1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trình bày Định nghĩa, đối tượng và mục tiêu của Giáo dục so sánh

10 494 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 146,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

So sánh mô hình quản lý giáo dục ở Hoa Kỳ và Việt Nam: 1/ Mô hình quản lý giáo dục ở Hoa Kỳ: Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình theo cơ chế phi tập trung hoá, phân cấp, phân quyền mạnh cho

Trang 1

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

LỚP CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC KHOÁ 2008 – 2011

BÀI KIỂM TRA Môn học: Giáo dục so sánh

Họ và tên học viên: Hoàng Thu Hồng Câu hỏi:

Trình bày Định nghĩa, đối tượng và mục tiêu của Giáo dục so sánh Cho ví

dụ minh hoạ.

Bài làm:

Giáo dục so sánh là bộ môn của khoa học giáo dục, thuộc phần lí luận khoa học giáo dục

Có những vấn đề và sự kiện chung với lịch sử giáo dục, triết học giáo dục và

sư phạm học đại cương

Là bộ phận hữu cơ của mọi lĩnh vực nghiên cứu giáo dục cơ bản

Chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh của nghiên cứu khoa học

Có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập tới khái niệm về Giáo dục

so sánh nhưng ở Việt Nam có lẽ định nghĩa này là chính xác và đúng nhất:

“ Giáo dục so sánh là bộ môn nghiên cứu cơ bản của Khoa học giáo dục Giáo dục so sánh nghiên cứu những đặc điểm chung nhất của lí luận và hiện thực giáo dục trên thế giới, xác định những xu thế quốc tế trong sự phát triển giáo dục thông qua đánh giá, so sánh các nhóm nước, các cộng đồng quốc gia và các tổ chức giáo dục quốc tế, phân tích kinh nghiệm phát triển giáo dục của thế giới để phát triển và chia sẻ những giá trị trong quá trình phát triển quốc gia”

Phạm vi nghiên cứu của Giáo dục so sánh rất rộng lớn, gắn với hội nhập quốc tế trong giáo dục

Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của Giáo dục so sánh hiện đại:

Đối tượng: Lí luận và hiện thực giáo dục của thời đại, chủ yếu của thế giới đương đại và các tổ chức quốc tế

Mục tiêu: Những xu thế chung, những nét tương đồng và những nét khác biệt trong sự phát triển giáo dục và khoa học giáo dục của các cộng đồng quốc gia, các khu vực, các nước và các nền giáo dục khác nhau

Trang 2

Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích

và nghĩa vụ, quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển của quốc gia do đó vấn đề quản lý giáo dục luôn luôn là vấn đề được các nước quan tâm cho dù là nước lớn hay nước nhỏ, nước giàu hay nước nghèo, nước phát triển hay đang phát triển Những vấn đề về thực hiện chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục… cho đến vấn đề thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục… đều liên quan đến công tác quản lý giáo dục từ bình diện quốc gia (vĩ mô) đến các cấp quản lý giáo dục ở các địa phương, các cơ sở giáo dục – đào tạo Do đó việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý giáo dục ở các nước trên thế giới và vận dụng phù hợp với điều kiện nước ta là một yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa rất to lớn

So sánh mô hình quản lý giáo dục ở Hoa Kỳ và Việt Nam:

1/ Mô hình quản lý giáo dục ở Hoa Kỳ:

Hoa Kỳ là một quốc gia điển hình theo cơ chế phi tập trung hoá, phân cấp, phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương các bang và các quận giáo dục (một đơn vị về quản lý giáo dục) về các mặt trong quản lý giáo dục và có tính hướng thị trường rất mạnh trong đào tạo Bộ Giáo dục liên bang là cơ quan hành pháp về giáo dục ở cấp liên bang mới được thành lập năm 1979 trong khi nước Mỹ thành lập cách đây đã hơn 200 năm (1789) Bộ Giáo dục liên bang chỉ tập trung thực hiện một số chức năng chính sau:

- Xây dựng và triển khai thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục quốc gia và được thể chế hoá bằng Luật giáo dục Mỹ năm 2000

- Quản lý và điều phối các chương trình trợ giúp của liên bang dành cho công tác giáo dục mà trước đây thuộc chức năng của Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Quản lý và giám sát các khoản tài trợ cho tiểu học, trung học và đại học

