1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình hình phát triển công nghệ cao trên thế giới hiện nay

63 747 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 552 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động của các khu này nhằm mục đích trao đổi, sáng tạo, phát triển, ươm tạo các công nghệ mới, thúc đẩy hình thành nền công nghiệp CNC và góp phần quan trọng cho việc xây dựng năng l

Trang 1

TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY

Hà Nội, 3/2008

Trang 2

MỤC LỤC

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO

LỜI NÓI ĐẦU

I ĐỊNH NGHĨA CÔNG NGHỆ CAO VÀ CÔNG NGHỆP

CÔNG NGHỆ CAO, DOANH NGHIỆP CÔNGNGHỆ

CAO, KHU CÔNG NGHỆ CAO

1

2.1 Các ngành công nghiệp công nghệ cao 52.2 Phân loại các ngành công nghiệp công nghệ cao 6

III MÔ HÌNH CÁC KHU CÔNG NGHỆ CAO TRÊN THẾ

GIỚI

8

3.1.Các đặc khu công nghiệp và khu công nghệ cao 83.2 Mô hình các khu công nghệ cao trên thế giới 93.3 Một số khu công nghệ cao đặc trưng trên thế giới 103.4 Một số khu công nghệ cao trong khu vực châu Á 14

IV PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO CỦA CÁC NƯỚC

TRÊN THẾ GIỚI

16

V

DANH MỤC CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP CÔNG

NGHỆ CAO VÀ SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ CAO

24

Trang 3

Lời nói đầu

Công nghệ cao là loại hình công nghệ được coi là tiên tiến nhất hiện nay Đó là những công nghệ cho phép sản xuất với năng suất cao và sản phẩm có chất lượng cao, nghĩa là có thể mang lại giá trị gia tăng cao với cùng nguồn lực vốn và lao động Bản thân công nghệ cao đã bao hàm “3 cao”: hiệu quả cao, giá trị gia tăng cao và độ thâm nhập cao

Công nghệ cao hiện diện ở khắp mọi nơi, lan tỏa trực tiếp và gián tiếp tới mọi ngành trong nền kinh tế, làm chuyển hóa các hoạt động kinh tế ra khỏi các nguồn lực truyền thống như hàng tiêu dùng lâu bền hay đầu tư vào kết cấu, trong khi cùng lúc làm tăng thêm mức độ tổng đầu ra Bản thân những tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ cao đã tạo nên các ngành công nghiệp tăng trưởng hoàn toàn mới, được gọi là các ngành công nghiệp công nghệ cao, được đặc trưng bằng sự đổi mới liên tục về công nghệ và sản phẩm Các ngành này cho thấy có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn so với nền kinh tế nói chung và chiếm một tỷ lệ ngày càng tăng trong thương mại nội địa và quốc tế, là phần đóng góp quan trọng và trực tiếp cho tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Đầu tư phát triển các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin là một hướng đi mà hầu hết các nước trên thế giới đều tuân theo để nhằm tạo ra một động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong nước, cũng như để tìm cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường thương mại quốc tế Trung tâm Thông tin KH&CN

Quốc gia xin giới thiệu bản báo cáo “Tình hình phát triển công nghệ cao trên thế giới hiện nay”, cung cấp các khái niệm, định nghĩa về công nghệ cao, các

ngành công nghiệp công nghệ cao, các khu công nghệ cao và một số nét chính về tình hình phát triển công nghệ cao trên thế giới Ở phần cuối là danh mục các ngành công nghệ cao và các sản phẩm công nghệ cao.

TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

Trang 4

I ĐỊNH NGHĨA CÔNG NGHỆ CAO VÀ CÔNG NGHỆP CÔNG NGHỆ CAO, DOANH NGHIỆP CÔNGNGHỆ CAO, KHU CÔNG NGHỆ CAO

1.1.Công nghệ cao

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công

cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm

Công nghệ cao (CNC) là những công nghệ cho phép sản xuất với năng suất cao và sản phẩm có chất lượng cao, nghĩa là có thể mang lại nhiều giá trị gia tăng hụn với cùng lượng vốn và lao động Bản thân công nghệ cao đã bao hàm “3 cao”: hiệu quả cao, giá trị gia tăng cao và độ thâm nhập cao

CNC còn có khả năng mở rộng phạm vi, hiệu quả của các loại hình công nghệ khác nhờ tích hợp các thành tựu khoa học và công nghệ (KH&CN) tiên tiến Mức độ CNC có thể được đo bằng độ ngắn của chu kỳ sống sản phẩm Hiện nay, đối với ngành công nghiệp máy tính, chu kỳ sống của sản phẩm là dưới hai năm

Sản phẩm CNC là sản phẩm được tạo ra nhờ CNC thông qua quá trình thiết

kế hoặc sản xuất sản phẩm

CNC thường phải có các đặc điểm sau đây:

(i) Chứa đựng nỗ lực quan trọng về nghiên cứu-phát triển (NCPT);

(ii) Có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia;

(iii) Sản phẩm được đổi mới nhanh chóng;

(iv) Đầu tư lớn, độ rủi ro cao, nhưng khi thành công sẽ đem lại lợi nhuận khổng lồ;

(v) Thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hợp tác trong NCPT, sản xuất và tìm kiếm thị trường trên quy mô toàn cầu

Tiêu chí quan trọng nhất để xác định một CNC là hàm lượng NCPT cao (high R&D intensity) trong sản phẩm Các đặc điểm và tiêu chí trên đây về CNC được chấp nhận một cách rộng rãi, song việc xác định các ngành CNC lại phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của từng quốc gia, từng nhóm quốc gia về ý nghĩa chiến lược của các ngành cụ thể đối với mỗi nước trong từng thời kỳ xác định

Trang 5

1.2 Công nghiệp công nghệ cao

Công nghiệp CNC là ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm CNC Công nghiệp CNC được đặc trưng bởi sự đổi mới liên tục về công nghệ, sản phẩm Như vậy, doanh nghiệp CNC thường dành nhiều nguồn lực cho cải tiến, sáng tạo công nghệ và sản phẩm

Ngành công nghiệp CNC có những đặc điểm chủ yếu sau:

(i) Đặc điểm nổi bật là sự tích hợp các thành tựu KH&CN Do vậy, trong lĩnh vực CNC, các ngành công nghiệp gắn liền với nhau và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Chẳng hạn, lĩnh vực vật liệu mới liên quan nhiều đến điện tử, tin học, cơ-điện tử, sinh học và năng lượng mới

(ii) Năng suất lao động tương đối cao do sử dụng hàm lượng trí tuệ, kỹ thuật,

kỹ năng và thông tin, cao hơn hẳn các ngành công nghiệp thông thường (iii) Cấu trúc sản phẩm khá phức tạp và đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành công nghiệp nhằm đáp ứng tính đa dạng của công nghệ và sản phẩm đầu vào Các ngành công nghiệp hỗ trợ không chỉ bao hàm việc sản xuất hàng hóa, mà còn cả những dịch vụ khác nhau như thiết kế, kỹ thuật, tư vấn, sản xuất thử, thử nghiệm, kiểm tra và đánh giá chất lượng sản phẩm, chuyển giao công nghệ

(iv) Tiềm năng thị trường lớn Thị trường của sản phẩm CNC được mở rộng cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng Vì vậy, cạnh tranh toàn cầu để xuất khẩu các sản phẩm CNC là điều rất quan trọng

(v) Quá trình sản xuất công nghiệp CNC và sản phẩm của nó thường sử dụng rất ít nguyên liệu, năng lượng, bởi lẽ chúng được phát triển với mục tiêu hạn chế chi phí các nguồn nguyên liệu và năng lượng không tái tạo, cũng như nhằm bảo vệ môi trường Cũng vì vậy phần lớn sản xuất công nghiệp CNC đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu khá lớn Hơn nữa, những sản phẩm công nghiệp CNC thường không cồng kềnh, mà “sáng, mỏng, nhỏ và nhẹ” (vi) Về mặt quản lý kinh doanh, công nghiệp CNC là kinh doanh "mạo hiểm cao và được bù đắp cao" Việc đổi mới các hoạt động NCPT liên tục cũng như việc thường xuyên tìm kiếm các thị trường mới là rất tốn kém và mạo hiểm Vì vậy, đòi hỏi một sự cạnh tranh gay gắt, tuy nhiên lợi nhuận cao sẽ

là phần bù đắp thỏa đáng cho những hoạt động kinh doanh có độ mạo hiểm cao này

Trang 6

1.3 Khu công nghệ cao

Sự hình thành và phát triển các khu công nghệ (Technology Park) là yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu để thúc đẩy nhanh sự ra đời các công nghệ mới Từ khu công nghệ đầu tiên và cũng rất tiêu biểu cho thế hệ khu công nghệ thứ 1 (thập niên 50 - 60 của thế kỷ XX) là Khu Thung Lũng Silicon (Mỹ) đến các khu CNC xuất hiện gần đây trong bối cảnh toàn cầu hóa (thế

hệ thứ 3), đã có nhiều thuật ngữ khác nhau, như: công viên khoa học, công viên công nghệ, trung tâm công nghệ, trung tâm đổi mới công nghệ, công viên KH&CN, trung tâm CNC, song về bản chất đều có một số điểm chung Thuật ngữ “Khu CNC” được dùng chỉ một trung tâm, một khu vực riêng biệt, thuộc quyền quản lý và sở hữu của các công ty, trường đại học, viện nghiên cứu, của địa phương, quốc gia hoặc của nhiều thành phần khác nhau Hoạt động của các khu này nhằm mục đích trao đổi, sáng tạo, phát triển, ươm tạo các công nghệ mới, thúc đẩy hình thành nền công nghiệp CNC và góp phần quan trọng cho việc xây dựng năng lực công nghệ của quốc gia.Đối với các nước đang phát triển, có thể quan niệm một cách khái quát: Khu CNC là nơi tiếp thu CNC của thế giới, là cửa ngõ nhập khẩu các CNC của các công ty đa/xuyên quốc gia có CNC hàng đầu thế giới, là nơi làm việc có

