tác lao động mang lại là những thay đổi có tính chấtcách mạng điều kiện vật chất của quá trình lao động, nó mang lại những kếtquả lao động cao hơn hẳn so với lao động riêng lẻ, đặc biệt là với những laođộng phức tạp Nó cũng làm tăng khả năng làm việc cá nhân của từng ngườilao động do sự xuất hiện tự phát tinh thần thi đua giữa những người cùngtham gia quá trình sản xuất
Trong các doanh nghiệp thường sử dụng các hình thức hiệp tác lao động sau:
- Hiệp tác về mặt không gian : Gồm các hình thức hiệp tác giữa các
phân xưởng chuyên môn hoá, hiệp tác giữa các ngành, các bộ phận chuyênmôn trong cùng một doanh nghiệp, giữa các lao động trong một tổ sản xuất
Trang 14- Hiệp tác về mặt thời gian: Là việc tổ chức các ca làm việc trong ngày
và đêm Do yêu cầu của sản xuất và tận dụng năng lực của thiết bị máy mócnên phải bố trí các ca làm việc một cách hợp lý, đảm bảo sức khoẻ cho ngườilao động
Hiệp tác lao động chặt chẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động.kích thích tinh thần thi đua trong sản xuất, tiết kiệm được lao động sống vàlao động vật hoá
Hệ số hiệp tác lao động giữa công nhân chính và công nhân phục vụ :
Kht = 1 - Trong đó : TLP : Tổng thời gian lãng phí trong một thời kỳ nhất định
do phục vụ không tốt các nơi làm việc được phân tích
4 Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
4.1 Nội dung và tác dụng
4.1.1 Nội dung
Đào tạo để phát triển nguồn nhân lực là một "loại hoạt động có tổ chức,được điều khiển trong một thời gian xác định và nhằm đem đến sự thay đổinhân cách" Có ba loại hoạt động khác nhau theo định nghĩa này: đào tạo,giáo dục và phát triển liên quan đến công việc, cá nhân con người và tổ chức
Đào tạo: là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiệnchức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ
Giáo dục: là quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, cóthể cho người đó chuyển tới công việc mới trong một thời gian thích hợp
Phát triển: là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân những côngviệc mới dựa trên định hướng tương lai của tổ chức
Ba bộ phận hợp thành của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực là cầnthiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng con người Vìvậy phát triển và đào tạo nguồn nhân lực bao gồm không chỉ đào tạo, giáo dục
và phát triển đã được thực hiện bên trong một tổ chức mà còn bao gồm một
Trang 15loạt những hoạt động khác của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực đượcthực hiện từ bên ngoài, bao gồm: học việc, học nghề, các hoạt động dạy nghề.
Các doanh nghiệp tiến hành phát triển và đào tạo nguồn nhân lực vì ba
+ Lí do thứ ba: để hoàn thiện khả năng của người lao động (thực hiệnnhững nhiệm vụ hiện tại cũng như trong tương lai một cách có hiệu quả hơn)
4.1.2 Tác dụng
Mặc dù nhiều lợi ích có thể mong chờ từ phát triển và đào tạo nguồnnhân lực, những sự thay đổi đó vẫn có thể tác động đến kinh doanh và sự pháttriển của tổ chức Đó là:
Một là: Giảm bớt sự được giám sát, vì đối với người lao động được đàotạo, họ là người có thể tự giám sát
Hai là: Giảm bớt những tai nạn, vì nhiều tai nạn xảy ra là do những hạnchế của con người hơn là do những hạn chế của trang thiết bị hay những hạnchế do những điều kiện làm việc
Ba là: Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảogiữ vững hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngay cả khi thiếu những ngườichủ chốt do có nguồn đào tạo dự trữ để thay thế
4.2 Nguyên tắc và phương pháp của đào tạo để phát triển nguồn nhân lực
4.2.1 Nguyên tắc
Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực dựa trên bốn nguyên tắc sau:
Trang 16Thứ nhất: Con người hoàn toàn có năng lực để phát triển Mọi ngườitrong tổ chức đều có khả năng phát triển và sẽ cố gắng thường xuyên pháttriển để giữ vững sự tăng trưởng của doanh nghiệp cũng như cá nhân họ.