Như vậy, Bộ Giáo dục Hoa Kỳ không thực hiện nhiều chức năng quản lý nhà nước trực tiếp và toàn diện các mặt giáo dục đối với toàn bộ hệ thống giáo dục Hoa

Kỳ Các chính quyền các bang, các quận giáo dục và nhà trường đặc biệt là các trường đại học có tính tự chủ rất cao trong quản lý mọi mặt hoạt động của nhà trường trong khuôn khổ pháp luật, gọi là “tự trị”, Luật liên bang và các hoạt động của từng bang

Trách nhiệm quản lý giáo dục chủ yếu thuộc về chính quyền các bang và các quận giáo dục – là các đơn vị lãnh thổ về giáo dục với 90% kinh phí cho giáo dục

Trang 3

là từ nguồn kinh phí của các bang và các quận giáo dục Chi phí của liên bang chỉ

là một phần nhỏ (10%) tổng chi phí cho giáo dục và chủ yếu được dành để phục vụ các đối tượng khó khăn Các đạo luật và điều lệ liên bang kiểm tra và giám sát các bang và các địa phương chi phí các khoản tiền này ở đâu và cho đối tượng nào Các đạo luật và điều lệ của bang và địa phương kiểm tra giám sát nội dung và phương pháp giảng dạy cho tất cả học sinh Các cơ quan quản lý giáo dục của bang có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong quản lý giáo dục trong phạm vi của bang, từ xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục của bang cho đến công tác phân bổ nguồn tài chính, quản lý giáo viên…đến nội dung, chương trình đào tạo của các loại hình giáo dục trên cơ sở luật pháp liên bang và luật pháp của từng bang

Trong quản lý giáo dục của Hoa Kỳ, vai trò của các cộng đồng, các cơ quan lập pháp địa phương với đại diện của nhiều tầng lớp xã hội, giới doanh nghiệp có vai trò và vị trí rất quan trọng Các hội đồng bang đứng đầu là thống đốc bang có quyền lực thực sự trong việc quyết định những vấn đề phân bổ và sử dụng ngân sách giáo dục của địa phương, xem xét và thông qua các luật, quy định có liên quan đến giáo dục ở bang mình, quản lý tổ chức nhân sự của cơ quan giáo dục của bang như bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm người đứng đầu cơ quan quản lý giáo dục Tương

tự như vậy, cơ quan quản lý giáo dục quận và hiệu trưởng các trường có trách nhiệm và quyền hạn rất lớn trong điều hành, quản lý hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật của bang và các chuẩn mực về giáo dục như hệ thống chuẩn kiến thức - kỹ năng cho các nội dung học tập ở các trường phổ thông và hệ thống các test kiểm tra trình độ ở các lớp cuối cấp

2/ Các mô hình quản lý giáo dục ở Việt Nam:

2.1/ Mô hình quản lý tập trung và kế hoạch hoá cao:

- Giáo dục là phúc lợi xã hội, nhà nước bao cấp toàn bộ

- Tất cả mọi công việc về giáo dục muốn được thực hiện phải được kế hoạch hoá từ trung ương đến địa phương và tới từng cơ sở

- Mọi hoạt động giáo dục đều do cơ quan quản lý giáo dục ở cấp trung ương chỉ đạo từ khâu tuyển sinh đến phấn phối và sử dụng

Với kiểu mô hình quản lý như thế này thì Giáo dục sẽ kém linh hoạt, năng động, sáng tạo và kém thích ứng nhanh với nhu cầu đòi hỏi của xã hội

2.2/ Mô hình quản lý phi tập trung và định hướng thị trường:

- Phân cấp quản lý mạnh cho địa phương và cơ sở

Trang 4

- Bộ Giáo dục giữ vai trò hoạch định và tổ chức thực hiện mục tiêu, chiến lược giáo dục, hỗ trợ tài chính, quản lý các chương trình phát triển giáo dục quốc gia, xây dựng và ban hành các chuẩn mực quốc gia về giáo dục

- Nhà trường có quyền tự chủ cao về mọi mặt trong khuôn khổ pháp luật

- Nhân lực nhân tài cũng là một loại hàng hoá, hàng hoá đặc biệt trong thị trường

2.3/ Mô hình quản lý nhà nước về giáo dục theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