đủ điều kiện để sáng tạo của các nhà khoa học quốc tế và trong nước Nơi đây, trong giai đoạn đầu sẽ tiếp thu chuyển giao công nghệ và sau đó là sáng tạo các CNC Trong vai trò cửa khẩu trên siêu xa lộ thông tin, với môi trường thuận lợi cho việc đầu tư CNC, quá trình chuyển giao thực hiện tại chính khu vực sản xuất, hoặc NCPT, đào tạo, giúp cho việc tiếp thu và sử dụng CNC có hiệu quả

Khu CNC thường được quy hoạch giới hạn trong một vùng lãnh thổ có quy

mô lớn nhỏ khác nhau, nhưng phải là địa điểm có môi trường tốt nhất để:

- Đầu tư công nghiệp CNC;

- Sản xuất các sản phẩm CNC;

- Chuyển giao, thích nghi CNC;

- Dịch vụ-thương mại các sản phẩm CNC;

- Nghiên cứu, ươm tạo và phát triển các CNC;

- Tăng cường năng lực công nghệ nội sinh của đất nước;

- Đào tạo, huấn luyện kỹ năng CNC;

Trang 7

II CÁC LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ CAO

Đến nay, trên thế giới đã cơ bản thống nhất với nhau có 6 lĩnh vực công nghệ cao sau đây để nghiên cứu phát triển trong thế kỷ XXI:

1 Công nghệ thông tin - CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa

học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin Theo đó, CNTT là hệ thống các tri thức khoa học, các kỹ thuật và phương tiện hiện đại để thu thập, xử lý, lưu trữ, sản xuất và truyền thông tin nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người Công nghệ thông tin chính là lực lượng nòng cốt

và xung kích của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, dẫn dắt nhân loại bước vào kỷ nguyên trí tuệ

2 Công nghệ sinh học - CNSH là một tập hợp các ngành khoa học (sinh

học phân tử, di truyền học, vi sinh vật, sinh hóa học và công nghệ học) nhằm tạo ra các công nghệ khai thác ở quy mô công nghiệp các hoạt động sống của các vi sinh vật, tế bào thực vật và động vật Sản phẩm đặc trưng là giống cây, con, vi sinh vật có chất lượng cao và các sản phẩm chưa từng có dùng trong nông nghiệp, công nghiệp, y tế

Cùng với các ngành công nghệ mũi nhọn khác (công nghệ thông tin và công nghệ vật liệu mới), CNSH sẽ góp phần khai thác tối ưu các nguồn lực của đất nước phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và chuẩn bị những tiền đề cần thiết về mặt công nghệ trong thế kỷ XXI

3 Công nghệ vật liệu mới dựa trên khoa học vật liệu, khoa học về cấu trúc

các hệ đông đặc, khoa học mô phỏng hệ nguyên tử v.v Sản phẩm chủ yếu của nó là các vật liệu chức năng (ví dụ: vật liệu bán dẫn, siêu dẫn, laze ), vật liệu siêu bền, siêu cứng, siêu chịu nhiệt, vật liệu compozit, vật liệu nanô v.v

Với công nghệ nanô, con người có khả năng thao tác vật liệu ở mức phân tử hay nguyên tử, mở ra khả năng điều khiển cấu trúc vật liệu Nó cho phép chế tạo những vật liệu có các chức năng rất đặc thù như thăm dò môi sinh và xử

lý thông tin Vật liệu được thao tác ở cấp nanô sẽ có tiềm năng rất lớn do có các tính chất hoàn toàn khác với những vật liệu chế tạo trước đó

4 Công nghệ năng lượng mới bao gồm năng lượng hạt nhân, năng lượng

mặt trời, năng lượng địa nhiệt, năng lượng hải dương v.v., trong đó đặc biệt

là lợi dụng sự phát triển của năng lượng hạt nhân và năng lượng mặt trời, nhằm thoát khỏi sự ràng buộc vào loại năng lượng hóa thạch (dầu mỏ và

Trang 8

than đá), mở ra một thời đại năng lượng mới Song, đến nay hầu hết các nước trên thế giới rất coi trọng công nghệ năng lượng hạt nhân Công nghệ này dựa trên vật lý học hạt nhân, năng lượng học, v.v Sản phẩm chủ yếu là nhà máy nhiệt, nhà máy điện hạt nhân, các phương tiện giao thông vận tải dùng năng lượng hạt nhân, các thiết bị y tế dùng năng lượng hạt nhân v.v

5 Công nghệ hàng không vũ trụ dựa trên các thành tựu hiện đại của khoa

học về Vũ trụ, về vật lý địa cầu, vật lý khí quyển và vùng lân cận trái đất, vật

lý thiên văn của Thái dương hệ v.v Các sản phẩm điển hình: vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ, tàu con thoi v.v

Công nghệ hàng không vũ trụ tạo ra một loạt các sản phẩm, dịch vụ chưa từng có: thông tin viễn thám, thông tin liên lạc toàn cầu, thông tin địa lý toàn cầu v.v

6- Công nghệ hải dương bao gồm việc sử dụng, khai thác tài nguyên sinh

vật, khoáng vật, hoá học, động lực v.v trong lòng các đại dương

2.1 Các ngành công nghiệp công nghệ cao

Công nghiệp công nghệ cao được đặc trưng bởi sự đổi mới liên tục các công nghệ, sản phẩm Doanh nghiệp công nghệ cao thường dành nhiều nguồn lực cho việc cải tiến, sáng tạo công nghệ và sản phẩm Tại các nước công nghiệp hoá, các ngành công nghệ cao là những nguồn sáng tạo việc làm và thuê mướn nhân công có năng lực, được trả lương cao hơn so với mức trung bình Các ngành này có tỷ lệ tăng trưởng cao hơn so với nền kinh tế nói chung và chiếm một tỷ trọng ngày càng tăng trong thương mại nội địa và quốc tế, là phần đóng góp chủ yếu cho xuất khẩu hàng công nghiệp ở hầu hết các nước Ngoài ra, các ngành này còn có hàm lượng vốn, NCPT cao và rất có hiệu quả trong việc sáng tạo ra tri thức và công nghệ mới Chúng hoạt động dựa trên một tốc độ phát triển NCPT rất nhanh, thường xuyên tung ra thị trường các hàng hoá và dịch vụ mới

Công nghiệp công nghệ cao còn được gọi là công nghiệp dựa trên khoa học

và công nghệ ở đó, khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sản phẩm có hàm lượng khoa học cao, năng suất lao động rất cao

Theo UNESCO, hạng mục “công nghệ” được xác định dưới hình thức “hàm lượng NCPT” ở các ngành công nghiệp thuộc lĩnh vực chế tạo, trong đó chi phí NCPT được tính theo tỷ lệ phần trăm của một biến số kinh tế khác, thường là giá trị sản phẩm (doanh thu) của ngành đó Hiện nay đang nghiên cứu xem xét một ngành tương đối mới mẻ, đang ngày càng trở thành “công nghệ cao”, đó là ngành dịch vụ

Trang 9

Hàm lượng NCPT cao (high-tech) tương ứng với tỷ số chi phí NCPT/doanh thu ≥ 4%; hàm lượng NCPT trung bình (medium-tech) có chi phí NCPT/doanh thu = 1-4%; và hàm lượng NCPT thấp (low-tech) khi chi phí NCPT/doanh thu ≤1%.