Thứ hai: Mỗi người đều có giá trị riêng Vì vậy, mỗi người là một conngười cụ thể, khác với những người khác và đều có khả năng đóng góp nhữngsáng kiến
Thứ ba: Lợi ích của người lao động và mục tiêu của tổ chức có thể kếthợp được với nhau Những mục tiêu của tổ chức về phát triển nguồn nhân lựcbao gồm:
+ Động viên, khuyến khích mọi thành viên cố gắng tăng cường sự đónggóp của họ cho tổ chức
+ Thu hút và sử dụng tốt những người có đủ năng lực, trình độ
+ Đạt được giá trị lớn nhất, thông qua những sản phẩm của người laođộng làm ra để bù lại những chi phí đã bỏ ra cho đào tạo và phát triển họ
Mặt khác, những mong đợi của người lao động qua đào tạo và phát triển là:+ Ổn định để phát triển
+ Có những cơ hội tiến bộ, thăng chức
+ Có những vị trí làm việc thuận lợi mà ở đó có thể đóng góp, cốnghiến được nhiều nhất
+ Được cung cấp những thông tin về đào tạo có liên quan đến họ
Doanh nghiệp hoàn toàn có thể đạt được các mục tiêu của mình và lợiích của lao động nếu thực hiện tốt công tác phát triển và dào tạo nguồn nhânlực Sự phát triển của một tổ chức phụ thuộc vào các nguồn nhân lực của tổchức đó
Khi nhu cầu cơ bản của họ được thừa nhận và bảo đảm, các thành viêntrong tổ chức sẽ phấn khởi trong công việc
Thứ tư: phát triển nguồn nhân lực và đào tạo người lao động là một sựđầu tư sẽ sinh lời dáng kể, vì phát triển và đào tạo nguồn nhân lực là nhữngphương tiện để đạt được sự phát triển tổ chức có hiệu quả nhất
Trang 174.2.2 Phương pháp
Đào tạo để phát triển là một nhu cầu không thể thiếu được đối với bất
cứ một loại hình tổ chức nào Một xã hội có thể tồn tại được hay không là dođáp ứng được sự thay đổi, một xã hội tiến hay lùi là do các nhà lãnh đạo thấyđược sự thay đổi để kịp thời đào tạo và phát triển lực lượng lao động củamình Mục tiêu của đào tạo để phát triển là sử dụng tốt đa nguồn nhân lựchiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho ngườilao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp để thựchiện nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn cũng nhưnâng cao khả năng thích ứng công việc trong tương lai Đồng thời việc đàotạo sẽ giúp giảm bớt tai nạn lao động, giảm thiểu công tác kiểm tra, kiểm soát.Ngoài ra nó còn nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức bao gồm:
- Đào tạo kĩ năng cho người lao động
- Đ tạo các phương pháp quản lý
Đối với hai hình thức này có hai phương pháp đào tạo: đào tạo trongcông việc và đào tạo ngoài công việc
* Đào tạo trong công việc có hai cách thức: Kèm cặp và luân phiêncông việc
* Đào tạo ngoài công việc bao gồm các hình thức cụ thể sau:
+ Cử người đi học ngoài ở các trường chính quy
+ Tổ chức các bài giảng
+ Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm
+ Mô hình hoá các hành vi
+ Đào tạo các kĩ năng để xử lý các công văn, giấy tờ
Tiến trình đào tạo được thực hiện thông thường như sau:
+ Xác định nhu cầu đào tạo
+ Xây dựng các kế hoạch đào tạo
+ Đánh giá các kết quả đào tạo
5 Thù lao cho lao động
Trang 185.1 Khuyến khích vật chất
Đây là một động lực quan trọng thúc đẩy nhân viên làm việc tự giác,nhiệt tình, có trách nhiệm, phấn đấu nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất,kinh doanh Kế hoạch kích thích vật chất rất đa dạng, nó phụ thuộc rất nhiềuyếu tố như: tiền thưởng, hình thức trả lương, mức lương khác nhau, các hìnhthức phạt, kỷ luật bằng kinh tế, đánh vào thu nhập của nhân viên
- Đối với hệ thống tiền lương: Toàn bộ tiền lương của các đơn vị công
ty, xí nghiệp trả cho nhân viên do công việc họ làm là động lực chủ yếu giúpnhân viên làm thuê duy trì và nâng cao mức sống của họ và gia đình, do đóđối với mỗi mức độ lương được trả khác nhau sẽ có các mức chất lượng côngviệc khác nhau được thực hiện tương ứng
- Những yêu cầu cơ bản đối với hệ thống tiền lương:
+ Đảm bảo tính đơn giản, dễ hiểu và có thể kiểm tra nhanh chóng.+ Trong tiền lương phải có hai phần cứng và mềm: phần cứng là thunhập ổn định tương đối theo thời gian, phần mềm là phần lương thay đổi theotừng giai đoạn khác nhau của từng thời điểm kinh doanh và dễ dàng điềuchỉnh được
+ Hệ thống tiền lương phải tuân thủ các yêu cầu về mặt pháp lí, thểhiện được tính công bằng giữa các nhân viên trong công ty, có sự so sánh với
hệ thống tiền lương của các công ty khác và mức lương trung bình của toàn
xã hội
+ Trả lương phải căn cứ vào năng lực, mức độ đóng góp của từng nhânviên, giúp đỡ nhân viên trong các trường hợp đặc biệt
- Các hình thức trả lương chủ yếu hiện nay gồm có:
+ Trả lương theo sản phẩm, chất lượng sản phẩm: căn cứ vào số lượng
và đơn giá sản phẩm làm ra của mỗi nhân viên để xác định mức lương hợp lýcho người lao động Đây là hình thức trả lương phổ biến nhất hiện nay, nhất
là đối với các công nhân trong lĩnh vực sản xuất và các nhân viên trong lĩnh
Trang 19vực tiêu thụ Hình thức trả lương này gắn liền mức độ hoàn thành công việccủa mình.
+ Trả lương theo thời gian: áp dụng đối với những loại lao động màkhông thể tính được khối lượng sản phẩm, không định mức lao động chínhxác được
+ Trả lương khoán theo doanh số: Đối với doanh nghiệp thuần tuý thìthường lấy doanh số bán ra trong một thời gian nhất định làm cơ sở để tínhlương Hình thức trả lương này đôi khi không phù hợp do người lao động sẽchỉ quan tâm đến doanh số bán ra mà không để ý đến uy tín, chất lượng củasản phẩm Điều này sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp
+ Lương kết hợp với thưởng: Hình thức này nhằm khắc phục đối vớinhững hạn chế của các hình thức trả lương trên và cũng tạo ra sự kích thíchđối với nhân viên trong công ty Tuy nhiên hình thức trả thưởng phải đi đôivới phạt trong một số trường hợp vi phạm kỷ luật
5.2 Những khuyến khích về mặt tinh thần
Kích thích vật chất đối với người lao động là những điều kiện cần thiếttrong công tác quản trị và phát huy nguồn nhân lực doanh nghiệp Tuy nhiên,nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đây thì chưa đủ, do nhu cầu, mong muốn của conngười là vô tận Ngoài những nhu cầu quan trọng và không thể thiếu được.Khi đời sống vật chất ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về đời sống tinhthần càng đòi hỏi bức thiết hơn Nếu một doanh nghiệp biết quan tâm tới đờisống tinh thần của người lao động sẽ thúc đẩy được năng suất lao động ngàymột tăng lên, lòng trung thành đối với doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên, tạođộng lực cho sự phát triển của người lao động và gắn đời sống của người laođộng với sự sốn còn của doanh nghiệp, buộc họ phải có tinh thần trách nhiệmcao đối với doanh nghiệp
Có rất nhiều biện pháp tổ chức hoạt động tinh thần cho cán bộ côngnhân viên như: Tổ chức tham quan du lịch cho người lao động: tổ chức thămhỏi tặng quà nhân dịp cuối năm, ngày lễ, ngày tết, ngày kỉ niệm của công ty,
Trang 20ngày cưới xin của người lao động, thăm hỏi ủng hộ gia đình có hoàn cảnh đặcbiệt, tổ chức các hoạt động thể thao văn nghệ… Tuy vậy, điều đó phụ thuộcvào đặc điểm lao động của mỗi nước, mỗi khu vực do tính chất đặc thù về vănhoá và truyền thống dân tộc quyết định.
