Hoàn thiện công tác trả lương, trả thưởng cho cán bộ công nhân viên và người lao động ở Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Kính gừi: Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế quốc dân
Đồng kính gửi: Khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực
Tên em là : Nguyễn Thị Hồng Vân
Sinh ngày : 25/10/1982
Mã số sinh viên : CT071034
Sinh viên lớp : HCKT – QTNL – K7
Trong thời gian vừa qua được sự phân công em đã liên hệ và thực tập tại Công ty
Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình Trong quá trình thực tập được sự hướngdẫn tận tình của cô giáo Vũ Hoàng Ngân, và được sự giúp đỡ của các cô chú phòng Tổchức kế hoạch và hành chính Công ty em đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp có
tên là: “ Hoàn thiện công tác trả lương, trả thưởng cho CBCNV và người lao động ở Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình”
Em xin cam đoan tất cả những gì được viết trong chuyên đề này không được saochép từ bất kỳ một chuyên đề nào khác Nếu có em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sinh viên Nguyễn Thị Hồng Vân.
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tiền lương, tiền thưởng là một phạm trù kinh tế tổng hợp và có ý nghĩa to lớn vìvậy nó luôn được xã hội quan tâm Tiền lương, tiền thưởng có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với người lao động và được họ hết sức quan tâm và nó là nguồn thu nhập chủyếu giúp đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình họ Đồng thời tiền lương, tiềnthưởng cũng là một yếu tố động viên vật chất quan trọng, nó kích thích người lao độngtrong việc tăng năng suất lao động Ngoài ra tiền lương, tiền thưởng cũng là một loại chiphí sản xuất kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp và được cấu thành vào giá thànhsản phẩm Hình thức trả lương, thưởng hợp lý sẽ động viên người lao động nâng caotrình độ lành nghề, cải tiến kỹ thuật, phát huy sức sáng tạo, hợp lý các khâu trong sảnxuất, tiết kiệm nguyên vật liệu, gắn trách nhiệm của người lao động với công việc
Tuy nhiên, vấn đề trả công lao phải gắn liền với quy luật phân phối lao động, nếulạm dụng khuyến khích người lao động thông qua việc trả công lao động sẽ phản lại tácdụng và gây ra sự chênh lệch về thu nhập trong xã hội giữa các loại lao động và cácdoanh nghiệp Vì vậy coong tác trả công lao động luôn là một vấn đề quan trọng Chính
vì vậy mà mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty hiện nay luôn đặt ra câu hỏi nên áp dụng hìnhthức trả công lao động như thế nào cho phù hợp với tính chất đặc điểm sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp mình, công ty mình để có thể phát huy tiềm lực tối đa hiện cócũng như kích thích người lao động hăng say làm việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ đượcgiao
Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình là một công ty chuyênngành xây dựng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thi công, xây dựng các công trình.Hiện nay Công ty đang áp dụng hình thức trả lương theo thời gian cho lao động gián tiếp
và hình thức trả lương theo sản phẩm cho lao động trực tiếp sản xuất Cách trả lương củaCông ty tuy là tốt nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định cần khắc phục
Chính vì thế trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu
tư Xây dựng Ba Đình em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác trả lương, trả thưởng cho CBCNV và người lao động ở Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình”
để viết chuyên đề tốt nghiệp
Bài viết gồm những phần sau:
Chương I : Lý luận cơ bản về tiền lương và tiền thưởng.
Trang 3Chương II : Thực trạng công tác trả lương, trả thưởng tại Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình.
Chương III : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương, trả thưởng tại Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình.
Em xin trân trọng cảm ơn cô giáo PGS – TS Vũ Hoàng Ngân, Ban lãnh đạo Công
ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư Xây dựng Ba Đình và các cô, các chú phòng Tổ chức kếhoạch và hành chính Công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bản báo cáo này
Trang 4CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
VÀ TIỀN THƯỞNG 1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG
1.1.1 Bản chất và ý nghĩa của tiền lương.
1.1.1.1 Bản chất của quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương là tổng số tiền dùng để trả lương cho người lao động, do cơ quan(doanh nghiệp) quản lý Có các loại quỹ tiền lương như sau:
Căn cứ vào mức độ ổn định các bộ phận quỹ tiền lương được chia thành các loạinhư sau:
- Quỹ lương cố định (còn gọi là quỹ lương cấp bậc, cơ bản, bộ phận lươngcứng) là quỹ tiền lương được tính dựa vào hệ thống thang lương, bảnglương
- Quỹ lương biến đổi: Bao gồm các khoản phụ cấp, tiền thưởng
Căn cứ vào sự hình thành và tình hình sử dụng quỹ lương, quỹ tiền lương đượcchia ra như sau:
- Quỹ lương kế hoạch: là quỹ lương dự tính tại thời kỳ nào đó
- Quỹ lương báo cáo (thực hiện): là số tiền thực tế đã chi, trong đó bao gồm
cả các khoản không được lập trong kế hoạch
Căn cứ vào đơn vị thời gian quỹ tiền lương được chia thành các loại như sau:
- Quỹ tiền lương giờ
- Quỹ tiền lương ngày
- Quỹ tiền lương tháng
- Quỹ tiền lương năm
1.1.1.2 Ý nghĩa của tiền lương.
Trả công lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất lớn trong việcgiúp cho tổ chức đạt được hiện suất cao trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng tác
Trang 5động một cách tích cực tới đạo đức lao động của người lao động Không những vậy tiềnluơng, tiền công còn có ảnh hưởng lớn tới xã hội Chính vì vậy mà các tổ chức cần quảntrị có hiệu quả chương trình tiền công, tiền luơng của đơn vị mình.