Định nghĩa công nghiệp CNC như thế nào phụ thuộc vào quyết định dùng phương pháp nào trong hai phương pháp tiếp cận chủ yếu: a) Phương pháp

sử dụng tỷ lệ phần trăm số nhân lực NCPT trong một ngành công nghiệp cụ thể so với tất cả các ngành công nghiệp hoặc b) Tính theo phần trăm chi phí NCPT trong tổng doanh thu, như là một đại lượng về hàm lượng NCPT Hiện nay, 10 ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học cao nhất là: hoá chất y học và sản phẩm thực vật; sản phẩm sinh học, ngoại trừ sản phẩm dùng cho chẩn đoán; phần mềm bao gói sẵn; sản phẩm chẩn đoán in vitro và

in vivo; điện thoại và thiết bị truyền thông; dược phẩm; nghiên cứu thương mại; thiết bị điện dùng trong y học; thiết bị truyền thông máy tính và các dụng cụ phân tích trong phòng thí nghiệm

Mặc dù 10 ngành công nghiệp này là các ngành có hàm lượng khoa học cao, nhưng không nhất thiết tất cả chúng đều có tác động lớn đến nền kinh tế Một số ít ngành, được coi là các ngành công nghiệp công nghệ siêu cao, đứng hàng đầu các ngành công nghiệp CNC: dược phẩm; điện thoại và thiết

bị truyền thông, sản phẩm sinh học, ngoại trừ sản phẩm dùng cho chẩn đoán; thiết bị bán dẫn và thiết bị có liên quan và phần mềm bao gói sẵn Các ngành này có cường độ nghiên cứu cao, chi phí NCPT lớn và có tăng trưởng doanh thu cao hơn tăng trưởng doanh thu bình quân

2.2 Phân loại các ngành công nghiệp công nghệ cao

Công nghiệp công nghệ cao là những ngành đang phát triển mạnh nhất trong thương mại quốc tế Các ngành này đóng vai trò động lực, giúp nâng cao hoạt động của các ngành khác Để phân tích ảnh hưởng của công nghệ đối với hoạt động công nghiệp, điều quan trọng là phải xác định được các ngành công nghiệp và sản phẩm nào có hàm lượng công nghệ cao nhất, thông qua các tiêu chí cho phép xây dựng các hệ thống phân loại hài hòa trên phạm vi quốc tế

Phân loại các ngành công nghiệp chế tạo theo hàm lượng công nghệ toàn cầu:

Công nghiệp công nghệ cao

Hàng không vũ trụ

Máy tính, máy văn phòng

Trang 10

Điện tử - viễn thông

Máy không dùng điện

Công nghiệp công nghệ trung bình thấp

Sản phẩm cao su và chất dẻo

Đóng tàu

Các ngành chế tạo khác

Luyện kim màu

Sản phẩm khoáng phi kim loại

Các sản phẩm kim loại chế tạo

Lọc dầu

Luyện kim đen

Công nghiệp công nghệ thấp

Trang 11

Máy tính và thiết bị văn phòng

Điện tử - viễn thông

II MÔ HÌNH CÁC KHU CÔNG NGHỆ CAO TRÊN THẾ GIỚI.

3.1.Các đặc khu công nghiệp và khu công nghệ cao

Có thể phân biệt các đặc khu và khu CNC theo chức năng của chúng như sau:

a) Khu công nghiệp (Industrial Zone, Industrial Park): là một quần thể liên

hoàn các xí nghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng đất có thuận lợi về các yếu tố địa lý tự nhiên, về kết cấu hạ tầng, về xã hội và nhân văn để thu hút đầu tư và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý các doanh nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh

b) Khu chế xuất (Export Processing Zone): là một đặc khu công nghiệp và

dịch vụ đặt trên một diện tích được khép kín, thường ở trong cảng hoặc gần cảng để nhập các nguyên liệu miễn thuế, chế biến các nguyên liệu này nhằm mục đích xuất khẩu Khu chế xuất nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện những hoạt động sản xuất và dịch vụ xuất khẩu, được hưởng những ưu đãi nhất định của Nhà nước (thuế, điều kiện thương mại) liên quan đến tận dụng các nguồn lực trong nước để tiến hành các hoạt động sản xuất

và dịch vụ xuất khẩu

c) Khu công nghiệp công nghệ cao (Hi-Tech Industrial Zone): là khu công nghiệp tập trung chuyên sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ về các sản phẩm có sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao Mục đích của khu này

là sử dụng tối ưu các cơ sở hạ tầng và các điều kiện tốt của môi trường, mà nếu để rải rác sẽ phải đầu tư quá lớn, để có thể tạo ra các sản phẩm của một

số lĩnh vực công nghệ cao

Trang 12

d) Công viên khoa học (Science Park): là một khu vực tập trung các phòng

thí nghiệm, nơi thử nghiệm, kiểm chứng các ý tưởng khoa học

e) Khu công nghệ cao (Hi-Tech Park): là khu vực tập trung các tổ chức

nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các phòng thí nghiệm, các tổ chức đào tạo, các xí nghiệp công nghệ cao và các tổ chức dịch vụ nội bộ khu

và các đối tượng nằm ngoài khu Khu công nghệ cao là trung tâm ươm tạo công nghệ, gắn KH&CN hiện đại với sản xuất các sản phẩm công nghệ cao Khu công nghệ cao định hướng hoạt động của mình vào việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước để tiến hành các hoạt động chuyển giao công nghệ, nghiên cứu nhằm phát triển các công nghệ cao, không chỉ nhằm phục vụ mục đích xuất khẩu, mà chủ yếu nhằm tạo ra năng lực công nghệ trong nước, biến đổi cơ cấu công nghiệp và dịch vụ trong nước Do vậy, khu công nghệ cao phải có một môi trường thuận lợi để sáng tạo ra công nghệ mới trong lĩnh vực công nghệ mũi nhọn, luôn luôn được đổi mới bằng những thành tựu KH&CN tiên tiến nhất

3.2 Các loại hình khu công nghệ cao trên thế giới

Tuỳ thuộc trình độ KH&CN của vùng và do các mục tiêu khác nhau mà mô hình khu CNC của một số nước trên thế giới cũng rất khác nhau và đa dạng Khu CNC có thể được phân loại theo mức độ hoạt động NCPT, hoặc theo

mô hình

1) Theo trình độ hoạt động nghiên cứu và phát triển (NCPT)

(i) Công viên khoa học truyền thống (Traditional Science Park)

-Tỷ trọng NCPT rất cao, chủ yếu thúc đẩy quá trình NCPT và thương mại hóa các kết quả NCPT;

-Thường do các trường đại học thành lập hoặc liên kết - gắn chặt với các trường đại học

Thí dụ: Đại học Stanford (Mỹ), Đại học Cambridge (Anh)

(ii) Thành phố khoa học (Science City hoặc Technopolis)

- Kết hợp chặt chẽ hoạt động NCPT với sản xuất;

- Thường kết hợp tạo vùng công nghiệp mới;

Thí dụ: Khu Tsukuba (Nhật Bản), Sophia Antipolis (Pháp)

(iii) Công viên đổi mới công nghệ (Technology Innovation Park)

- Kết hợp sản xuất hàng hóa có trình độ CNC với phát triển NCPT;

Trang 13

- Chủ yếu dựa vào các doanh nghiệp lớn và thu hút đầu tư từ bên ngoài, có liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học

Thí dụ: Khu Tân Trúc (Hsinchu) của Đài Loan, các Khu CNC ở Hà Lan, Đức, áo, Singapo

(iv) Trung tâm Công nghệ/Vườn ươm (Technology Centre/Incubator)

- Giúp các doanh nghiệp nhỏ (mới thành lập) phát triển công nghiệp (nhờ trung tâm ươm tạo doanh nghiệp);

- Liên kết với Viện nghiên cứu/Đại học và có thể đứng độc lập (thường nhỏ hơn 10 ha trong thành phố) hoặc nằm trong khu công nghệ

Thí dụ: nhiều khu ở Hồng Kông, Trung Quốc, Philippin, Nigeria

(v) Khu khoa học chuyên biệt (Special Science Park)

- Là Công viên khoa học nhưng tập trung vào một số lĩnh vực, một thị trường sản phẩm nhất định

Thí dụ: Khu y học (Singapo), Khu công nghệ phần mềm (ấn Độ)

2) Theo mô hình chức năng

- Mô hình công viên khoa học thường được xây dựng ở các nước có công

nghệ tiên tiến, nhấn mạnh phát triển nghiên cứu, thương mại hóa các kết quả NCPT, gắn liền với các trường đại học, như ở Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,

- Mô hình "Trung tâm đổi mới công nghệ" (Technology Innovation Center)

như ở Đức, Hà Lan, Đài Loan, Singapor và các nước Bắc Âu Trong các khu này, hoạt động NCPT ở các viện nghiên cứu nhà nước, trường đại học được

tổ chức gắn với các doanh nghiệp để thương mại hoá các kết quả, chú trọng tạo việc làm và có chức năng hỗ trợ các doanh nghiệp mới khởi nghiệp Mô hình hoạt động của các khu này tại Singapo và Malaixia gần đây có những nét khá điển hình: chủ yếu là vai trò hỗ trợ rất quan trọng của Nhà nước (vốn

và chính sách công nghệ)

- Mô hình “Vườn ươm doanh nghiệp” (Incubator), chú trọng phát triển kinh

doanh và tạo việc làm, hoạt động NCPT là thứ yếu, như một số ở Trung Quốc, Philippines, Trinidad và Tobago, Nigeria,

- Nhiều khu công nghệ trên thực tế thường pha trộn giữa các mô hình trên đây

3.3 Một số khu công nghệ cao đặc trưng trên thế giới

1) Khu thung lũng Silicon (Silicon Valley)

Trang 14

Được thành lập năm 1951 tại Palo Alto (Tây Nam San Francisco, Mỹ), rộng gần 1.000 km2 chủ yếu phát triển CNTT Năm 2000 có 330.000 lao động kỹ thuật cao (chiếm 73% tổng lực lượng lao động), có 6.000 tiến sĩ khoa học, hơn 8.000 doanh nghiệp, có hơn 4.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực điện tử - tin học, doanh thu xấp xỉ 200 tỷ USD/năm Là nơi tập trung các công ty điện tử - tin học, được phát triển xung quanh một trường đại học

có hoạt động nghiên cứu cao cấp: Đại học Stanford (Mỹ) Một trong những yếu tố thành công của Khu này là cơ cấu quản lý linh hoạt, nhạy bén và con người ở đây trẻ, sẵn sàng chịu rủi ro và mạnh dạn đối với những cách tiếp cận mới Khu này có sự đóng góp nhân lực khá lớn (khoảng 10.000 người) của người Việt Nam định cư ở Mỹ, nhưng chủ yếu là kỹ thuật viên và kỹ sư Quá trình hình thành và phát triển Silicon Valley được tóm tắt theo các giai đoạn như sau:

- Các hoạt động nghiên cứu sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ điện tử thế giới bắt đầu tại trường Đại học Stanford Công ty sản xuất thiết bị điện tử đầu tiên được thành lập là Federal Telegraph Company of Palo Alto

- Năm 1950, Khu CNC này được thành lập dựa trên hạt nhân là Khu công nghệ Stanford với sự tham gia của nhiều công ty điện tử trong đó có HP Trường Đại học Stanford đóng vai trò lớn trong việc hình thành Khu CNC này

- Những năm 1960, được sự hỗ trợ của các chương trình điện tử quốc phòng

Mỹ, các công ty mới tách ra từ các hãng ban đầu, sản xuất đến 95% sản lượng “chip” trên thế giới

- Thời kỳ 1970-1980, các hãng sản xuất vật liệu bán dẫn, cùng với sự ra đời máy tính cá nhân, được thành lập và trở thành những công ty điều khiển cuộc cách mạng CNC

- Từ năm 1980, chuyển hướng sang các lĩnh vực sáng tạo siêu xa lộ thông tin Ngoài các công ty ở Mỹ, các công ty Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước cũng đã tham gia các hoạt động đầu tư ở Khu này

Khu này đặc trưng cho mô hình khu Công viên khoa học truyền thống, phát triển từ một khu công nghệ làm lõi và dựa vào hoạt động NCPT của trường đại học

2) Khu Sophia Antipolis của Pháp

Sophia Antipolis nằm ở phía Nam nước Pháp, được thành lập vào năm 1972,

là một tập hợp các viện nghiên cứu và đào tạo, các doanh nghiệp phát triển

và các trung tâm nghiên cứu và sản xuất cũng như những tổ chức cá nhân và

xã hội khác Khu này được xây dựng như một thành phố trí tuệ KH&CN

Trang 15

mang tính quốc tế, có diện tích khoảng 2.350 ha Khu Sophia Antipolis được xây dựng với mục đích hình thành và phát triển một trung tâm kinh tế chú trọng vào CNC để biến một vùng lớn Provence-Alpes-Cote d’Azur của Pháp trở thành một trong những trung tâm phát triển kinh tế ở Nam châu Âu Những công ty quốc tế, chủ yếu từ Bắc Mỹ đã sử dụng Sophia Antipolis như một đầu mối cho việc mở rộng các hoạt động của họ ở thị trường châu Âu Khu CNC này được phát triển bằng cách tập trung các trung tâm đổi mới nổi tiếng và những trung tâm đang phát triển trong vùng Các doanh nghiệp và các tổ chức nhận được những ưu đãi về thuế, và trợ giúp về kỹ thuật từ chính quyền nhà nước và địa phương Trọng tâm hoạt động được đặt vào những thương vụ có giá trị gia tăng cao, NCPT và hoạt động bổ sung cần thiết.Tình hình hoạt động của Khu CNC Sophia Antipolis phát triển đều và khá

ổn định, với phần lớn là các công ty quy mô nhỏ, hoạt động năng động và có hiệu quả tương đối cao Tới ngày 1/1/1998, đã có 1.103 doanh nghiệp tham gia Khu, tạo ra 18.536 việc làm Các công ty có vốn nước ngoài cũng đóng một vai trò quan trọng trong Khu CNC này Hiện nay, 105 doanh nghiệp cóự vốn nước ngoài (chiếm 10% tổng số các doanh nghiệp trong Khu) đã thuê 24% tổng số nhân viên hoạt động trong Khu (4.301 người) Ngày càng

có nhiều công ty nước ngoài hoạt động trong Khu, làm tăng số việc làm Các doanh nghiệp và các tổ chức trong Khu hoạt động ở các lĩnh vực: CNTT; y-tế; hóa cao cấp; công nghệ sinh học; năng lượng và môi trường; nghiên cứu

và đào tạo cao cấp; sản xuất; dịch vụ, thương mại và các hoạt động hiệp hội khác Trong đó, CNTT với những công nghệ mới, cao cấp, về viễn thông và các hoạt động dịch vụ, sản xuất và phân phối là các lĩnh vực được phát triển mạnh Tổ chức quản lý của Khu CNC Sophia Antipolis đãừ thay đổi nhiều theo thời gian Hiện nay, đơn vị quản lý Khu CNC này là một công ty cổ phần, liên kết giữa tư nhân và Nhà nước

3)Thành phố khoa học Tsukuba (Tsukuba Science City), Nhật Bản

Thành phố khoa học Tsukuba của Nhật Bản là một dự án quốc gia được thực hiện trên một khu vực rộng 28.560 ha Nó được phát triển thành một thành phố khoa học có quy hoạch cẩn thận bao gồm các khu nhà ở lân cận, các cơ

sở giáo dục và thương mại, các văn phòng, các viện thử nghiệm và nghiên cứu quốc gia Ngoài ra, để có được sự cân bằng, người ta còn phát triển khu vực ngoại vi thành phố Thành phố khoa học Tsukuba được thành lập từ năm

1970, nhằm thúc đẩy KH&CN và đào tạo, đồng thời có mục đích tiếp nhận một phần dân cư từ Tokyo

Đến năm 1980 Thành phố khoa học Tsukuba có 45 viện nghiên cứu và đào tạo (chiếm 30% tổng số trung tâm của cả nước) Từ năm 1980, hợp tác giữa

Trang 16

khu vực công cộng và tư nhân bắt đầu phát triển, đến 4/1992, có 4 khu công nghiệp và 160 hãng tư nhân tham gia, thu hút hơn 10.000 cán bộ nghiên cứu.Thành phố khoa học này được chia thành 2 vùng, một vùng nghiên cứu hàn lâm và một vùng phát triển ngoại vi Vùng nghiên cứu hàn lâm (với diện tích 2.700 ha) có 47 cơ quan thử nghiệm, nghiên cứu quốc gia và các cơ sở có tính chất hàn lâm, như các trường đại học, cùng các phương tiện thương mại

và kinh doanh, kể cả các khách sạn, tòa nhà trung tâm với phòng đợi công cộng, các cửa hàng trung tâm, một bến xe buýt, khu nhà ở Ngoài ra có một

số ít trung tâm giải trí, nghỉ ngơi khác Đây là một thiếu sót trong quy hoạch

vì những người sống ở đây ít được thư giãn và tham gia các hoạt động xã hội Vùng ngoại vi là vùng công nghiệp, nghiên cứu và nhà ở với 115 công

ty và 9 tổ chức được chia thành 6 khu với diện tích 25.860 ha Từ năm 2001,

đã hình thành một cơ chế tự quản của Trung tâm quốc gia về CNC trong Khu, có mối quan hệ chặt chẽ (nhưng không trực thuộc) với Bộ Kinh tế và Công thương Nhật Bản và có mạng lưới liên kết với các trung tâm khoa học

và các trường đại học trong cả nước

4)Khu CNC Tân Trúc (Hsinchu, Đài Loan)

Khu CNC Tân túc được thành lập năm 1980, nằm trong khu vực rộng 2.100

ha cách Đài Bắc 80 km do Uỷ ban Khoa học Đài Loan chuẩn bị và tổ chức triển khai Diện tích xây dựng của Khu là 650 ha, phát triển theo 3 giai đoạn: Giai đoạn I: 270 ha; giai đoạn 2: mở rộng thêm 110 ha, và giai đoạn 3: phát triển thêm 170 ha Đến nay, Khu CNC Tân Trúc có diện tích 743 ha Khu CNC này được xây dựng nhằm thu hút đầu tư vào các công ty CNC của Đài Loan và hỗ trợ phát triển công nghiệp CNC tại Đài Loan, dựa trên một nguyên tắc chiến lược căn bản là xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các công ty CNC và hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại phù hợp với đòi hỏi của các lĩnh vực CNC Trong Quy hoạch tổng thể của Khu, giành 10% đất cho nhà ở, 30% đất cho công xưởng CNC, còn 60% đất giành cho cây xanh

Là nơi thực hiện sự hợp tác tay ba: giữa trung tâm nghiên cứu khoa học; các trường đại học; và các hãng CNC, với sự quản lý của Nhà nước

Đến năm 2001, có 312 công ty gia nhập Khu, với 96.293 người với cơ cấu lao động là: 1207 tiến sĩ (1,25%); 16.736 thạc sĩ (17,4%); 20.337 kỹ sư và

cử nhân (21,11%), số còn lại là kỹ thuật viên và lao động có kỹ năng và phổ thông Như vậy, có khoảng 40% lao động có trình độ đại học và trên đại học Doanh thu là 29,8 tỷ USD/năm, trong đó doanh thu từ hoạt động NCPT là 1.239 triệu USD Hàng năm trung bình có 300 bằng sáng chế và đào tạo cho 6.000 lượt người Quy mô của các công ty không lớn (bình quân 235 người) Sản phẩm công nghiệp CNC của Khu CNC Tân Trúc chuyên về mạch vi

Trang 17

điện tử và thiết bị ngoại vi với 165 công ty (chiếm 54% số công ty trong Khu).