II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
1 Các nhân tố bên trong
Dưới đây ta xem xét một số đặc điểm quan trọng trong nhân tố này
1.1 Mục tiêu của tổ chức
Mỗi một tổ chức có một nhiệm vụ và mục đích riêng của mình Do đócác nhà quản lý đều nắm rõ công việc tổ chức cần thực hiện Mỗi một bộphận, mỗi phòng đều có nhiệm vụ riêng để thực hiện được mục tiêu chungcủa tổ chức Đặc biệt đối với công tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực, tuyểndụng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thì mục tiêu của tổ chức có ảnhhưởng quan trọng Dựa vào nhiệm vụ của tổ chức để có thể sử dụng lao độngmột cách hợp lý và có hiệu quả nhất
1.2 Bầu không khí văn hoá của tổ chức
Một tổ chức bất kỳ cũng có bầu không khí riêng, đó chính là môitrường tâm lí xã hội
Nó được định nghĩa như một hệ thống giá trị các niềm tin, các thóiquen được chia sẻ trong phạm vi một tổ chức, tác động vào cấu trúc chính quitạo ra chuẩn mực hành vi Nó điều khiển các thành viên của mình nên xử sựnhư thế nào
Trong mọi tổ chức có một hệ thống khuôn mẫu riêng, các giá trị, cácbiểu tượng, nghi thức, lịch sử
Trong một tổ chức có thể xảy ra: một cực là bầu không khí khép kín,các quyết định đều được cấp quản trị cấp cao làm ra, cấp quản trị và cấp dướithiếu tin tưởng lẫn nhau, bí mật bao trùm công nhân viên không được khuyếnkhích đề ra các sáng kiến và giải quyết các vấn đề
Trang 21Thông thường thì bầu không khí văn hoá chung của một tổ chức trongthực tế rơi vào hai cực nói trên Chính vì vậy bầu không khí văn hoá của tổchức ảnh hưởng đến sự hoàn thành công tác trong khắp tổ chức và hậu quả làảnh hưởng đến sự thoả mãn của công nhân viên Điều này khẳng định rõ bầukhông khí văn hoá có ảnh hưởng đến công tác quản trị nhân lực.
1.3 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp các yếu tố như trình độ chuyênmôn, kỹ năng kỹ xảo, khả năng đáp ứng công việc, khả năng thích nghi vàocông việc Một tổ chức muốn hoạt động tốt, có hiệu quả cao thì bên cạnh cácmặt như: tài chính, marketing, máy móc thiết bị, cơ hội tốt thì chắc chắn chấtlượng NNL là nhân tố không kém phần quan trọng Nếu NVL có chất lượngtotó thì việc quản lý và sử dụng con người trong tổ chức trở nên dễ dàng hơn,thuận tiện hơn Và ngược lại, với một đội ngũ chất lượng kém hiệu quả làmviệc của tổ chức giảm đi rất nhiều Và lúc đó các nhà quản lý cần có mộtchính sách để nhằm mục đích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứngyêu cầu công việc
1.5 Nguôn tài chính của công ty
Công ty sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư trang thiết bị, đổi mớidây chuyền sản xuất, mua dự trữ nguyên vật liệu, đầu tư cho công tác đào tạonguồn nhân lực, chi phí cho công tác tuyển dụng… Như vậy nguồn tài chính
Trang 22của công ty có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản trị nhân lực của công ty,công ty có nguồn tài chính vững mạnh sẽ giúp cho công ty quản trị nhân lựcđược tiến hành dễ dàng hơn.
