1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông

104 544 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 181,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyến từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư dưy trong quả trinh tiếp cận tri thức; dạy cho người, học phương pháp tự học, tự thu

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG Ì>ẠI HỌC VINH

HÒ THANH LỘC

XÂY DựNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC CHƯƠNG

“ TỪ VI MÔ ĐÉN vĩ MÔ ”

VẬT LÝ 12 NÂNG CAO TRUNG HỌC PHỎ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, NĂM 2013

HÒ THANH LỘC

Trang 2

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG Ì>ẠI HỌC VINH

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE DẠY HỌC CHƯƠNG “ Từ

VI MÔ ĐÉN vĩ MÔ ”

VẬT LÝ 12 NÂNG CAO TRUNG HỌC PHỎ THÔNG

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH môn Vật lí Mã số: 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Ngưòi hướng dẫn khoa học: PGS TS MAI VĂN TRINH

NGHÊ AN, NĂM 2013

7

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè, người thân Với những tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn TS.Mai Văn Trinh, người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, các thầy cô giáo khoa Vật lý, khoa Đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh, lãnh đạo trường THPT Nguyễn Đức Mậu và trường THPT Quỳnh Lưu 2 tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình làm luận văn.Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi an tâm học tập và hoàn thành luận văn này

Trang 4

MVT Máy vi tính

Trang 5

PMDH

Trang 6

pp Phương pháp

Trang 7

PPDH Phương pháp dạy

học

Trang 8

PTDH Phương tiện dạy học

Trang 9

QTDH : Quá trình dạy học

Trang 10

SGK Sách giáo khoa

Trang 11

THPT Trung học phổ thông

Trang 12

TNSP : Thực nghiệm sư

phạm

Trang 13

DANH MỤC CÁC BẢNG BIẺƯ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Trang 14

1 Danh muc các bảng biếu.

T

bài kiểm tra

68

HS

68

T

thời điểm bắt đầu giờ học

48

không gian làm việc của bài giảng

Trang 15

4 Danh muc các đồ thỉ

T

Trang 16

1.4 Cấu trúc của Website dạy học 2

mô ” vật lý lớp 12 nâng cao THPT

39

mô”

44

5

tế

50

1

Trang 17

2.3.4 Đề thi 5

2

3

chương Từ vi mô đến vĩ mô

53

5

7Phụ lục

Phụ lục

Trang 18

P5 P19Phụ lục 3 Hướng dẫn cài đặt Worđfress

Phụ lục 4 Tiến trình dạy học bài 60: Sao Thiên hà

Trang 19

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hiện nay chúng ta đang sống trong sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học công nghệ và sự hội nhập hợp tác quốc tế của nước ta với cộng đồng quốc tế Việc nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đãtác động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực giáo dục Đe theo kịp sự phát triển của khoa học và hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, toàn ngành giáo dục phải có sự đổi mới toàn diện và đồng bộ nhằm đào tạo ra những con người mới có trình độ văn hóa cao, ham học hỏi, tự tin, năng động, sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, biết sử dụng những phương tiện mới và hiện đại, chủ động đưa ra những cách thức tốt nhất để chiếm lĩnh tri thức, có ý thức vươn lên làm chủ khoa học công nghệ Thực tế đòi hỏi phải có những thay đổi có tính chiến lược và toàn cục về phương pháp dạy học ở trường phổ thông Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (26/12/2012) đã chỉ rõ “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo bao gồm: đổi mới tư duy; đổi mói mục tiêu đào tạo; hệ thống tổ chức, loại hình giáo đục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; cơ sở vật chất, nguồn lực, điềukiện bảo đảm , trong toàn hệ thống”

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: " đẩy mạnh công

nghiệp hỏa, hiện đại hóa và phát triến kinh tế tri thức, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 "

Trong các nguồn lực để phát triển đất nước nhanh, hiệu quả, bền vững, đúng định hướng thì nguồn lực con người là yếu tố cơ bản Muốn xây dựng nguồn lực con người, phải đẩy mạnh đồng bộ giáo dục đào tạo, khoa học côngnghệ và xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quyết định

Trang 20

số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt

Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020

Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đổi mới và phát triển giáo dục Việt Nam là vấn đề tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo

nguồn nhân lực cho một nền kinh tế tri thức hiện nay như Quyết định so 698/

QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tưởng Chỉnh phủ về việc phê dưyệt Ke hoạch tống thế phát trỉến nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hưởng đến năm 2020 [ 25 ]

Tại điều 28 của Luật quy định:"Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát

hĩỉy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điếm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thủ học tập cho học sinh"

Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã nêu: "Đổi mới và hiện đại hỏa

phương pháp giáo dục Chuyến từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư dưy trong quả trinh tiếp cận tri thức; dạy cho người, học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin

một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tống hợp, phát Men năng lực

của moi cá nhân; tăng cường tỉnh chủ động, tỉnh tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập " [ 2 ]

Nhận thức được tầm quan trọng của mã nguồn mở đối với đổi mới giáo dục, thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trongcác cơ sở giáo dục

Hiện nay, sự phát triển của CNTT đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học Hầu hết các trường đều được trang bị máy vi tính, phòng học CNTT, kết nối Internet Máy vi tính được sử dụng trong dạy

Trang 21

học để hỗ trợ được các nhiệm vụ cơ bản của quá trình dạy học (QTDH) và nhất là hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học chương trình mới theo hướng tích cực hóa người học Với sự trợ giúp của máy vi tính và phần mềm dạy học, giáo viên (GV) có thể tổ chức quá trình học tập của học sinh (HS) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học sinh MVT là công cụ có thể được sử dụng vào những giai đoạn khác nhau củaquá trình DH đặc biệt với DH Vật lí, MVT có thể thay thế nhiều phương tiện

DH như: tranh ảnh, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị, âm thanh, hình ảnh, các thí nghiệm để minh họa và trình bày kiến thức một cách sinh động, mô phỏng diễn tiến các quá trình theo mục đích, yêu cầu đã định trước, mà các quá trình trong thực tế khó thực hiện, khó tiếp cận được

1.2 Thực tế ở những trường THPT hiện nay hầu hết đã được trang bị máy vi tính, nhưng chủ yếu vẫn đang sử dụng để dạy môn Tin học và tiếp cận các chương trình Tin học văn phòng, chưa khai thác được triệt để các khả năngcủa máy vi tính trong các môn học khác

1.3 Kết quả nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn dạy học cho thấy máy vi tính dưới tác động của CNTT được xem là một phương tiện dạy học hiện đại, có tác động rất tích cực đến việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, nhưng chưa được sử dụng phổ biến và phát huy được vai trò quan trọng

đó của nó trong dạy học đặc biệt là bộ môn Vật lý

1.4 Máy vi tính với ứng dụng mã nguồn mở để xây dựng Website dạy học đang là một hướng đi mói mang tính thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhưng các phần mềm dạy học đã được biên soạn trong nước đang ở dạng đơn lẻ, chưa có hệ thống và còn mang tính thử nghiệm

1.5 Chương Từ vi mô đến vĩ mô ở vật lý lớp 12 nâng cao THPT là

chương có nhiều nội dung vật lý được rút ra từ các kết quả quan sát và thí nghiệm phức tạp mà các thiết bị ở trường phổ thông chưa thực hiện được [9]

Vì những lý do mà thực tiễn mang lại nên trong quá trình dạy học chương Từ vi mô đến vĩ mô không tiến hành được thí nghiệm mà GV chủ yếu

Trang 22

chỉ sử dụng phương tiện dạy học là phấn và bảng sẽ làm giảm tính trực quan của hiện tượng, kiến thức đưa ra mang tính công nhận, không thuyết phục, làmgiảm lòng tin đối với khoa học của HS Những nhược điểm này có thể khắc phục được nếu khi dạy học chương này có sử dụng máy vi tính với ứng dụng công nghệ thông tin nhờ các phần mềm mô phỏng hay các ảnh quét hoặc các Video clip thí nghiệm.

