4.1 Vai trò, chức năng Lớp liên kết dữ liệu có các chức năng chính sau: Cung cấp dịch vụ cho lớp Mạng Khắc phục lỗi đường truyền Điều khiển luồng dữ liệu để tránh trường hợp tràn
Trang 1Chương 4 – lớp Liên Kết Dữ Liệu
Khoa Khoa Học Máy Tính Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thông Tin
Hữu Nghị Việt Hàn
Trang 2Chương 4 Lớp liên kết dữ liệu
Vấn đề nghiên cứu:
nguyên tắc tổ chức lớp liên kết dữ liệu với các
thuật toán để đạt được độ tin cậy và hiệu quả truyền tin giữa 2 máy trạm liền kề
giao thức, phương pháp dò tìm và xử lý lỗi của lớp này.
Trang 34.1 Vai trò, chức năng
Lớp liên kết dữ liệu có các chức năng chính sau:
Cung cấp dịch vụ cho lớp Mạng
Khắc phục lỗi đường truyền
Điều khiển luồng dữ liệu để tránh trường hợp tràn dữ liệu
Để thực hiện được các nhiệm vụ này, lớp liên kết dữ liệu
nhận các gói dữ liệu từ Lớp Mạng và định dạng thành các khung dữ liệu để truyền đi Mỗi khung gồm phần mào đầu, tải tin và phần đuôi khung
Trang 44.1.1 Cung cấp dịch vụ cho lớp mạng
Lớp liên kết dữ liệu có khả năng cung cấp nhiều
dịch vụ khác nhau cho lớp mạng Các dịch vụ này khác nhau trong các hệ thống khác nhau Có 3 dịch
vụ cơ bản như sau:
Dịch vụ truyền tin không kết nối - không phúc đáp.
Dịch vụ truyền tin không kết nối - có phúc đáp.
Dịch vụ truyền tin có kết nối – có phúc đáp
Trang 54.1.1 Cung cấp dịch vụ cho lớp mạng
Dịch vụ truyền tin không kết nối - không phúc đáp
gửi các khung dữ liệu độc lập không cần xác nhận
không cần thiết lập kênh logic trước khi truyền dữ liệu và giải phóng kênh truyền sau khi kết thúc.
Nếu khung dữ liệu nào bị mất do tạp âm đường
truyền thì lớp liên kết dữ liệu cũng không cần dò tìm
và khôi phục lại
Loại dịch vụ này sử dụng ở môi trường truyền
dẫn có tỷ lệ lỗi thấp hoặc đối với các dữ liệu thời gian thực như truyền thanh, yêu cầu đáp ứng về thời gian nhiều hơn là chất lượng dữ liệu.
Trang 64.1.1 Cung cấp dịch vụ cho lớp mạng
Dịch vụ truyền tin không kết nối - có phúc đáp
có độ tin cậy cao hơn
không sử dụng kênh logic để truyền dữ liệu nhưng mỗi khung dữ liệu truyền đi sẽ được xác nhận đầu phát có thể biết được khung dữ liệu đã đến đúng
đích nhận hay chưa Nếu khung dữ liệu chưa đến trong một khoảng thời gian nhất định thì nó sẽ được gửi lại
Dịch vụ này thường được dùng trong các kênh dữ
liệu có độ tin cậy thấp như các hệ thống không dây
Trang 74.1.1 Cung cấp dịch vụ cho lớp mạng
dịch vụ truyền tin có kết nối- có phúc đáp
Phức tạp nhất
Thiết lập kết nối trước khi truyền dữ liệu
Mỗi khung dữ liệu trên kênh truyền được gán số thứ
tự và lớp liên kết dữ liệu đảm bảo rằng khung dữ liệu này đã được nhận ở đầu thu.
Ngoài ra, lớp liên kết dữ liệu còn đảm bảo rằng
khung dữ liệu này chỉ nhận một lần và theo đúng thứ tự.
Trang 84.1.2 Tạo khung dữ liệu
Khung dữ liệu
Lớp liên kết dữ liệu làm việc dựa vào khả năng
chuyển tải của lớp Vật lý
Các bít thông tin truyền đi hoặc nhận về đều được nhóm lại thành những đơn vị logic gọi là khung (frame)
Trong khung dữ liệu, ngoài các bit thông tin, còn chứa các trường địa chỉ, trường điều khiển, trường nhận biết, trường kiểm soát lỗi
Trang 94.1.2 Tạo khung dữ liệu
Các phương pháp tạo khung dữ liệu
Quá trình truyền thông tại lớp LKDL
tách luồng bit thành các khung dữ liệu
tính toán giá trị kiểm tra tổng (checksum) của mỗi khung
Khi khung dữ liệu đến đích nhận, giá trị
checksum này sẽ được tính toán lại và so sánh với giá trị checksum nhận được của đầu phát để xác định khung dữ liệu này có bị lỗi trong quá trình truyền hay không
Trang 104.1.2 Tạo khung dữ liệu
Việc tách luồng bit thành các khung dữ liệu
được thực hiện bởi một trong số các phương pháp sau:
Đếm số ký tự.