1.6 Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty bao gồm: máy móc thiết bị, dâychuyền sản xuất, thiết bị văn phòng, phương tiện vận chuyển, bến bãi khohàng… Máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất có công nghệ hiện đại phải đòihỏi người công nhân có kỹ năng sử dụng thành thạo, có sự am hiểu về máymóc thiết bị, dây chuyền sản xuất Do đó, đòi hỏi nhà quản trị nhân lực phảibiết sử dụng và bố trí đúng người vào những công việc cụ thể sao cho ngườilao động đã được bố trí đáp ứng được yêu cầu công việc đề ra Thiết bị vănphòng tốt trực tiếp giúp cho các nhà quản trị nhân lực thực hiện công việc củamình nhanh chóng, dễ dàng, chính xác hơn Do vậy cơ sở vật chất kỹ thuậtcủa công ty đã có ảnh hưởng đến công tác quản trị nhân lực vì nó đòi hỏi cácnhà quản trị nhân lực cần có chính sách bố trí, phân công nguồn nhân lực củamình sao cho phù hợp với cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty
1.7 Đặc điểm về sản phẩm
Nếu các sản phẩm của công ty đa dạng và phong phú thì công tác quảntrị nhân lực trong công ty gặp nhiều khó khăn trong khâu quản lý và sử dụnglao động Đòi hỏi người QTNL phải sắp xếp một cách khoa học trong từngcông đoạn của một sản phẩm và kết hợp trong sản xuất các sản phẩm khác đểđạt hiệu quả trong công việc Có những sản phẩm mang tính chất thời vụ thìcần phải có kế hoạch sắp xếp người lao động khi công việc cần, còn khi hếtcông việc thì phải tạo ra công việc khác cho người lao động hoặc phân tánngười lao động về các đơn vị sản xuất khác Như vậy đặc điểm về sản phẩmcũng có ảnh hưởng đến công tác QTNL trong công ty Nó đặt ra yêu cầu làcác nhà QTNL phải có kế hoạch về nguồn nhân lực để bố trí kịp thời ngay khicông việc sản xuất sản phẩm có nhu cầu cần người
2 Các nhân tố bên ngoài
Trang 232.1 Bối cảnh kinh tế
Chính sách kinh tế của Nhà nước cũng như chiến lược phát triển conngười là hai mục tiêu cùng tồn tại song song trong chiến lược phát triển củamột quốc gia Vì thế, chủ trương của bất kỳ một tổ chức nào cũng hướng tớicông tác QTNL có hiệu quả nhất để đẩy mạnh chiến lược phát triển con ngườitrước tình hình mới
2.2 Dân số và lao động
Chính sách dân số cũng như những ảnh hưởng của yếu tố lao động làkhông thể thiếu trong công tác QTNL Chính những vấn đề này tác động trựctiếp tới hoạt động QTNL trên nhiều phương diện như nguồn nhân lực, côngtác tuyển dụng, phân bố lực lượng lao động…
2.3 Pháp luật
Tất cả các hoạt động của tổ chức đều nằm trong khuôn khổ pháp lý Vìvậy, QTNl chịu tác động của yếu tố luật pháp, tránh không vi phạm qui địnhNhà nước Đồng thời không tham gia vào những hoạt động trái pháp luật bảođảm sự phát triển lành mạnh của tổ chức
2.4 Khoa học kỹ thuật
Một đất nước phát triển sẽ không loại trừ tác động của yếu tố của khoahọc kỹ thuật Chính nó là nguyên nhân cho sự đổi mới trong cách nhìn nhận,đánh giá và khuyến khích nguồn nhân lực hoạt động có hiệu quả Đồng thời,tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm những lực lượng lao động đảm bảoyêu cầu, tăng cường công tác QTNL một cách hữu hiệu nhất
2.5 Đa dạng hoá lực lượng lao động
Một trong những thách thức quan trọng và phổ biến nhất của các tổchức hiện đang đối mặt là phải lắp ráp những con người khác nhau vào cùngmột tổ chức Trong một tổ chức có thể có cơ cấu tuổi khác nhau, cơ cấu trình
độ khác nhau, cơ cấu văn hóa khác nhau Vì thế để thực hiện hoạt động quảntrị nhân lực một cách có nhiệu quả cần có sự hiểu biết lực lượng lao động mộtcách chính xác
Trang 24Cùng với quá trình hội nhập kinh tế của khu vực và thế giới, việc sửdụng lao động ngày càng mang tính đa dạng hoá về nguồn gốc lao động Tính
đa dạng hoá lao động tác động lớn đến quá trình QTNL ở cả hai mặt: mộtmặt, cho phép doanh nghiệp sử dụng đội ngũ lao động được đào tạo từ nhiềunguồn khác nhau Điều này dẫn đến sự cạnh tranh của nguồn lao động, nângcao khả năng lao động của người lao động Mặt khác, việc sử dụng đa dạngnguồn nhân lực cũng tạo ra sức ép buộc bộ máy quản trị phải tính toán sửdụng hiệu quả lực lượng lao động mới có thể tạo ra và duy trì khả năng cạnhtranh với các doanh nghiệp khác
2.6 Xu hướng phát triển văn hoá- xã hội
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng vượt rakhỏi giới hạn của nhu cầu vật chất và đòi hỏi nâng cao nhu cầu về đời sốngtinh thần Các đòi hỏi của người lao động không phải chỉ là tiền lương mà làcác nhu cầu về văn hoá - xã hội ngày càng phong phú, là đòi hỏi về sự pháttriển nhân cách,… Nền kinh tế mở từng bước hội nhập với nền kinh tế khuvực và thế giới càng đẩy nhanh quá trình này
Những yêu cầu về đảm bảo quyền lợi vật chất và tinh thần như tiềnlương, thời gian lao động, điều kiện làm việc, phát triển nhân cách, phát triểnđời sống văn hoá,… của người lao động được bảo vệ nhờ luật pháp và tổ chứccông đoàn
QTNL trong doanh nghiệp phải vừa khai thác tối đa tiềm năng lao độngnhằm thực hiện được mục tiêu của doanh nghiệp cũng như lợi ích của ngườilao động, lại vừa phải phù hợp với các yêu cầu của luật pháp và các đòi hỏicủa tổ chức công đoàn
III SỰ CẦN THIẾT, ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
1 Sự cần thiết của công tác tổ chức lao động
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, lao động là nguồn chủ yếu để nâng caotích luỹ, phát triển kinh tế và củng cố chế độ Quá trình sản xuất đồng thời làquá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quá trình sản xuất chỉ
