1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự khác nhau giữa đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín chỉ trong hệ thống giáo dục

14 2,2K 48

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chung Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức tổ chức đào tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ

Trang 1

Sự khác nhau giữa Đào tạo theo niên chế và Đào tạo theo học chế tín chỉ

Tuesday, 18.11.2008, 09:34pm (GMT)

SỰ KHÁC NHAU GIỮA ĐÀO TẠO THEO NIÊN CHẾ

VÀ ĐẠO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Lại Ngọc Khánh-Phòng Đào tạo

I Khái niệm chung

Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ là hai hình thức tổ chức đào tạo khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu là đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng được sự phát triển của các ngành nghề trong xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo học chế tín chỉ đều có lịch sử phát triển từ lâu, mỗi cách tổ chức đào tạo đều có những ưu điểm, những khó khăn riêng và đều đạt những thành quả rất to lớn

Nếu để tìm ra sự khác nhau giữa hai cách tổ chức đào tạo này thì trong phạm

vi một bài viết không thể đáp ứng được, tuy vậy dưới góc độ đào tạo có thể thấy một số điểm khác nhau cơ bản giữa hai cách tổ chức đào tạo này

1 Đào tạo theo niên chế

Đào tạo theo niên chế là đào tạo theo năm học, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học được quy định đào tạo trong một số năm nhất định Ví dụ chương trình đào tạo trình độ đại học được cấp bằng cử nhân thường đào tạo trong 4 năm, cấp bằng kỹ sư được đào tạo trong 5 năm, cấp bằng bác sỹ được đào tạo trong 6 năm Sinh viên học hết thời gian quy định nếu không bị lưu ban, dừng tiến độ học tập thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường.

2 Đào tạo theo học chế tín chỉ

Đào tạo theo tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức của sinh viên, sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học, được ra trường.

Trang 2

II Tổ chức đào tạo

1 Tổ chức đào tạo theo niên chế

Trong đào tạo theo niên chế mọi lịch học, lịch thi được phòng Đào tạo chuẩn

bị sẵn Các lớp sinh viên được biên chế cố định ngay từ ngày nhập trường và ít khi

có sự biến động Sinh viên chấp hành tốt các lịch học, lịch thi, các quy định, quy chế của nhà trường, tích cực học tập và rèn luyện thì sẽ đạt kết quả tốt Tổ chức đào tạo theo niên chế tương đối thuận lợi, kế hoạch đào tạo, lịch giảng, lịch thi có thể làm ngay từ đầu năm học và ít khi có sự biến động.

2 Tổ chức đào tạo theo tín chỉ

Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải tự đăng ký lịch học, sinh viên không đăng ký sẽ không có lịch học Để làm được việc đó sinh viên phải nghiên cứu kỹ, nắm chắc các tài liệu của nhà trường như quyển niên giám, sổ tay sinh viên, nắm vững chương trình đào tạo, các học phần phải học trước, các học phần học song hành, phần kiến thức giáo dục đại cương, phần kiến thức giáo dục

chuyên nghiệp… để có thể có được đăng ký lịch học cho từng học kỳ cho phù hợp (phù hợp ở đây là phù hợp với quy định của nhà trường và phù hợp với sức học của sinh viên) Sinh viên đã phải tự học các quy chế, quy tắc một cách thật sự Ưu điểm của cách tổ chức này là sinh viên có quyền lựa chọn, sinh viên không những được lựa chọn các môn chính khóa của ngành được đào tạo mà còn có thể được đăng ký học thêm 1 số học phần tự chọn yêu thích hỗ trợ cho hướng phát triển ngành nghề sau này Trong thời gian học chính khóa có thể học thêm ngoại ngữ, tin học (học bằng 2).