Có thể nhận thấy rằng: Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc thành lập và phát triển Khu CNC Tân Trúc, mà ở đây là Uỷ ban Khoa học Nhà nước Trong giai đoạn hình thành Khu, Nhà nước tiến hành hàng loạt các hoạt động đầu tư với vốn “gây mầm” là 500 triệu USD nhằm xây dựng hạ tầng cơ sở, xây dựng sẵn nhà xưởng cho thuê, cung cấp nhà ở cho chuyên gia, hoặc Hoa kiều về nước, xây dựng trường học, xây dựng khu giải trí,

Từ khi thành lập (năm 1980) đến nay, Nhà nước đã đầu tư 912 triệu USD vào hạ tầng cơ sở Ngoài ra hàng năm còn hỗ trợ 30 triệu USD cho các hoạt động NCPT ở trong Khu Cục quản lý Khu được hình thành để quản lý và hỗ trợ các công ty hoạt động đúng mục tiêu và định hướng đã đề ra Nhà nước cũng đã ban hành điều lệ thành lập và quản lý Khu, các tiêu chuẩn gia nhập Khu CNC, các chính sách khuyến khích về tài chính; về nguồn nhân lực và môi trường thể chế cho phát triển công nghệ; về quy hoạch và về vốn đầu tư Trong Khu CNC Tân Trúc, việc sản xuất hàng hóa có trình độ CNC được phối hợp với sự phát triển các hoạt động NCPT Đây là một kiểu đặc trưng cho mô hình Công viên đổi mới công nghệ

3.4 Một số khu công nghệ cao trong khu vực châu Á

Trong thời gian gần đây, chính quyền các nước châu á đều rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển các hình thức khu CNC như là một giải pháp mang tầm chiến lược để phát triển kinh tế và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia Kết quả là khu CNC đã và đang được xây dựng ở rất nhiều nước trong khu vực: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, ấn Độ, Singapo, Malaixia, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, và Indonêxia, với những đặc điểm chủ yếu sau đây:

- Tại một vài nước kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, các khu CNC được xây dựng sớm, bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX, với số lượng nhiều, đa dạng về hình thức, về quy mô và mỗi khu có những nhiệm vụ chiến lược khác nhau Tại Nhật Bản tính đến năm 1993 có trên 105 khu CNC (kể cả một vài khu đang trong giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế), trong đó có 53 khu đang vận hành, được xây dựng theo các mô hình đa dạng

từ Thành phố khoa học cho đến Công viên khoa học, với quy mô khác nhau,

từ 0,15 ha đến 2.700 ha Mặc dù ở Nhật Bản các hoạt động khoa học trình độ cao được tập trung tại các trường đại học, nhưng việc xây dựng các khu CNC dựa trên cơ sở các trường lại gặp khó khăn và phức tạp, do vấn đề về

sử dụng đất và quyền sở hữu sáng chế Vì vậy, người ta chú trọng đến trao

Trang 18

đổi, chuyển giao công nghệ hơn là tiến hành NCPT, và các khu CNC được xem là phương thức thúc đẩy phát triển vùng.

- Tại các nước châu á khác, do trình độ NCPT thấp, nền kinh tế chưa phát triển mạnh, nên chỉ xây dựng một hoặc vài khu CNC mang tính chất chiến lược Các khu CNC ở những nước này được xây dựng theo các mô hình rất

đa dạng, khác nhau về quy mô và rất khác nhau về nhiệm vụ Các khu CNC

có thể được xây dựng dưới dạng Trung tâm công nghệ hoặc Trung tâm đổi mới công nghệ chú trọng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và tạo việc làm, như các khu CNC ở Singapo, Malaixia, Thái Lan Trung Quốc xây dựng những khu thử nghiệm ở dạng mô hình “vườn ươm doanh nghiệp” chú trọng vào việc tạo việc làm, phát triển kinh doanh Thái Lan ban đầu dự định xây dựng theo mô hình Công viên đổi mới công nghệ với mục đích tạo vùng, phát triển thành Đô thị công nghệ (Technolopole), nhưng do tác động của khủng hoảng kinh tế nên chuyển dần mô hình sang dạng Trung tâm đổi mới công nghệ Khu CNC Tân Trúc của Đài Loan được hình thành nhằm thúc đẩy và phát triển việc tham gia của các ngành CNC vào hoạt động NCPT và lôi cuốn Hoa kiều đầu tư Trong khi đó Khu CNC ở Hồng Kông được xây dựng nhằm phát triển các doanh nghiệp công nghệ mới và phát triển CNC

Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, các khu CNC phần lớn đều được chính phủ tài trợ qua hình thức đầu tư vốn “gây mầm” và/hoặc cấp tiền cho chi phí hoạt động Hình thức góp, sử dụng vốn cũng khác nhau: một vài nơi

sử dụng vốn thị trường đầu tư dài hạn, vốn mạo hiểm và vốn nội địa

1) Khu công nghệ cao Kulim - Malaixia:

Đây là khu CNC đầu tiên của Malaixia được hình thành với sự tư vấn nghiên cứu khả thi, quy hoạch của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) từ sáng kiến của Thủ tướng Malaixia Mohathir Mohamad Khu được thành lập

từ năm 1992 và chính thức hoạt động từ năm 1993 với các chức năng ban đầu là thu hút FDI về công nghiệp CNC, NCPT CNC và hướng đến hình thành một đô thị khoa học với đầy đủ các tiện nghi, ưu đãi cho các nhà khoa học và công nghệ, các công ty sản xuất trên cơ sở CNC Diện tích Khu hiện

đã lên đến 1.450 ha Khu Kulim (Kulim Hi-Tech Park – KHTP) do Công ty Kulim Technology Park Corporation Sdn Bhd trực thuộc Nhà nước điều hành (sở hữu chính là Công ty Kedah State Development) Hiện Khu Kulim đang tập trung thu hút các tập đoàn sản xuất công nghiệp CNC, xây dựng nâng cấp thêm cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực và ươm tạo doanh nghiệp vừa

và nhỏ CNC Vào năm 2002, Khu đã đạt tiêu chuẩn ISO 9002 Trong Khu công nghiệp CNC của Kulim đã có mặt các công ty, tập đoàn đầu tư hàng

Trang 19

đầu thế giới như: Intel, Advanced Disk, Entergis, BCM, NUR, Toyo, Fuji, Hamadatec, NSC….

2) Khu Trung Quan Thôn (Zhong guan cun - Trung Quốc.:

Khu Trung Quan Thôn là một khu CNC thuộc dạng tạo vùng đô thị khoa học và công nghệ rất lớn của thành phố Bắc Kinh, bao gồm 5 vùng khoa học công nghệ và sản xuất CNC: Haidan, Fengtai, Changping, vùng Điện tử, Yizhuang (mỗi vùng tương đương với một quận nội thành) Khu Trung Quan Thôn có 39 Viện, Trường từ Đại học Bắc Kinh và Đại học Thanh Hoa Trong Khu còn có hoạt động của 213 Viện nghiên cứu của Viện Khoa học Trung Quốc Hiện nay Khu Trung Quan Thôn đã thu hút được khoảng 1.500 trung tâm NCPT và các công ty sản xuất CNC, trong đó có các công ty nổi tiếng như IBM, Microsoft, Mitsubishi…

Khu Trung Quan Thôn được điều hành bởi Ban Quản lý đứng đầu là Thị trưởng thành phố Bắc Kinh Vào đầu năm 2001, Khu Trung Quan Thôn đã cho công bố chính sách ưu đãi, được coi là tiến bộ nhất ở Trung Quốc, với các mô hình tổ chức hoạt động khác nhau được phép thực hiện Cũng trong năm 2001, trong Khu có 361.000 người làm việc và tạo ra hơn 70.000 việc làm mới

Cơ cấu Khu hiện như sau: 74,4% dành cho khu sản xuất công nghiệp điện tử; 6,9% dành cho cơ khí, quang học, điện khí; 7% là năng lượng mới, vật liệu mới; 4,1% dành cho sinh học và dược; 7,75% cho các lĩnh vực khác Trong Khu khuyến khích các hoạt động của các định chế tài chính tiên tiến nhất hỗ trợ doanh nghiệp CNC như ngân hàng, quỹ đầu tư mạo hiểm Ngoài

ra, vườn ươm doanh nghiệp và các dịch vụ xã hội ăn, ở, giải trí cũng được phép hoạt động mạnh Có thể thấy đây là mô hình mềm dẻo nhất của thành phố Bắc Kinh phát triển khoa học và công nghệ và sản xuất CNC, hiện đang trên đường phát triển mạnh mẽ