Dùng cờ hiệu (flags) kết hợp với byte nhồi.
Dùng cờ hiệu (flags) kết hợp với bit nhồi.
Dựa vào kỹ thuật mã hóa của lớp vật lý.
Trang 114.1.2 Tạo khung dữ liệu
Phương pháp đếm số ký tự sử dụng một trường trong phần
mào đầu (header) để xác định số ký tự trong một khung Khi lớp liên kết dữ liệu ở đầu nhận xác định được thông tin này thì nó sẽ biết được có bao nhiêu ký tự trong một khung và vịtrí cuối cùng của khung
Nhược điểm: giá trị của trường đếm số ký tự có thể sai lệch
do lỗi đường truyền
Trang 124.1.2 Tạo khung dữ liệu
Phương pháp thứ 2, phương pháp sử dụng cờ hiệu
kết hợp với byte nhồi, byte cờ hiệu (flag byte) để
phân biệt điểm bắt đầu và kết thúc một khung dữ
liệu
byte cờ hiệu giúp xác định vị trí kết thúc của khung
dữ liệu hiện tại trong trường hợp mất đồng bộ.
xác định vị trí kết thúc một khung dữ liệu và bắt đầu một khung mới bằng hai byte cờ hiệu liên tiếp
kỹ thuật nhồi byte (byte stuffing) hoặc nhồi ký tự
(character stuffing) Hiện tượng trùng lắp byte cờ hiệu giải quyết bằng cờ byte escape (ESC) được chèn trước cờ hiệu giả
Trang 134.1.2 Tạo khung dữ liệu
Cơ chế giải quyết cờ “giả” bằng byte stuffing
Phương phát này được dùng trong giao thức PPP Nhược điểm
là sử dụng các từ mã cố định 8 bit
Trang 14 Nhược điểm: gắn từ mã có giá trị bằng 8 bit.
Trên thực tế, không phải từ mã nào cũng 8 bit
Trang 154.1.2 Tạo khung dữ liệu
Phương pháp dùng cờ hiệu bắt đầu và kết thúc kết hợp bit
nhồi: Cờ hiệu là 01111110
Nếu đầu phát có dữ liệu 111111 1111101
Đầu thu nhận được dữ liệu 1111101 111111
Trang 164.1.2 Tạo khung dữ liệu
Phương pháp thứ tư, phương tách khung dựa vào
kỹ thuật mã hóa của lớp vật lý chỉ được áp dụng
đối với các mạng sử dụng thêm các bit khi mã hóa
dữ liệu
Ví dụ, một số mạng LAN mã hóa 1 bit dữ liệu bằng
2 bit vật lý, thông thường bit 1 được đại diện bằng cặp trạng thái (cặp bit) là cao - thấp và bit 0 được đại diện bằng cặp trạng thái là thấp – cao Như vậy, người ta dùng cặp trạng thái cao – cao và thấp –
thấp không dùng cho việc biễu diển dữ liệu để phân biệt ranh giới giữa các khung dữ liệu
Trang 174.1.2 Tạo khung dữ liệu
Tóm lại, đối với việc tạo khung dữ liệu ở nhiều
giao thức người ta sử dụng kết hợp phương pháp
đếm số ký tự kết hợp với các phương pháp còn lại nhằm đảm bảo độ an toàn cho dữ liệu
Tại đầu thu, người ta dùng giá trị của trường đếm
số ký tự để xác định vị trí kết thúc của khung dữ
liệu, nếu cờ hiệu xuất hiện đúng vị trí và giá trị
kiểm tra tổng (checksum) đúng thì khung dữ liệu
được chấp nhận Ngược lại, hệ thống sẽ tìm kiếm vị trí bắt đầu của khung tiếp theo dựa vào cờ hiệu
Trang 184.1.3 Kiểm soát lỗi
Mục đích: tất cả các khung dữ liệu đã truyền đến được lớp
mạng của đầu thu dữ liệu theo đúng trật tự
Phương pháp: Sử dụng các thông điệp từ đầu thu để báo cho
đầu phát thông điệp đã được gửi thành công hay chưa
Thông báo Possitive Acknowledgement – ACK: Thông điệp gửi thành công
Thông báo Negative Acknowledgement – NAK: Thông điệp gửi không thành công
Vấn đề:
chờ ACK/NAK từ phía đầu thu quá lâu, dẫn đến quá hạn
(timed – out) phương thức tự động truyền lặp ARQ.
nhận/gửi một gói tin nhiều lần số thứ tự của khung DL
Kết hợp bộ định thời nơi phát cho mỗi gói tin và đánh số
thứ tự cho mỗi gói tin.