Từ nhận thức vấn đề như trên, chúng tôi hướng tới và tiến hành nghiên

cứu đề tài “ Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô

đến vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông ”, nhằm mục đích

đề xuất thêm một hướng sử dụng phương tiện hiện đại trong hệ thống

các phương tiện dạy học vật lý, hướng đến hoạt động dạy học phần vi

mô và vĩ mô nói riêng, dạy học vật lý nói chung đạt hiệu quả cao hơn

2 Mục đích nghiên cún.

Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đến vĩ mô vật lý

12 nâng cao trung học phổ thông nhờ mã nguồn mở Wordfress Qua đó, tạo điều kiện cho GV, HS tiếp cận với công nghệ thông tin và nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý trong trường THPT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Nghiên cứu lý luận về xây dựng và sử dụng website trong DH vật

Website trong dạy học Vật lý

3.4 Nghiên cứu ứng dụng mã nguồn mở Word Fress

3.5 Xây dựng Website hỗ trợ dạy học chương Từ vi mô đến vĩ mô ở vật lý lóp 12 nâng cao THPT, kiểm chímg tính hiệu quả của chương trình đến hoạt động dạy học, thông qua đó đề xuất yêu cầu sử dụng máy vi tính và ứng dụng công nghệ thông tin làm phương tiện dạy học vật lý ở trường THPT.3.6 xây dựng tiến trình dạy học bốn bài học của chương từ vi mô đến

vĩ mô theo SGK vật lý 12 nâng cao THPT

Trang 23

3.7 Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính đúng đắn của đề tài nghiên cứu.

4 Dối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Nội dung, phương pháp giảng dạy vật lý THPT; máy vi tính và ứng dụng Công nghệ thông tin theo hướng hiện đại hoá phương tiện dạy học Vật lý

- Sử đụng máy vi tính và ứng đụng mã nguồn mở Word Fress trong dạyhọc vật lý chương Từ vi mô đến vĩ mô theo hướng hiện đại hoá phương tiện dạy học

- Học sinh lớp 12 của trường THPT Nguyễn Đức Mậu - Nghệ An và trường Quỳnh Lưu 2 - Nghệ An có trang bị máy vi tính

5 Giả thuyết khoa học

Có thể kích thích hứng thú học tập, góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý ở lớp 12 THPT nếu xây dựng được Website hỗ trợ dạy học chương Từ vi mô đến vĩ mô và khai thác

nó một cách thích hợp

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý luận

+ Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học

+ Nghiên cứu tái liệu về giáo dục học và phương pháp giảng dạy vật lý.+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của lập website dạy học

+ Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn sử dụng một số phần mềm hỗ trợ dạy học.+ Nghiên cứu chương trình vật lý 12 THPT

theo website.

12 THPT Ban Nâng cao

6.2 Nghiên cứu thực nghiệm

Thực hiện các bài dạy đã thiết kế, so sánh với lớp đối chứng để rút ra

Trang 24

những kết luận cần thiết, chỉnh lý thiết kế đề xuất hướng áp dụng vào thực tiễn, mở rộng kết quả nghiên cứu.

- Điều tra thực tế

- Thực nghiệm sư phạm

- Thống kê toán học

7 Cấu trúc của luận văn.

Ngoài phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 phần chính:

Gồm: 1 Lý do chọn đề tài

2.Mục đích nghiên cứu

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

7 Cấu trúc của luận văn

1.2 Đặc trimg của Website dạy học

1.3 Chức năng hỗ trợ dạy học của Website

1.4 Cấu trúc của Website dạy học

1.5 Các bước xây dựng Website dạy học

Trang 25

1.6 Nguyên tắc xây dựng Website dạy học

1.7 Một số công cụ chủ yếu cho việc xây dựng Website

1.8 Hình thức sử dụng Website trong dạy học vật lý

1.9 Quy trình sử dụng Website DH

1.10 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng Website dạy học

1.11 Những hạn chế cần khắc phục khi sử dụng Website dạy học làm phương tiện dạy học

CHƯƠNG 2 XÂY DựNG WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC VẶT LÝ

CHƯƠNG TỪ VI MÔ ĐẾN Vĩ MỒ BẰNG MÃ NGUỒN MỞ WORDFRESS2.1 Cấu trúc và nội dung chương Từ vi mô đến vĩ mô trong chương trình Vật lý 12 nâng cao THPT

2.2 Tìm hiểu thực trạng DH chương “ Từ vi mô đến vĩ mô ” vật lý lớp 12 nâng cao THPT

2.3 Website hỗ trợ dạy học chương Từ vi mô đến vĩ mô

2.5 Tiến trình dạy học các bài cụ thể với website

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm

3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.3 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.4 Ket quả thực nghiệm sư phạm

Trang 26

Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DựNG VÀ sử DỤNG WEBSITE DẠY

HỌC VẬT LÝ THPT 1.1 Website dạy học

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã có ảnh hưởng sâu sắcđến nhiều lĩnh vực hoạt động của con người Nói riêng trong giáo dục, một loạt khái niệm mới đã nảy sinh và dần trở nên quen thuộc đối với mọi người Nhưng những khái niệm ấy cho đến nay hầu như vẫn chưa được định nghĩa một cách đầy đủ, chính xác và khoa học Trong các công trình nghiên cứu ứngdụng công nghệ thông tin vào giáo dục hay những sản phẩm của công nghệ thông tin dành cho giáo dục ở nước ta, các khái niệm ấy được dùng hoặc là như một tên gọi mặc nhiên, hoặc là đưa ra khái niệm chỉ dựa vào một vài đặc điểm, thuộc tính của nó mà chưa lột tả hết ngoại diên và nội hàm của khái niệm Đó cũng là điều dễ hiểu, vì rằng sự phát triển của khoa học Tin học có tính bùng nổ và chưa phải đã đạt đến đỉnh điểm Do đó, cùng vói sự phát triển của Tin học, các khái niệm cũng sẽ dần dần được hoàn thiện và chính xác hoá.Hơn nữa, sẽ tồn tại những cách định nghĩa khác nhau nếu như dựa trên những căn cứ khác nhau.[4],[12]

học" chủ yếu dựa vào chức năng dạy học mà không quan tâm đến các yếu tố

kỹ thuật hàm chứa trong nó Hay nói cách khác, khái niệm được nhìn nhận dưới nhãn quan của người nghiên cứu khoa học giáo dục