III Chương trình đào tạo

1 Chương trình đào tạo theo niến chế

Chương trình đào tạo theo niên chế có khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, các khối kiến thức này được bố trí theo một tỷ lệ nhất định Khi xây dựng chương trình của các ngành người ta chỉ chú ý đến liên thông dọc và các bậc học tiếp theo (các bậc học cao hơn), còn ít chú ý đến liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một trình độ đào tạo Vì vậy chương

Trang 3

trình đào tạo của các ngành khác nhau trong cùng lĩnh vực ít nhiều mang tính độc lập, vì vậy không tận dụng được hiệu quả đào tạo Trong đào tạo theo niên chế những người phấn đấu học được 2 bằng, 3 bằng đại học là rất khó, mà điều này rất quan trọng vì các lĩnh vực kiến thức sẽ bổ trợ cho nhau trong quá trình công tác sau này, như người học muốn có thêm kiến thức về tin học, ngoại ngữ, về quản lý kinh tế

2 Chương trình đào tạo theo tín chỉ

Một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất trong xây dựng chương trình trong đào tạo theo học chế tín chỉ là các chương trình đào tạo có tính liên thông cao, là đào tạo tiềm năng.

Một chương trình giáo dục đại học bao giờ cũng có khối kiến thức đại cương (Toán, hóa, sinh ) và các môn chung như Mác - Lênin, ngoại ngữ, tin học Các môn học này cần được xây dựng trên một nền chung đáp ứng cho tất cả các ngành đào tạo trong một lĩnh vực đào tạo nhất định Việc tổ chức xây dựng chương trình

có tính liên thông cao như vậy sẽ đào tạo cho sinh viên một tiềm năng lớn và sinh viên có khả năng học liên thông các ngành trong cùng một lĩnh vực.

Khi đã xây dựng được chương trình có tính liên thông cao, liên thông ngang giữa các ngành trong cùng một khối và liên thông dọc từ cao đẳng lên đại học thì sinh viên rất có điều kiện để học cùng một lúc nhiều ngành và trong một thời gian nhất định có thể phấn đấu học được hai hoặc ba bằng đại học

IV Phương pháp giảng dạy

1 Trong đào theo niên chế

Đơn vị đo lường khối lượng học tập của sinh viên là đơn vị học trình (đvht) tương đương với 15 tiết học lý thuyết ở trên lớp, 30 giờ thực hành thí nghiệm…, mỗi năm sinh viên đại học phải tích lũy khoảng 50 (đvht) nên chương trình đào tạo của của các ngành đào tạo như sau.

Chương trình đào tạo Đại học 4 năm tương đương với 200 (đvht).

Chương trình đào tạo Đại học 5 năm tương đương với 250 (đvht).

Chương trình đào tạo Đại học 6 năm tương đương với 300 (đvht).

Trang 4

Trong đào tạo theo niên chế áp dụng rất nhiều phương pháp giảng dạy như thuyết trình, giảng dạy dựa trên vấn đề, semina, thảo luận nhóm, thực hành, thí nghiệm, đi thực tập thực tế cộng đồng, thực tập tốt nghiệp Tuy đã có rất nhiều hội thảo về đổi mới công tác giảng dạy nhưng phương pháp học tập sinh viên ở trên lớp còn thụ động, chủ yếu là nghe giảng, ghi chép, học thuộc lòng, ít tham gia vào bài giảng Về lượng giá còn chưa đa dạng hóa các loại hình lượng giá, hình thức lượng giá làm chuyên đề, làm bài tập lớn còn chưa được áp dụng rộng rãi.

2 Trong đào tạo theo tín chỉ

Đơn vị đo lường khối lượng học tập là tín chỉ (TC), 1 tín chỉ tương đương với 15 tiết giảng lý thuyết, 30 giờ thực hành thí nghiệm Mỗi học kỳ sinh viên phải tích lũy tương đương 15 tín chỉ, nên các chương trình đào tạo có khối lượng tín chỉ như sau:

Chương trình đào tạo đại học 4 năm tương đương 120 tín chỉ

Chương trình đào tạo Đại học 5 năm tương đương 150 tín chỉ

Chương trình đào tạo Đại học 6 năm tương đương 180 tín chỉ

Để chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định chuyển đổi chương trình đào tạo theo niên chế sang chương trình đào tạo theo tín chỉ theo tỷ lệ: cứ 1,5 ĐVHT quy đổi thành 1TC.