Trang 194.1.4 Điều khiển luồng
Mục đích: Giải quyết tình trạng mất đồng bộ trong truyền
thông giữa phía đầu phát và đầu thu
Phương pháp xử lý:
điều khiển luồng sử dụng hồi tiếp (feedback-based flow
control), đầu thu sẽ gửi thông tin phản hồi về cho đầu phát để
báo cho đầu phát biết có nên tiếp tục phát dữ liệu nữa hay không hoặc nó sẽ báo cho đầu phát biết rằng quá trình nhận
dữ liệu đang diễn như thế nào Phương pháp phổ biến:
trong giao thức chứa các các luật được định nghĩa sẵn qui định thời điểm mà đầu phát dữ liệu sẽ phát khung dữ liệu tiếp theo
điều khiển luồng dựa vào tốc độ dữ liệu (rate-based flow
control), trong phương pháp này giao thức sẽ có một cơ chế
để hạn chế tốc độ phát dữ liệu ở đầu phát mà không cần thông tin phản hồi từ đầu thu không được sử dụng trên thực tế
Trang 204.2 Phương pháp dò tìm và sửa lỗi
Các loại lỗi:
Lỗi đơn: Lỗi chỉ một bit, một đơn vị dữ liệu dễ xảy ra, dễ phát hiện và sửa chữa
Lỗi chùm: Lỗi trên nhiều bit, nhiều đơn vị dữ liệu khó xảy
ra, khó phát hiện và sửa chữa.
Biện pháp khắc phục lỗi:
Kiểm soát lỗi hướng tới: bổ sung thêm các thông tin vào mỗi khối dữ liệu cho phép đầu thu xác định được thông tin nhận được có bị lỗi hay không và chỉ ra vị trí của lỗi đó
Kiểm soát lỗi quay lui: chỉ thêm vào các trường thông tin cho phép đầu thu nhận biết khung dữ liệu nào bị lỗi và yêu cầu phát lại khung dữ liệu đó mà không chỉ ra vị trí lỗi
Trang 214.2 Phương pháp dò tìm và sửa lỗi
Khung dữ liệu: m bit chứa bản tin và r bit chứa thông tin
kiểm tra, do đó chiều dài của khung dữ liệu là n = m + r.
m bit thông tin 2m bản tin có nghĩa
n bit dữ liệu 2n bản tin dữ liệu
Khoảng cách Hamming của 2 từ mã: Số bit khác nhau giữa
hai từ mã (phép toán OR)
Ví dụ hai từ mã sau đây: 10001001 và 10110001 có
khoảng cách mã Hamming là 3.
Khoảng cách Hamming của mã: Từ 2n tổ hợp dữ liệu chúng
ta tạo ra danh mục các từ mã được sử dụng cho truyền thông (chỉ 2m), tìm ra 2 từ mã có khoảng cách Hamming nhỏ nhất
khoảng cách Hamming của mã
Trang 224.2 Phương pháp dò tìm và sửa lỗi
Tính chất dò tìm lỗi và sửa lỗi của một mã phụ
thuộc vào khoảng cách Hamming của mã đó.
Để dò được d lỗi cần mã có khoảng cách
mã này dò được 4 lỗi
mã này sửa được 2 lỗi
Trang 234.2 Phương pháp dò tìm và sửa lỗi
Nếu đầu phát gửi đi từ mã 0000011111 đến đầu thu kiểm tra
kết quả là 0000011100 (sai 2 bit) thì từ mã 0000011111 cóthể sửa sai được vì khoảng cách Hamming của nó đến từ mã gốc gần nhất 0000011111 0000011100 là 2 có thể phát hiện được
Trong trường hợp đầu thu nhận được 0000011000 thì không
thể sửa sai được vì khoảng cách Hamming của nó đến các từ
mã gốc là không thể phát hiện được
0000011000 0000011111=3
0000011000 0000000000=2
Trang 244.2.1 Phương pháp dò lỗi Parity Check
Dựa vào từ mã quy ước giữa đầu phát và đầu thu là chẵn/ lẻ,
đầu phát sẽ chèn thêm 1 bit kiểm tra chẵn/ lẻ tương ứng Bit này là 0 hoặc 1 để đạt được từ mã có giá trị chẵn/ lẻ đã quy ước
Phía đầu thu sẽ căn cứ vào từ mã thu được, kiểm tra nó:
Nếu chẵn: Dữ liệu đúng hoặc bị lỗi với khoảng cách
Hamming là bội số của 2
Nếu lẻ: Dữ liệu chắc chắn sai.
