Nêu vai trò của quản trị tri thức trong kinh doanh hiện đại nêu ví dụ cụ thể tại một doanh nghiệp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BÀI THẢO LUẬN
Học phần : quản trị tri thức
Đề tài : Nêu vai trò của quản trị tri thức trong kinh doanh hiện đại.
nêu ví dụ cụ thể tại một doanh nghiệpNHÓM THỰC HIỆN : NHÓM 3
HÀ NỘI : 2011
Trang 2MỤC LỤC
I LÝ THUYẾT :
1 KHÁI NIỆM VỀ TRI THỨC VÀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
1.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ TRI THỨC
1.2 CÁC KHÁI NIỆM VỀ QUẢN TRỊ TRI THỨC
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC :
2.1 QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
2.2 QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ QUẢN TRỊ THÔNG TIN
2.3 QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ VĂN HÓA SÁNG TẠO
2.4 QUẢN TRỊ TRI THỨC VÀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN
LỰC
3 VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC :
3.1 TRONG HỆ THỐNG KINH TẾ
3.2 TRONG DOANH NGHIỆP
II THỰC TIỄN DOANH NGHIỆP :
“VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC TRONG CÔNG TY CANON”.
Trang 3
I LÝ THUYẾT :
1 KHÁI NIỆM VỀ TRI THỨC VÀ QUẢN TRỊ TRI THỨC :
1.1 khái niệm về tri thức :
Để hiểu rõ khái niệm tri thức ta phân biệt tri thức với các khái niệmtương đồng khác là dữ liệu, thông tin, trí tuệ
Dữ liệu là những con số hoặc dữ kiện thuần túy, rời rạc mà quan sát
hoặc đo đếm được không có ngữ cảnh hay diễn giải Dữ liệu được thể hiện rangoài bằng cách mã hóa và dễ dàng truyền tải Dữ liệu được chuyển thànhthông tin bằng cách thêm giá trị thông qua ngữ cảnh, phân loại, tính toán,hiệu chỉnh và đánh giá
Thông tin là những mô hình hay tập hợp dữ liệu đã được tổ chức lại
và diễn giải đặt trong bối cảnh và nhằm một mục đich cụ thể Thông tin lànhững thông điệp thường được thể hiện theo dạng văn bản hoặc giao tiếp cóthể thấy được hoặc không thấy được… nhằm mục đích thay đổi cách nhậnthức của người nhận thông tin về vấn đề cụ thể, và gây ảnh hưởng đến sựđánh giá và hành vi của người nhận Vì thông tin là những dữ liệu được tổchức lại vì một mục đích nào đó, vì vậy mà nó sẽ giảm bớt sự không chắcchắn Đó cũng chính là sự khác biệt của thông tin với dữ liệu Tương tự như
dữ liệu, thông tin được mã hóa và tương đối dễ dàng truyền tải
Tri thức là thông tin được cấu trúc hóa, được kiểm nghiệm và có thể
sử dụng được vào mục đích cụ thể Tri thức thường thể hiện trong nhữnghoàn cảnh cụ thể kết hợp với kinh nghiệm và việc phán quyết hay ra quyếtđịnh Để truyền tải thì đòi hỏi sự học tập của người tiếp nhận tri thức Nhưvậy nếu một thông tin giúp chúng ta nhận thức và đưa ra quyết định thì là trithức Thông tin trở thành “đầu vào” được nạp vào trong não, qua quá trình
xử lý sẽ tạo ra tri thức Nhưng quá trình xử lý này với mỗi một cá nhân khácnhau sẽ cho ra những “đầu ra” khác nhau Có nghĩa là cùng một thông tinnhư vậy nhưng với mỗi cá nhân thì tri thức mà anh ta nhận thức được sẽkhác với tri thức mà người khác nhận thức Thông tin là những dữ liệu đượccấu trúc hóa được thể hiện ra ngoài và ai cũng có thể tiếp cận Nhưng tri thứcthiên về những thông tin được cấu trúc hóa và cá nhân hóa nằm trong mỗicon người cụ thể, do đó khả năng tiếp cận khó hơn và sự thể hiện ra ngoàikhông phải lúc nào cũng chính xác
Trí tuệ là khả năng sử dụng tri thức một cách không ngoan nhằm đạt
được mục đích của mình Trí tuệ gắn liền với con người và sự đánh giá, phánxét và hoạch định các hành động Cùng có tri thức như nhau nhưng mỗingười sẽ hành xử một cách khác nhau vì trí tuệ của mỗi người là khác nhautức là khả năng sử dụng tri thức của mỗi người là khác nhau nên sẽ tạo ra kếtquả khác nhau
Trang 4Tri thức là những dữ liệu, thông tin được cấu trúc hóa, kiểm nghiệm
và sử dụng được vào một mục đích cụ thể tạo ra giá trị
Chúng ta có thể chia ra làm 3 loại tri thức: Một là tri thức nổi (explicitknowledge); hai là tri thức ngầm (tacit knowledge) và ba là tri thức tiềmnăng (implicit knowledge)