IV PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Đầu tư phát triển các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin

là một hướng đi mà hầu hết các nước trên thế giới đều tuân theo để nhằm tạo

ra một động lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong nước, cũng như để tìm cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường thương mại quốc tế Trong khi các nước phát triển chú ý đầu tư nhiều cho các ngành công nghệ sinh học, hàng không vũ trụ, vật liệu mới và đặc biệt là công nghệ thông tin

và viễn thông, thì hầu hết các nước đang phát triển lại cố gắng tập trung các

Trang 20

nguồn vốn ít ỏi của mình cho các công nghệ sinh học và công nghệ thông tin

Trong Báo cáo Phát triển Con người năm 2001, UNDP có đưa ra Chỉ số

Thành tựu Công nghệ (Technology Achievement Index - TAI), với mục đích

đánh giá thành tựu của một nước trong việc sáng tạo, truyền bá công nghệ và xây dựng cơ sở kỹ năng con người Chỉ số này phản ánh năng lực của một nước tham gia vào đổi mới công nghệ trong kỷ nguyên nối mạng Chỉ số tổng hợp này đánh giá các thành tích, chứ không phải tiềm năng, nỗ lực hay đầu vào của các nước Chỉ số này không chú trọng đến việc nước đó có dẫn đầu về phát triển công nghệ toàn cầu hay không, mà chỉ chú trọng tìm hiểu xem nước đó đã thực hiện tốt như thế nào việc sáng tạo và sử dụng công nghệ về tổng thể

TAI là một chỉ số tổng hợp được đưa ra để nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách xác định các chiến lược công nghệ trong một kỷ nguyên nối mạng hiện nay Chỉ số này cho phép các nước nhận thức rõ được vị trí tương đối của mình như thế nào so với các nước khác và định hướng cho các nhà hoạch định chính sách có một cái nhìn mới về thành tựu công nghệ của nước mình để hoạch định cho tương lai

TAI tập trung vào 4 khía cạnh phản ánh năng lực công nghệ của một nước, đóng vai trò quan trọng trong việc gặt hái được những lợi ích trong kỷ nguyên nối mạng, cụ thể như sau:

1) Sáng tạo công nghệ Không phải tất cả các nước đều có vị trí dẫn đầu

trong sự nghiệp phát triển công nghệ toàn cầu, nhưng năng lực đổi mới liên quan đến tất cả các nước và cấu thành ở mức cao nhất năng lực công nghệ Nền kinh tế toàn cầu đã mang lại những phần thưởng lớn cho các nước đi đầu và nước tạo ra đổi mới công nghệ Tất cả các nước đều cần phải có năng lực đổi mới, bởi vì khả năng đổi mới trong sử dụng công nghệ không thể phát triển đầy đủ được nếu không có khả năng sáng tạo, đặc biệt là trong việc làm thích nghi các sản phẩm và quy trình mới với các điều kiện địa phương

2) Phổ biến công nghệ hiện đại Tất cả các nước đều phải áp dụng công

nghệ hiện đại để nắm bắt được những ích lợi từ các cơ hội trong kỷ nguyên nối mạng Điều này được đánh giá bằng sự phổ biến của mạng Internet và bằng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao và trung trong tổng sản lượng xuất khẩu

3) Phổ biến công nghệ cũ Việc tham gia vào kỷ nguyên nối mạng cần có sự

truyền bá nhiều đổi mới đã thực hiện trước đây Mặc dù đôi khi có thể tạo được bước nhảy vọt, nhưng sự tiến bộ công nghệ là một quá trình tích luỹ và

Trang 21

sự truyền bá các công nghệ cũ rất là cần thiết cho việc áp dụng các công nghệ hiện đại ở đây sử dụng hai chỉ số đặc biệt quan trọng, đó là điện và điện thoại Đây là hai yếu tố cần để sử dụng các công nghệ mới hơn và cũng

là đầu vào liên quan đến đa số các hoạt động của con người

4) Kỹ năng con người Một tập hợp tới hạn các kỹ năng không thể thiếu đối

với tính năng động công nghệ Cả hai phía - người sáng tạo và người sử dụng công nghệ đều cần có kỹ năng Các công nghệ ngày nay đòi hỏi khả năng thích nghi, tức là các kỹ năng làm chủ được luồng đổi mới liên tục xảy

ra Cơ sở của kỹ năng đó là trình độ giáo dục cơ bản để phát triển các kỹ năng nhận thức và các kỹ năng về khoa học và toán học

Bảng xếp hạng theo chỉ số TAI đã xem xét 72 quốc gia có các dữ liệu đầy đủ

và đáng tin cậy Đối với các nước còn lại, có thể vì thiếu số liệu hoặc số liệu không đáp ứng được nên TAI không thể đánh giá Các quốc gia trong bảng xếp hạng được chia ra thành bốn nhóm với giá trị TAI biến thiên từ mức cao nhất 0,744 (Phần Lan) đến mức thấp nhất 0,066 (Mozambique) Bốn nhóm bao gồm (Bảng 1):

1) Các nước dẫn đầu (Leaders) với giá trị TAI cao hơn 0,5 Đứng đầu là các

nước Phần Lan, Mỹ, Thuỵ Điển và Nhật Bản Nhóm các nước này chiếm vị trí dẫn đầu về sáng tạo, phổ biến công nghệ và xây dựng kỹ năng;

2) Các nước có tiềm năng dẫn đầu (Potential Leaders) với giá trị TAI từ

0,35 đến 0,49 Hầu hết các nước thuộc nhóm này đều đã đầu tư vào kỹ năng con người ở mức cao và phổ biến các công nghệ cũ một cách rộng rãi, nhưng ít sáng tạo Trình độ kỹ năng của nhóm các nước này có thể so sánh được với nhóm các nước dẫn đầu;

3) Các nước thích nghi năng động (Dynamic adopters) với giá trị TAI từ

0,20 đến 0,34 Các nước này rất năng động trong việc sử dụng các công nghệ mới Nhóm này chủ yếu là các nước đang phát triển có trình độ kỹ năng con người cao hơn đáng kể so với nhóm thứ tư Đáng chú ý là các nước Braxin, Trung Quốc, ấn Độ, Inđônêxia, Nam Phi và Tuynidi Nhiều trong số các nước này có các ngành công nghiệp công nghệ cao quan trọng và các trung tâm công nghệ, nhưng sự truyền bá công nghệ cũ vẫn còn chậm và không hoàn chỉnh

4) Các nước chậm thích nghi (Marginalized) với TAI thấp hơn 0,20 Sự

truyền bá công nghệ và xây dựng kỹ năng tiến triển chậm chạp ở các nước này Phần lớn dân số đều không được hưởng các lợi ích từ sự truyền bá công nghệ cũ

Bảng 1 Bảng xếp hạng các nước

Trang 22

Các nước có tiềm năng dẫn đầu

41 Trinidad và

Tobago

0,328 54 El Salvador 0,253

Trang 23

Các ngành công nghệ cao có có một ảnh hưởng tích cực đáng kể đối với tỷ

lệ tăng trưởng kinh tế, nhờ tính chất đổi mới cao của chúng Trong những năm 80 của thế kỷ 20, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao trong các nước OECD tăng 117% Ngày nay, việc các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật vẫn tiếp tục dành những nguồn lực của minh đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D) đã cho thấy tầm quan trọng của các ngành công nghiệp công nghệ cao Mặc dù mức đầu tư cho R&D trên tổng thể mỗi nền kinh tế gần nganh nhau ở các nước phát triển trên, nhưng Mỹ vẫn có thị phần lớn nhất trong các ngành công nghiệp công nghệ cao Việc duy trì và phát triển và các ngành công nghiệp nghệ cao sẽ giúp các nước phát triển duy trì làn sóng công nghệ, trình độ công nghệ, việc làm và tăng trưởng kinh tế (Bảng 2, 3,

và 4))

Bảng 2 Xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong các nước OECD và các nước và vùng lãnh thổ khác trong các năm từ 2002 đến 2004

Trang 24

Áo 10.7 10.4 1.03 10.2 10.9 0.93 11.9 12.3 0.96

Hà Lan 36.0 33.7 1.07 44.1 41.5 1.06

Bỉ 16.0 17.4 0.92 15.8 17.3 0.91 16.2 17.5 0.92 Luxembourg 1.1 2.0 0.57 0.9 1.3 0.68 0.8 1.5 0.56 Pháp 56.7 48.3 1.17 50.7 43.7 1.16 53.4 47.8 1.12 Anh 76.9 72.6 1.06 58.2 64.7 0.90

Ai Len 33.6 21.0 1.60 24.6 14.2 1.73 24.5 14.7 1.66 Tây Ban Nha 7.6 16.5 0.46 8.1 17.7 0.46

Bồ Đào Nha 1.7 4.3 0.40 2.1 4.6 0.45 2.1 4.9 0.43 Italia 21.9 30.5 0.72 19.0 28.9 0.66 19.8 31.1 0.64

Hy Lạp 0.8 2.8 0.27 0.9 3.8 0.23 0.9 4.6 0.19

Na Uy 3.1 5.1 0.60 2.4 4.2 0.57 2.2 4.6 0.49Thuỵ Sỹ 20.2 15.7 1.28 19.9 15.1 1.32 20.9 14.9 1.40

Ba Lan 1.1 6.3 0.17 1.3 6.0 0.21

CH Séc 5.1 6.8 0.74 5.3 7.0 0.75 Slovakia 0.4 1.6 0.27 0.7 1.8 0.36 Hungary 7.9 8.1 0.98 8.6 8.5 1.01 Canada 24.2 33.7 0.72 2.5 13.1 0.19 2.5 14.0 0.18

Mỹ 205.3 216.5 0.95 0.6 2.3 0.25 Hàn Quốc 49.2 36.4 1.35 86.5 61.3 1.41 Nhật 93.8 66.0 1.42 20.4 27.4 0.74 Trung Quốc 72.5 84.5 0.86 172.4 188.5 0.91 175.8 194.3 0.90 Đài Loan 56.5 41.9 1.35 50.4 36.1 1.39 60.8 39.0 1.56 Hong Kong 54.7 63.1 0.87 93.6 105.3 0.89 Ôxtraylia 3.1 13.4 0.23 55.4 62.5 0.89 New Zealand0.4 2.1 0.20 51.1 36.7 1.39

