skkn TĂNG CƯỜNG GIÁO dục về tài NGUYÊN BIỂN đảo QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ ĐIA lý
Trang 1ĐỀ TÀI
TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC VỀ TÀI NGUYÊN BIỂN ĐẢO QUA
HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHOÁ ĐIA LÝ
Tác giả: Phan Hữu Mão
Tổ: Sử - Địa - GDCD Trường THPT Thống Nhất A
A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Là một quốc gia nằm bên bờ tây của Biển Đông, lãnh thổ Việt Nam có hơn
3260 km đường bờ biển và một vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 Biển đông khôngnhững ảnh hưởng sâu sắc đến thiên nhiên mà còn có nghĩa quan trọng trong sự pháttriển nhiều ngành kinh tế và an ninh quốc phòng của đất nước
Để tăng thêm lượng thông tin về biển, đảo của tổ quốc, tiềm năng tài nguyênthiên nhiên biển, đảo cũng như những vấn đề đặt ra trong bối cảnh tác động của conngười Thực tế đó đòi hỏi cần bổ sung thêm thông tin và giáo dục cho học sinh nhữnghiểu biết về tiềm năng, mức độ khai thác và sự cần thiết phải khai thác hợp lý tàinguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường biển, đảo; bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổquốc
Trong dạy học việc trang bị cho học sinh các kĩ năng sử dụng và khai thác tàinguyên biển, đảo một cách hợp lý, bảo vệ môi trường và cách sống thân thiện vớimôi trường biển, đảo là rất cần thiết Do đó, tổ chức hoạt động ngoại khóa qua cácmôn học đặc biệt là môn địa lí có ý nghĩa rất quan trọng không những cung cấp chohọc sinh học sinh cấp trung học phổ thông có thêm hiểu biết về môi trường biển, đảocủa Việt Nam, về sự cần thiết phải khai thác hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môitrường biển đảo mà còn bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước., hình thành, rènluyện cho học sinh những kỹ năng thích hợp nhằm góp phần khai thác hợp lý nguồntài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đảo của đất nước và làm tăng thêm tình yêu thiênnhiên, yêu quê hương và đất nước
II PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI.
- Nội dung kiến thức về Biển Đông rất rộng và đa dạng , việc tăng cường giáodục cho học sinh những hiểu biết về tiềm năng, mức độ khai thác và sự cần thiết phảikhai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường biển, đảo; bảo vệ chủquyền biển đảo của tổ quốc bậc THPT gồm 3 chủ đề chính; Biển Đông và vùng biểnViệt Nam;Vấn đề phát triển các ngành kinh tế biển, đảo Việt nam; Khai thác và bảo
vệ tài nguyên môi trường Biển đảo tại các vùng kinh tế- xã hội nước ta
-Tuy nhiên, với thời gian có hạn, đề tài chỉ đề cập đến hình thức tổ chức ngoạikhóa qua môn địa lí nhằm nâng cao và mở rộng thêm về kiến thức biển ,đảo cho họcsinh THPT, hình thành, rèn luyện cho học sinh những kỹ năng thích hợp nhằm góp
Trang 2phần khai thác hợp lý nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đảo của đất nước và
làm tăng thêm tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương và đất nước.
B PHẦN NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
- Nói đến Biển Đông, ảnh hưởng của biển đối với sự phát triển của các ngành kinh tế
ở nước ta đã có nhiều tài liệu đề cập như môn lịch sử , sinh học hoặc môn địa lí lớp
12 đã có nhiều bài và nhiều mục đề cập đến nhằm trang bị cho học sinh những kiếnthức cơ bản nhất về Biển đông, các ngành kinh tế liên quan đến biển thông qua cácbài học chính khóa Tuy nhiên, lượng kiến thức trang bị chưa nhiều, chưa tươngxứng với tiềm năng và sự đa dạng của biển cả
- Việc tổ chức độc lập các hoạt động ngoại khóa để tìm hiểu về biển, đảo của đấtnước hiện nay ở các trường THPT nói chung và trường THPT Thống Nhất A nóiriêng nhằm nâng cao kiến thức về môi trường biển đảo cho học sinh phần lớn chưađược thực hiện, có chăng chỉ đơn thuần tuyên truyền trước cờ, hiệu quả nhận thức vàrèn luyện kỹ năng sử dụng và khai thác tài nguyên biển, đảo một các hợp lý còn thấp
II CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ BIỂN, ĐẢO
1 Tổ chức câu lạc bộ
2 Tổ chức liên hoan văn nghệ
3 Tổ chức triển lãm về biển đảo
4 Tổ chức cuộc thi tìm hiểu biển, đảo:
5 Tổ chức báo cáo chuyên đề về tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển đảo:
6 Tổ chức tham quan, cắm trại:
III QUY TRÌNH THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA, HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP.