- Quản lý nhà nước về giáo dục theo mục tiêu: Giáo dục của dân, do dân và

vì dân

- Xây dựng xã hội học tập suốt đời

- Nâng cao trách nhiệm chặt chẽ trong QLNN với các Bộ, Ban, Nghành trung ương

- Thực hiện tốt nguyên tắc: “tập trung dân chủ” trong quản lý

- Phân cấp quản lý toàn diện và triệt để cho địa phương và cơ sở giáo dục, đảm bảo đầy đủ tính tự chủ và tụ chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học

- Ban hành đồng bộ các văn bản dưới luật, có kế hoạch trình Chính phủ và Quốc hội điều chỉnh Luật giáo dục 1998 và xây dựng các bộ luật khác trong giáo dục

- Tăng cường, mở rộng hệ thống thông tin, dự báo giáo dục trong toàn ngành

- Hiện đại hoá hệ thống tổ chức và quản lý

- Sắp xếp, bố trí sử dụng cán bộ, công chức đúng người, đúng việc

- Xây dựng hệ thống kiểm định, kiểm tra và thanh tra giáo dục

So sánh về mô hình quản lý cơ sở giáo dục đại học:

Cơ quan

quản lý trực

tiếp

- Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Các Bộ, ngành

- UBND cấp tỉnh (Gọi chung là cơ quan chủ quản)

- Hội đồng quản trị nhà trường

- Tổ chức

bộ máy

- Cơ quan chủ quản quyết định - Hiệu trưởng quyết định

- Nguồn Tài

chính

- Do Nhà nước cung cấp (đối với trường công lập) (chiếm tỷ trọng lớn)

- Các khoản tài trợ, nghiên cứu

KH (chiếm tỷ trọng lớn)

Trang 5

- Học phí (chiếm tỷ trọng lớn)

- Các khoản tài trợ khác (chiếm tỷ trọng nhỏ)

- Sử dụng kinh phí theo quy định của Bộ Tài chính

- Học phí

- Thực hiện các chương trình của Liên bang hoạc tiểu bang

- Sử dụng kinh phi theo quy định của Trường và của nhà tài trợ

- Về đào tạo - Tuyển sinh theo chỉ đạo và quy

chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Chương trình do các trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung của Bộ

- Việc đào tạo, cấp văn bằng theo quy chế của Bộ,

- Các trường tự chủ

- Các trường tự chủ trên cơ sở Hội đồng khoa học khoa, trường xây dựng

- Việc đào tạo, cấp văn bằng theo quy định riêng của từng trường

Đề xuất việc phân cấp, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam

Với kiểu mô hình quản lý tập trung và kế hoạch hoá cao sẽ có những bất cập trong quản lý giáo dục như sau:

- Quản lý nhà nước còn ôm đồm, cứng nhắc

- Giao quyền còn mang tính ban phát, nhỏ giọt

- Chưa tạo động lực và cơ chế để các trường tự thích ứng được với yêu cầu của địa phương, thị trường

- Chưa phân định được giữa QLNN và QL nhà trường

- Chưa có lộ trình trong giao quyền tự chủ

- Thiếu chỉ đạo, giám sát, kiểm tra việc nhà trường thực hiện quyền tự chủ Bởi vậy việc phân cấp quản lý giáo dục trong thời đại hiện nay là vô cùng cần thiết và quan trọng Phân cấp được hiểu như là sự chuyển đổi quyền ra quyết định, trách nhiệm và nhiệm vụ từ cấp cao xuống cấp thấp hơn hoặc giữa các tổ chức

Nội dung phân cấp quản lý giáo dục:

1/ Quan điểm và nguyên tắc phân cấp quản lý:

Trang 6

- Đảm bảo quyền hành pháp và sự quản lý thông suốt giữa các cấp và các cơ quan quản lý khác nhau

- Đảm bảo tính hiệu quả, đúng chức năng, đúng nhiệm vụ

- Phân cấp phải phù hợp với mô hình phát triển kinh tế - xã hội

- Phù hợp với tiến trình phát triển KT – XH & KH – CN

- Đảm bảo tính thực quyền và điều kiện thực hiện quyền cho cơ sở được phân quyền

- Phân cấp phải mang tính đồng bộ

2/ Định hướng phân cấp QLGD:

- Đổi mới tổ chức, quản lý để đáp ứng người học, đáp ứng phát triển KT –

XH và thị trường lao động

- Xây dựng nền giáo dục truyền thống, hiện đại, chất lượng và hội nhập

- Nhà trường không chỉ cung cấp thông tin, mà còn là nơi vận dụng tri thức vào cuộc sống có hiệu quả