Tri thức hiện (Explicit knowledge): Đây là những tri thức được giải
thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh thông quangôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính,chuẩn mực hay các phương tiện khác Những tri thức có cấu trúc thườngđược thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao Ví dụ như các tri thức vềchuyên môn được trình bày trong giáo trình, sách, báo, tạp chí… Những trithức đã được cấu trúc hóa thường là tri thức hiện.Trong tác phẩm có sức ảnhhưởng rất mạnh của mình–Công ty Sáng tạo Kiến thức–Nonaka và Takeuchi
đã phân biệt tri thức hiện và tri thức ngầm Tri thức hiện là các tri thức được
hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu, hoặc các báo cáo, chúng có thể đượcchuyển tải trong những ngôn ngữ chính thức và có hệ thống
Tri thức ngầm (Tacit knowledge): Tri thức mà một người có được
một cách tự giác vô thức Tri thức ẩn có thể không lý giải hay lập luận được
Trang 5bởi vì (1) tri thức ẩn không được hiểu cặn kẽ, (2) nó quen thuộc, tự động vàvượt qua ý thức người sở hữu nó Ví dụ như: bí quyết, niềm tin, kinhnghiệm, sự nhạy cảm trong công việc…Nonaka và Takeuchi cũng cho rằng:tri thức ngầm là nhưng tri thức không thể hoặc là rất khó được hệ thống hóatrong các văn bản, tài liệu, các tri thức này mang tính cá nhân, gắn liền vớibối cảnh và công việc cụ thể Tri thức ngầm rất khó để thể hiện trên các tàiliệu, nhưng lại có tính vận hành cao trong bộ não của con người.
Những tri thức này là dạng tri thức nằm trong đầu con người Nhiềungười cho rằng đây là phần lớn tri thức bên trong một tổ chức Những gì màcon người biết thì thường giá trị hơn là những gì được viết ra Vì vậy tạo ramối liên hệ giữa người không biết và người biết là một khía cạnh hết sứcquan trọng của một tổ chức Mục tiêu của quản trị tri thức là giúp chia sẻnhững tri thức ngầm bên trong một tổ chức sao cho mọi người đều có thể sửdụng những kiến thức chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định để giảiquyết vấn đề cho khách hàng và tạo nên những sản phẩm hiệu quả hơn Ta
có thể ví tri thức trong mỗi con người và tổ chức giống như tảng băng trôi,nếu tri thức bộc lộ là phần nổi thì tri thức ngầm là phần chìm
1.2 Khái niệm về quản trị tri thức :
Quản trị tri thức là một khái niệm mới đang có nhiều tranh luận Tuynhiên dù tranh luận thế nào thì bản chất Quản trị tri chức vẫn là một Sự khácbiệt chỉ là cách chúng ta tiếp cận nghiên cứu và ứng dụng Sau đây chúng tôitrình bày tổng quan về các khái niệm về quản trị tri thức đang được các họcgiả trong và ngoài nước sử dụng, từ đó đưa ra khái niệm chung nhất mangtính ứng dụng
Có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau tuỳ theo cách nhìn
và phương thức của mỗi cá nhân hay tổ chức Chúng bao gồm có quản lý,việc học hỏi của cá nhân và tổ chức, giao tiếp, công nghệ và các hệ thôngthông tin, trí tuệ nhân tạo, tài sản tri thức,…Không có một định nghĩa haymột cách tiếp cận thống nhất về quản trị tri thức nào cả, nhưng lại có nhữngnội dung có thể bao quát toàn bộ quản trị tri thức bao gồm con người, cáccách thức và quá trình, các hoạt động, công nghệ và một môi trường rộnghơn thúc đẩy việc định dạng, sáng tạo , giao tiếp hay chia sẻ, và sử dụng cáctri thức cá nhân cũng như tri thức của tổ chức Nó là về những qui trình quản
lý việc tạo ra, phát tán và sủ dụng tri thức để đạt được mục tiêu tổ chức Nóđòi hỏi sự kết hợp giữa nhận thức kinh doanh, thái độ và thực tiễn sáng tạo,những hệ thống, chính sách, và những thủ tục được tạo ra để giải phóng sứcmạnh của thông tin và ý tưởng
Trong cuốn sách “People-Focused Knowledge Management”, Karl
M Wiig định nghĩa: Quản trị tri thức là quá trình sáng tạo, phát triển và
Trang 6ứng dụng tri thức một cách có hệ thống và minh bạch nhằm tối đa hóa hiệuquả hoạt động liên quan đến tri thức và giá trị doanh nghiệp từ tri thức và tàisản trí tuệ sẵn có.