Đối với người lao động: Tiền công, tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhậpcủa họ, giúp họ và gia đình trang trải các chi tiêu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết.Không những vậy tiền công, tiền lương kiếm được còn ảnh hưởng đến địa vị của
họ trong gia đình, trong tuơng quan với các bạn đồng nghiệp cũng như phản ánhgiá trị tương đối của họ đối với tổ chức và xã hội Khả năng kiếm được tiền côngcao hơn sẽ tạo động lực thúc đẩy người lao động ra sức học tập để nâng cao giá trịcủa họ đối tổ chức thông qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức
Đối với tổ chức: Tiền lương là một phần quan trọng của chi phí sản xuất Tăngtiền lương sẽ ảnh hưởng tới chi phí, giá cả và khả năng cạnh tranh của sản phẩmcủa công ty trên thị trường Đồng thời, tiền công, tiền lương la công cụ để duy trì,gìn giữ và thu hút những người lao động giỏi, có khả năng phù hợp với công việccủa tổ chức Mặt khác, tiền công, tiền luơng cùng với các loại thù lao khác còn làcông cụ để quản lý chiến lược nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năngkhác của quản lý nguồn nhân lực
Đối với xã hội: Tiền công có thể ảnh hưởng quan trọng tới các nhóm xã hội và tổchức khác nhau trong xã hội Tiền công cao hơn giúp cho người lao động có sứcmua cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng Nhưng mặt khác
có thể dẫn tới tăng giá cả và làm giaả mức sống của những người có thu nhậpkhông đuổi kịp mức tăng của giá cả Đồng thời, giá cả tăng cao lại có thể làmgiảm cầu về sản phẩm và dịch vụ và dẫn tới giảm công việc làm Tiền công cònđóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua con đường thuế thunhập và góp phần làm tăng nguồn thu của Chính phủ cũng như giúp cho Chínhphủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
1.1.2 Tiền lương là bộ phận chính của quỹ lương
1.1.2.1 Khái niệm tiền lương.
Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho ngườilao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định
Trang 6hoặc hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng
1.1.2.2 Chức năng của tiền lương.
a) Chức năng tái sản xuất sức lao động: Tiền lương phải đảm bảo được tái sảnxuất sức lao động (bao gồm tái sản xuất đơn tức, tức là khôi phục sức lao động
và tái sản xuất sức lao động mở rộng) Điều này có nghĩa là với tiền lương,người lao động không chỉ đủ sống mà còn dư để nâng cao trình độ về mọi mặtcho bản thân và con cái họ, thậm chí có một phần nhỏ để tích luỹ
b) Chức năng kích thích người lao động: Tiền lương đảm bảo và góp phần tácđộng để tạo ra cơ cấu lao động hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế, khuyến khíchphát triển kinh tế ngành và lãnh thổ Tiền lương đồng thời là đòn bẩy kinh tếthu hút người lao động hăng say làm việc Là động lực thúc đẩy tăng năngsuất, khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, gắn trách nhiệm
cá nhân với tập thể và công việc
c) Chức năng thanh toán của tiền lương: Dùng tiền lương để thanh toán cáckhoản chi tiêu phát sinh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, giúp cho ngườilao động tính toán các khoản chi tiêu và họ sẽ tự điều chỉnh, cân đối chi tiêucho hợp lý với số tiền họ nhận được khi kết thúc một quá trình lao động
d) Tiền lương là thước đo mức độ cống hiến của người lao động: Chức năng này
là biểu hiện của quy luật phân phối theo lao động
1.1.2.3 Các nguyên tắc tiền lương.
Nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiên lương là cơ sở quan trọng nhất để xây dựngđược một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập thích hợp trongmột thể chế kinh tế nhất định Ở nước ta, khi xây dựng các chế độ tiền lương và tổ chứctrả lương phải theo các nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động Nguyên tắc nàydùng thước đo lao động để đánh giá, so sánh và thực hiện trả lương Theo nguyên tắcnày thì những người lao động khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ… nhưng cómức hao phí lao động như nhau thì được trả lương như nhau
Trang 7Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được tính công bằng và bìnhđẳng trong trả lương Điều này sẽ có sức khuyến khích lớn đối với người lao động.
Nguyên tắc 2: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân.