Nếu đúng, đầu thu loại đi bit kiểm tra và lấy dữ liệu cuối
Trang 254.2.2 Phương pháp kiểm dư vòng
(CRC- Cyclic Redundancy Check)
Phương pháp này khai thác đặc trưng của các số nhị phân
khi dùng phép toán modulo-2 để tính toán ra giá trị
checksum Giả sử M(x) là một số m bit cần truyền, G(x) là
đa thức sinh có bậc r (phần tử chia)
Trang 264.2.2 Phương pháp kiểm dư vòng
(CRC- Cyclic Redundancy Check)
Các bước tiến hành
Bước 1: Thêm r bit 0 vào cuối chuỗi bit cần truyền Xâu ghép
có (m+r) bit, tương ứng với đa thức xr M(x).
Bước 2: Chia modulo-2 chuỗi bit tương ứng với xr M(x) cho
chuỗi bit tương ứng với G(x).
Bước 3: Lấy số bị chia trong bước 2 trừ (modulo-2) cho số
dư.
Kết quả chuỗi bit được truyền đi sẽ là chuỗi gốc ghép với
checksum tính được ở trên
1101011011 và đa thức sinh G(x) = x4 + x +1, ta tính toán
được giá trị checksum và chuỗi bit truyền đi như sau
Trang 274.2.2 Phương pháp kiểm dư vòng
(CRC- Cyclic Redundancy Check)
Dữ liệu gửi 1101011011
Đa thức sinh 10011 bậc 4 cần chèn 4 bit 0 vào dữ liệu
Chuỗi sau khi được chèn: 11010110110000
Lấy phép chia của 11010110110000 cho đa thức sinh 10011
kết quả số dư là 1110
Chuỗi được truyền đi là: 11010110111110
3 đa thức sinh được sử dụng phổ biến:
CRC-12= x12 + x11 + x3 + x2 + x +1
CRC-16= x16 + x15 + x2 +1
CRC-CCITT= x16 + x12 + x5 +1
Trang 284.3 Điểu khiển luồng bằng cửa sổ trượt
Yêu cầu thực tế: Truyền dữ liệu đồng thời ở cả hai
phía đầu cuối, cần có:
Một kênh dành cho dữ liệu
Một kênh dành cho điều khiển
Lãng phí băng thông dành cho kênh điều khiển
Khắc phục:
Sử dụng cùng kênh truyền cho dữ liệu cả hai hướng
Khung dữ liệu được trộn với khung phúc đáp trên một hướng truyền, và phân biệt với nhau qua loại khung dữ liệu
Trang 294.3 Điểu khiển luồng bằng cửa sổ trượt
Cơ chế piggyback: Khi nhận một khung dữ liệu, thay vì
phản hồi tức thì, máy thu đợi nhận một gói tin từ lớp mạng của nó, đính kèm trường ACK vào gói tin đó trong tiêu đề khung để gửi cho máy phát Kết quả là phúc đáp được gửi
đi mà không cần tốn băng thông đường truyền
Tiết kiệm băng thông nhiều hơn so với sử dụng một khung phúc đáp riêng rẽ.
Vấn đề đặt ra là máy thu phải đợi bao lâu trước khi nó gửi
phúc đáp cho máy phát?
Nếu quá lâu máy phát sẽ tự động gửi lại gói tin ban đầu
Giải quyết: sử dụng bộ định thời để xác định thời điểm trễ hạn bắt buộc phải phúc đáp, nếu máy thu không có gói tin muốn truyền dữ liệu cho máy phát.