Muốn tổ chức một một HĐNK, HĐGD NGLL có hiệu quả, yêu cầu bắt buộcđối với GV chủ nhiệm, GV bộ môn là phải thiết kế hoạt động Đây là yêu cầu có tính
nguyên tắc như đối với việc soạn giáo án trước khi lên lớp dạy học Cụ thể, yêu cầu
thiết kế một hoạt động gồm các bước sau:
Các bước thiết kế hoạt động ngoại khóa
Bước 1: Lựa chọn và đặt tên cho hoạt động
Thực tế, có thể lấy ngay tên hoạt động đã được gợi ý trong chuyên đề Tuynhiên, tuỳ thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của lớp, của trường mà có thể lựachọn một tên khác cho hoạt động, hoặc cũng có thể chọn một hoạt động khác nhưngphải bám sát chủ đề của hoạt động và phải nhằm thực hiện mục tiêu của chủ đề, tránh
đi lạc hướng sang chủ đề khác Có thể bàn bạc với HS để các em cùng lựa chọn
Bước 2: Xác định mục tiêu của hoạt động
Sau khi chọn được tên cho hoạt động, xác định rõ mục tiêu của hoạt độngnhằm giáo dục cho học sinh những gì về kiến thức, thái độ, kĩ năng
Bước 3: Xác định nội dung và hình thức hoạt động
Trang 3Cần liệt kê đầy đủ những nội dung của hoạt động và có thể lựa chọn các hìnhthức hoạt động tương ứng Có thể trong một hoạt động nhưng có nhiều hình thức Ví
dụ: “Báo cáo chuyên đề về nguồn tài nguyên khóang sản trong biển Việt Nam” ngoài
hình thức chính của hoạt động là nghe báo cáo, có thể thêm những hình thức như giaolưu, thảo luận, văn nghệ, trò chơi xen kẽ trong quá trình nghe báo cáo
Bước 4: Công tác chuẩn bị
Trong bước này, cả GV và HS cùng tham gia hoạt động chuẩn bị Chính trongbước này, GV có điều kiện để thực hiện đổi mới phương pháp Muốn vậy, GV phải:
- Dự kiến được nội dung công việc, hình dung được tiến trình hoạt động
- Dự kiến những phương tiện gì cần cho hoạt động
- Dự kiến sẽ giao những nhiệm vụ gì cho đối tượng nào, thời gian phải hoànthành là bao lâu
- Bản thân GV sẽ làm những việc gì để thể hiện sự tương tác tích cực giữathầy và trò
Về phía HS, khi được giao nhiệm vụ các em cần chủ động bàn bạc cách thựchiện trong tập thể lớp, chỉ ra được những việc phải làm, phân công rõ ràng, đúngngười, đúng việc
Tuy vậy, GV vẫn phải có sự quan tâm, theo dõi, giúp đỡ, nhắc nhở HS hoànthành công việc chuẩn bị
Bước 5: Tiến hành hoạt động
Có thể hình dung khi thiết kế bước tiến hành hoạt động như xây dựng một kịchbản cho HS thể hiện Do đó cần sắp xếp một qui trình tiến hành hợp lí, phù hợp vớikhả năng của HS
Trong bước tiến hành hoạt động, học sinh hoàn toàn làm chủ trong bước này,các em hoàn toàn tự quản điều khiển hoạt động GV chỉ là người tham dự, quan sát
và chỉ xuất hiện khi thật cần thiết
Bước 6: Kết thúc hoạt động
Bước này cũng do HS hoàn toàn làm chủ, có nhiều cách kết thúc, khi thiết kếbước này, GV có thể gợi ý các dự kiến để HS lựa chọn cách kết thúc sao cho hợp lí,tránh nhàm chán và tẻ nhạt
Bước 7: Đánh giá kết quả hoạt động
Đánh giá là dịp để HS tự nhìn lại quá trình tổ chức hoạt động của mình từchuẩn bị, tiến hành hoạt động đến đánh giá kết quả hoạt động Có nhiều hình thứcđánh giá như:
- Nhận xét chung về ý thức tham gia mọi thành viên trong tập thể
- Viết thu hoạch sau hoạt động nhằm tìm hiểu mức độ nhận thức vấn đề củahọc sinh
- Bằng câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá thái độ của HS về một vấn đề nào đó của hoạtđộng
- Thông qua sản phẩm hoạt động
Trang 4Nói chung, nếu GV thực hiện và vận dụng theo quy trình hợp lí thì hoạt động
sẽ đạt được những kết quả cụ thể, sẽ tạo được hứng thú cho HS , giúp các em có thêmhiểu biết và kinh nghiệm
IV NỘI DUNG KIẾN THỨC BIỂN, ĐẢO CẦN GIÁO DỤC TỚI HỌC SINH QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN ĐỊA LÍ.