Năng suất lao động không ngừng tăng lên, đó là quy luật Tiền lương của ngườilao động cũng tăng lên không ngừng do tác động của nhiều nhân tố khách quan Giữatăng tiền lương và tăng năng suất lao dộng có liên quan chặt chẽ với nhau
Trước tiên chúng ta xét các yếu tố, các nguyên nhân trực tiếp làm tăng tiềnlương và tiền lương bình quân Đó là do trình độ tổ chức, quản lý sản xuất ngày cànghiệu quả hơn Còn đối với tăng năng suất lao động, thì ngoài những yếu tố gắn liềnvới việc nâng cao trình độ lành nghề, kỹ năng làm việc và trình độ tổ chức quản lý laođộng, tăng năng suất lao động còn do các nguyên nhân khác như đổi mới công nghệsản xuất, nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật trong lao động, khai thác và sử dụng hiệuquả các nguồn tài nguyên thiên nhiên… Vì vậy ta thấy rõ ràng rằng năng suất laođộng có khả năng khách quan tăng nhanh hơn tiền lương bình quân
Mặt khác khi xem xét các mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tiềnlương thực tế, giữa tích luỹ và tiêu dùng trong thu nhập quốc dân ta thấy chúng cóliên quan tới tốc độ phát triển của khu vực sản xuất tư liệu sản xuất (khu vực I) vàkhu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng (khu vực II) Quy luật tái sản xuất mở rộng đòi hỏikhu vực I phải nhanh hơn khu vực II Do vậy tổng sản phẩm xã hội (khu vực I cộngvới khu vực II) có tốc độ tăng cao hơn tốc độ tăng cảu tổng sản phẩm của riêng khuvực II Do đó, tổng sản phẩm xã hội tính theo đầu người (cơ sở của năng suất laođộng bình quân) tăng nhanh hơn tốc độ tăng sản phẩm bình quân tính theo đầu ngườicủa khu vực II (cơ sở của tiền lương thực tế) Ta cũng thấy rằng, không phải toàn bộsản phẩm của khu vực II được dùng cho tiêu dùng để nâng cao tiền lương, mà mộtphần trong đó được dùng để tích luỹ Điều này cũng chỉ ra rằng, muốn tăng tiền lươngthì phải tăng năng suất lao động xã hội với tốc độ cao hơn
Trong từng doanh nghiệp thì thấy rằng, tăng tiền lương dẫn đến tăng chi phí sảnxuất kinh doanh; tăng năng suất lao động lại làm giảm chi phí cho từng đơn vị sảnphẩm Một doanh nghiệp chỉ thực sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chungcũng như chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm đi Tức là mức giảm chi phí do tăng
Trang 8năng suất lao động phải lớn hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân.
Rõ rang nguyên tắc này là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp, nâng cao đời sống của người lao động và phát triển kinh tế
Nguyên tắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa người lao động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân.
Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động làm việctrong các ngành nghề khác nhau nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trảlương cho người lao động Thực sự nguyên tắc này là cần thiết, dựa trên những cơ sởsau đây:
Thứ nhất là trình độ lành nghề bình quân của người lao động ở mỗi ngành: Do đặcđiểm và tính chất phức tạp khác nhau về kỹ thuật và công nghệ ở các ngành nghềkhác nhau nên trình độ lành nghề bình quân giữa các ngành khác nhau cũng khácnhau Sự khác biệt này cần thiết phải được phân biệt trong trả lương có như vậy mớikhuyến khích được người lao động học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lành nghề và
kỹ năng làm việc nhất là trong những ngành nghề đòi hỏi kiến thức và tay nghề cao.Thứ hai là điều kiện lao động: Điều kiện lao động khác nhau có ảnh hưởng đếnmức hao phí sức lao động trong quá trình làm việc Những người làm việc trong môitrường nặng nhọc, độc hại, hao tốn nhiều sức lực phải được trả lương cao hơn nhữngngười làm việc trong điều kiện bình thường Sự phân biệt này làm cho tiền lươngbình quân trả cho người làm việc ở những nơi, những ngành có điều kiện làm việckhác nhau cũng khác nhau Để làm tăng tính linh hoạt trong việc trả lương phân biệttheo điều kiện lao động người ta thường thêm các loại phụ cấp về điều kiện lao động
để trả cho người lao động ở những công việc có điều kiện làm việc rất khác nhau.Thứ ba là ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân: Nền kinh tếbao gồm rất nhiều ngành nghề khác nhau Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của sựphát triển của mỗi nước, một số ngành được coi là trọng điểm vì có tác dụng rất lớnđến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế vì thế các ngành này phải được ưutiên phát triển Trong đó dung tiền lương để thu hút và khuyến khích người lao độngtrong các ngành này có ý nghĩa quan trọng và là một biện pháp đòn bẩy về kinh tế cầnphải được thực hiện tốt Thực hiện sự phân biệt này thường rất đa dạng, có thể trong
Trang 9tiền lương (qua thang bảng lương), cũng có thể dung các loại phụ cấp khuyến khích.Thứ tư là sự phân bố theo khu vực sản xuất: Một ngành có thể được phân bố ởnhững khu vự khác nhau về địa lý, kéo theo đó là sự khác biệt về đời sống vật chất,tình thần, văn hóa, tập quán Những khác nhau đó gây ảnh hưởng đến mức sống củangười lao động dẫn đến người lao động hưởng lương khác nhau Ví dụ như để thu hút
và khuyến khích người lao động đến làm việc ở những vùng xa xôi hẻo lánh, nhữngvùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn thì phải có chính sách tiền lương thích hợpvới những loại phụ cấp, ưu đãi thoả đáng Có như vậy thì mới có thể sử dụng hợp lýlao động xã hội và khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên ở mọivùng, miền của đất nước
1.1.2.4 Các hình thức tiền lương.
a) Hình thức trả lương theo sản phẩm
Trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động dựa trực tiếpvào số lượng và chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) mà họ hoàn thành Đây là hìnhthức trả lương được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp
Ưu điểm của hình thức trả lương theo sản phẩm:
- Quán triệt tố nguyên tắc trả lương theo lao động, vì tiền lương mà người laođộng nhận được phụ thuộc vào số lượng và chất lượng sản phẩm đã hoànthành Điều này có tác dụng làm tăng năng suất lao động của người lao động
- Trả lương theo sản phẩm có tác dụng trực tiếp khuyến khích người laođộng ra sức học tập nâng cao trình độ lành nghề, tích luỹ kinh nghiệm, rènluyện kỹ năng, phát huy sáng tạo… để nâng cao khả năng làm việc và năngsuất lao động
Trang 10- Trả lương theo sản phẩm góp phần vào việc nâng cao và hoàn thiện côngtác quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động làm việc của người lao động.