Như vậy trong đào tạo theo tín chỉ, thời gian có mặt ở trên lớp giảm đi 1/3 thay vào đó là thời gian tự học phải tăng lên Theo quy định cứ 1 tín chỉ sinh viên phải tự học là 30 tiết Trong đào tạo theo tín chỉ yêu cầu về chuẩn đào tạo không

hề thay đổi, trước mắt vẫn giữ nguyên và dần dần sẽ tăng lên theo yêu cầu của công tác kiểm định chất lượng Như vậy thời gian giảng dạy trên lớp giảm đi, thời gian tự học của sinh viên tăng lên trong khi không được giảm yêu cầu đánh giá Vậy làm thế nào để đảm bảo chất lượng Mấu chốt của vấn đề là phải đổi mới phương pháp giảng dạy Phải giảng dạy bằng phương pháp tích cực Các phương pháp giảng dạy trong đào tạo theo niên chế vẫn tiếp tục được phát huy các điểm mạnh, nhưng việc tích cực sinh viên trong giờ học được đặt lên hàng đầu Để đáp ứng được yêu cầu này sinh viên phải nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp, giảng

Trang 5

viên phải tăng cường cho sinh viên tự học ngay trên lớp bằng các biện pháp như nêu ra các vấn đề của bài giảng để sinh viên tìm ra cách giải quyết theo định hướng của giảng viên để sinh viên có thói quen tự học.

Trong đào tạo theo tín chỉ khi chuyển đổi từ 1,5 ĐVHT sang 1 TC tức là từ 22,5 tiết giảng lý thuyết ở trên lớp (trong đào tạo theo niên chế) chỉ còn 12 tiết giảng

lý thuyết + 6 tiết thảo luận ở trên lớp (trong đào tạo theo tín chỉ) việc tiếp tục giảng dạy bằng phương pháp truyền đạt 1 chiều không còn phù hợp nữa Nếu giảng viên cùng với phương tiện hỗ trợ (máy tính xách tay + Projector) tăng tốc độ giảng lên 2 lần để cho không bị "cháy giáo án" thì sinh viên sẽ bị quá tải về thông tin và không phân biệt được các vấn đề chính, vấn đề phụ của bài giảng, từ đó không hiểu bài, không hiểu bản chất của vấn đề, dẫn đến chất lượng học tập giảm sút Đây là vấn đề rất lớn khi bước vào đào tạo theo tín chỉ.

Hoặc có xu hướng giảng viên coi việc đọc trước bài của sinh viên trước khi đến lớp đã có hiệu quả rồi, lên lớp chỉ giảng những vấn đề khó và trả lời các thắc mắc của sinh viên, kiểm tra nhận thức của sinh viên Nếu theo xu hướng này bài giảng sẽ không có hệ thống không được trình bày theo giáo án và sự tự học của các sinh viên không đồng đều cũng không đạt được hiệu quả trong đào tạo.

Phương châm giảng - dạy là học - hiểu, dưới sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên phải được tham gia vào từng vấn đề của bài giảng cho đến khi tất cả các vấn đề của bài giảng được làm sáng tỏ, được giải quyết dưới sự hướng dẫn của giảng viên.

V Tự học trong đào tạo theo tín chỉ

Trong đào tạo theo tín chỉ, đối với sinh viên tự học là vấn đề quan trọng nhất, sinh viên phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thực sự (chứ không phải đi nghe giảng, dự giờ) Muốn tự học trên lớp có hiệu quả sinh viên phải tự đọc tài liệu trước, không chỉ đọc giáo trình mà phải đọc tài liệu có liên quan, không phải đọc cả quyển tài liệu mà chỉ đọc những vấn đề trực tiếp liên quan đến bài giảng Các vấn đề liên quan đều phải được đánh dấu lại, ghi chép lại hoặc có chỉ dẫn rõ ràng để khi cần lập tức có thể tra cứu được ngay.