Trang 25xảy ra khi có sự kết hợp giữa ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao động
và sức lao động của con người, thiếu một trong ba yếu tố đó quá trình sảnxuất không thể tiến hành được
Tư liệu lao động và đối tượng lao động chỉ tác động được với nhau vàbiến đổi thành sản phẩm khi có sức lao động của con người tác động vào Vìvậy, lao động của con người luôn là yếu tố chính của quá trình sản xuất,chúng ta rút ra được tầm quan trọng của lao động trong việc phát triển sảnxuất như sau:
- Phát triển sản xuất nghĩa là phát triển ba yếu tố của quá trình sản xuất
cả về quy mô, chất lượng và trình độ sản xuất, do đó tất yếu phải phát triểnlao động Phát triển lao động không có nghĩa đơn thuần là tăng số lượng laođộng mà phải phát triển hợp lý về cơ cấu ngành nghề, về số lượng và chấtlượng lao động cho phù hợp với sự phát triển của sản xuất, tức là phát triểnlao động phải tiến hành đồng thời với cách mạng kỹ thuật
- Cách mạng khoa học kỹ thuật là những thành tựu của khoa học kỹ
thuật hiện đại, tiên tiến, xác lập được những hình thức lao động hợp lý hơntrên quan điểm giảm nhẹ sức lao động, cải thiện đối với sức khoẻ con người,điều kiện vệ sinh, môi trường, bảo hộ, tâm sinh lý và thẩm mỹ trong lao động
- Lao động là nguồn chủ yếu để nâng cao tích luỹ, phát triển kinh tế, cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội loài người Vì vậy tổ chứclao động hợp lý hay không sẽ ảnh hưởng đến các vấn đề như quyết định trựctiếp đến năng suất lao động cao hay thấp; ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
và giá thành sản phẩm; Đảm bảo thực hiện tốt hay xấu các chỉ tiêu nhiệm vụ
kế hoạch và các công tác khác; Quan hệ sản xuất trong xí nghiệp có đượchoàn thiện hay không, có ảnh hưởng đến việc thúc đẩy sản xuất phát triển haykhông vv…
2 Đặc điểm và yêu cầu của việc tổ chức lao động
2.1 Các đặc điểm cơ bản
Trang 26Để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, trong quá trình tổ chức laođộng, ngành bưu chính viễn thông có một số đặc điểm sau:
- Là tổ chức kinh tế hoạt động đa ngành đa lĩnh vực nhưng lại có mộtchức năng chung là phục vụ truyền đưa tin tức cho các ngành kinh tế quốcdân và nhân dân
- Hoạt động bưu chính viễn thông vừa thực hiện nhiệm vụ sản xuấtkinh doanh, vừa là công cụ chuyên chính phục vụ mọi nhu cầu thông tin liênlạc của Đảng, Nhà nước, phục vụ an ninh quốc phòng
- Cơ sở thông tin trải rộng khắp nơi, liên kết thành một dây chuyềnthống nhất trong phạm vi cả nước, nhiều chức danh lao động phải thườngxuyên lưu động trên đường Do khối lượng công việc không đồng đều giữacác giờ trong ngày, giữa các ngày trong tuần , giữa các tuần trong tháng, giữacác tháng trong năm nên tổ chức lao động đòi hỏi phải tổ chức chặt chẽ theonguyên tắc giờ nhiều việc bố trí nhiều người, giờ ít việc ít người, thực hiệnđiều độ lao động thay thế nghỉ bù theo ca kíp
- Thời gian làm việc của ngành bưu chính viễn thông liên tục suốtngày đêm 24/24 giờ trong ngày và 365 ngày trong năm không kể mưa, nắng,gió, bão, tết ,lễ
2.2 Yêu cầu của việc tổ chức lao động
Do tính chất sản phẩm và yêu cầu phục vụ, tổ chức lao động ngành bưuchính viễn thông phải đảm bảo yêu cầu sau:
- Lãnh đạo,chỉ đạo sản xuất phải tập trung, mọi lao động phải chấp
hành kỷ luật nghiêm, tự giác trong làm việc
- Tổ chức lao động phải khoa học, hợp lý và phải có sự hợp đồng chặt
chẽ giữa các đơn vị, bộ phận Chấp hành nghiêm chỉnh các quy trình, thể lệkhai thác thiết bị và nghiệp vụ bưu chính viễn thông
Trang 27- Trong quản lý phải thực hiện nghiêm chỉnh Đảng lãnh đạo, cá nhân
thủ trưởng phụ trách, phát huy tốt chức năng các bộ phận tham mưu và tinhthần làm chủ tập thể của cán bộ công nhân viên trong đơn vị
- Thường xuyên phát động các phong trào thi đua, phát minh sáng kiến
cải tiến kỹ thuật, áp dụng rộng rãi các kinh nghiệm tiên tiến, học tập và noigương người tốt, việc tốt trong ngành và các đơn vị
Trang 28CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
Ở CÔNG TY VẬN TẢI BIỂN BẮC
I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY VẬN TẢI BIỂN BẮC ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty vận tải Biển Bắc
Công ty vận tải Biển Bắc là một doanh nghiệp Nhà nước ngành vận tảihạch toán kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ, được mở tài khoản tạiNgân hàng Công thương Đống Đa Tiền thân là Tổng Công ty vận tải sông I,khi tổ chức lại ngành đường song I, khi tổ chức lại ngành đường sông vàonăm 1993, Bộ Giao thông vận tải đã chuyển đổi tổ chức Tổng Công ty vận tảiđường sông I thành Công ty vận tải Biển Bắc là quyết định Nhà nước theoquyết định số 1108 QĐ/TCCB-LĐ ngày 3/6/93- Bộ GTVT là doanh nghiệpNhà nước theo quyết định 338/TTg và được giới hạn doanh nghiệp theo nghịđịnh 50/Công ty cổ phần TM An Phúc ngày 28/8/1996 của Thủ tướng Chínhphủ, mã số ngành kinh tế kỹ thuật 25
- Trụ sở chính đặt tại 278 Tôn Đức Thắng - Đống Đa - Hà Nội
- Tài khoản tiền Việt Nam: 710A - 00155 tại Ngân hàng Công thươngĐống Đa - Hà Nội
- Tài khoản ngoại tệ: 362.111.370.506 tại Ngân hàng Ngoại thươngViệt Nam