Tuy nhiên để hình thức trả lương theo sản phẩm thực sự phát huy tác dụng của nócác doanh nghiệp cần phải đảm bảo được các điều kiện sau đây:
- Thứ nhất là phải xây dựng được các mức lao động có căn cứ khoa học Đây làđiều kiện rất quan trọng làm cơ sở để tính toán đơn giá tiền lương
- Thứ hai là phải đảm bảo tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc Tổ chức phục
vụ nơi làm việc nhằm đảm bảo cho người lao động có thể hoàn thành vượtmức năng suất lao động nhờ vào giảm bớt thời gian tổn thất do phục vụ tổchức và phục vụ kỹ thuật
- Thứ ba là phải làm tốt công tác kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm Kiểm tra,nghiệm thu sản phẩm nhằm đảm bảo sản phẩm được sản xuất ra theo đúngchất lượng đã quy định, tránh hiện tượng chạy theo số lượng đơn thuần Qua
đó tiền lương được tính và trả đúng với kết quả thực tế
Hình thức trả lương theo sản phẩm bao gồm các chế độ sau:
- Chế độ trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: Chế độ trả lương nàyđược áp dụng rộng rãi đối với người trực tiếp sản xuất, có thể kiểm tra vànghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt
- Chế độ trả lương sản phẩm tập thể: Chế độ này áp dụng để trả lương chomột nhóm người lao động (tổ sản xuất…) khi họ hoàn thành một khối lượngsản phẩm nhất định Chế độ trả lương sản phẩm tập thể áp dụng cho nhữngcông việc đòi hỏi nhiều người cùng tham gia thực hiện, mà công việc của mỗi
cá nhân có liên quan đến nhau
- Chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Chế độ trả lương sản phẩm giántiếp được áp dụng để trả lương cho những người lao động làm các công việcphục vụ hay phụ trợ, phục vụ cho hoạt động của công nhân chính
- Chế độ trả lương sản phẩm khoán: Chế độ trả lương sản phẩm khoán ápdụng cho những công việc được giao khoán cho công nhân Chế độ này đượcthực hiện khá phổ biến trong ngành nông nghiệp, xây dựng cơ bản, hoặc trong
Trang 11một số ngành khác khi công nhaâ làm các công việc mang tính đột xuất, côngviệc không thể xác định được một định mức lao động ổn định trong thời giandài Tuỳ thuộc vào hình thức khoán (tập thể, cá nhân) mà đơn giá, thanh toánlương, chia lương áp dụng theo lương sản phẩm cá nhân hoặc tập thể Lươngsản phẩm khoán khác lương sản phẩm khác ở chỗ thời gian bắt đầu và kết thúccông việc, khối lượng công việc đã được xác định rõ.
- Chế độ trả lương sản phẩm có thưởng: Chế độ trả lương này là sự kết hợptrả lương theo sản phẩm (theo các chế độ đã trình bày ở phần trên) và tiềnthưởng
Chế độ trả lương theo sản phẩm có thưởng gồm hai phần:
o Phần trả lương theo đơn giá cố định và số lượng sản phẩm thực tế đãhoàn thành
o Phần tiền thưởng được tính dựa vào trình độ hoàn thành và hoànthành vượt mức các chỉ tiêu thưởng cả về số lượng và chất lượngsản phẩm
- Chế độ trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: Chế độ trả lương này thường được ápdụng ở những “khâu yếu” trong sản xuất Đó là khâu có ảnh hưởng trực tiếpđến toàn bộ quá trình sản xuất
Trong chế độ trả lương này dùng hai loại đơn giá:
o Đơn giá cố định: dùng để trả cho những sản phẩm thực
tế đã hoàn thành
o Đơn giá luỹ tiến: Dùng để tính lương cho những sảnphẩm vượt mức khởi điểm Đơn giá lũy tiến là đơn giá cố định nhânvới tỷ lệ tăng đơn giá
b) Hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những người làm công tácquản lý Đối với công nhân sản xuất thì hình thức trả lương này chỉ áp dụng ở những
bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc không thể tiếnhành định mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất của sản xuất nếu
Trang 12thực hiện trả công theo sản phẩm không đem lại hiệu quả thiết thực.