Trang 6

Sinh viên học ở trên lớp phải chịu khó ghi chép, hăng hái phát biểu, tích cực tìm hiểu, phấn khởi khi được giảng viên kiểm tra, vấn đề gì chưa rõ phải hỏi giảng viên cho rõ, nếu vẫn chưa hiểu thì trao đổi lại với nhóm học tập (thảo luận nhóm) Thảo luận nhóm là hình thức rất quan trọng, qua thảo luận nhóm sinh viên phát hiện những vấn đề mình còn thiếu hụt để tự bổ sung Những vấn đề đã nắm bắt được qua thảo luận nhóm cũng được khẳng định.

Tìm ra sự khác nhau giữa hai cách tổ chức đào tạo không phải để so sánh và tìm ra cách tổ chức đào tạo nào ưu việt hơn Mỗi cách tổ chức đào tạo đều phù hợp với một giai đoạn lịch sử nhất định, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định.

Tìm ra sự khác nhau để thích ứng với hình thức tổ chức đào tạo mới - hình thức tổ chức đào tạo theo tín chỉ với hai yêu cầu: giảng dạy theo phương pháp tích cực (lấy người học làm trung tâm) và sinh viên phải tự học là chính, phải lấy tự học làm cốt

Đào tạo tín chỉ: nhận thức và những vấn đề đặt ra

PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai: “Quản lý trong đào tạo theo tín chỉ, cần chú ý đến cơ chế trao quyền nhiều hơn cho người thầy trong đào tạo và tăng tính tự chịu trách nhiệm cao của người thầy”

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đào tạo theo phương thức tín chỉ là một chủ trương lớn của Bộ Giáo dục & Đào tạo Xu hướng chuyển đổi

từ đào tạo truyền thống, theo niên chế, sang đào tạo theo tín chỉ là tất yếu, hợp lý Có thể nói, đến bây giờ vấn đề này không còn phải bàn cãi nhiều (việc chuyển đổi này đã được trường Đại học Đà Lạt triển khai từ 1994) Vấn đề vẫn còn tranh luận, thậm chí còn nhiều quan điểm trái ngược nhau, là thực hiện như thế nào?

Lộ trình triển khai ra sao? Suy cho cùng nguyên nhân của những điều chưa thống nhất trên lại vẫn từ nhận

thức: Đào tạo theo phương thức tín chỉ là gì? Nhận thức ở đây không còn là về những định nghĩa Tín chỉ

Trang 7

hay giờ tín chỉ là gì nữa, mà là tổ chức đào tạo như thế nào thì mới được gọi là đào tạo theo tín chỉ; điều kiện đi kèm, bao gồm cả yêu cầu với người giảng, người học, người quản lý,cơ sở vật chất đảm bảo ra sao Như vậy là vẫn cần phải nhận thức cho đúng về đào tạo theo tín chỉ để có thể triển khai nó một cách đúng đắn, có kết quả trong các nhà trường Chỉ khi đó, chuyển đổi sang đào tạo tín chỉ ở các bậc học trong các trường đại học mới thực sự được coi là một bước đi quan trọng trong tiến trình cải cách hệ đào tạo tại các trường đại học của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay

II CHIA SẺ MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ ĐÀO TẠO TÍN CHỈ

1 Theo tôi, giữa đào tạo tín chỉ cho bậc đại học và sau đại học chỉ khác nhau ở vấn đề dạy cái gì? Người

học ở 2 bậc học này là khác nhau, do vậy kiến thức mà họ cần là khác nhau Vì thế, dạy cái gì phải phụ thuộc vào người học cần cái gì? Ngoài điểm này ra, đào tạo theo phương thức tín chỉ ở bậc đại học và sau đại học đều có chung mục đích và cách thức tổ chức thực hiện