Trang 304.3 Điểu khiển luồng bằng cửa sổ trượt
Kỹ thuật cửa sổ trượt: là một chuỗi các khung dữ
liệu liền kề nhau được phát đi mà chưa có phúc đáp
Khi nhận xong các khung dữ liệu trong một cửa sổ,
đầu thu sẽ dịch chuyển hay “trượt” cửa sổ này lên một đơn vị để nhận tiếp các khung dữ liệu trong cửa
sổ tiếp theo vì vậy người ta gọi kỹ thuật này là kỹ
thuật cửa sổ trượt
Cả đầu phát và đầu thu đều sử dụng cửa sổ trượt khi
truyền dữ liệu, cửa sổ trượt ở đầu phát gọi là cửa sổ truyền (Sending Window) và cửa sổ trượt ở đầu thu gọi là cửa sổ thu (Receiving Window).
Trang 314.3 Điểu khiển luồng bằng cửa sổ trượt
Trong trường hợp tổng quát, hai cửa sổ này không
nhất thiết phải có cùng chung giá trị cạnh trên và
cạnh dưới trong cùng một thời điểm cũng như
không nhất thiết phải có cùng chung kích thước.
Các số thứ tự trong cửa sổ truyền cho biết số khung
đã được gửi đi song chưa có phúc đáp.
Do các khung này có thể bị thất lạc hoặc bị hư
hỏng trong quá trình truyền nên chúng phải được lưu vào trong bộ nhớ của đầu phát để khi cần có thể truyền lặp lại
Trang 324.3 Điểu khiển luồng bằng cửa sổ trượt
Trang 33 Như vậy, nếu kích thước lớn nhất của cửa sổ là n thì nó phải
có ít nhất n vùng đệm để lưu n khung chưa có phúc đáp
Còn ở bên thu, với kích thước cửa sổ là hữu hạn nên khi số
lượng khung đến vượt quá giá trị của cửa sổ thì cách đơn giản nhất và cũng thông dụng nhất là hủy các khung này và bắt
buộc đầu phát truyền lặp lại
Khung đến có số thứ tự trùng với cạnh dưới của cửa sổ thu sẽ
được chấp nhận, dữ liệu của nó (gói) được chuyển lên lớp
mạng và phúc đáp được tạo ra, đồng thời cửa sổ dịch lên một đơn vị
Cửa sổ thu, khác với cửa sổ phát, luôn luôn không đổi về giá
trị Trong quá trình này, đầu thu luôn phải nhớ rằng nó phải
nhận các khung theo đúng thứ tự mà đầu phát truyền lên kênh
Trang 344.3.2 Thủ tục cửa sổ trượt (Sliding Window) có kích thước một bit
Giả thiết rằng đầu phát luôn có khung dữ liệu để
truyền, nói cách khác là lớp điều khiển dữ liệu luôn
có sẵn các gói dữ liệu do lớp mạng cung cấp để
thực hiện phép truyền liên tục Chiến lược truyền
lặp ARQ được kết hợp với cửa sổ để điều khiển số
lượng khung lưu thông trên đường truyền giữa A
và B Mô hình ARQ đơn giản nhất là ARQ dừng -
đợi, có nghĩa là sau khi đầu phát đã truyền đi một
khung dữ liệu, nó dừng lại và đợi phúc đáp của bên thu Nhận được phúc đáp nó mới gửi tiếp khung
tiếp theo Như vậy, ta thấy ngay, thực tế đây cũng
chính là mô hình cửa sổ trượt với kích thước cửa sổ bằng 1.
Trang 354.3 Điểu khiển luồng bằng cửa sổ trượt
Ban đầu
Sau khi gói thứnhất được gửi
Sau khi nhận gói thứ nhất
Sau khi phúc đáp thứ nhất trở lại
Trang 364.3 Điểu khiển luồng bằng cửa sổ trượt
Trao đổi bản tin với cửa sổ 1 bit như sau:
Máy A ở tầng 2 nhận gói dữ liệu từ tầng 3, tạo bản tin gửi đi Khi bản tin này đến tầng 2 máy B, nó sẽ tự kiểm tra xem có bị lặp lại không Nếu đúng là bản tin đang mong đợi thì nó được chuyển lên tầng 3 và cửa sổ dịch đi một nấc Vùng ACK chứa
số bản tin cuối đã được nhận không lỗi Nếu số này trùng với
số bản tin vừa gửi, đầu phát sẽ lấy gói dữ liệu tiếp theo từ lớp mạng Nếu số không đúng nó phải gửi lại bản tin cũ.
Với thuật toán dùng cửa sổ có kích thước bằng 1, phần lớn
thời gian sau khi đã truyền xong một khung A và B phải đợi phản hồi ngược lại mới có thể truyền tiếp được khung khác nên hiệu quả phép truyền không thể cao được
Để sử dụng kênh truyền hiệu quả hơn cần có các thuật toán
khác với kích thước cửa sổ lớn hơn