Khi mới thành lập Công ty vận tải Biển Bắc trực thuộc Cục đườngSông Việt Nam, sau một thời gian hoạt động công ty gia nhập Tổng công tyHàng hải Việt Nam theo quyết định 598/TTg ngày 30/7/1997 của Thủ tướngChính phủ
Tên giao dịch quốc tế của Công ty là Norwat
Từ khi thành lập cho đến nay công ty không ngừng vươn lên khẳngđịnh mình trong cơ chế thị trường, nỗ lực phấn đấu vượt mọi khó khăn hoàn
Trang 29thành tốt nhiệm vụ được giao, công ty ngày càng phát triển mở rộng sản xuất,
đa phương thức, đa ngành nghề kinh doanh
Hiện nay công ty có 3 chi nhánh tại: Hải phòng, Quảng Ninh và thànhphố Hồ Chí Minh, 3 trung tâm và xí nghiệp cơ Bắc
Là doanh nghiệp Nhà nước nhưng vốn ngân sách chiếm tỷ trọng rất nhỏtrong tổng vốn kinh doanh của công ty: 837 triệu đồng trong tổng vốn khithành lập là 3804 triệu đồng
Trong thời gian hoạt động đội ngũ cán bộ được đào tạo chính qui, cơbản Nhiệt tình tận tuỵ với công việc đã nhanh chóng trưởng thành tích luỹđược kinh nghiệm, tiếp thu và nắm bắt được những kiến thức, công nghệ vàphương pháp quản lý mới đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của thị trường.Công ty đã đạt được nhiều thành tựu, xây dựng được uy tín và độ tin cậy đốivới khách hàng trong và ngoài nước, dù với khách hàng khó tính nhất, gópphần mở rộng thương hiệu của công ty trên thị trường
Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng phương tiện của Công ty đápứng đầy đủ các yêu cầu của bộ luật an toàn quốc tế trong ngành Hàng Hải, đãđược Cục Đăng kiểm Việt Nam cấp giấy chứng nhận phù hợp (D.O.C) vàgiấy chứng nhận quản lý an toàn (S.M.C) cho tất cả các tàu hoạt động trêntuyến quốc tế của Công ty khai thác
2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Trang 30- Tổ chức dịch vụ giao nhận vận tải container từ kho đến kho và vận tải
đa phương thức qua các phương thức đường sắt, đường bộ
- Đại lý cho các hãng tàu container nước ngoài
- Kinh doanh kho bãi và các dịch vụ quanh kho bãi
- Dịch vụ vận tải quốc tế
3 Mục tiêu, phương châm kinh doanh của công ty
- Đảm bảo an toàn để sản xuất vì việc làm và đời sống của công nhânlao động, vì sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, xây dựng công đoàn Công ty ổnđịnh và phát triển
- Giáo dục đào tạo "con người hàng hải có kiến thức, năng đọng, vănminh, sống nghĩa tình" góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt NamXHCN
- Công ty vận tải Biển Bắc luôn thực hiện phương châm "lấy thị trườnglàm trung tâm và hướng theo khách hàng-khách hàng là chìa khoá để tạo khảnăng sinh lợi nhuận" Quan điểm trên đồng nghĩa với việc khẳng định "chìakhoá để đạt được mục tiêu của công ty là xác định được những nhu cầu, mongmuốn của thị trường mục tiêu và đảm bảo mức hoạt động thoả mãn bằngnhững chất lượng dịch vụ và hiệu quả khác biệt trên thị trường"
Để có thể thực hiện phương châm trên công ty quan tâm chặt chẽ đếnchất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng và vượt cao hơn yêu cầu và mong đợi củakhách hàng bằng cách:
- Xây dựng hệ thống qui trình điều hành sản xuất kinh doanh từ khâuthực hiện cho đến hoàn thiện chứng từ, đảm bảo giảm thiểu những trục trặcbất cập phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện, không làm ảnh hưởng trựctiếp đến công việc kinh doanh của khách hàng…
- Xây dựng chính sách hợp lý đảm bảo hiệu quả cũng như lợi ích kinhdoanh của công ty và các bạn hàng
Trang 31Với quan điểm này, công ty đưa ra một mô hình kinh doanh mới vớimột mức độ quan trọng từ trên xuống và định hướng cho toàn bộ cán bộ côngnhân viên hướng theo cùng thực hiện.
Với mô hình kinh doanh cua rmình, một lần nữa Công ty vận tải BiểnBắc khẳng định lại mục tiêu kinh doanh của mình "thoả mãn tối đa nhu cầucủa khách hàng, thực sự mong muốn khách hàng sử dụng dịch vụ của công ty
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế trong nước và khu vực,công ty đã tìm cách huy động các nguồn lực bằng nguồn vốn tự có và nguồnhuy động từ chính người lao động Không chỉ ngồi chờ vào nguồn vốn ngânsách cấp và các chính sách chỉ đạo cải cách từ trên xuống, công ty đã từngbước cải cách bộ máy quản lý của Nhà nước nhưng lại thích nghi với nền kinh
tế thị trường một cách nhanh chóng và hoàn hảo nhất Để làm rõ điều đóchúng ta có thể xem biểu sau:
Biểu số 1: Các chỉ tiêu về sản lượngSTT Các chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Ước 6 tháng 2006
1 Vận tải đường biểu
1
1.309.702.495
Trang 32Tấn 45.045 1.856
Nguồn: Phòng Tài chính - Kế toán
Biểu số 2: Các chỉ tiêu về tài chínhST
T Các chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005
Ước 6tháng2006
Tốc độ tăngtrưởng bìnhquân
Trang 33Biểu số 3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 2 năm (2004-2005)
Đơn vị: triệu đồngSTT Các chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Ước 6 tháng 2006Tổng DT toàn công ty
6 Trung tâm Đông Phong
Khi tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh của 1 năm và từ đó đưa ra
kế hoạch cho năm tới nên cong tác kế hoạch hóa nguồn nhân lực sát với yêucầu thực tế trong năm tới
II THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY VẬN TẢI BIỂN BẮC TRONG THỜI GIAN QUA
1 Tuyển dụng nhân viên
1.1 Với lao động thừa hành
Trang 34Xác định lý do tuyển dụng: tuyển dụng nhân viên giữ vai trò đặc biệtquan trọng đối với một doanh nghiệp vì nó quyết định số lượng của cán bộcông nhân viên trong công ty có hợp lý không.