WWW (World Wide Web) là một dịch vụ thông tin mới nhất và hấp dẫnnhất trên Internet, nó dựa trên một kỹ thuật biểu diễn thông tin đầy đủ hơn về chính thuật ngữ đó Sự mở rộng ở đây thực chất là chúng được liên kết tới các tài liệu khác (có thể là văn bản, hình ảnh, âm thanh hay hỗn hợp của chúng) chứa các thông tin bổ sung[7] Khái niệm siêu văn bản do Ted Nelson đưa ra đầu tiên (1965), nhưng mãi đến 1980, khái niệm này mới được tin học hoá nhờcông sức của kỹ sư trẻ người Anh là

Tim BernerS-Lee ( ở Viện nghiên cứu hạt nhân Châu Âu CERN của Thuỵ Sĩ ).Đến năm 1990, cùng với đồng nghiệp của mình là Robert Cailliau, Tim Berners-Lee đã bắt tay vào dự án thiết kế mạng thông tin toàn cầu dựa trên khái niệm siêu văn bản Thuật ngữ WWW được dùng để mô tả dự án và được

Trang 27

công bố lần đầu tiên vào 8/1991 trên nhóm tin alt.hypertext Từ đó, nhiều nhà

phát triển khai thác đã tham gia vào việc phát triển Web trên các hệ điều hành

thế mà là một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (Meta

Interrface) giúp người sử dụng có thể tạo ra các siêu văn bản và cung cấp cho những người sử dụng khác trên Internet, ta gọi tắt là công nghệ Web Công nghệ Web cho phép truy cập và xử lý các trang dữ liệu đa phương tiện

(Hypermedia) trên Internet Để xây dựng các trang thông tin đa phương tiện như vậy, Web sử dụng một ngôn ngữ có tên là HTML (Hyper Text Markup Language) HTML cho phép đọc và liên kết các kiểu dữ liệu khác nhau trên cùng một trang thông tin [26]

Như vậy, trang Web (Web page) là trang thông tin trên mạng Internet Nội dung thông tin được diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ hoạ, ảnhtĩnh, ảnh động, phim, âm thanh, tiếng nói Mỗi trang Web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt vói các trang khác và giúp mọi người truy cập đến Bảng Web (Website) là tập hợp các trang Web được liên kết lại với nhau xuất phát từ một trang gốc (Home page), hay còn được gọi là trang xuất phát, trang đầu tiên Mỗi bảng Website có một địa chỉ riêng và đó cũng chính là địa chỉ của trang gốc hay trang xuất phát [7]

Để thực hiện được việc truy nhập, liên kết các tài nguyên thông tin khácnhau theo kỹ thuật siêu văn bản, WWW sử dụng khái niệm URL (Uniform Resource Locator), đây là một dạng tên để định danh duy nhất cho một tài liệu hoặc một dịch vụ trên Web cấu trúc của URL gồm các thành phần thông tin như: giao thức Internet được sử dụng, vị trí của server (domain name), tài liệu

cụ thể trên server (path name) và có thể có thêm các thông tin định dạng khác.Hoạt động của Web cũng dựa trên mô hình Client/Server Tại trạm Client, người sử dụng sẽ dùng Web Browser để gửi yêu cầu tìm kiếm các tệp tin HTML đến Web Browwser ở xa trên mạng Internet nhờ địa chỉ URL Web Server nhận các yêu cầu đó và thực hiện rồi gửi kết quả về Web Client, Web Browser sẽ biên dịch các thẻ HTML và hiển thị nội dung các trang tài liệu được yêu cầu Đe nối kết Internet, người ta dùng giao thức SLIP (Serial Line Internet Protocol) hoặc ppp (Point-to-Point Protocol) Hai giao thức này đều cho phép người sử dụng nối với Internet qua các đường dây điện thoại quay số

Trang 28

(Dial-up-Telephone) Nhưng vì đơn giản, dễ cài đặt và không yêu cầu cấp phátđịa chỉ riêng (địa chỉ này sẽ được nhà cung cấp dịch vụ tạm thời khi sử dụng dịch vụ) nên ppp được ưa chuộng hơn so với SLIP.

Xuất phát từ khái niệm của Website ở trên, ta có thể hiểu Website dạy

học ỉà một phương tiện dạy học (dưới dạng phần mềm máy tính), được tạo ra bởi các siêu vãn bản (là các tài liệu điện tử như bài giảng, SGK, SBT, SGV ) trên đỏ bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện (trình

diễn các thông tin Multimedia: văn bản, âm thanh, hình ảnh), đế hỗ trợ việc

dạy học và cung cấp cho những người sử dụng khác trên các mạng máy tính

[16], [17], [26]

1.2 Đặc trung của Website dạy học

Website dạy học được cấu thành từ những Site riêng biệt khác nhau, mỗi một Site là một siêu văn bản sẽ thực hiện một chức năng hỗ trợ dạy học nào đó Với khả năng thực hiện hầu như vô hạn các liên kết giữa các Site với các dạng thông tin (multimedia) khác nhau, trên một hệ thống vô số các máy tính liên kết thành mạng, đã tạo nên một đặc trưng riêng biệt của Website.Đặc trưng nổi bật của Website là có thể hỗ trợ nhiều mặt cho hoạt động dạy và học Khi truy cập vào Website, tuỳ thuộc vào đối tượng truy cập, vào mức độ được phân quyền mà trình duyệt đưa ra quyết định, hoặc là có thể xem( như đối với học sinh hay những người sử dụng khác), hoặc là có thể xem đồng thời vừa có thể cập nhật ở một mức độ nào đó (như đối với GV) hoặc có tất cả các quyền (đối với những người trong ban chuyên môn - quản trị

Website) Đối với những người có quan tâm đặc biệt đến các vấn đề dạy học

bộ môn, thực hiện việc "đăng nhập", hệ thống sẽ cấp quyền cập nhật nhưng ở một giới hạn nhất định thông qua việc cap Password và User name Như vậy, đặc trưng thứ hai của Website là không hạn chế năng lực sáng tạo và phong cách riêng của từng GV khi sử dụng Tập hợp được sức mạnh trí tuệ, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của nhiều tầng lớp xã hội để nângcao chất lượng dạy và học thông qua việc phân tích, tống hợp và đánh giá khu vực dữ liệu dành riêng cho GV.[24]

Website được thiết kế với giao diện hết sức thân thiện, không yêu cầu nhiều đến kiến thức Tin học và kỹ năng thao tác, là một phần mềm thân thuộc

Trang 29

với nhiều người, có thể cài đặt để triển khai ứng dụng dưới nhiều cách khác nhau Đây cũng là đặc trưng, thể hiện tính hơn hẳn của Website so với các chương trình ứng dụng khác đòi hỏi phải giao tiếp trên nhiều menu và các hộp

nhiều công cụ để tạo điều kiện cho các nhà lập trình phát triển được nhiều ứng dụng trên nó