2 Những điểm tích cực của đào tạo tín chỉ:

2.1.Trước hết, những điểm tích cực không thể phủ nhận của phương thức đào tạo tín chỉ là lấy người học

là trung tâm, là đối tượng được phục vụ được hưởng thụ Điều này thể hiện:

- Người học được chọn môn mà họ thích học (tất nhiên trong một khung chương trình hiện có của Nhà trường) Cần phải hiểu sở thích của người học là sự gắn kết của cả 2 vấn đề: kiến thức và người truyền đạt kiến thức đó

- Người học được thể hiện quan điểm của mình trước những vấn đề mà môn học đặt ra Vấn đề này liên quan đến nguyên tắc được thỏa thuận giữa người dạy và người học là cả thầy và trò cùng đi đến chân lý chứ không phải thầy dạy cho trò chân lý đã có sẵn

- Người học được giải đáp tất cả những thắc mắc về môn học Những thắc mắc này có thể xuất hiện bất cứ lúc nào

- Người học được chọn thời gian học phù hợp với lịch hoạt động của cá nhân họ Điều này dường như ở Việt Nam chỉ có thể đáp ứng được với hệ sau đại học Nhưng thực tế ở nhiều nước trên thế giới, sinh viên cũng có thể là những người vừa học vừa làm Việt Nam cũng cần phải như thế

- Người học được đánh giá kiến thức dưới hình thức một chứng chỉ hay văn bằng tùy vào nhu cầu của họ Vấn đề này liên quan đến nguyên tắc là người học không phải học để thi mà học để làm việc

2.2 Điểm tích cực thứ hai là Đào tạo theo tín chỉ đặt ra yêu cầu cao với sự nỗ lực của người thầy Người

thầy không thể chỉ nói những gì họ đã biết mà còn phải hướng dẫn S/V khả năng tiếp cận tri thức hiện đại, những điều mà bản thân người thầy có thể gặp giới hạn Họ phải luôn sẵn sàng trả lời những chất vấn của người học Họ phải toàn tâm toàn ý với một trách nhiệm cao đối với việc dạy học Ngoài việc chuẩn bị bài giảng, thời gian kiểm tra SV làm bài tập, chấm các bài tập cá nhân hàng tuần đã thu hút hết tâm trí sức lực của người thầy Nhưng đó là căn cứ thuyết phục cho quan điểm phải đảm bảo thu nhập xứng đáng cho giáo viên, nhà giáo phải có cuộc sống vật chất đáng hoàng và nghề giáo luôn luôn là nghề cao sang, được cả xã hội tôn vinh

3.3 Một điểm tích cực nữa đó là tổ chức đào tạo theo tín chỉ là điều kiện để công tác quản lý đào tạo của

nhà trường ngày càng hiệu quả Khi đó, cả người dạy và người học đều sẽ cảm nhận thấy rằng, bộ phận quản lý thực sự là cần thiết, bởi họ tạo mọi điều kiện để người dạy có thể dạy tốt hơn, người học có cơ hội tiếp nhận kiến thức đúng như mình cần hơn

III NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

Trang 8

3.1 Quan điểm chung:

Trước nhu cầu của người học như đã nêu trên, nhà trường, thông qua đội ngũ các thầy cô giáo và các chuyên gia quản lý, cần phải làm tất cả để thỏa mãn nhu cầu đó Điều này đặt ra những điều kiện, những yêu cầu cần có để có thể triển khai tổ chức học tập theo phương thức tín chỉ trong nhà trường Như vậy, mức độ thỏa mãn các nhu cầu trên của người học phải được coi là tiêu chí đánh giá kết quả chuyển sang đào tạo tín chỉ của một cơ sở đào tạo Các điều kiện thực hiện của mỗi trường, ở mỗi giai đoạn của từng trường chắc chắn sẽ khác nhau, do vậy, quá trình triển khai đào tạo tín chỉ chắc chắn sẽ xuất hiện các mô hình đào tạo khác nhau: mô hình đào tạo tín chỉ, đào tạo bán tín chỉ, thậm chí có thể có mô hình “bình cũ rượu mới” Như vậy, tính tích cực của mỗi mô hình phải được đánh giá nghiêm túc, trên cơ sở so sánh cái được, mất của phương thức đào tạo theo niên chế và theo tín chỉ Điều này sẽ chi phối lộ trình triển khai đào tạo tín chỉ trong mỗi cơ sở đào tạo: bắt đầu từ khóa nào?, từ bậc đào tạo nào?, cũng tức là chấp nhận mức độ “xôi đỗ” đến đâu? Lộ trình triển khai hợp lý là hết sức quan trọng, giúp các nhà trường tránh được việc triển khai theo kiểu hình thức, phong trào, dẫn đến suy giảm chất lượng đào tạo, nghiêm trọng hơn tạo tâm lý dị ứng với đào tạo tín chỉ Chúng ta phải cảnh giác với những dư luận đàm tiếu rằng, học theo tín chỉ sinh viên đỡ phải đến lớp nhiều, không bị sức ép của điểm danh, thầy cô thì nhàn hơn vì lên lớp

ít hơn, nói ít hơn v.v

3.2 Các vấn đề đặt ra:

3.2.1 Xây dựng chương trình khung theo nguyên tắc chuyển từ chương trình cứng sang chương trình mềm dẻo.

Điều này thể hiện:

- Giảm tỉ trọng các môn quy định của cứng của Bộ, của trường, tăng các môn của Khoa, của chuyên ngành

- Giảm bớt môn học để sinh viên có thời gian đọc tài liệu tham khảo

- Có nhiều chuyên đề mở trong chương trình đào tạo

- Chú ý đến các bài viết tiểu luận cho người học tự nghiên cứu

- Tăng các môn tự chọn và giảm sự quy định cứng về trật tự các môn phải tích lũy (chỉ quy định môn học tiên quyết)

3.2.2 Xây dựng đề cương chi tiết:

Đây là một công việc cực kỳ quan trọng, có thể so sánh như bản thiết kế chi tiết để người dạy và người học

dễ thực hiện, bao gồm các quy định về thời gian, nội dung nghe, đọc, làm bài tập, làm bài kiểm tra cho người học; thời gian, nội dung phải truyền đạt, trả lời thắc mắc của người dạy đối với người học

Với sự soạn thảo công phu, đầy trách nhiệm của giáo viên phụ trách môn học, công việc này sẽ tạo điều kiện cho cả 3 bên: người dạy, người học, người quản lý, thực hiện tốt phần công việc của mình

Về vấn đề này chỉ xin góp ý: có nên đưa giờ tự học vào là một bộ phận của giờ tín chỉ không? Trên thực tế rất khó tách giờ tự học tín chỉ và tự học đương nhiên phải có Suy cho cùng, học theo tín chỉ là phải coi trọng tự học rồi Còn muốn kiểm soát giờ tự học thì tự học nào mà chẳng cần phải kiểm soát Có phải tự học tín chỉ thì phải coi trọng hơn đâu?

3.3.3 Kiểm tra đánh giá:

Trang 9

Đào tạo theo tín chỉ đề cao trách nghiệm của người thầy, là điều kiện để thực hiện “ thầy ra thầy” Thầy chịu trách nhiệm từ khâu giảng, tổ chức thảo luận, giao và chấm bài tập cá nhân, ra đề và chấm các bài kiểm tra, bài thi hết môn Thầy giáo có nhiều thông tin nhất để đánh giá chính xác chất lượng học tập của mỗi người học.Vì thế thái độ tôn trọng quyền của người thầy trong khâu đánh giá người học là rất đáng quan tâm