Nhận thức được vấn đề đó nên Công ty vận tải Biển Bắc tiến hànhtuyển dụng nhân viên xuất hát từ nhu cầu lao động Chẳng hạn như mấy nămgần đây, việc kinh doanh được mở rộng, có thêm một số tuyến vận tải mớiđưa vào hoạt động vì thế sẽ lao động trực tiếp tăng lên để đáp ứng nhu cầusản xuất kinh doanh của mình
- Nguồn tuyển dụng và phương pháp thông báo nhu cầu tuyển dụngCông ty vận tải Biển Bắc tiến hành tuyển chọn nhân viên của mình chủ yếu từnguồn bên ngoài đó là công ty tuyển ngay từ bạn bè, con em của nhân viêntrong công ty (87% lao động tuyển dụng mới từ nguồn này) Bởi là ngành vậntải thường thì chỉ có những gia đình truyền thống gắn liền với hàng hải mới
có con cháu theo nghề của cha anh Những nhân viên đang làm việc trongcông ty biết rõ bạn mình, con em mình đang cần một công việc và họ giớithiệu cho công ty những người mà họ thấy có khả năng, có chuyên môn vàđược họ tin yêu
Ưu điểm: Cách tuyển dụng như vậy sẽ giảm chi phí và không phải đăngquảng cáo để thông báo mà công ty chỉ cần thông báo nội bộ để toàn thể cán
bộ công nhân viên biết được về nhu cầu tuyển dụng nhân viên Và chỉ sau mộtthời gian ngắn đã có ứng cử viên nộp đơn cho công ty thông qua chính nhânviên giới thiệu Hơn nữ sẽ tạo cho nhân viên cảm thấy các quyền lợi mà công
ty cho họ lớn hơn đó là con em của họ có cơ hội được nhận vào làm việc tạicông ty
Tuy nhiên, cách tuyển dụng này cũng có một số nhược điểm như: tạonên sự cứng nhắc trong nguồn tuyển dụng, và khâu tuyển dụng dễ dẫn tớithiên vị, chủ quan là điều khó tránh khỏi Mặt khác do chỉ tuyển con em,người thân của nhân viên trong công ty, nên nhiều khi ứng cử viên không đápứng được các yêu cầu nhưng vẫn được tuyển vào làm, còn những người
Trang 35không quen biết mà có năng lực thực sự có thể bị loại hoặc không có cơ hội
để tham gia thi tuyển
1.2 Tuyển dụng lao động quản trị
Công ty không tuyển dụng các nhà quản trị từ nguồn bên ngoài Đây làmột điểm chung về tuyển dụng nhà quản trị hiện còn tồn tại khá phổ biếntrong các doanh nghiệp Nhà nước mà Công ty vận tải Biển Bắc là một ví dụđiển hình Các nhà quản trị được tuyển dụng từ nguồn bên trong của công tytức là thông qua thuyên chuyển công tác, đề bạt thăng chức
Việc tuyển dụng như thế này có ưu điểm là biết được năng lực củanhân viên, sở trường, sở đoạn của nhân viên đó và giảm được chi phí tuyểndụng Tuy nhiên, trong trường hợp có nhiều cán bộ cùng trong doanh nghiệp
dự tuyển vào một chức vụ nào đó hiện tại công ty đang thiếu sẽ gây ra sựganh đua, đấu đá mất đoàn kết nội bộ và kết quả là hiệu quả kinh doanh bịgiảm sút, và hơn nữa do nguồn tuyển dụng quá hạn hẹp cho nên đôi khi khônglựa chọn được những nhà quản trị tài giỏi
2 Đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo là một nhu cầu không thể thiếu trong chiến lược phát triển sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nâng cao chất lượng về trình độ nghiệp vụ
và trình độ chính trị cho đội ngũ cán bộ - công nhân viên trong công ty đượccoi là một hình thức để nâng cao hiệu quả kinh tế là một chiến lược phát triểncông ty
Thực tế như đa số các doanh nghiệp Nhà nước khác, Công ty vận tảiBiển Bắc phải gánh chịu hậu quả thời bao cấp để lại là đội ngũ cán bộ côngnhân viên thì đông nhưng trình độ chuyên môn và trình độ công tác còn hạnchế Hơn nữa trình độ của cán bộ công nhân viên ngày càng bị mai một dần
do không bố trí đúng người đúng việc, công tác đào tạo không được quan tâmchú trọng Việc đào tạo có chăng nữa cũng chỉ là hình thức thi tay nghề, cho
đi đào tạo lại chủ yếu là lấy bằng cấp để nâng cao mức lương mà thôi
Trang 36Nhận thức được vấn đề này, ban giám đốc công ty đã ra nhiều chutrương biện pháp để nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên Công tácđào tạo phát triển nguồn nhân lực của Công ty vận tải Biển Bắc được thựchiện như sau:
Lập kế hoạch đào tạo: Sau khi đánh giá lại đội ngũ nhân lực, ban lãnhđạo công ty kết hợp cùng các phòng chức năng lập kế hoạch đào tạo với nộidung:
+ Số cán bộ được đào tạo
+ Phương pháp đào tạo
3 Thù lao cho lao động
Lợi ích tạo ra động lực cho người lao động do đó việc sử dụng lao độngmột cách có hiệu quả chính là việc tạo ra klợi ích để thúc đẩy người lao độnglàm việc với hiệu quả cao nhất có thể Chính tính chất nội dung lao động, điềukiện lao động, các chế độ chính sách đối với nười lao động là yếu tố mang lạilợi ích và tạo động lực cho người lao động Để kích thích người lao động,người ta sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng nhìn chung là nhằm vàolợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của người lao động Sau đây chúng tanghiên cứu về thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động trongcông ty vận tải Biển Bắc, công ty đã kết hợp giữa khuyến khích bằng vật chất
và khuyến khích tinh thần
3.1 Khuyến khích lợi ích vật chất
Trong mấy năm trở lại đây giống như các công ty khác trong ngành Tổchức tiền lương, tiền thưởng ở Công ty vận tải Biển Bắc trở thành yếu tố quantrọng, là nhân tố chủ yếu kích thích người lao động Với cơ chế tự chủ trongsản xuất kinh doanh nhưng công tác tiền lương, tiền thưởng cần phải phù hợpvới chính sách của Đảng và Nhà nước, nó cần phải phù hợp với điều kiện sảnxuất kinh doanh của công ty Hiện nay công ty đã có những thay đổi lớn về tổchức tiền lương, tiền thưởng, đó là việc áp dụng linh hoạt chế độ lương mới
Trang 37vào công ty Các điều kiện, căn cứ xét thưởng được xây dựng lại chính xáchơn.