- Chống chủ nghĩa bình quân trong giáo dục

- Từng thành viên trong trường phát huy hết năng lực, sở trường, sáng tạo trong dạy và học

- Chuyển QLGD từ QLHC sang QL chất lượng

- Cạnh tranh lành mạnh, xây dựng thương hiệu trường

3/ Mục tiêu phân cấp QLGD:

- Tăng quyền tự chủ, tính năng động, sáng tạo, linh hoạt, quyền hạn và trách nhiệm XH cho nhà trường

- Đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục liên thông từ trung ương đến nhà trường và không bị QLGD gây ách tắc

- Từng nhà trường có điều kiện thực hiện tốt và đầy đủ chức năng và nhiệm

vụ của mình với thực quyền

Phương hướng giao quyền tử chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học:

Để các cơ sở giáo dục đại học có thể sớm thực hiện được những yêu cầu như trên và thiết lập được thương hiệu riêng cho mình với ý nghĩa là xây dựng một trường đào tạo có uy tín và danh tiếng trong nước cũng như trong khu vực và trên thế giới Các trường đại học nhất thiết cần được giao quyên tự chủ và trách nhiêm như sau:

Trang 7

Về tổ chức

1 Được quyền sắp xếp bộ máy tinh gọn để đảm bảo thực hiện tốt nhất sứ mệnh

và chức năng nhiệm vụ được giao Được thành lập các khoa, phòng, ban, bộ môn và được lập cả các chuyên ngành mới

2 Được tổ chức tuyển sinh theo cách riêng của trường mình trên cơ sở công bằng, công khai, bình đẳng và đảm bảo chất lượng đầu vào Tuỳ vào ngành nghề mà có thể có nhiều hình thức tuyển chọn người học ngay trong một trường sao cho phù hợp

3 Được tổ chức quá trình dạy và học theo học phần, tín chỉ hoặc kết hợp giữa học phần tín chỉ và niên chế

4 Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển trường theo hướng dân tộc, hiện đại tiên tiến đủ sức cạnh tranh lành mạnh trong nước, khu vực và quốc tế

Về biên chế

Nhanh chóng xoá bỏ chế độ biên chế trong trường đại học Trong khi chờ đợi các trường đại học cần được tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội về biên chế như sau:

1 Được quyết định việc sắp xếp, phân công giảng viên, công chức, viên chức

và cán bộ khác theo năng lực từng người phù hợp với vị trí công tác đòi hỏi của trường

2 Được toàn quyền điều động giảng viên, cán bộ trong nội bộ trường phục vụ nhu cầu lâu dài hoặc yêu cầu đột xuất

3 Được mời thỉnh giảng, hoặc hợp đồng nghiên cứu khoa học và các hợp đồng thuê, khoán bằng kinh phí được cấp và kinh phí tự có theo đúng quy định của pháp luật về lao động và sử dụng lao động hiện hành

4 Được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm người lãnh đạo các cấp từ phó hiệu trưởng trở xuống

5 Được quyền quyết định tất cả các chức danh khoa học và sư phạm thuộc phạm vi trường mình theo tiêu chuẩn của trường và quy định của Nhà nước

Về giảng viên đại học

Trang 8

1 Giảng viên trong trường đại học giữ vai trò là người hướng dẫn giúp người học đến với tri thức, khoa học bằng đường đi tốt nhất, ngắn nhất, bằng con đường trên đó luôn có sự đổi mới

2 Giảng viên và người học đều bình đẳng trước pháp luật, trước các quy chế, nội quy, quy định, trước tất cả các văn bản pháp quy về giáo dục Giảng viên cần tôn trọng những suy nghĩ, tình cảm, ý kiến, ý định, nguyện vọng của người học

3 Giảng viên luôn tạo cơ hội cho người học có đủ điều kiện để tự suy nghĩ, tự tìm hiểu và có khả năng tự quyết định

4 Giảng viên đại học cần luôn sáng tạo ngay trong từng bài giảng, giúp cho người họảitong nghe giảng không ỷ lại, không chỉ nghe giảng một cách thụ động Giảng phải sinh động, tạo bầu không khí trong lớp học luôn sống động, luôn khích lệ người học cùng tham gia thảo luận, thậm chí có thể để người học cùng tranh luận với thầy trong một môi trường mà người học luôn khao khát được biết cái mới, khám phá cái mới và được ứng dụng cái mới