Cuối cùng, có thể nói rang Website là một môi trường siêu giao diện, siêu trình diễn các thông tin Multimedia Đặc trưng này đã làm tăng hiệu quả tác dụng hỗ trợ nhiều mặt của Website, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học là một quá trình truyền thông đa phương tiện

1.3 Chức năng hỗ trợ dạy học của Website

1.3.1 Website với hoạt động dạy và học

Đối với hoạt động dạy của GV, thực nghiệm cho thấy Website là một phương tiện đã hỗ trợ rất có hiệu quả trên nhiều mặt trong hoạt động giảng dạy Sử dụng nó trong dạy học GV đã được giải phóng khỏi hầu hết những công việc chân tay bình thường Từ việc ghi chép nội dung bài học lên bảng, trình bày các tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ; hướng dẫn các thao tác thực hành; theo dõi và điều tiết tiến trình thực hiện bài giảng, đến việc ghi nhớ những nội dung cần phải thuyết trình và giảng giải, những công thức, những số liệu, những phép tính từ đơn giản đến phức tạp, tóm tắt nội dung bài học thậm chí

cả việc trình bày bài giảng bằng lời đều đã được máy tính hỗ trợ Tập trung tất

cả các khả năng hỗ trợ ấy làm cho máy vi tính trở thành một "trợ giảng đắc lực,

có hiệu quả" Điều đáng nói ở đây, người trợ giảng này là hình ảnh của chính

GV đang tiến hành tiết dạy, vì rằng nội dung, tính chất và cách thức hoạt động của người trợ giảng đều do chính GV đứng lóp quyết định Sự thống nhất, đồng cảm, phối họp nhịp nhàng trong hoạt động của người trợ giảng với GV đãkhông thể có được trong cách tổ chức dạy học truyền thống

giúp GV hỗ trợ giám sát và quản lý kết quả học tập của HS (điểm miệng, kiểmtra 15 phút, một tiết và học kỳ) thông qua việc cho điểm đánh giá hàng ngày vào hồ sơ HS của từng lớp Nhờ đó, GV sẽ kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học của mình sao cho phù hợp với từng đối tượng HS, đánh giá chính xác

Trang 30

năng lực và sự tiến bộ của mỗi HS theo tiến trình Việc đánh giá năng lực học tập của HS theo tiến trình luôn là một công việc gặp rất nhiều khó khăn trong cách tổ chức dạy học truyền thống.

Một chức năng có tính nổi bật và đặc thù riêng của Website là chức năng trình diễn thông tin Multimedia, có tương tác và gây được ấn tượng mạnh Chính nhờ chức năng này mà chúng ta đã phát huy được sức mạnh của máy vi tính và nâng cao một cách đáng kể hiệu quả của việc sử dụng nó Hầu hết các tài liệu liên quan đến môn vật lý đều được số hoá và đưa vào Website như: SGK, SGV, SBT Nhờ đó đã tạo nên được những thư viện như: thư viện các tranh ảnh, thư viện các Video Clip về thí nghiệm, hướng dẫn thực hành, thư viện các bài tập, đề thi, kiểm tra Nói chung, tập hợp các thư viện như vậy

và sự liên thông giữa chúng cùng với hệ thống các bài giảng điện tử là đủ để

giảng thực nghiệm, một số chức năng hỗ trợ của Website được các GV đánh giá rất cao như chức năng quản lý kết quả học tập của HS (vì nó cho phép đánh giá năng lực học tập của HS theo tiến trình dạy học, giảm công sức lao động của GV trong việc làm sổ sách cuối kỳ, cuối năm học, thực sự tích cực hoá được hoạt động nhận thức của HS); chức năng cập nhật thông tin riêng của GV(vì nó vẫn tôn trọng tính chủ động, sáng tạo, những sắc thái riêng của mỗi GV và tập họp được sức mạnh tập thể trong việc ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục); chức năng kiểm tra đánh giá năng lực, kỹ năng vận dụng kiếnthức để giải quyết các nhiệm vụ học tập thông qua thư viện các bài tập, đề thi

và kiểm tra [24]

Chức năng tăng cường tính trực quan, với khả năng xử lý các kiểu dữ liệu khác nhau, năng lực đồ hoạ phong phú có thể xây dựng các phim dạy học,quay phim thí nghiệm, làm trực quan hoá các hiện tượng vật lý dưới dạng hìnhảnh động Bằng các chương trình mô phỏng, minh hoạ các quá trình vật lý, HS

sẽ hiểu rõ hơn bản chất của các hiện tượng vật lý.

Đối với hoạt động học của HS: có thể nói rằng những gì mà Website đã

hỗ trợ được cho hoạt động dạy của GV, thì cũng có nghĩa là nó đã hỗ trợ cho hoạt động học của HS Điều này thật dễ hiểu vì các phương tiện dạy học giúp cho GV nâng cao hiệu quả của quá trình truyền thụ thì cũng chính nó sẽ có tác dụng làm dễ dàng cho quá trình nhận thức của HS Website đã giải phóng cho

Trang 31

GV thoát khỏi những công việc chân tay bình thường để tập trung chỉ đạo hoạtđộng nhận thức của HS, thì điều này cũng có nghĩa là Website đã có tác dụng tăng cường được hoạt động nhận thức độc lập, chủ động sáng tạo cùng với việc nâng cao một cách đáng kể chất lượng của hoạt động đó (vì GV đã có nhiều thời gian hơn để tổ chức, điều khiển, giám sát, đánh giá và điều chỉnh hoạt động học tập của từng cá thể HS) Cũng theo cách hiểu như vậy thì Website đã có tác dụng tích cực hoá được hoạt động nhận thức của HS (kích thích được hímg thú, tạo động cơ học tập, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc học, tăng cường sự bền bỉ của trí nhớ, sự sâu sắc của tư duy ); hỗ trợ tốt cho việc tự học, tự đánh giá, ôn tập củng cố, hệ thống hoá kiến thức (nhờ hệ thống các bài tập luyện tập, kiểm tra, của tài liệu tự học theo kiểu chương trìnhhoá, sự liên kết giữa các thư viện, giữa các tài liệu điện tử ).