1 Vị trí, giới hạn của Biển Đông
Với diện tích hơn 3447 nghìn km2, Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ batrong các biển của thế giới Chiều dài của Biển Đông là khoảng 1900 hải lí (từ vĩ độ
3oN đến vĩ độ 26oB), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 600 hải lí (từ kinh độ 100oĐđến kinh độ 121oĐ)
Từ ranh giới phía bắc nằm giữa bờ biển Phúc Kiến (Trung Quốc) và điểm cựcBắc đảo Đài Loan, bờ Biển Đông chạy men theo lục địa châu Á xuống bờ biển ViệtNam, tiếp xúc với bờ biển Campuchia, Thái Lan, sang bờ đông bán đảo Mã lai, quaXingapo, sang bờ phía bắc đảo Xumatra, tới đường ranh giới phía nam ở khoảng vĩtuyến 3oN, giữa các đảo Banca và Bêlitung (Inđônêxia), kéo sang đảo Calimantan, rồivòng lên bờ biển phía tây của quần đảo Philippin và trở về đường ranh giới phía Bắc.Như vậy, có 9 quốc gia nằm ven bờ Biển Đông: Việt Nam, Trung Quốc, Philipin,Malaixia, Brunây, Xingapo, Inđônêxia, Thái Lan, Campuchia
2 Vị trí địa chiến lược và tiềm năng kinh tế của Biển Đông
- Tầm quan trọng về địa chiến lược của Biển Đông
Biển Đông có tuyến đường giao thông huyết mạch, nối các nền kinh tế trên bờThái Bình Dương với các nền kinh tế trên bờ Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Đây
là tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp thứ hai thế giới nếu tính theo tổng lượng hànghóa thương mại chuyển qua hàng năm
Mỗi ngày có khoảng 150- 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó khoảng50% là tàu có trọng tải trên 5000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30000 tấn trở lên.Ven Biển Đông có trên 530 cảng biển, trong đó có 2 cảng vào loại lớn và hiện đại bậcnhất thế giới là cảng Xingapo và cảng Hồng Công
Nhiều nước châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, Trung Quốc…) có nềnkinh tế phụ thuộc sống còn vào giao thông trên Biển Đông Có tới 70% khối lượngdầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bảnđược vận chuyển qua tuyến đường này Khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩucủa Trung Quốc, 55% lượng hàng hóa xuất khẩu của các nước ASEAN là qua BiểnĐông Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới được thực hiện bằng đườngbiển và 45% trong số đó đi qua Biển Đông Lượng dầu mỏ và khí hóa lỏng được vậnchuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama
Quanh Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước (eo biểnMalắcca, eo biển Xunđa, eo biển Lômbôc…) Eo biển Malắcca nằm giữa đảo
Trang 5Xumatra (Inđônêxia) và bán đảo Mã Lai, nối Biển Đông với Ấn Độ Dương, dài hơn
800 km, rộng gần 38 km (nơi hẹp nhất chỉ 1,2 km) Dưới góc độ giá trị kinh tế vàchiến lược, tầm quan trọng của eo biển Malắcca sánh ngang với kênh đào Xuyê hoặckênh đào Panama Eo Malắcca tạo nên hành lang hàng hải chính giữa Ấn Độ Dương
và Thái Bình Dương, nối 3 nước đông dân nhất thế giới là Ấn Độ, Inđônêxia vàTrung Quốc Vì vậy, đây được coi là điểm điều tiết giao thông đường biển quan trọngnhất châu Á Nơi đây, mỗi năm có hàng chục nghìn tàu thuyền qua lại, bao gồm tàuchở dầu, tàu chở công ten nơ, tàu đánh cá Khoảng 400 tuyến đường biển và 700 cảngbiển trên thế giới phải nhờ eo Malắcca để quan hệ với cảng Xingapo Theo số liệunăm 2006- 2007 của Bộ Năng lượng Hoa Kì, gần 1/3 số dầu mỏ của thế giới đượcvận chuyển bằng tàu thuyền qua eo biển này, biến nó trở thành 1 trong 2 tuyến đườngbiển quan trọng nhất thế giới (sau tuyến đường biển qua eo Hooc mut)