Về vấn đề này xin có ý kiến trao đổi như sau: Quản lý trong đào tạo theo tín chỉ, cần chú ý đến cơ chế trao

quyền nhiều hơn cho người thầy trong đào tạo và tăng tính tự chịu trách nhiệm cao của người thầy Những

phiếu đánh giá định kỳ của người học, những thông tin truyền miệng từ người học về đạo đức người thầy sẽ phải là những căn cứ quan trọng để lãnh đạo nhà trường ứng xử với người dạy như là người chủ đối xử với người lao động mà mình sử dụng Những biện pháp quản lý hiện nay như chỉ rọc phách với bài thi hết môn (trong khi để đánh giá người học lại cần có rất nhiều khâu) sẽ không nhiều ý nghĩa trong việc kiểm soát người thầy, mà vẫn làm mất nhiều thời gian cho bộ phận quản lý Nhất là đào tạo tín chỉ là để tạo điều kiện

cả thầy và trò dạy tốt hơn, học tốt hơn chứ không phải để quản lý người thầy

3.2.4 Cơ sở vật chất đi kèm:

Trong đào tạo tín chỉ, điều kiện vật chất cho thầy là điều kiện rất quan trọng Một phòng làm việc riêng sẽ tạo điều kiện cho thầy có thể tư vấn trả lời thắc mắc của sinh viên Điều kiện này đối với chúng ta chắc không thể thỏa mãn được trong tương lai gần Phương tiện internet chắc chắn sẽ là công cụ chính Vì thế Nhà trường cần có chính sách hỗ trợ cho giáo viên khâu này

Thư viện với vấn đề cung cấp học liệu cho người học cũng rất quan trọng, nhưng hiện tại ở trường ta còn rất yếu Một thực tế bất hợp lý là học viên cao học thường chỉ dành cho việc học, bao gồm đi thư viện đọc sách, vào ngày nghỉ cuối tuần, những hầu hết các thư viện của Việt Nam không làm việc trong thời gian đó

3.2.5 Quy mô đào tạo:

Trong đào tạo theo tín chỉ sẽ không còn câu hỏi bao nhiêu sinh viên trong một lớp nữa Thay vào đó là bao nhiêu sinh viên học một môn học Quy mô người học lớn có ảnh hưởng đến việc triển khai các công việc đào tạo? Chắc chắn có! Tuy nhiên, quy mô đào tạo ở các trường của nhiều quốc gia trên thế giới không hề nhỏ Ngoài ra, đến một lúc nào đó quan điểm bỏ thi đầu vào đại học, sau đại học sẽ được thừa nhận Bởi, mọi công dân có quyền thử sức mình ở các bậc học, còn kiến thức của họ được ghi nhận dưới dạng văn bằng nào thì đó là quyền quyết định của cơ sở đào tạo, nơi họ theo học Khi đó quy mô người học có thể còn tăng cao Như thế, khó khăn về quy mô người học sẽ phải chấp nhận và được giải quyết bằng việc tổ chức học nhiều thời gian khác nhau cho một môn học và có nhiều thầy cô giáo cùng giảng môn môn học Điều kiện cần có tiếp theo là hình thành nhóm các thầy cô dạy cùng một môn học, trong đó có người điều phối chung và có đủ phòng học để sắp xếp Điều kiện 1 không khó nhưng điều kiện 2 là một thách thức đối với mỗi nhà trường ngay cả trong 5-7 năm nữa./

PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai Chủ nhiệm Khoa TC-NH, Trường ĐHKT

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt

Nam

26-03-2008

Bài viết cho hội thảo ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ do TRƯỜNG ĐH HUFLIT tổ chức năm 2005.