1.3.1.1 Xây dụng trang Web hỗ trợ hình thành kiến thức, kỹ năng mói

Có thể xây dựng trang Web gồm các bài giảng điện tử nhằm hỗ trợ hìnhthành kiến thức và kỹ năng mới cho HS Trong đó các mô hình, tranh ảnh, cácđoạn Video clip quay các hiện tượng thật, mô phỏng các hiện tượng, đồ thị nhằm cung cấp cho HS nhiều hình ảnh trực quan với tư cách là những cơ sở thực nghiệm giúp HS khái quát hoặc kiểm chứng kiến thức về các khái niệm, định luật vật lý

Các đoạn Video quay các nghiên cứu của các nhà bác học, trong đó sự kết hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo nên sự trình diễn sinh động, hấp dẫn Sử dụng các ứng dụng mô phỏng, HS có thể thao tác trên máy vi tính như đang đóng vai nhà nghiên cứu cũng góp phần rèn luyện phương pháp thực nghiệm cho HS trong điều kiện không thể tiến hành thí nghiệm thật được Bởi trong dạy học vật lý, chức năng góp phần phát triển năng lực nhận thức HS của phương tiện dạy học thể hiện rõ nhất trong việc hỗ trợ tổ chức cho HS tiến hành các thực nghiệm với các thiết bị thí nghiệm thực hành Thông qua đó góp phần hình thành kỹ năng, rèn luyện tính trung thực, rèn luyện thói quen tiếp thu tri thức một cách tự lực, tích cực và có cơ sở khoa học

Việc tiến hành thí nghiệm trên Web có thể thực hiện bằng nhiều công

cụ khác nhau:

- Quay băng hình tiến trình của một thí nghiệm, bố trí thí nghiêm sao

Trang 32

cho HS có thể đọc được số liệu trên màn hình HS có thể tham gia một số khâu của quá trình thực nghiệm (thu thập số liệu và xử lý kết quả thí nghiệm).

- Lập trình mô phỏng các thiết bị thí nghiệm (thí nghiệm ảo), với các thiết bị được mô phỏng, để từ đó giúp HS có thể tiến hành thí nghiệm trên các dụng cụ thí nghiệm thật một cách dễ dàng hơn Tuy nhiên trong phương pháp này có một nhược điểm là các kết quả thí nghiệm đã được lập theo một công thức nhất định, vì vậy kết quả thí nghiệm coi như đã được định sẵn Trong khi thực tế có thể diễn ra không đúng như vậy Ngoài ra, để thực hiện các thí nghiệm ảo như thế phụ thuộc rất nhiều vào khả năng lập trình của người xây dựng Web, đòi

hỏi nhiều công sức, cần có một nhóm lập trình viên bậc cao thực hiện mới đạt được hiệu quả

Tuy nhiên, việc sử dụng các thí nghiệm đều tạo ra được sự tranh luận trí tuệ - thực tiễn của HS đối với đối tượng học tập, HS phải tham gia vào các giai đoạn của quá trình thí nghiệm với mức độ cao nhất có thể được

1*3.1*2 Xây dụng trang Web hỗ trợ học sinh củng cố, ôn tập

Ồn tập là khâu quan trọng trong quá trình dạy học Để HS có thể ôn luyện kiến thức của mình cần xây dựng trang Web ôn tập cho một chương, một phần Trong chương trình ôn tập có thể biểu diễn phối hợp các dạng thông tin khác nhau như các sơ đồ, các hình mô phỏng, các đoạn phim thí nghiệm về những hiện tượng vật lý Qua đó, nhằm giúp HS có thể nắm vững kiến thức đã học, phát triển khả năng khái quát hoá, năng lực tổng hợpcác vấn đề, các sự kiện; HS cũng có thể được giải các bài tập dưới nhiều hình thức khác nhau như trắc nghiệm, tự luận, thông qua đó mà hiểu sâu sắc hơn những kiến thức đã lĩnh hội được Đặc biệt, có thể đưa vào trang Web

ôn tập những sự kiện thực tiễn, tạo cơ hội cho HS gắn hoạt động học tập trong nhà trường với thực tế ứng dụng ngoài cuộc sống

1.3.1.3 Xây dựng trang Web để kiểm tra và đánh giá kiến thức,

kỹ năng mà HS đã thu nhận được.

Các bài kiểm tra trắc nghiệm trên Web với tư cách là một phương tiện dạy học được sử dụng như một biện pháp tích cực, hữu hiệu để chỉ đạo hoạt động học Nó có tác dụng định hướng hoạt động tích cực, tự chủ của HS

Trang 33

Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm được soạn thảo công phu, theo các thời điểm khác nhau của quá trình dạy học trên Web như: Bắt đầu học một chương,trong quá trình học một chương, kết thúc một chương, được coi như một công

cụ, phương tiện để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học Có thể lưu giữ các bài kiểm tra trong một thư viện các bài kiểm tra chuẩn và cập nhật nó thường xuyên Trên cơ sở đó, GV

sẽ thiết kế các bài kiểm tra thích hợp với trình độ của HS và đánh giá HS trongkhi họ thực hiện bài kiểm tra đó Vói các bài trắc nghiệm nhiều câu trả lời truyền thống thì khi tiến hành kiểm tra HS có thể chọn các phương án trả lòi bằng cách bấm các chữ cái tương ứng trên bàn phím hoặc nhắp chuột vào phương án được chọn Với những chương trình trắc nghiệm có sử dụng các kết quả nghiên cứu của lĩnh vực trí tuệ nhân tạo thì câu trả lời của HS có thể làmột câu văn hoàn chỉnh hoặc thậm chí là một đoạn tự luận Kết quả kiểm tra của HS được lưu vào máy tính và được xử lý riêng, nếu cần thì máy tính cũng

có thế cung cấp thông tin phản hồi để người học có thể tự điều chỉnh quá trình học tập của mình cho phù hợp với mục đích học tập

Với năng lực tính toán nhanh, chính xác, máy tính dễ dàng và nhanh chóng thực hiện kiểm tra trên Web theo thang điểm đã đặt ra Hình thức đánh giá này có ưu điểm hơn hẳn so với cách kiểm tra truyền thống bởi nó mang tính khách quan cao, ít sai sót và nhanh chóng , đồng thời nhờ khả năng lưu trữ dữ liệu với khối lượng lớn Nhờ đó, người GV có thể thực hiện các phép

xử lý thống kê để kiểm định các giả thiết nảy sinh trong quá trình nghiên cứu

về quá trình học tập và tiếp thu kiến thức của HS để từ đó đề ra biện pháp giáodục thích họp, kịp thời

1.3.2 Chức năng hỗ trợ dạy học của các tài liệu điện tủ’ trong Website dạy học vật lý

1.3.2.1 Bài giảng điện tử

Bài giảng điện tử là một tài liệu cơ bản và chủ yếu của Website dạy học Nó là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy của GV

Khái niệm bài giảng điện tử được hiểu là toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của HS cùng các phương tiện dạy và học (như tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ, các thí nghiệm được quay phim, chụp ảnh hay mô phỏng bằng các ảnh động trong không gian hai, ba chiều ) của

Trang 34

một tiết học được số hoá và cài đặt trên máy vi tính dưới dạng một chương trình nhằm thực hiện mục đích của quá trình dạy học đã đặt ra (truyền thụ trithức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách cho HS).Như vậy, bài giảng điện tử vừa là một bản kế hoạch, vừa là một phươngtiện (vì nó là một chương trình), khác hẳn với khái niệm "giáo án" trong dạy học truyền thống trước đây hỗ trợ cho hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Sự hỗ trợ ấy phải tạo được điều kiện để GV có thể tổ chức và điềukhiển tốt hoạt động nhận thức của HS, tạo được nhiều điều kiện thuận lọi để