3 Tiềm năng kinh tế của Biển Đông
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng chođời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là các tài nguyênsinh vật, khoáng sản, du lịch…
Xung quanh Biển Đông có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản quan trọngcủa thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Philippin Cả khu vực,đánh bắt khoảng 7- 8% tổng sản lượng đánh bắt cá của toàn thế giới
Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhất thếgiới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Brunây-Xaba, Xaraoăc, Malay, Patani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa khẩuChâu Giang Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác
và sản xuất dầu khí từ biển, trong đó Inđônêxia là thành viên của Tổ chức xuất khẩudầu mỏ (OPEC) Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Hoa Kì, lượng dự trữ dầu đãđược kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỉ thùng, với khả năng sản xuất 2,5 triệuthùng/ngày Còn theo đánh giá của Trung Quốc thì trữ lượng dầu khí ở Biển Đôngkhoảng 213 tỉ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới
105 tỉ thùng Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực các quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng
4 Tiềm năng kinh tế trên biển Việt Nam
- Tài nguyên dầu khí của nước ta phong phú với trữ lượng khoảng vài tỉ tấn dầu và
hàng trăm tỉ m3 khí
- Titan :Ở Việt Nam, quặng titan có nhiều trong sa khoáng ven biển miền Trung (trữ
lượng dự báo đạt 22 triệu tấn, trữ lượng đã thăm dò đánh giá là 16 triệu tấn)
- Tài nguyên muối:tiềm năng lớn
- Đất hiếm:Dự báo, Việt Nam có khoảng trên 10 triệu tấn đất hiếm, phân bố chủ yếu
ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, dọc bờ biển từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến VũngTàu.Ven biển nước ta, trữ lượng đất hiếm nằm trong sa khoáng đạt 300.879 tấn
- Phốt-pho-rít Trữ lượng dự báo khoảng 10 triệu tấn Đấy là nguồn phân bón to lớn -Tài nguyên băng cháy tập trung Hai bể Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 6- Cát thủy tinh ở nước ta có hàm lượng SiO2, độ tinh khiết, độ trắng cao đủ điều kiện
để sản xuất các mặt hàng thủy tinh dân dụng, thủy tinh cao cấp và vật liệu xâydựng.với trữ lượng lớn, chất lượng tốt, có ý nghĩa kinh tế
- Các loại khoáng sản khác: Ngoài những khoáng sản trên, ở vùng Biển Đông Việt
Nam còn có đồng, chì, kẽm, mangan, vàng…, phân bố ở đáy biển hoặc nằm tronglòng đất dưới đáy biển
- Sinh vật Biển Việt Nam
Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng nămkhoảng 1,9 triệu tấn
+ Cá: biển nước ta có hơn 2000 loài cá, trong đó có hơn 100 loài có giá trị kinh tế + Giáp Xác: biển nước ta có khoảng 1647 loài giáp xác, trong đó tôm, cua là những loài có giá trị kinh tế cao Tôm có khoảng 100 loài.