Hình thức trả lương theo thời gian được tính toán dựa trên cơ sở mức tiền công đãđược xác định cho công việc và số đơn vị thời gian (giờ hoặc ngày) thực tế làm việc,với điều kiện họ phải đáp ứng được các tiêu chuẩn thực hiện công việc tối thiểu đãđược xây dựng trước nếu muốn tiếp tục được nhận mức tiền công cho công việc đó.Hình thức trả lương theo thời gian có những ưu nhược điểm sau:
Ưu điểm: Dễ hiểu, dễ quản lý, tạo điều kiện cho cả người quản lý và côngnhân có thể tính toán tiền lương một cách dễ dàng Các mức thời gian được sửdụng cũng như ghi chép về số lượng sản phẩm sản xuất thực tế của các cá nhânchỉ là để nhằm mục đích kiểm tra chứ không dùng để tính toán trực tiếp lượngtiền lương
Nhược điểm: Lượng tiền công mà người lao động nhận được không liên quantrực tiếp đến sự đóng góp lao động của họ trong một chu kỳ thời gian cụ thể
Vì thế sự khuyến khích thực hiện công việc dựa trên những đòi hỏi tối thiểucủa công việc cần phải được thực hiện bởi những biện pháp tạo động lực khácngoài khuyến khích tài chính trực tiếp
Tuy nhiên để khắc phục nhược điểm này chúng ta có thể dùng chế độ thưởng Dovậy, trả lương theo thời gian được thực hiện theo hai chế độ:
- Chế độ trả lương theo thời gian đơn giản: là chế độ trả lương mà tiền lươngnhận được của mỗi người công nhân do mức lương cấp bậc cao hay thấp, vàthời gian làm việc thực tế nhiều hay ít quyết định
Chế độ trả lương này chỉ áp dụng ở những nơi khó xác định mức lao độngchính xác, khó đánh giá công việc chính xác
Trong đó:
- LTT: Tiền lương thực tế người lao động nhận được
- LCB: Tiền lương cấp bậc tính theo thời gian
- T: Thời gian làm việc thực tế của người lao động
Trang 13Có 3 loại lương theo thời gian đơn giản:
o Lương giờ: tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc
o Lương ngày: tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm việcthực tế trong tháng
o Lương tháng: tính theo mức lương cấp bậc tháng
Chế độ trả lương này có nhược điểm là mang tính chất bình quân, khôngkhuyến khích sử dụng hợp lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu, tậptrung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động
- Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng: Chế độ này là sự kết hợp giữa chế
độ trả lương theo thời gian đơn giản với tiền thưởng, khi đạt được chỉ tiêu về
số lượng hoặc chất lượng đã quy định
Chế độ này chủ yếu áp dụng đối với những công nhân phụ làm công việcphục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị… Ngoài ra, còn áp dụngđối với công nhân chính làm những khâu sản xuất có trình độ cơ khí hoá, tựđộng hoá cao hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng
Tiền lương của công nhân được tính bằng cách lấy lương trả theo thời gianđơn giản (mức lương cấp bậc) nhân với thời gian làm việc thực tế sau đó cộngvới tiền thưởng
Lương theo thời gian đơn giản trong chế độ trả lương này không nhữngphụ thuộc vào trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắnchặt với thành tích công tác của từng người thông qua các chỉ tiêu xét thưởng
đã đạt được Vì vậy, nó khuyến khích người lao động quan tâm đến tráchnhiệm và kết quả công tác của mình Do đó, cùng với ảnh hưởng của tiến bộ
kỹ thuật chế độ trả lương này ngày càng mở rộng
1.1.2.5 Vai trò của tiền lương.
Tiền lương có vai trò rất lớn không chỉ riêng đối với bản thân người lao động màcòn đối với cả nền kinh tế đất nước
Trong quá trình hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh doanh đối với các chủ
Trang 14doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất – kinh doanh Vìvậy, tiền lương luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ Đối với người lao động, tiềnlương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa sốlao động trong xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ Phấn đấu tăng caotiền lương là mục đích của mọi người lao động Mục đích này tạo động lực để người laođộng phát triển trình độ và khả năng của mình Đối với xã hội, xét trên góc độ quản lýkinh doannh, quản lý xã hội thì tiền lương là nguồn sống của người lao động, nên nó làmột đòn bẩy kinh tế cực kỳ quan trọng Thông qua chính sách tiền lương Nhà nuớc cóthể điều chỉnh nguồn lao động giữa các vùng theo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội củađất nước ta.
1.2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN THƯỞNG.
1.2.1 Khái niệm tiền thưởng.
Tiền thưởng là một dạng khuyến khích tài chính được chi trả một lần (thường làvào cuối quý hoặc cuối năm) để thù lao cho sự thực hiện công việc của người lao động.Tiền thưởng cũng có thể đuợc chi trả đột xuất để ghi nhận những thành tích xuất sắc nhưhoàn thành dự án công việc trước thời hạn, tiết kiệm ngân sách hoặc cho các sáng kiếncải tiến có giá trị
1.2.2 Nội dung của tổ chức tiền thưởng
Những nội dung của tổ chức tiền thưởng bao gồm:
- Chỉ tiêu thưởng: Chỉ tiêu thưởng là một trong những yếu tố quan trọng nhấtcủa hình thức tiền thưởng Yêu cầu của chỉ tiêu tiền thưởng là: rõ ràng;chính xác; cụ thể
Chỉ tiêu thưởng bao gồm cả nhóm chỉ tiêu về số lượng và chỉ tiêu vềchất luợng trong đó xác định được một hay một số chỉ tiêu chủ yếu
- Điều kiện thưởng: Điều kiện thưởng đưa ra để xác định những tiền đề,chuẩn mực để thực hiện một hình thức tiền thưởng nào đó Đồng thời cácđiều kiện đó còn được dùng để kiểm tra việc thực hiện các chỉ tiêu thưởng
- Nguồn tiền thưởng: Nguồn tiền thưởng là những nguồn tiền có thể đượcdùng (toàn bộ hay một phần) để trả tiền thưởng cho người lao động Trong
Trang 15các doanh nghiệp thì nguồn tiền thưởng có thể gồm nhiều nguồn khác nhaunhư: từ lợi nhuận, từ tiết kiệm quỹ lương…
- Mức tiền thưởng: Mức tiền thưởng là số tiền thưởng cho người lao độngkhi họ đạt các chỉ tiêu và điều kiện thưởng Mức tiền thưởng trực tiếpkhuyến khích người lao động Tuy nhiên, mức tiền thưởng cao hay thấp tuỳthuộc vào nguồn tiền thưởng và yêu cầu khuyến khích của từng loại côngviệc
1.2.3 Các hình thức tiền thưởng
Các hình thức tiền thưởng là các loại tiền thưởng hiện đang áp dụng phổ biếntrong các loại doanh nghiệp hiện nay Các hình thức đó là:
- Thưởng giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng
- Thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm
- Thưởng hoàn thành vượt mức năng suất lao động
- Thưởng tiết kiệm vật tư, nguyên liệu
Ngoài các chế độ và hình thức thưởng như trên, các doanh nghiệp còn có thể thựchiện các hình thức khác, tuỳ theo điều kiện và yêu cầu thực tế của hoạt động sản xuấtkinh doanh
Trang 16CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG, TRẢ THƯỞNG TẠI CÔNG TY TƯ VẤN -
ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BA ĐÌNH.