HS có thể phát huy tốt tính tích cực, độc lập, chủ động sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo và hình thành các hành vi Chính vì vậy, khi thiết kế nội dung bài giảng điện tử, chúng tôi quan tâm tới những khả năng hỗ trợ của nó đối với hoạt động dạy học

Nội dung bài giảng bao gồm các câu hỏi, câu trả lời, tranh ảnh, hình vẽ, các phim về thí nghiệm, các biểu bảng, các biểu đồ , nó sẽ lần lượt được xuất hiện theo tiến trình giảng dạy nhờ vào chỉ một vài thao tác đơn giản (gõ phím

kí tự trắng - space bar hay nháy phím trái của chuột - Click Mouse) Mỗi một thao tác trên máy tính luôn gắn chặt với một nội dung trong hoạt động học tập của HS Nhờ vậy, GV đã không mất thời gian cho việc ghi bảng, trình bày tranh ảnh, vẽ các biểu bảng, biểu đồ, thực hiện các phép tính, ghi nhớ nội dungbài giảng Lúc này, bảng đen chỉ là một phương tiện phụ, sử dụng để hỗ trợ những khi cần thiết như ghi chép các phép tính trung gian, các số liệu thí nghiệm Hơn nữa, những nội dung xuất hiện trong bài giảng điện tử đã được biên soạn kỹ lưỡng về mặt cú pháp ,ngữ nghĩa như những câu hỏi, những chú

ý, những giải thích mà bình thường GV truyền tải chúng thông qua lời nói của mình, trong nhiều trường hợp chưa được chuẩn bị kỹ, có thể sai về cú pháp, thiếu trong sáng về ngữ nghĩa và sẽ làm cho HS hiểu không đúng, giống nhau về một vấn đề do GV trình bày

Việc sử dụng bài giảng điện tử đã giúp GV trình bày nội dung kiến thứcdưới một dạng chuẩn tắc nhất về kích thước (size), kiểu dáng (style), màu sắc (color) của nhiều loại chữ (font) và có cấu trúc logic chặt chẽ Điều này cũng đồng thời giúp HS rèn luyện được kỹ năng viết, vẽ, trình bày bài học vào vở ghi của mình một cách chính xác, đầy đủ và có thẩm mỹ Như vậy, lao động chân tay của GV đã được giảm thiểu, hầu như tất cả thời gian của tiết học giờ

Trang 35

đây được GV sử dụng vào việc tổ chức, điều khiển, kiểm soát hoạt động học tập của HS như: phân tích, giải thích thêm để HS hiểu rõ, hiểu đúng nội dung các câu hỏi; nêu thêm các câu hỏi phụ để đào sâu hay mở rộng vấn đề; tổ chứccho học sinh tham gia xây dựng bài; quan sát hoạt động của từng nhóm, từng

cá thể HS; tiến hành các thí nghiệm thực hành mẫu; hướng dẫn, gợi mở giúp cho HS phát hiện hay giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình học tập Bài giảng điện tử được xây dựng trên nhiều dạng dữ liệu như : văn bản, hình ảnh hoặc động hai hoặc ba chiều, biểu bảng, biểu đồ, âm thanh, các đoạn phim học tập với nhiều màu sắc khác nhau, được kiết xuất từ máy tính lên mànảnh thông qua máy chiếu tường Projector Nhờ đó cho phép GV trình bày bài giảng một cách hết sức sinh động và đầy ấn tượng, có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú, tăng cường sức chú ý, độ bền trí nhớ của HS trong quá trình học tập Sự đa dạng trong các kiểu dữ liệu được trình bày như thế trên máy vi tính đã cho phép GV thực hiện được nhiều hơn những yêu cầu của hoạtđộng dạy học đặt ra so với khi không có nó Các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, các thí nghiệm thực hay thí nghiệm mô phỏng được tái tạo lạitrước mắt HS thông qua các đoạn Video Clip Những đoạn phim này đặc biệt hữu dụng khi dùng để tạo tình huống có vấn đề để truyền thụ tri thức

Nội dung môn học được phân chia thành các bài học trong sách giáo khoa chỉ có tính tương đối, nghĩa là giữa các yếu tố kiến thức trong cùng một bài học, giữa nội dung của các bài học khác nhau có một mối liên hệ mật thiết.Việc xây dựng kiến thức của bài học này luôn dựa trên cơ sở là những kiến thức mà HS đã tiếp thu được từ những bài học trước đó Nhờ chức năng siêu liên kết (hyperlink) có thể truy cập nhanh chóng đến một nội dung kiến thức của bài học trước được cài sẵn trên bài giảng điện tử, đã cho phép GV thực hiện yêu cầu này theo những cách khác nhau Có thể chuyển đến một bài học bất kỳ, một mục bất kỳ, một thí nghiệm, một kết luận hay tóm tắt nội dung củamột bài học trước đó Yêu cầu này trong các tiết giảng thông thường (không

sử dụng máy vi tính) chỉ được thực hiện bằng cách thông qua phát biểu bằng lời của HS hoặc của GV Khác biệt một cách căn bản, các liên kết trên

Website đã cho phép nhanh chóng tái hiện lại chúng chỉ qua một thao tác nhắpchuột đơn giản Khả năng hỗ trợ này đồng thời cũng đã đáp ímg được nhu cầu của GV trong việc ôn tập hệ thống hoá kiến thức khi cần thiết

Trang 36

Cá biệt hoá HS trong quá trình dạy học là một yêu cầu hết sức quan trọng nhằm hướng tới mục đích là cho mỗi HS được học tập và phát triển theo khả năng riêng của mình Đối với các tiết học thông thường, yêu cầu này rất khó được thực hiện, giáo viên thường phải căn cứ vào trình độ của đại đa số

HS để quyết định cách thức tổ chức và lựa chọn phương pháp giảng dạy tương ứng Sử dụng bài giảng điện tử có nhiều cơ hội để GV thực hiện nhiệm vụ này

Đi kèm với các câu hỏi chính được xây dựng dựa vào trình độ của đại đa số

HS trong lớp (mức khó trung bình), là các câu hỏi phụ được xây dựng dựa vào trình độ của các HS yếu (mức khó thấp) và trình độ các HS khá giỏi (mức khó cao) Khả năng cho phép lưu trữ và cập nhật được hệ thống các câu hỏi này trên máy vi tính đã giúp mỗi một GV xây dựng cho mình một thư viện riêng các câu hỏi - một tài sản quý giá, vì nó hàm chứa trong đó cả trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và cả nghệ thuật dạy học Không ép buộc GV phải thực hiện giáo án theo một khuôn mẫu cứng nhắc mà ngược lại vẫn phát huy được khả năng sáng tạo, những năng lire riêng của mỗi GV Lựa chọn được câu hỏi phù hợp cho từng đối tượng HS sẽ thực hiện tốt được nhiệm vụ

cá biệt hoá trong dạy học

Bài giảng điện tử có thể được in ra giấy để GV làm giáo án giảng dạy trong trường hợp không sử dụng máy tính (vì một lý do nào đó) Nội dung tổng kết cuối bài học (nội dung HS cần ghi vào vở) sau khi đã được rút ra từ bài giảng điện tử cũng có thể được in ra giấy và phát cho HS sau mỗi tiết học