+ Cua: biển nước ta có khoảng 800 loài cua trong tổng số 2500 loài cua của vùng
biển nhiệt đới Ấn Độ Dương – tây Thái Bình Dương
+ Nhuyễn thể, với hơn 2500 loài
Mực có 37 loài thuộc 4 họ, Trữ lượng mực ở vùng biển nước ta khoảng gần 60nghìn tấn
+ Rong biển:Đã phát hiện được 653 loài rong biển trong vùng biển Đông Việt Nam +Chim biển: Vùng biển nước ta còn có nhiều loài (khoảng 200 loài chim với các
nhóm: hải âu, bồ nông, rẽ, mòng biển, yến ) và nhiều loài bò sát quý hiếm, nằmtrong Sách đỏ thế giới
5 Vùng biển Việt Nam
- Các vùng biển và thềm lục địa
Vùng biển của quốc gia ven biển được quy định bởi Công ước của Liên HợpQuốc về Luật Biển được các nước kí kết vào năm 1982 (gọi là Công ước 1982), phêchuẩn vào ngày 16-11-1994 và từ đó bắt đầu có hiệu lực pháp luật quốc tế Việt Namphê chuẩn Công ước 1982 vào năm 1994 Theo Công ước về Luật Biển năm 1982 thìmột quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnhhải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Nội thủy
- Là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở và giáp với bờ biển Đường
cơ sở là do quốc gia ven biển vạch ra Theo Tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủnước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt Nam là đườnggãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh KiênGiang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị)
(Đông)
0 Nằm trên ranh giới phía Tây
Nam của vùng nước lịch sử củaCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Trang 7Nam và CampuchiaA1 Tại Hòn Nhạn, quần đảo Thổ
Chu, tỉnh Kiên Giang
A7 Tại Hòn Đôi, tỉnh Khánh Hòa 12o39’0 109o28’0
A8 Tại mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Yên 12o53’8 109o27’2
A9 Tại Hòn Ông Căn, tỉnh Bình
A11 Tại đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị 17o10’0 107o20’6
- Vùng nội thủy được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền, có chế độ pháp lícủa đất liền, nghĩa là được đặt dưới chủ quyển toàn vẹn, đầy đủ và tuyệt đối của quốcgia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra vùng nội thủy phải xin phép nướcven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven biển có quyền không chophép tàu thuyền nước ngoài vào vùng nội thủy của mình
Trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ven biển ban hành đềuđược áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào
Lãnh hải
- Là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy Ranh giới ngoài của lãnh hải đượccoi là đường biên giới quốc gia trên biển Công ước quốc tế về Luật Biển 1982 quyđịnh chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lí tính từ đường cơ sở Chính phủ nước Cộng hòa
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng tuyên bố: “Lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủnghĩa Việt Nam rộng 12 hải lí, tính từ đường cơ sở”
Trang 8- Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải, songkhông tuyệt đối như nội thủy Tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyềnqua lại không gây hại trong lãnh hải của nước ven biển.
Tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải tức là không đượctiến hành bất kì hoạt động nào dưới đây:
+ Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độclập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắcluật pháp quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc
+ Luyện tập hoặc diễn tập với bất kì kiểu loại vũ khí nào
+ Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia venbiển
+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay
+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự
+ Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật
và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển
+ Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước
+ Đánh bắt hải sản
+ Nghiên cứu hay đo đạc
+ Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trangthiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển
+ Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua
Nước ven biển không được ngăn cản hay phân biệt đối xử trong việc đi quakhông gây hại của tàu thuyền bất cứ nước nào, nhưng xuất phát từ nguyên tắc chủquyền quốc gia đối với lãnh hải và để bảo vệ an toàn cho tàu thuyền qua lại, nước venbiển có thể quy định cho các tàu thuyền nước ngoài đi theo những tuyến phân luồnggiao thông riêng Nước ven biển có quyền ban hành các luật lệ để kiểm soát và giámsát việc đi lại đó, cũng như truy tố, xét xử những người có hành động phạm pháp đểbảo vệ quyền lợi của nước mình, phù hợp với luật pháp quốc tế
Vùng tiếp giáp lãnh hải
- Là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải Công ước quốc tế
về Luật Biển nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lí kể từđường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”, nghĩa là chiều rộng của vùng tiếp giáplãnh hải không vượt quá 12 hải lí tính từ đường ranh giới ngoài của lãnh hải Chính
Trang 9phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Vùng tiếp giáp lãnh hảicủa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài củalãnh hải Việt Nam, có chiều rộng là 12 hải lí, hợp với lãnh hải Việt Nam thành mộtvùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải ViệtNam”.