Về tài chính

Tài chính trong các trường đại học bao gồm các nguồn từ ngân sách Nhà nước, các khoản học phí, lệ phí, các nguồn thu lợi từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ , các nguồn thu tù hợp tác quốc tế và các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật Toàn bộ tài chính của trường cần đựơc quyền sử dụng như sau:

1 Chi cho từng thành viên trong trường: tiền lương, phụ cấp lương, tiền công, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản khác cho các thành viên trong trường và các cộng tác viên theo thoả thuận và chế độ quy định hiện hành

2 Các khoản chi cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, các dịch vụ công cộng, vật tư, thiết bị, tài liệu in ấn, sách giáo khoa, chuyên khảo, tham khảo trong và ngoài nước Chi cho các hoạt động thông tin, tuyên truyền, hội nghị, công tác phí trong và ngoài nước, chi hợp tác quốc tế Chi cho mua sắm, sửa chữa thường xuyên và cố định, chi khen thưởng v.v

Trang 9

1 Được quyền quyết định phát triển nhà trường theo hướng nghiên cứu hoặc hướng nghề nghiệp ứng dụng.

2 Tự xây dựng chương trình giảng dạy và học tập cho tất cả các ngành, nghề

trong trường theo hướng dân tộc, hiện đại, chuẩn hoá, liên thông và chất lượng để chủ động hội nhập được với giáo dục đại học của khu vực và quốc

tế Nhà trường có quyền chọn lựa các chương trình và sách giáo khoa tiên tiến, hiện đại để biên soạn hoặc dịch thông qua hợp tác quốc tế hoặc khai thác trên mạng

3 Tự quyết định chỉ tiêu tuyển sinh theo hướng gắn chỉ tiêu với điều kiện đảm

bảo chất lượng đào tạo, gắn với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, gắn với thị trường sức lao động địa phương, trong nước và cả ngoài nước

4 Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng dạy cách tư duy, cách học

5 Chuyển nền giáo dục đại học thi cử sang nền giáo dục đại học chất lượng.

Bản chất của nền giáo dục đại học chất lượng là tạo khả năng trau dồi trí tuệ của từng người, khả năng tự làm mới mình, làm giầu tri thức cho mình trong giáo dục đại học

Về quan hệ quốc tế

1 Được tự quyền thiết lập quan hệ với các trường đại học và cơ sở nghiên cứu, đào tạo khác trong khu vực và quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học theo luật pháp và quy định cuă Nhà nước

2 Xây dựng trung tâm du học tại chỗ trong trường

3 Được tự cử và quyết định các đoàn ra và đón các đoàn vào theo đúng luật pháp Nhà nước

4 Có chính sách riêng của trường để thu hút các chuyên gia quốc tế giỏi hỗ trợ trong đào tạo và nghiên cứu

5 Chủ động tham gia thị trường đào tạo nguồn nhân lực quốc tế và xuất khẩu lao động trình độ cao

Để thực hiện được các vấn đề nêu trên, Bộ Giáo dục và đào tạo cùng các Bộ ngành liên quan trước hết cần tập trung xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đại học và các chính sách để tạo đầy đủ và đồng bộ môi trường pháp lý phù hợp với cơ

Trang 10

chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giúp các trường đại học có thể thực thi quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội của mình một cách thuận lợi nhất, nhanh nhất và có hiệu quả nhất

Để góp phần thực hiện được nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX: “Đưa nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển…tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”, riêng về quản lý nhà nước về giáo dục cần tiếp tục xây dựng một mô hình quản lý thích hợp – Mô hình quản lý nhà nước về giáo dục theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế Việt Nam

Như vậy, Quyền tự chủ và trách nhiệm của nhà trường là động lực chủ yếu

và là đòn bẩy để phát triển nhà trường Việt Nam truyền thống, tiên tiến và hiện đại

Là giải pháp cơ bản để xoá bỏ cơ chế “xin – cho” hiện vẫn đang còn tồn tại trong QLGD ở nước ta Giao quyền tự chủ và trách nhiệm đầy đủ cho nhà trường sẽ là

“khoán 10” đối với phát triển nhà trường Đây là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để nhà trường Việt Nam có chất lượng và sớm hội nhập được với các nền GD tiên tiến, hiện đại trong khu vực và trên thế giới

Ngày đăng: 04/12/2015, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w