Hàng năm công ty tiến hành các ký kết thoả ước lao động tập thể kèmtheo đó giám đốc ban hành quy chế phân phối thu nhập có văn bản hướng dẫntính lương cho cán bộ, công nhân viên trong công ty, các văn bản này đềuđược thông qua tại đại hội công nhân viên tháng, quý, năm với sự tham giađầy đủ của cán bộ công nhân viên trong công ty
TLtt: Tiền lương thực tế nhận được
TLmin = Mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định (290.000đ)
Kđc: Hệ số điều chỉnh tăng thêm
Kđc = K1 + K2
K1: Hệ số điều chỉnh tăng thêm
K2: Hệ số điều chỉnh tăng thêm theo ngành
Theo quy định của Nhà nước công ty được hưởng hệ số điều chỉnh nàynhư sau:
Trang 38Từ thực tế công ty đã xác định cho mình các hệ số điều chỉnh như sau:
K1 = 0.0312
K2 = 0.0464
Như vậy có nghĩa là mức lương tối thiểu có thể nhận được là:
290.000 x (1 + 0.0.12 + 0.0464) = 312.504 đ/tháng
Lương thực tế mà mỗi người lao động được nhận còn phụ thuộc vào hệ
số lương, phụ cấp độc hại, phụ cấp trách nhiệm,… của mỗi người
b Đối với thuỷ thủ, thuyền viên:
Đối với lao động trực tiếp, theo quy định của Nhà nước công ty có chế
độ phân cấp độc hại cho từng loại công việc như sau:
1 Sĩ quan máy, thợ máy, thợ điện tàu viễn dương, tàu ven biển vận tảihàng hoá, xăng, dầu… công việc rất nặng nhọc, nguy hiểm, nơi làm việc chậthẹp, tư thế là gò bó, chịu tác động nóng, rung và ồn
2 Lái xe tải chuyến, có trọng tải từ 60 tấn trở nên công việc nặngnhọc, nguy hiểm chịu tác động tiếng ồn, rung và bụi
3 Sỹ quan boong, sĩ quan điện, vô tuyến điện, thuỷ thủ, cấp dưỡng,phục vụ, bác sĩ, quản trị trưởng trên tàu viễn dương, tàu ven biển vận tải hànghoá, xăng, dầu… công việc nặng nhocm, nguy hiểm chịu tác động củasóng, gió, ồn và rung
4 Máy trưởng, thợ máy phà tự hành, ca nô lái dắt phà và tàu sông cócông suất từ 90CV trở lên nơi làm việc chật hẹp, chịu tác động của ồn,rung, nóng thường xuyên tiếp xúc với xăng, dầu, tư thế lao động gò bó
Đối với những đối tượng lao động trên công ty áp dụng hình thức trảlương khác nhau:
Trang 39Tiền lương, tiền thưởng trong lương được chia làm 7 nhóm có số khung
hệ số khác nhau, từng nhóm có khung bậc của hệ số
tháng, hàng tháng trưởng phòng trưởng chi nhánh, trưởng đại diện chịu trách nhiệm chấm công và bình bầu ABC gửi về công ty tính lương, thưởng (Hệ số thưởng
A =100%, B = 70%, C = 50% hoặc không thưởng Hệ số khu vực Sài Gòn, Hà Nội: 1.0 - Hải Phòng, Q.Ninh: 0.9
mà đơn vị đó đạt được Hình thức này có ưu điểm là kích thích được tinh thầnthoải mái, tinh thần phấn đấu làm việc Tuy nhiên với mỗi đơn vị thì việc ápdụng các hình thức chính thức khen thưởng chưa được thực hiện công bằng,còn mang tính chất 'bình quân", chưa khuyến khích được tin thần cho từng cánhân
4 Đánh giá thành tích của người lao động
Dựa vào tiêu chuẩn danh hiệu thi đua từng cấp của công ty hàng năm
để đánh giá thành tích công tác cho từng lao động và cả tập thể lao động Cácthành viên của công ty đi sâu vào phân tích, đánh giá các kết quả của việcthực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, có cả xem xét cácyếu tố thuận lợi, khó khăn tác động tới việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