Trang 25

Bảng 3 Xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong các nhóm nước năm 2004 (tỷ USD)

Nhóm nước Xuất khẩu Nhập khẩu 2004

Trang 26

4.2 Tình hình phát triển công nghệ cao của một số nước trên thế giới.

Do nhận thức khác nhau về vai trò của các ngành khoa học và công nghệ và cũng do đặc điểm lợi thế khác nhau của từng nước, mà các nước đều tìm cho mình một sách lược riêng để có thể vững bước đưa đất nước mình tiến vào thế kỷ 21 Dưới đây là ví dụ về chính sách công nghệ cao của một số nước

đã và đang thành công trong việc phát triển các ngành này

1) Israel

Hiện nay ngành công nghệ cao ở Israel đang là một nguồn đóng góp chính

về việc làm, nơi sáng tạo ra các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), là ngành dẫn đầu về tăng trưởng xuất khẩu và cuối cùng đó chính là động lực thúc đẩy kinh tế của Israel Nếu trong năm 1991, các sản phẩm công nghệ cao đã đóng góp khoảng 22% trong tổng trị giá 7,7 tỷ USD xuất khẩu của Israel, thì đến năm 2001 các mặt hàng công nghệ cao đã chiếm đến 36% trong tổng trị giá 18,7 tỷ USD xuất khẩu của nước này Israel đạt được một thành tích to lớn như vậy chính là do Chính phủ nước này đã sớm nhận thức rõ được tầm quan trọng của ngành công nghệ cao đối với sự phát triển tổng thể của đất nước, do đó đã đầu tư vào các quỹ mạo hiểm nhằm cung cấp vốn ban đầu để

Trang 27

khởi sự các công ty công nghệ cao Bằng những biện pháp kích thích của mình, Chính phủ đã sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước như một nguồn vốn cốt lõi, chia sẻ những rủi ro về tài chính với khu vực tư nhân và đã sớm nhận thức rõ rằng các công ty tư nhân sẽ thu được phần tăng lên về tài chính nếu họ hoạt động có hiệu quả.

Từ những năm 1960, các công ty công nghệ cao đầu tiên của Israel đã được ngành công nghiệp quốc phòng thành lập với sự trợ giúp của Chính phủ Từ lúc khởi sự đó, nhiều công ty công nghệ cao đã được sinh ra bắt nguồn từ các hoạt động nghiên cứu ứng dụng tại các trường đại học (cũng là các vườn ươm) của Israel, mà sau đó đã được thương mại hoá để phục vụ cho các nhu cầu của quốc phòng Vào năm 1991, Chính phủ nước này đã tiến thêm một bước trong việc đóng vai trò xúc tác để thúc đẩy phát triển các ngành vốn mạo hiểm (Venture Capital-VC) tư nhân nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của các công ty công nghệ cao Hiện nay, ở Israel có khoảng 100 quỹ

VC đang hoạt động với nguồn vốn lên tới 5 tỷ USD và đầu tư mạo hiểm đang được thực hiện với tốc độ quay vòng 2,5 tỷ USD mỗi năm tại một đất nước có trị giá GDP khoảng 100 tỷ USD và dân số là 6 triệu người

Các cơ cấu vận hành tại các vườn ươm công nghệ của Israel có một số điểm tương tự như các cường quốc công nghệ cao Mỹ và EU Tại Israel, các vườn ươm công nghệ đã giúp đỡ các công ty công nghệ cao không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu, mà còn trong các lĩnh vực khác như quản lý, phát triển kinh doanh, marketing, thành lập các liên minh chiến lược và tăng nguồn đầu tư mạo hiểm Những dịch vụ đó đã tạo ra một giá trị gia tăng quyết định cho các công ty mới thành lập Một yếu tố then chốt khác cho sự thành công của Israel chính là năng lực kiệt xuất của các nhà chuyên môn Israel có một đội ngũ nòng cốt các nhà khoa học, kỹ sư có trình độ cao, bên cạnh đó là các

kỹ thuật viên chuyên ngành, chính những người này đã chi phối toàn bộ ngành công nghệ cao của Israel và đưa ngành này ngày càng phát triển

Công nghệ sinh học

Tại Israel, hầu hết các công ty khoa học về sự sống đã tăng gấp đôi phần vốn đầu tư của mình trong số tổng đầu tư là 2 tỷ USD vào năm 2001 Cũng trong năm này, các công ty khoa học về sự sống chiếm khoảng 16% trong tổng nguồn vốn tăng lên, cao hơn gấp đôi so với nguồn vốn năm trước Riêng trong khu vực này, 103 công ty đã huy động được một nguồn vốn tăng lên là

310 triệu USD, so với 75 công ty tăng được 238 triệu USD trong năm 2000 Các công ty công nghệ sinh học của Mỹ đã tăng được 37,2 tỷ USD trong năm 2000 thông qua các nguồn tài chính của khu vực Nhà nước và tư nhân Những con số lớn và chất lượng cao của các sáng kiến và công nghệ mới

Trang 28

trong lĩnh vực nghiên cứu NCPT công nghệ sinh học hứa hẹn những phần thưởng lớn cho các nhà đầu tư đúng hướng.

Tiếp theo những thành công của ngành công nghiệp dựa trên cơ sở công nghệ cao các lĩnh vực điện tử, phần mềm và truyền thông, Israel có một tiềm năng mạnh mẽ để trở nên chiếm lĩnh vai trò dẫn đầu trong thế giới công nghệ sinh học Israel được xếp hạng là nước dẫn đầu về các xuất bản phẩm khoa học tính theo đầu người và hầu như 60% số xuất bản phẩm khoa học của nước này đều thuộc về lĩnh vực sinh học và các ngành liên quan đến y học và nông nghiệp Các khoa học về sự sống chiếm khoảng 35% các hoạt động nghiên cứu dân sự của Israel, chủ yếu được thực hiện tại 7 trường đại học, 5 trường y khoa và tại các viện nghiên cứu nông nghiệp hay khoa nông nghiệp thuộc trường Đại học Hebrew Trong lĩnh vực công nghệ sinh học, nghiên cứu cơ bản mạnh chính là tiền đề cho những ứng dụng trong ngành công nghiệp, chính vì vậy mà cả hai giai đoạn: nghiên cứu và chuyển tiếp sang ngành công nghiệp đều cần có sự hỗ trợ từ phía Chính phủ và của các

cơ sở đại học Ví dụ điển hình là sự hình thành các văn phòng xúc tiến thương mại hoá NCPT như: Yeda thuộc Viện nghiên cứu Weizmann, Yissum thuộc trường Đại học Hebrew và Ramot thuộc trường Đại học Tel Aviv Nhiều nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu hàn lâm đều giữ các chức vụ trong các doanh nghiệp công nghệ sinh học

Từ chỗ chỉ có khoảng 3 hoặc 4 công ty công nghệ sinh học vào năm 1980, đến nay tại Israel đã có tới 160 các doanh nghiệp công nghiệp tích cực hoạt động trong các lĩnh vực như dược phẩm, chẩn đoán bệnh, sinh tin học và sinh học nông nghiệp với các sản phẩm về giống và cây trồng Lực lượng nhân công trong ngành công nghệ sinh học đã tăng từ 400 người năm 1988 lên 4000 người ngày nay Doanh thu từ các sản phẩm do ngành công nghệ sinh học của Israel triển khai đã tăng từ 15 triệu USD năm 1988 lên đến hơn

1 tỷ USD năm 2001, khoảng 80% các sản phẩm công nghệ sinh học được xuất khẩu Hiện nay Israel chiếm khoảng 2,5% tổng doanh thu về công nghệ sinh học trên toàn thế giới Công nghệ sinh học đang góp phần quan trọng cho sự tăng trưởng của ngành y học ở Israel, trong đó bao gồm các thiết bị y học và điện tử, cũng như các loại thuốc nói chung, xuất khẩu các mặt hàng này đã đạt 1,1 tỷ USD năm 1998, chiếm trên 5% tổng trị giá xuất khẩu của Israel Các loại thuốc chữa bệnh chiếm đến 67% tổng doanh thu các sản phẩm công nghệ sinh học của Israel Hiện nay các công ty công nghệ sinh học của Israel đang triển khai nhiều loại thuốc mới như: các hệ thống cung cấp thuốc vào cơ thể, các loại thuốc kháng thể vô tính đơn, các loại peptit định hình bằng cấu trúc, các phép trị liệu tế bào, gen Các phương pháp và thiết bị chẩn đoán bệnh chiếm khoảng 4% doanh thu công nghệ sinh học của

Trang 29

Israel, chủ yếu từ các phương pháp phân tích gen và miễn dịch học để phát hiện virut và các vi sinh vật gây bệnh khác Các phương pháp chẩn đoán gen đang hứa hẹn sẽ trở thành hoạt động chính Các sản phẩm thuốc thú y và sinh học nông nghiệp chiếm đến 23% doanh thu công nghệ sinh học của Israel.