Quản trị tri thức nhằm đến các quá trình sáng tạo, nắm bắt, chuyển
giao và sử dụng tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức.(Public Service Commission of Canada, 1998)
Quản trị tri thức đưa tri thức ngầm lên bề mặt, tổng hợp chúng thành
những dạng dễ dàng lưu trữ và truy cập hơn, đồng thời thúc đẩy tính sáng tạocủa nó (Birket)
Quản trị tri thức là quá trình tạo mới, phân phối và sử dụng tri thức
một cách hiệu quả (Davenport)
“Quản trị tri thức là quá trình có hệ thống của việc nhận dạng, thu
nhận, và chuyển tải những thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng
để sáng tạo, cạnh tranh, và hoàn thiện” (Trung tâm Năng suất và Chất lượngHoa Kỳ – Trích dẫn bởi Serban và Luan)
Quản trị tri thức là một quá trình, một công cụ quản lý hiệu quả
nhằm chia sẻ, thu nhân, lưu giữ, lựa chọn, sáng tạo tri thức và cung cấp đúngngười, đúng nơi, đúng lúc nhằm nâng cao hiệu quả quyết định, hiệu quả thựcthi và khả năng thích ứng của tổ chức
2 ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC :
2.1 Quản trị tri thức và quản trị chiến lược :
Sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi của mỗi doanh nghiệp được tuyên bố
ra là tri thức hiện Quản trị tri thức sẽ giúp cho những tri thức hiện nàynhanh chóng được chia sẻ, thấu hiểu và biến thành tri thức ẩn trong mỗithành viên của doanh nghiệp Khi đó, nhờ quản trị tri thức mà mọi người đềuhiểu sư mệnh, tầm nhìn và giá trị cốt lõi một cách thống nhất Điều này tạonên sức mạnh tập thể trong tư duy và hành động, tạo nên động lực làm việccho mỗi thành viên
Như bạn đã biết, một vấn đề nan giải tồn tại ở đây là việc các thànhviên được giải tán khi một dự án hay một kế hoạch được hoàn thành Mọithành viên sẽ trở về làm những công việc thích hợp với các kỹ năng củamình hơn,Nhưng khi đó họ lại mang theo những tri thức ấn đã học đượctrong quá trình làm việc nhóm trước đó Bạn nghĩ sao khi bạn đang gạp mộtvấn đề nan giải trong một dự án ban đang làm Khi có một nhân viên nhớ ra
đã gặp vấn đề này trong một dự án nào đó mà nhân viên đó đã gặp phải Bạn
cố gắng tìm trong đống tài liệu nhằm tháo gỡ khúc mắc đó nhưng không tìmthấy gi vì nó không được lưu trữ lại Chính vì vậy việc quạn quản trị tringuồn tri thức ẩn này là vô cùng quan trọng Bạn cần có một tầm nhìn chiếnlược cho công ty của bạn và bạn cần nắm giữ nguồn chi thức này
Trang 7Bên cạnh đó có một thực tế rằng khi nhân viên của bạn tham gia một
dự án nào đó khi xong việc họ ra đi và mang theo đó là những thông tin mà
họ học được khi tham gia như khách hàng, nhà cung ứng hay đối thủ cạnhtranh…bạn phải tốn rất nhiều chi phí và thời gian để khôi phục lại điều đó.Vậy tại sao ban không hạn chế hay không để điều đó sảy ra? Chính vì lý donày mà quản trị chiến lược lại trở nên vô cùng quan trọng và cần thiết Bạnphải biết điều gì sẽ xảy ra khi một hoạt đông kết thúc Điều đó thể hiện ởtầm nhìn chiến lược của ban
2.2 Quản trị tri thức và công nghệ thông tin :
Hiện nay, công nghệ phát triển một cách nhanh chóng và ngày càngtiến bộ Bạn muốn truyền tải hay lưu trữ một lượng thông tin lớn không phải