- Vì vùng tiếp giáp lãnh hải nằm ngoài vùng biển thuộc chủ quyền của quốc giaven biển, nên quốc gia ven biển chỉ được thực hiện thẩm quyền hạn chế trong một sốlĩnh vực nhất định đối với các tàu thuyền nước ngoài Trong vùng tiếp giáp lãnh hải,quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát, nhằm:
+ Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuếkhóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hoặc lãnh hải của mình
+ Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trênlãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình
Vùng đặc quyền kinh tế
- Là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùngbiển, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lí tình từ đường cơ sở dùng để tính chiềurộng của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố:
“Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liềnlãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lí
kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam” Vùng đặc quyền kinh tế làmột vùng đặc thù, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt củamình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về Luật Biển 1982 quy định
- Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lí riêng do Công ước về Luật Biển
1982 quy định về các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũngnhư quyền tự do của các quốc gia khác Cụ thể là:
+ Đối với các quốc gia ven biển:
Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảotồn và quản lí các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nướcbên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt độngkhác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế
Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc chophép quốc gia khác khai thác cho mình nhưng đặt dưới quyền kiểm soát của mình.Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổng khối lượng có thểđánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trong việc khai thác các tàinguyên sinh vật biển và ấn định số dư, từ đó cho phép các quốc gia khác khai thác số
dư này trên cơ sở của các điều ước hoặc các thỏa thuận liên quan
Trang 10 Quốc gia ven biển có quyền tài phán về việc lắp đặt và sử dụng các đảonhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và giữ gìnmôi trường biển Quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cảviệc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các quyđịnh luật pháp của mình.
Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn
và quản lí nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyềnkinh tế của mình khỏi bị khai thác quá mức
+ Đối với các quốc gia khác:
Được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không
Được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, khi đặt phải thông báo và thỏathuận với quốc gia ven biển
Được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế
Khi thực hiện những quyền tự do này, các nước ngoài phải tôn trọng nhữngluật lệ của nước ven biển và luật pháp quốc tế nói chung
Thềm lục địa
- Là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốcgia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến bờ ngoài củarìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là 200 hải lí,khi bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn Trong trường hợp bờ ngoài củarìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lí tính từ đường cơ sở thìquốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa với một khoảngcách không vượt quá 350 hải lí tình từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2500mmột khoảng cách không vượt quá 100 hải lí Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủnghĩa Việt Nam tuyên bố: “Thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lụcđịa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa;nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnhhải Việt Nam không đến 200 hải lí thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lí kể từđường cơ sở”
- Chế độ pháp lí của thềm lục địa:
+ Quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền đối với thềm lục địa vềmặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyên không sinhvật như dầu khí, tài nguyên sinh vật như cá, tôm ) của mình Những quyền chủquyền trên là đặc quyền của quốc gia ven biển, nghĩa là nếu quốc gia ven biển khôngthăm dò thềm lục địa của mình hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm
Trang 11lục địa thì không ai khác được quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có
sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia ven biển
+ Tất cả các quốc gia khác đều có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ởthềm lục địa Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốc gia venbiển về đường đi của ống dẫn hoặc cáp
+ Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lí kể từđường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đóng góp theoquy định của Công ước
+ Quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với thềm lục địa không đượcđụng chạm đến chế độ pháp lí của vùng nước phía trên hay của vùng trời trên vùngnước này, không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do của các quốcgia khác đã được Công ước thừa nhận
+ Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lụcđịa vào bất kì mục đích gì
Đảo và quần đảo trong vùng biển Việt Nam
Theo Công ước về Luật Biển năm 1982 thì đảo là một vùng đất tự nhiên cónước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Quần đảo là mộttổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thànhphần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể thốngnhất về địa lí, kinh tế và chính trị hay được coi như thế về mặt lịch sử
Có những đảo và quần đảo nằm gần bờ của nước ven biển, nhưng cũng cónhững đảo và quần đảo nằm ngoài biển khơi, cách xa bờ (ví dụ: các quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa của Việt Nam)
Về mặt pháp lí, các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của một quốc gia giốngnhư đất liền Trong trường hợp đảo hay quần đảo nằm gần bờ, luật quốc tế cho phépkéo đường cơ sở đi qua các đảo ngoài cùng để vạch đường cơ sở thẳng cho nước venbiển, từ đó định ra bề rộng của lãnh hải Vì vậy, nhờ các đảo gần bờ mà vùng nướcnội thủy ở phía trong đường cơ sở được nới rộng và lãnh hãi cũng được mở rộng rangoài biển Trường hợp đảo và quần đảo ở ngoài khơi xa đất liền thì người ta áp dụngchế độ pháp lí đảo theo Công ước Luật biển quy định Theo đó, mỗi đảo đều có vùnglãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng của mìnhnhư đối với quốc gia lục địa ven biển Nếu các đảo của quần đảo ngoài khơi ở gầnnhau (không xa hơn một khoảng cách gấp đôi lãnh hải, tức là 24 hải lí) thì các đảo ấy,coi như hợp thành một thể thống nhất trên thực tế vì lãnh hải của các đảo ấy gắn liềnvới nhau và một quần đảo như vậy cũng có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềmlục địa riêng của nó Tuy nhiên, những đảo tồn tại dưới dạng tảng đất, đá hoang,không có người ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải mà không
có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Trang 12Trên vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ
Sau đây là một số quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta:
- Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo nằm trong khoảng vĩ độ 15o45’ - 17o15’B, kinh độ 111o-113oĐ, ánngữ ngang cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) hơn 120 hải lí, cách đảoHải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lí Gồm trên 30 hòn đảo, bãi đá ngầm, cồnsan hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 100 hải lí, từBắc xuống Nam khoảng 85 hải lí, chiếm một diện tích khoảng 15.000km2
Các đảo của quần đảo Hoàng Sa chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm phía Đông có tên là nhóm An Vĩnh gồm 8 hòn đảo nhỏ và một sốmỏm đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước Trong đó, lớn nhất là đảo Phú Lâm vàđảo Linh Côn, diện tích mỗi đảo khoảng 1,5km2; trên đảo có nhiều cây cối, xungquanh có những bãi san hô và bãi cát ngầm Các đảo nhỏ khác có diện tích từ 0,4km2
trở xuống, một số đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền quanh
+ Nhóm đảo phía Tây gồm 15 đảo nhỏ nằm sát liền nhau, cong như hình lưỡiliềm nên có tên là nhóm đảo Lưỡi Liềm Đảo lớn nhất là đảo Hoàng Sa, diện tích gần1km2; các đảo khác có diện tích từ 0,5km2 trở xuống Trên đảo Hoàng Sa cây cốixanh tươi, có chỗ cây lớn mọc thành rừng, phần nhiều là dừa và phi lao Ở phía Đôngđảo Hoàng Sa có một cầu tàu bằng đá và bê tông dài khoảng 180m, do một công tiNhật Bản được nhà cầm quyền Pháp trước đây cho phép khai thác phân chim xâydựng, nay vẫn còn nguyên dấu tích Cũng trên đảo này có một trạm khí tượng đượcxây dựng và hoạt động từ năm 1938 đến năm 1947, được đăng kí vào mạng lưới của
Tổ chức Khí tượng thế giới, mang số hiệu khu vực của Việt Nam
Tổng diện tích phần nổi của các đảo trong quần đảo Hoàng Sa là khoảng10km2 Ngoài các đảo còn có những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một vùngnước tạo thành đầm nước giữa biển khơi Có cồn dài tới 30km, rộng 10km, như cồnCát Vàng
Quần đảo Hoàng Sa có khí hậu nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình tháng 1 là
23oC, tháng 7 là 28oC Một năm chia làm 2 mùa: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6,mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng1170mm Từ tháng 6 đến tháng 8 thường có bão đi qua
Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng Có đảo cây cối um tùm,nhưng có đảo chỉ có cây nhỏ, cây bụi và cỏ dại Thực vật phần lớn thuộc các loài cónguồn gốc ở duyên hải miền Trung do nhiều triều Vua trước đây của nước ta đã ralệnh đem các loài cây ra trồng để thuyền bè qua lại dễ nhận biết, tránh bỏ tai nạn
Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ lâu ngày bị phânhóa, đây là nguồn phân bón có giá trị lớn Hải sản ở Hoàng Sa có tôm hùm, hải sâm,