Công nghệ nanô

Gần đây, các viện nghiên cứu lớn của Israel đã bắt đầu chú trọng đến việc chế tạo các thiết bị nghiên cứu và triển khai công nghệ nanô Mức độ kinh phí dành cho lĩnh vực này rất đa dạng, nhưng điều rõ ràng là việc nghiên cứu công nghệ nanô có thể mở ra tiềm năng làm thay đổi tất cả Mặc dù Israel đang bị cuốn vào các vòng xoáy nghiên cứu cơ bản, nhưng đã có rất nhiều cuộc hội thảo về công nghệ nanô xoay quanh các chủ đề: công nghệ nanô có thể làm được điều gì, khi nào và liệu kết quả đạt được có xứng đáng với những chi phí bỏ ra không

Mới đây, trường Đại học Hebrew tại Jerusalem đã thành lập một trung tâm khoa học và công nghệ nanô với trị giá 40 triệu USD Và trong 6 tháng tới, trường này sẽ thành lập thêm một trung tâm về biểu thị đặc trưng micro và hiển vi điện tử Hiện nay nhiều nhà khoa học tại trường Đại học Hebrew thuộc các ngành như vật lý, hoá học, kỹ thuật và các khoa học về sự sống đều đã bắt tay vào nghiên cứu ở phạm vi nanô Ngoài ra ở Israel còn có nhiều trường đại học khác nữa cũng tham gia nghiên cứu về công nghệ nanô, như trường Đại học Ben-Gurion, Đại học Tel Aviv và Viện công nghệ Technion, tất cả đều công bố về những khoản đầu tư lớn vào khoa học và công nghệ nanô trong 18 tháng qua

Hiện nay, các phòng thí nghiệm nanô mới chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ bản, nhưng với hy vọng là đến một ngày nào đó các khám phá thu được sẽ

có thể áp dụng cho gần như mọi ngành công nghệ Các nghiên cứu cho thấy

đã đạt được những tiến bộ mang tính cách mạng về vật liệu mới, dược phẩm

và công nghệ thông tin

2) Mỹ

Chính sách công nghệ cao của Mỹ không gắn với kế hoạch hoá phát triển một ngành nhất định nào, tới sự phát triển khối lượng sản xuất hay điều tiết vốn đầu tư, mà nền tảng của nó chính là sự lựa chọn có cơ sở các hướng ưu tiên hỗ trợ của nhà nước và những hình thức kích thích tài chính thích hợp cho từng ngành cụ thể

Trang 30

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, chỉ có các nhà sản xuất những sản phẩm mới với trình độ kỹ thuật tiên tiến mà trên thực tế thế giới chưa hề có hoặc các mặt hàng rất hiếm khi tồn tại đơn chiếc mới có thể tồn tại được

Chính trong điều kiện này, chính sách công nghệ cao của Mỹ đã thể hiện rõ quan điểm của mình Vào đầu những năm 1980, các hoạt động kinh tế của

Mỹ ngày càng chuyển hướng sang sản xuất các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao và có gía trị gia tăng, tỷ phần các công ty Mỹ xuất khẩu những sản phẩm sản xuất hàng loạt truyền thống trên thế giới đã không ngừng giảm xuống Nếu năm 1980, chế tạo công nghệ cao ở Mỹ chỉ chiếm 10,4% trong tổng sản lượng cả nước, thì đến năm 1989, ngành này đã chiếm tới 13% Tỷ trọng xuất nhập khẩu và tỷ lệ đóng góp của các sản phẩm công nghệ cao vào GDP ngày càng lớn Năm 1993, các mặt hàng công nghệ cao chiếm 21% trong tổng trị giá xuất khẩu của Mỹ và đến năm 2000 con số này đã đạt 26% với trị giá là 181 tỷ USD

Địa vị hàng đầu của Mỹ trong nền sản xuất công nghệ cao trên thế giới được củng cố nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học mạnh mẽ và nguồn phát minh sáng chế dồi dào trong nước Nước Mỹ đã soạn thảo một chính sách nghiên cứu khoa học khá hiệu quả để duy trì ưu thế quốc gia trong các ngành sản xuất công nghệ cao trên thế giới và để chống lại các đối thủ cạnh tranh hiện thời và có thể có (như Tây Âu, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc và các nước mới công nghiệp hoá)

Trong vòng 5-7 năm gần đây, mức tăng chi phí hàng năm của nhà nước trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học ở Mỹ trung bình là 10% Từ năm 1987 đến năm 1997, Quỹ Khoa học Quốc gia đã tăng gấp đôi số vốn cấp và chi 70% số tiền được cấp trực tiếp cho các tập thể sáng tạo, ưu tiên cho đội ngũ

kỹ sư và các nhà khoa học trẻ có triển vọng Trong những công trình nghiên cứu khoa học và thiết kế thử nghiệm, tiền tài trợ được tập trung chủ yếu cho các nghiên cứu đa ngành có khả năng đem lại hiệu quả đồng thời cho nhiều ngành khác nhau

Chủ đầu tư chính cho các lĩnh vực nghiên cứu độc lập là ngành công nghiệp

và chính ngành này cũng thực hiện một khối lượng lớn các chương trình nghiên cứu được nhà nước tài trợ Đóng góp thực tế của ngành công nghiệp

Mỹ cho việc tiến hành nghiên cứu khoa học và thiết kế thử nghiệm đã lên tới 70% Từ năm 1991 đến năm 2000, Mỹ đã chi tổng cộng hơn 3000 tỷ USD cho công nghệ thông tin, trong đó riêng các doanh nghiệp đã đầu tư hơn

2000 tỷ USD cho máy tính, phần mềm và các sản phẩm công nghệ cao khác

Mỹ đã có thể huy động được một nguồn vốn lớn đầu tư vào các ngành công

Trang 31

nghệ cao còn nhờ vào sự tăng nhanh của nguồn vốn mạo hiểm (VC) Năm

1997, đầu tư VC của Mỹ đã đạt 12 tỷ USD (0,16% GDP), tăng từ 2,6 tỷ USD vào năm 1991 Đến năm 2000, nguồn VC đã tăng lên đến 100 tỷ USD, bằng 40% tổng kinh phí chi cho NCPT VC góp phần tạo điều kiện cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy phát triển và giới thiệu các sản phẩm và các công nghệ mới trên thị trường Đây là một nguồn vốn quan trọng để thành lập và mở rộng các doanh nghiệp công nghệ cao vừa và nhỏ Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt những doanh nghiệp sản xuất phần mềm máy tính, được nhận phần

VC lớn nhất ở Mỹ Tiếp theo là các công ty hoạt động trong lĩnh vực y tế, dược phẩm và viễn thông

Ngoài việc đầu tư trực tiếp cho các công trình nghiên cứu khoa học, kể cả cho các công ty tư nhân, nhà nước còn áp dụng một cách có hiệu quả biện pháp đảm bảo ưu đãi về thuế Ngoài ra, còn có thể cắt giảm thêm mức thuế đánh vào lợi nhuận của toàn bộ các công ty công nghiệp và điều này đôi khi làm cho tổng số thuế nói chung giảm tới 50% Các nhà chuyên gia cho rằng nhờ giảm thuế, mà các hãng, bắt đầu từ năm 1994, đã tăng 4% đầu tư của mình để tiến hành công tác nghiên cứu khoa học

Dự kiến ngân sách dành cho khoa học năm TK 2003 của chính quyền Tổng thống Bush đã đặt ra các lĩnh vực ưu tiên gồm nghiên cứu y sinh, công nghệ thông tin và công nghệ nanô Những mục tiêu cụ thể bao gồm việc thiết kế các dụng cụ máy móc, cho phép chụp ảnh và điều khiển tính năng của các vật liệu hữu cơ và vô cơ ở mức độ nguyên tử; công nghệ thông tin và tính toán cho phép thao tác thông tin ở mức nguyên tử và mô phỏng các đặc tính chức năng của vật chất dựa trên cơ sở mô tả ở mức độ nguyên tử Kết quả sẽ

là một sự hiểu biết chưa từng có và khả năng điều khiển các đặc tính chức năng của tất cả vật chất cấu tạo nên các nguyên tử hoá học Sản phẩm của những khả năng đó chính là những thành quả hiện nay trong công nghệ sinh học, công nghệ chất vô cơ và công nghệ nanô

Để khuyến khích tăng cường đổi mới, Chương trình Công nghệ năm 2002 của Tổng thống Bush đã tăng ngân sách NCPT liên bang lên đến 100 tỷ USD, đây là con số lớn kỷ lục trong lịch sử Ngoài ra chính quyền còn quyết định tăng ngân sách dành cho khoa học và công nghệ thông qua các cơ quan như Quỹ Khoa học Quốc gia, Cục Bảo vệ Môi trường và các Bộ Năng lượng, Nông nghiệp, Nội vụ, Thương mại và Giao thông Vận tải

3) Nhật Bản

Ngày đăng: 04/12/2015, 14:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.  Xuất  nhập  khẩu  các   sản  phẩm  công  nghệ   cao  trong  các   nước - tình hình phát triển công nghệ cao trên thế giới hiện nay
ng 2. Xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong các nước (Trang 23)
Bảng 3. Xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong các nhóm nước   năm 2004 (tỷ USD) - tình hình phát triển công nghệ cao trên thế giới hiện nay
Bảng 3. Xuất nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong các nhóm nước năm 2004 (tỷ USD) (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w