là viêc khó khăn.Nhưng công nghệ không phải là yếu tố cạnh tranh hàng đầucủa Công ty bạn Bạn sở hữu một công nghệ tiến bộ và cho rằng đó là lợi thếcủa bạn Vậy đối thủ cạnh tranh của bạn tai sao lại không thể sở hữu mộtcông nghệ tương đương của bạn, thậm chí họ còn sở hữu một công nghệ tiến
bộ hơn Nhưng điều khác biệt ở đây chính là viêc áp dụng công nghệ vớiviệc quản trị tri thức sẽ làm lên điều khác biệt cho công ty của bạn Côngnghệ với hai lợi ích chính là lưu trữ và truyền tải thông tin lại cho phép taxây dựng một hệ thống lưu trữ và phân phối thông tin hiệu quả Công nghệtrở thành một nhân tố giúp lưu trữ, phân phối và trao đổi tri thức hữu hiệu.Bằng cách kết hợp công nghệ với quản trị tri thức một cách hiệu quả, công ty
có thể tạo ra các yếu tố cạnh tranh mới, nâng cao khả năng cạnh tranh lâu dàicủa mình
Bên cạnh đó, nhờ có công nghệ phát triển mà các công việc, các quytrình được hoàn thành nhanh chóng và hiệu quả hơn Vòng đời của sảnphẩm, từ lúc được nghiên cứu, sản xuất, tới khi bán ra và các dịch vụ hậumãi cũng do đó ngắn lại Các sản phẩm cũng liên tục được nâng cấp và cảitiến, thị trường liên tục thay đổi Do vậy, thời gian cho ra sản phẩm trở thànhmột yếu tố sống còn đối với công ty, các quyết định ngày càng phải đượcđưa ra nhanh chóng và chính xác hơn Vậy yếu tố nào khiến cho công ty làmđược điều này? Công nghệ có thể giúp chúng ta thu thập, lưu trữ, truyền tảithông tin một cách vô cùng hiệu quả, nhưng để biến thông tin thành tri thức,thành quyết định, thì lại cần đến con người và kiến thức, kinh nghiệm củahọ
Tri thức chứ không phải công nghệ trực tiếp giúp nhân viên sở hữu nó
ra quyết định Quản trị tri thức, với sự hỗ trợ của công nghệ, có thể giúp chonhân viên của công ty làm việc hiệu quả hơn, tự mình đưa ra những quyếtđịnh sáng suốt hơn, giảm bớt sai lầm và thoả mãn yêu cầu của khách hàngđúng lúc nhất
Trang 82.3 Quản trị tri thức và văn hóa sáng tạo :
Chính quản trị tri thức với chức năng sàng lọc sẽ giúp cho văn hóadoanh nghiệp ngày càng được củng cố và duy trì vững mạnh hơn Sự sángtạo, chia sẻ và sàng lọc không ngừng sẽ giúp cho văn hóa doanh nghiệp giữđược bản sắc và thích ứng được với sự thay đổi của môi trường kinh doanh
Khi cần có những đổi mới, những sáng tạo trong nguyên lý tư duy vàhành động thì chính quản trị tri thức sẽ giúp chúng ta có được điều đó mộtcách nhanh chóng nhờ thói quen chia sẻ, thu nhân, lưu giữ, chọn lọc, sángtạo
Khả nắng sáng tạo của mỗi con người luôn không có giới hạn và việcbạn phải làm sao để khai thác tối đa và hiệu quả nó trong mỗi cá nhân ,mộttập thể mới là việc của bạn Bạn cần biết rằng ai cũng có cái tôi và một cáchnhìn về một vấn đề là khác nhau Việc bạn cần làm là kích thích sự sáng tạocủa các nhân viên bằng việc động viên hay gây áp lực là điều cần thiết Nếubạn sử dụng tốt việc quản trị tri thức kết hợp với văn hóa sáng tạo sẽ tạo ramột lợi thế vô cùng lớn cho công ty của bạn
2.4 Quản trị tri thức và quản trị nguồn nhân lực :
Quản trị tri thức là một vấn đề cần được quan tâm ở các doanh nghiệphiên nay.nó trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết bởi một số lý do sau đây
Thứ nhất: Nhu cầu về việc đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ và sáng tạo