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG, TRẢ THƯỞNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN - ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Người dân Hà Nội hiện nay có mức sống khá cao, thu nhập bình quân đầu người
là 724.049 đồng/người/tháng (số liệu năm 2004) chính vì thế để thu hút người lao độngcũng như giữ lại những người lao động giỏi thì Công ty không thể trả lương cho ngườilao động dưới mức sống bình quân của họ
Hà Nội còn là một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, chính vì thế tập trungrất nhiều doanh nghiệp lớn hoạt động cùng ngành với Công ty như:
- Tổng Công ty xây dựng Hà Nội
- Tổng Công ty Sông Đà
- Tổng Công ty LICOGI
- Tổng Công ty Sông Hồng
- Tổng Công ty Bạch Đằng
- Tổng Công ty xây dựng và phát triển hạ tầng
Điều này đặt Công ty trong hoàn cảnh phải cạnh tranh với các Công ty khác trongviệc giữ chân người lao động Nếu Công ty không trả lương cho người lao động thoả
Trang 17đáng, không đúng với sức lao động mà họ bỏ ra, mà lại trả lương thấp hơn, và không cómột môi trường làm việc thuận lợi bằng các Công ty khác thì rất dễ làm cho người laođộng bỏ sang công ty khác và đó là một thiệt hại rất lớn đối với Công ty Vì vậy, Công typhải luôn quan tâm đến đời sống của người lao động Cũng như quan tâm đến công táctiền lương , tiền thưởng để họ yên tâm làm việc và phát huy hết khả năng của mình chocông việc.
Tuy nhiên, Hà Nội lại là thành phố rất đông dân Ngoài ra, Hà Nội cũng là nơi tậptrung rất nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các trường dạy nghề Chính vì thế,đây là một thị trường lao động rộng lớn, thuận lợi cho Công ty trong việc thu hút nhữngngười lao động giỏi, có trình độ Công ty sẽ ít tốn kém trong việc tìm lao động như ở cácCông ty phân bố ở các khu vực ngoại vi thành phố
2.1.1.2 Luật pháp và các quy định của Chính phủ.
Đã từng là một Công ty Nhà nước nay chuyển sang cổ phần nên chế độ thưởngcủa Công ty chủ yếu theo quy định của pháp luật Chẳng hạn đơn giá tiền lương là do cơquan có thẩm quyền giao, quỹ tiền lương bổ sung trong tổng quỹ tiền lương của Công tycũng theo chế độ quy định của Nhà nước Như vậy, quỹ lương thực hiện của Công ty phụthuộc nhiều vào các quy định của Nhà nước Nếu đơn giá tiền lương cao, quỹ tiền lương
bổ sung nhiều thì quỹ tiền lương của Công ty sẽ tăng lên và ngược lại quỹ tiền lương sẽgiảm đi Cũng như vậy, mức lương tối thiểu, hệ số phụ cấp hoàn toàn do Nhà nước quyđịnh Nếu mức lương tối thiểu, hệ số cấp bậc, hệ số phụ cấp tăng thì mức lương cơ bảncủa người lao động sẽ tăng lên và ngược lại mức lương cơ bản sẽ giảm đi Cụ thể trongđợt cải cách tiền lương năm 2007 thì mức lương tối thiểu đã tăng từ 450.000đ lên540.000đ Điều này tạo ra sự khuyến khích cho người lao động tăng năng suất lao động,năng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Nhưng điều này lại lại tạo ra sự gò
bó cho công tác trả lương, trả thưởng của Công ty Công ty không thể tự thay đổi mứclương tối thiểu, đơn giá tiền lương, sệ số phụ cấp nên không thể linh động trong việc trảlương, trả thưởng cho người lao động
Tuy nhiên, do chế độ lương thưởng của Công ty theo quy định của Nhà nước nêntạo ra nhiều thuận lợi cho các nhà quản lý lao động trong Công ty, họ không phải tínhtoán, suy nghĩ nhiều, nhanh chóng trong việc tính toán phân bổ tiền lương cho người lao
Trang 18Và do Công ty thực hiện theo thang bảng lương của Nhà nước nên công tác tiềnlương của Công ty đòi hỏi nhiều phụ cấp khác nhau như phụ cấp chức vụ; phụ cấp độchại, nguy hiểm; phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp thu hút… nên cũng gò bó Công ty trongviệc xây dựng quỹ lương, tính lương, trả lương Những cán bộ quản lý trong Công tyluôn có một mức phụ cấp nhất định nên quỹ lương của Công ty luôn phải bỏ ra mộtkhoản nhất định để thanh toán các khoản này Công ty nhiều khi muốn tăng tiền thưởngcho những người làm việc tốt nhưng lại khó thực hiện