Bài viết trình bày một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng và phát triển hệ thống đào tạo theo tín chỉ Các mô hình chuyển đổi tín chỉ cũng được giới thiệu kèm theo các chức năng và

ưu điểm của chúng Sau đó, các kinh nghiệm của Việt Nam trong việc áp dụng hệ thống chuyển

Trang 10

đổi tín chỉ trong đào tạo và các ưu khuyết điểm của các hệ thống này sẽ được tổng kết và phân tích

Sự ra đời của các hệ thống chuyển đổi tín chỉ

Thế kỷ 21 được đánh dấu bằng các thành tựu đáng kể trong nhiều lĩnh vực: kinh tế toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế, khoa học, công nghiệp, y tế và giáo dục có rất nhiều chuyển biến, trong đó các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục đại học đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển của loài người Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, con người trong thế kỷ mới không ngừng

có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm của mình nhằm đóng góp vào qui trình phát triển thế giới Mỗi một kinh nghiệm cá nhân, mỗi một thành tựu khoa học, mỗi một khám phá mới về kiến thức thông qua các nghiên cứu đều có xuất phát điểm là các kinh nghiệm của nhiều thế hệ và cá nhân đi trước đặt nền tảng cho các bước kế tiếp sau này, mà cụ thể là thông qua các chương trình học ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học

Thế giới hiện đại luôn công nhận tầm quan trọng của giáo dục đại học, nơi sinh viên tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua các chương trình học được sắp xếp có hệ thống Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi sinh viên có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, các nhà giáo dục, khoa học, chuyên môn và quản lý nhà nước lẫn giáo dục đại học đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để sinh viên có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt Với mục đích đó, một hệ thống được gọi là ‘hệ thống chuyên đổi tín chỉ' được xây dựng và phát triển ở nhiều nước trên thế giới

Hệ thống chuyển đổi tín chỉ là một hệ thống được sử dụng cho tất cả các thành phần (hay môn

học) của một chương trình học Tất cả số lượng tín chỉ gộp lại sẽ giúp cho sinh viên có được

bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay một bằng cấp chuyên môn nào đó Tín chỉ được sử dụng để đo

lường khối lượng công việc của một sinh viên theo các hoạt động học tập đã được lên kế hoạch như lên lớp nghe giảng, tham dự seminar, hoặc tự học v.v Các tiêu chí này quyết định các đặc trưng cụ thể của các hệ thống tín chỉ khác nhau trong những khoá học gần giống nhau trên thế giới

Các mô hình chuyển đổi tín chỉ

Có hai hệ thống tín chỉ tương đối được sử dụng rộng rãi hiện nay Đó là Hệ thống Tín chỉ của Hoa

Kỳ (the United States Credit System - USCS), được thực hiện từ những năm đầu tiên của thế kỷ

20 và Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ của Châu Âu (the European Credit Transfer System - ECTS) được xây dựng từ những năm giữa của thập kỷ 80 và được Hội đồng Châu Âu công nhận như là một hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên trong khuôn khổ các nước thành viên EU từ năm 1997 ECTS là hệ thống phát triển rộng rãi nhất và được sử dụng cả ở các nước không thuộc Hiệp hội Châu Âu Các nước này sử dụng mô hình ECTS như là bước đầu trong việc xây dựng và phát triển các hệ thống tín chỉ quốc gia và dùng chúng để so sánh với ECTS cũng như để sinh viên có thể chuyển sang học ở các nước sử dụng hệ thống này

Hệ thống chuyển đổi tín chỉ tạo cho giáo dục đại học và sinh viên nhiều tiện ích: nó giúp cho việc đánh giá kết quả học tập được dễ dàng hơn trong thời gian chuyển đổi và góp phần vào việc phát triển các chương trình trao đổi giữa các khoa trong cùng đơn vị trong trường và khác trường cũng như các chương trình trao đổi sinh viên giữa các nước khác nhau trên thế giới

Sau đây là một ví dụ về một chương trình đào tạo sử dụng hệ thống chuyển đổi tín chỉ ở Châu âu

Trong khuôn khổ một trường đại học, các tín chỉ được phân bổ theo hai nguyên tắc Nguyên tắc thứ nhất do một đơn vị của trường (trong ví dụ này là Phòng Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế các Chương trình Giáo dục Chuyên ngành đưa ra Nguyên tắc thứ hai được xây dựng trên cơ sở chính là của ECTS sau khi đã được thay đổi một số thành phần cho phù hợp với chương trình

Ngày đăng: 04/12/2015, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w