trong các nhóm hoạt động ngày càng lớn hơn Thông thường các thành viêncủa một nhóm làm việc nhóm được tập hợp từ các bộ phận khác nhau, mà
họ thường chỉ biết rõ về lĩnh vực chuyên môn của mình mà thiếu những hiểubiết cần thiết về các lĩnh vực khác Sự khác biệt về văn hóa cũng có thể gâykhó khăn trong quá trình làm việc nhóm Vì vậy, việc tăng khả năng và hiệuquả làm việc nhóm, mà điển hình là việc chia sẻ và trao đổi, của các thànhviên trong nhóm là vô cùng cần thiết Quản trị tri thức có thể trở thành lờigiải tối ưu cho bài toán này, bởi vì nó thúc đẩy thảo luận và chia sẻ tri thứctrong nhóm và tổ chức Là một nhà quản trị tri thức bạn phải biết làm saogiảm thiểu nét văn hóa cá nhân để tạo ra một nên văn hóa mới của tổ chứcgiúp cho các thành viên trong nhóm có thể trao đổi thông tin kinh nghiệm,
kỹ năng một cách tốt nhất và dễ dàng nhất Bên cạnh đó bàn còn cần thiếtphải làm sao cho các nhân viên của minh trong một nhóm không chỉ đơngiản biết một ky năng chuyên sâu mà phải giúp họ làm sao co thật nhiều các
kỹ năng khác để có thể dễ dàng trao đổi với các thành viên khác trong mộtnhóm hoạt động
Thứ hai: Việc các nhóm làm việc được thành lập và giải tán Sau khi
hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm này thường được giải tán, thành viên trở về
Trang 9với công việc thường ngày hoặc tham gia các nhóm làm việc khác, nơi màkhả năng chuyên môn của họ có giá trị hơn là tri thức thu được ở các lĩnhvực khác trong dự án Điều quan trọng là, những tri thức đó lại không đượclưu trữ lại, trở thành “tài sản cá nhân” của nhân viên Khi nhân viên đó ra đi,tri thức của công ty cũng mất đi theo Quản trị tri thức có thể giúp công tygiải quyết vấn đề này một cách hiệu quả, bởi vì trong đó có quá trình “nắmbắt” các tri thức ẩn – qua các quá trình trao đổi trực tiếp và việc lưu trữ trithức ẩn dưới dạng hiện Bạn là một nhà quản trị tri thức bạn phải biết làmsao biến tri thức cá nhân thành tri thức của tập thể qua đó từ cái tri thức tậpthể đó bạn phân phối cho các cá nhân ứng dụng vào các hoạt động của công
ty giúp công ty thu được lợi ích,
Ngoài ra: Trong nền kinh tế có nhiều cạnh tranh như hiện nay việc ra
một quyết định cần phải nhanh,chính sác Việc bạn có một đội ngũ nhân viên
sở hữu nguồn tri thức lớn là một lợi thế của Doanh nghiệp bạn Tri thức củamột tập thể thông thường là hơn tri thức của một cá nhân Ở đó tri thức đượctiếp nhận dưới nhiều góc độ và không phải là một ý kiến cá nhân NgườiNhật đã rất thành công trong làm việc nhóm Xét về con người chúng takhông thua kém gì họ nhưng khi làm việc nhóm thì chúng ta còn kém so vớingười Nhật Vì vậy chúng ta cần có một cách quản lý thích hợp để khai tháctối đa nguồn tri thức của các cá nhân để ứng dụng vào trong hoạt động chungcủa nhóm
3 VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ TRI THỨC :
3.1Trong hệ thống kinh tế:
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, các nền kinh tế phát triển bắt đầu có sự dịchchuyển sang nền kinh tế tri thức Trong nền kinh tế tri thức, việc sáng tạo,truyền tải, lưu trữ, phát triển vàdụng tri thức là hoạt động chi phối toàn bộcác hoạt động kinh tế,khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp
Lý thuyết về quản trị con người dần dần được thay thế bằng lý thuyết quảntrị tri thức Việc thực hành quản trị tri thức được thực hiện sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp và các nền kinh tế phát triển mạnh mẽ
Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra một cách nhanh chóng trêntoàn thế giới, cùng với sự phát triển với tốc độ chóng mặt của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, các công ty đối mặt với rất nhiều cơhội và thách thức do toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật -công nghệ mang lại Nguồn nhân lực đã trở thành “một tài sản quý nhất,quan trọng nhất và quyết định nhất” cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳmột tổ chức nào Song, khi chúng ta nói về những nhận thức được hầu hết
Trang 10mọi người chấp nhận này thì cần phải hiểu đó là nguồn nhân lực có tri thức,
có kỹ năng ở trình độ cao, biết lao động sáng tạo chứ không phải sức laođộng cơ bắp dựa trên kinh nghiệm Lực lượng lao động xã hội đã có sựchuyển biến rõ rệt từ những công nhân “cổ xanh” là chủ yếu thành những
công nhân “cổ trắng” là chủ yếupeter Drucker (1993)-một chuyên gia hàng
đầu của lý luận quản lý- đã nhận xét rằng: “Trong thời kỳ 1880, khoảng chínphần mười số người lao động là lao động chân tay; ngày nay, con số nàygiảm xuống một phần năm Bốn phần năm lực lượng lao động là “nhữngngười lao động trí thức”
Toàn cầu hóa đã làm cho việc tiếp cận và mở rộng các thị trường dễ dànghơn, các công ty dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực tốt nhất và rẻnhất cho họat động của mình và vì thế các lợi thế so sánh truyền thống đã
mất đi, hoặc ít nhất đã yếu đi Vì thế, Drucker (1995) kết luận: “Chúng ta
đang đi vào xã hội tri thức trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản không phải làvốn mà là và sẽ là tri thức” và “tri thức đã và đang trở thành một nguồn lựckinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị - và có thể là duy nhất - của lợithế cạnh tranh
3.2 Trong doanh nghiệp :
Quản trị tri thức giúp DN:
Luôn luôn đổi mới, tạo ra các ý tưởng mới và khai thác tiềm năng tưduy của tổ chức
Thu nhận các kinh nghiệm và biến chúng thành những tri thức hiện cóthể sử dụng được cho người khác khi cần thiết
Tạo điều kiện dễ dàng tìm kiếm và sử dụng lại những bí quyết, chuyênmôn sâu khi được lưu giữ trong những mẫu hiện hữu hoặc trong tâm trí mọingười
Thúc đẩy hợp tác, chia sẻ tri thức, học tập suốt đời và tiến bộ liên tục.Nâng cao chất lượng ra quyết định và chất lượng các hoạt động trí tuệ.Thấu hiểu giá trị và sự đóng góp của tài sản trí tuệ vào sự tăng trưởng,hiệu quả tổ chức và sức mạnh phát huy động
Mục đích cuối cùng của quản trị tri thức không phải tạo ra hệ thốngcông nghệ thông tin hiện đại Công nghệ thông tin chỉ là một công cụ quantrọng của quản trị tri thức Kết quả cuối cùng mà quản trị tri thức tạo ra làhình thành nên một tổ chức không ngừng học tập, trong đó có những cá nhânhợp tác chặt chẽ với nhau, không ngừng học hỏi và chia sẻ tri thức nhằm tạo
ra một tổ chức trường tồn hay nói cách khác là nâng cao chỉ số thông minh