2.1.1.3 Giá cả thị trường.
Giá cả là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến công tác lương, thưởngkhông chỉ của riêng Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình mà tất cả cácông ty nói chung Trong đó thì ảnh hưởng lớn nhất phải kể đến giá tư liệu tiêu dùng vàgiá vật tư, nguyên vật liệu
- Đối với giá tư liệu tiêu dùng: Khi giá tư liệu tiêu dùng tăng thì Nhànước phải điều chỉnh tiền lương cho người lao động sao cho thu nhập của họ cũngtăng để bù đắp cho họ trong tiêu dùng Cụ thể trong năm 2007 vừa qua Nhà nước
đã tăng mức lương tối thiểu từ 450.000đ lên 540.000đ Bên cạnh đó, hệ số phụcấp, hệ số cấp bậc cũng tăng lên làm cho thu nhập của người lao động tăng lên,tạo cho họ cảm thấy yên tâm hơn trong công việc của mình
- Đối với vật tư, nguyên vật liệu: Để thấy rõ giá vật tư, nguyên vật liệuảnh hưởng như thế nào đến tiền lương của người lao động trong Công ty ta nghiêncứu từ lúc tính thầu đến lúc thi công công trình Chẳng hạn, tại thời điểm tính thầugiá thép là 7500đ/kg nhưng do thời gian phê duyệt hồ sơ thầu phải mất hàng thángnên tại thời điểm thi công thì giá thép đã tăng lên 7800đ/kg Vì thế đã làm cho chiphí mua sắm nguyên vật liệu tăng, khi phần tăng này vượt quá chi phí dự phòng10% thì sẽ làm cho doanh thu giảm và làm cho quỹ tiền lương giảm, dẫn đến mứclương của người lao động sẽ giảm đi Trong vài năm trở lại đây giá vật tư, nguyênvật liệu cho ngành xây dựng liên tục tăng một phần do nhu cầu trong nước tăngquá mạnh Điều đó gây ảnh hưởng xấu đến công tác trả lương cho người lao động
2.1.2 Nhân tố bên trong Công ty.
Trang 192.1.2.1 Đặc điểm ngành nghề sản xuất kinh doanh của Công ty.
Mỗi ngành nghề khác nhau Nhà nước lại quy định một mức tiền lương riêng, tuỳthuộc vào đặc điểm ngành nghề đó như mức độ độc hại, vị trí của ngành đó trong nềnkinh tế quốc dân, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp… Công ty Cổ phần Tư vấn -Đầu tư xây dựng Ba Đình là một doanh nghiệp xây dựng vì thế trong quá trình sản xuấtkinh doanh cần phải sử dụng rất nhiều công nhân Và trình độ của công nhân lại đượcchia thành 7 bậc khác nhau nên rất khó khăn cho Công ty trong công tác trả lương, trảthưởng cho người lao động Cụ thể theo Nghị định 205/204/NĐ-CP ngày 14/12/2004 củaChính phủ thì hệ số lương và mức lương của các công nhân chuyên ngành xây dựngđược quy định như sau:
Bảng 1: Thang bảng lương áp dụng cho CBCNV khối sản xuất
1,83823.500
2,16972.000
2,551.147.500
3,011.354.500
3,561.602.000
4,201.890.000
Nhóm II
Hệ số
Mức lương CB
1,67751.500
1,96882.000
2,311.039.500
2,711.219.500
3,191.435.500
3,741.503.000
4,401.980.000
Nhóm III
Hệ số
Mức lương CB
1,85830.500
2,18981.000
2,561.152.000
3,011.354.500
3.541.593.000
4,171.876.500
4,902.205.000
Nguồn: Chính sách đổi mới chế độ tiền lương (tháng 11 năm 2006)
Mặt khác, vì là Công ty xây dựng nên trong quá trình thi công các công trìnhngười lao động phải làm việc trong các điều kiện khác nhau, điều này cũng ảnh hưởngđến việc tính lương, thưởng cho người lao động Với các vùng miền khác nhau, địa hìnhkhác nhau, thời tiết khác nhau thì người lao động sẽ hưởng mức lương khác nhau Tức làngoài mức lương cơ bản người lao động sẽ được hưởng thêm một mức phụ cấp nhất định
Trang 20như: phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại, phụ cấp ca 3
Bên cạnh đó, trong xây dựng người ta cũng đòi hỏi rất nhiều kỹ thuật trong quátrình thi công một công trình Bên cạnh đó cũng phần nào gây khó khăn cho công tác trảlương, trả thưởng của Công ty
2.1.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty.
Sơ đồ tổ chức hiện tại của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chứcnăng Đây là một môt hình khá linh hoạt và gọn nhẹ đối với Công ty Bộ máy quản lýchỉ bao gồm 1 Chủ tịch hội đồng quản trị, 2 giám đốc, 3 phòng ban trực thuộc và 5 tổ độisản xuất trực tiếp Trong đó số lượng người trong mỗi phòng ban cũng không quá 8 nhânviên Điều này có tác động tích cực tới việc tính lương cũng như trả lương cho CBCNVbởi vì nó làm đơn giản hoá quá trình tính toán tiền lương cũng như trả lương cho họ Tiếtkiệm được thời gian cũng như chi phí, tránh được tình trạng phổ biến trong các Công tyNhà nước hiện nay đó là quỹ lương thường bị lãng phí vì phải trả cho số lượng CBCNV
dư thừa so với nhu cầu hiện tại của Công ty
Một vấn đề đáng quan tâm đó là việc phân công cho từng người trong một sốphòng ban còn chưa hợp lý và không rõ ràng Có những người phải đảm nhận quá nhiềucông việc trong khi đó có những người đảm nhiệm ít công việc, thậm chí có nhiều việcmang tính chung chung không ai chịu trách nhiệm chính Đây là nguyên nhân chính dẫnđến người lao động làm việc với hiệu suất không cao, lãng phí thời gian làm việc trongkhi công việc lại không được hoàn thành đúng kế hoạch Bởi vậy dẫn đến tình trạngkhông chính xác và không công bằng trong việc tính lương cho người lao động Nhiềukhi người làm ít lại có mức lương bằng với người làm nhiều thậm chí còn cao hơn Mặtkhác, nếu nhân viên muốn phản hồi thông tin về tình hình trả lương của mình đến giámđốc thì không được phản hồi trực tiếp mà phải qua trưởng phòng nên đây là một nhượcđiểm ảnh hưởng đến việc trả lương, thưởng cho người lao động Vì giám đốc sẽ khôngđược nắm rõ, trực tiếp, chính xác nhất về tình hình lương, thưởng của Công ty mình