để làm tài liệu học tập cho HS ở nhà, ngoài những gì mà các em ghi được vào vở

1.3.2.2 Bài tập điện tử

Ngoài bài giảng điện tử, trên Website còn có các "tài liệu điện tử " (tài liệu số hoá) liên quan như SGK, SGV, SBT Khái niệm "tài liệu điện tử" được chúng tôi như quy ước, với nghĩa là các tài liệu phục vụ cho việc dạy và học một môn khoa học nào đó được số hoá và lưu trữ trên máy tính Một trongnhững tài liệu điện tử đó là bài tập điện tử

Bài tập điện tử được hiểu đó là những yêu cầu, những nhiệm vụ, những vấn đề mà HS cần phải giải quyết (nhờ những kiến thức đã tiếp thu được) được số hoá và đưa vào máy tính dưới dạng các phần mềm nhằm hỗ trợ cho

HS nắm vững, khắc sâu, mở rộng kiến thức môn học, rèn luyện kỹ năng vận

Trang 37

dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ học tập, hay để thực hiện chức năng kiểm tra đánh giá năng lực học tập của HS Điều khác biệt một cách cơ bản giữa bài tập điện tử và sách bài tập thông thường là những khả năng đáp ứng lại hoạt động làm bài của HS như đưa ra nhận xét, đánh giá và cả những

Bài tập điện tử là một trong các Site của Website dạy học, nó là kết quả

số hoá các sách bài tập đã được Bộ giáo dục ban hành để phục vụ cho việc dạy

và học một môn học (ở đây là môn vật lý 12) dưới hai dạng: bài tập luyện tập

và bài tập kiểm tra đánh giá Dù ở dạng nào đi nữa thì Site này cũng sẽ đưa ra nhiều loại bài tập khác nhau, cả trắc nghiệm (đúng - sai, chọn một trong các câu, chọn một số câu trong các câu, điền khuyết, ghép từ ) lẫn tự luận Đối với các bài tập trắc nghiệm thì máy tính tỏ ra là một phương tiện chuyên dụng có nhiều ưu điểm trên nhiều phương diện như lưu trữ bài tập dưới dạng thư viện

đề thi, đáp ứng được những yêu cầu của việc sản xuất các đề thi và kiểm tra (khách quan, nhanh chóng, chính xác, thể loại bài, mức độ khó, phạm vi kiến thức cần khảo sát ), đặc biệt là việc chấm điểm, xử lý, tổng hợp và kiết xuất kết quả được tự động hoá ở mức độ cao Riêng đối với loại bài tập tự luận, do

sự hạn chế của các kết quả nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, nên việc chấm điểm

tự động đang còn phải chờ đợi Với loại bài tập tự luận trên Website dạy học, chúng tôi chỉ dừng lại ở mức học sinh tự đánh giá khi đối chiếu bài làm với đáp án (loại bài tập luyện tập) hay GV phải đọc bài làm của HS và trực tiếp cho điểm (loại bài tập kiểm tra đánh giá) Các bài tập ở dạng này thường là những câu hỏi chỉ yêu cầu trả lời ngắn, nên GV cũng rất dễ chấm và chấm cũng nhanh

Mục đích của loại bài tập luyện tập là giúp HS tự làm các bài tập theo

sự lựa chọn của mình về số lượng câu, bài, thuộc nội dung kiến thức (của chương) nào Thông qua việc giải các bài tập HS được rèn luyện kỹ năng vận dụng những kiến thức đã tiếp thu để giải quyết các nhiệm vụ học tập, tự đánh giá kiến thức của mình và biết những chỗ hổng trong kiến thức để ôn tập, củng

cố lại Đặc điểm nổi bật của loại bài tập điện tử dùng cho luyện tập và cũng thểhiện tính ưu việt của công nghệ đã mang lại là ở chỗ đã phối hợp sức mạnh củatập thế GV để tạo nên một thư viện đề bài đa dạng, phong phú và ngày được

Trang 38

tập luyện tập HS đều nhận được những đánh giá, nhận xét về những thiếu sót, những chỗ hổng trong kiến thức và cả những nội dung kiến thức nào (những quy tắc, định lý, định luật, những tranh ảnh, những phim thí nghiệm ) HS cần phải xem lại để lấp đầy những chỗ hổng, sữa chữa được các thiếu sót ấy.Khác hẳn với dạng trên, bài tập kiểm tra đánh giá là dạng bài tập giúp

GV kiểm tra chất lượng học tập của HS theo từng tháng từng kỳ hay cả năm Chức năng này chỉ hỗ trợ cho GV trong việc tổ chức thi hay kiểm tra và các kết quả thường phải được lưu lại, nên sẽ có những nguyên tắc bảo mật riêng Khi đã được cấp quyền truy cập, GV có thể chọn trường, lớp và lập danh sách các thí sinh dự thi, đánh số báo danh (lập mã HS), ra đề (lựa chọn câu, mức độ khó, thuộc nội dung kiến thức nào, đáp án, thời gian làm bài), xác lập các quy tắc thi (có hay không hiển thị kết quả thi sau khi HS làm bài xong, có hay không được đăng ký thi lại) Các thông số xác lập cho việc xuất bản đề ở trên

sẽ được lưu giữ cùng với bài làm và kết quả xử lý thi của HS GV hoặc có thể soạn đề ở nhà, sau đó mới đưa tới lớp và tổ chức thi, hoặc cũng có thể soạn đề ngay tại phòng thi Cách soạn thảo đề thi như thế sẽ đảm bảo an toàn và có tính chất bảo mật cao, vì rằng trong đề thi đã không chứa một câu hỏi nào mà thực chất chỉ chứa đựng những quy tắc và cách thức trích rút từ các câu hỏi, từ thư viện đề thi mà thôi Các quy tắc và cách thức soạn thảo đề ấy chỉ được hệ thống Website thực hiện việc xuất bản đề khi có sự đăng nhập Password và User name của GV

Ngoại trừ đề thi dạng tự luận (GV phải đọc trên máy hay trên giấy để chấm), tất cả các loại khác đều được chấm, xử lý tự động và kiết xuất khi cần thiết Đối với dạng bài tập này, việc xuất bản đề cùng đáp án theo một khuôn dạng đã định sẵn (thuận tiện lúc chấm) là rất cần thiết cho việc tổ chức thi trêngiấy khi không có điều kiện tổ chức thi trên máy Một lợi điểm nữa của loại bài tập này, đó là ngay cả phụ huynh HS cũng có thể thực hiện được việc kiểmtra đánh giá năng lực học tập của con cái mình ngay tại nhà mà không đòi hỏi

ở họ những kiến thức nhất định về môn học Sử dụng chức năng này, HS cũng

có thể thực hiện việc kiểm tra thử để tự đánh giá năng lực học tập của mình khi cần thiết (ví dụ thử kiểm tra trước các kỳ thi học kỳ hay cuối năm)

1.4 Cấu trúc của Website dạy học

Website được cấu trúc từ ba thành phần cơ bản sau:

Trang 39

- Công cụ cập nhật: Đây là một mô đun cho phép người quản trị số hoá

các dữ liệu để đưa vào kho dữ liệu Dữ liệu nhập vào có thể ở nhiều dạng: văn

bản, hình ảnh, âm thanh, phim và được lấy từ nhiều nguồn khác nhau Cập nhật được hiểu là sự tạo mới hay chỉnh sửa thông tin

- Kho dữ liệu số hoá (hay còn gọi là cơ sở dữ liệu): Việc xây dựng cấu trúc cho cơ sở dữ liệu một cách chuẩn tắc, tối ưu liên quan nhiều đến các vấn

đề kỹ thuật của Tin học đã nằm ngoài giới hạn nghiên cứu của đề tài Vì vậy ở đây chúng tôi chỉ xem xét những lợi ích về mặt dạy học của kho dữ liệu số hoánày, đó là việc tổ chức như vậy sẽ tạo nên một kho tài nguyên dùng chung Nhờ việc dễ dàng phát huy được sức mạnh của cộng đồng (không chỉ riêng độingũ GV mà cả những người sử dụng khác), nên kho dữ liệu này ngày càng phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng

Trong kho dữ liệu số hoá lại được phân làm ba khu vực: khu vực thứ nhất chủ yếu là khu vực dữ liệu có tính pháp quy (của tổ chức quản trị

Website), còn gọi là khu vực dữ liệu gốc, dữ liệu được khởi tạo đầu tiên từ người thiết kế (hội đồng chuyên môn, các nhà khoa học); tiếp đến là khu vực

dữ liệu dành riêng cho mỗi GV (đã được cung cấp User name và Password); cuối cùng là khu vực dữ liệu dành cho những người quan tâm tới những vấn

đề trong dạy học bộ môn ( như các GV đã nghỉ hưu, phụ huynh HS)

- Các tài liệu điện tử trên Website: Trình duyệt Web là một chương trình có tính thương mại do các hãng máy tính, các công ty hay các trung tâm nghiên cứu xây dựng phần mềm sản xuất Nó cho phép sản xuất các tài liệu điện tử vàtrình diễn thông tin Có nhiều trình duyệt khác nhau, nhưng ở nước ta phổ biếnvẫn là trình duyệt IE (Internet Explorer), số liệu các tài liệu điện tử có được trên Website cũng đồng thời nói lên khả năng hỗ trợ cho hoạt động dạy và học

Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện, khả năng triển khai khác nhau hay quy mô của ứng dụng để có sự lựa chọn kiểu cấu trúc Website khác nhau Người ta vẫn có thể thiết kế các site, từ đó hình thành nên Website mà không cần thiết

kế cơ sở dữ liệu Mặc dù cách làm này đã phát huy được khả năng thiết kế của một số người, có ít nhiều về các quy trình soạn thảo Web, không cần am hiểu lắm về lập trình, để tạo ra các Website (thường để trên đĩa cứng của các máy

lẻ hoặc trên đĩa CD) Nhưng nó vẫn chưa phải là một lựa chọn tốt và không

Trang 40

phù họp vói xu thế phát triển phần mềm hiện nay bởi đặc tính cứng nhắc của nó.

1.5 Các bước xây dựng Website dạy học

Khi xây dựng Website đầu tiên là xác định mục đích sư phạm, dạy học của Website, lập kế hoạch cẩn thận; lựa chọn công cụ xây dựng Website thích hợp và có một chiến lược cụ thể mới đảm bảo sự thành công của Website.[4]Quy trình xây dựng Website thường phải trả qua các giai đoạn sau:

1.5.1 Lập kế hoạch

Xác định mục tiêu sư phạm của Website, thu thập và phân tích thông tin, xác định nội dung và phạm vi của Web, lựa chọn công cụ và trình duyệt, xây dựng hoặc thu thập các Applet, Video, hình ảnh cần thiết

1.5.2 Xây dụng và phát trien Website

- Định nghĩa Site

Giai đoạn này là giai đoạn xác định phạm vi nội dung Website, xác địnhcông nghệ và tính năng phương pháp cần thiết để đáp ứng được mục tiêu đề ra.Đối với các Website dạy học, giai đoạn này còn phải xác định phương pháp áp dụng cho Website, lựa chọn phương tiện phù hợp tự động hoá quá

thích ?

ỉ Nội dung kiến thức nào cần nhấn mạnh khi xây dựng nội dung kiến thức mới?

+ Phương thức nào giúp ôn tập, củng cố ?

+ Bằng cách nào để kiểm tra, đánh giá?

- Thiết kế cấu trúc Website

Cấu trúc Website là toàn bộ cấu trúc liên kết giữa các trang Web, cách

tổ chức Website, cấu trúc nội dung Website có phù họp với phương pháp đã nêu ra hay không? phụ thuộc vào các công đoạn: phân đoạn thông tin thành các trang riêng lẻ; lựa chọn các phương pháp cần thiết giúp người sử dụng dễ

Ngày đăng: 04/12/2015, 11:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2 Bảng 3.2. Bảng thống kê các điểm số (Xi) của - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
2 Bảng 3.2. Bảng thống kê các điểm số (Xi) của (Trang 14)
Sơ đồ 2. Quy trình sử dụng Website dạy học - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Sơ đồ 2. Quy trình sử dụng Website dạy học (Trang 51)
Hình 2.1: Màn hình trang chủ - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Hình 2.1 Màn hình trang chủ (Trang 64)
Hình 2.3: Video mô phỏng hệ mặt trời. - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Hình 2.3 Video mô phỏng hệ mặt trời (Trang 67)
Hình 2.4: Màn hình của bài  giảng điện tử ở thời điểm bắt đầu giờ - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Hình 2.4 Màn hình của bài giảng điện tử ở thời điểm bắt đầu giờ (Trang 68)
Hình 2.5: Màn hình của bài giảng điện tử khi bắt đầu - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Hình 2.5 Màn hình của bài giảng điện tử khi bắt đầu (Trang 68)
Hình 2.7: Màn hình trang sách giáo viên - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Hình 2.7 Màn hình trang sách giáo viên (Trang 71)
Hình 2.8: Màn hình trang thư viện - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Hình 2.8 Màn hình trang thư viện (Trang 72)
Hình 2.10: Màn hình trang lịch sử vật lý và các nhà bác học - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Hình 2.10 Màn hình trang lịch sử vật lý và các nhà bác học (Trang 75)
1. Sơ đồ 1: - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
1. Sơ đồ 1: (Trang 79)
2. Sơ đồ 2: - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
2. Sơ đồ 2: (Trang 80)
Bảng 3.1. Lớp và số học sinh - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Bảng 3.1. Lớp và số học sinh (Trang 94)
Đồ thị 3.1. Phân phối tần suất - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
th ị 3.1. Phân phối tần suất (Trang 95)
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các tham số - Xây dựng và sử dụng website dạy học chương từ vi mô đễn vĩ mô vật lý 12 nâng cao trung học phổ thông
Bảng 3.6. Bảng tổng hợp các tham số (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w