2.1.2.3 Chính sách phân phối tiền thưởng của Công ty.
Tiền thưởng cho các cá nhân, đơn vị có thành tích xuất sắc trong năm của Công tyđược trích ra từ lợi nhuận của Công ty, thông thường bằng 15% - 17% lợi nhuận Chính
vì vậy nếu Công ty làm ăn có lãi nhiều thì người lao động sẽ được thưởng nhiều hơn
Trang 21Điều này góp phần khuyến khích người lao động luôn cố gắng làm việc hiệu quả, nângcao năng suất, hoàn thành công việc đúng tiến độ Từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty ngày càng phát triển và thực tế đã chứng minh doanh thu củaCông ty trong những năm gần đây luôn tăng, năm sau luôn cao hơn năm trước từ đó thunhập của người lao động cũng tăng.
2.1.2.4 Đặc điểm về lao động.
Theo báo cáo của phòng Tổ chức kế hoạch và hành chính tổng số CBCNV trongCông ty tính đến năm 2007 là 300 người Tuy nhiên số lượng công nhân thuê ngoài trungbình lên đến khoảng 1000 người cho một công trình thì việc tính lương cũng như trảlương cho họ không phải là đơn giản Việc tính lương cũng như trả lương không nhữngphức tạp, tốn nhiều thời gian và công sức mà các nhà quản lý còn phải tính toán sao chotối thiểu hoá chi phí khi sắp xếp nhân công Chẳng hạn như nếu bố trí một kỹ sư mới ratrường làm công việc đào đất là một công việc của lao động phổ thông thì cũng tốn chiphí Bởi vì mức lương của kỹ sư mới ra trường cao hơn mức lương của lao động phổthông Nói tóm lại, đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến công tác trả lương, trả thưởngcủa Công ty
Đối với những Công ty xây dựng thì đội ngũ cán bộ và lao động kỹ thuật có vaitrò rất quan trọng Số lượng và trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân củaCông ty được tập hợp trong bảng sau:
Trang 22Bảng 2: Số lượng và trình độ của đội ngũ lao động trong Công ty
Trang 239 Công nhân lái máy xây dựng 10
Nguồn: Hồ sơ giới thiệu năng lực của Công ty
Qua bảng số liệu trên ta thấy lao động có trình độ đại học là 70 ngườichiếm23,3%, công nhân kỹ thuật là 188 người chiếm 62,6% Như vậy, đa số CBCNVtrong Công ty đều là những người có trình độ và tay nghề cao đáp ứng được yêu cầungày càng cao của xã hội, họ là nguồn lực không thể thiếu của Công ty Với đội ngũCBCNV đầy năng lực và kinh nghiệm như vậy Công ty đã liên tục gặt hái được nhữngthành công trong công việc sản xuất kinh doanh của mình Và uy tín của Công ty thìkhông ngừng được củng cố và phát triển Những để giữ được đội ngũ lao động có trình
độ như vậy thì Công ty không thể trả lương quá thấp mà phải trả lương sao cho người laođộng cảm thấy mình được trả công xúng đáng, khuyến khích được họ lao động hiệu quả.Đây cũng là một khó khăn đối với công tác trả lương, trả thưởng cho người lao động
- Hệ thống máy móc thiết bị mà Công ty hiện có là tương đối đa dạng và đồng bộ, hiệnđại với nhiều chủng loại khác nhau Và để tiếp tục nâng cao khả năng cạnh tranhtrong nền kinh tế thị trường bằng cách nâng cao chất lượng các công trình, rút ngắnthời gian thi công, đảm bảo tối đa các yêu cầu về mặt kỹ thuật khi thi công các côngtrình Thì thời gian vừa qua Công ty đã mua sắm thêm nhiều máy móc thiết bị hiệnđại, công suất lớn được thể hiện qua bảng sau
Trang 24Bảng 3: Máy móc trang thiết bị của Công ty
XUẤT
SỐ LƯỢNG
CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG.
Trang 2514 Máy ép cọc lực ép 40T
Máy ép cọc lực ép 60T
Việt NamTrung Quốc
0201
Trang 26III MÁY MÓC, THIẾT BỊ PHỤC VỤ THI CÔNG GIAO THÔNG, THUỶ
030204
0103020301
Nguồn: Hồ sơ giới thiệu năng lực Công ty
Với hệ thống máy móc, thiết bị trang bị khá hiện đạu như vậy Công ty đã tiết kiệmđược rất nhiều cho phí nhân công khu thi công một công trình nào đó Bởi vì, trước đâyvới hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu thì khi thi công một công trình Công ty phải sửdụng rất nhiều công nhân, nhưng giờ đây thì chỉ cần một số lượng công nhân ít hợ một
Trang 27nửa so với trược Điều này có ảnh hưởng tốt đến công tác trả lương, trả thưởng của Công
ty trong thời gian qua
Nói tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác trả lương, trả thưởng củaCông ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình Ngoài những nhân tố trên còn cónhững nhân tố khác như: mức độ rủi ro khi thi công công trình, công tác phục vụ nơi làmviệc, điều kiện làm việc Mỗi yếu tố đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, thuận lợihay khó khăn đến công tác lương, thưởng của Công ty Lãnh đạo và những nhà quản lýcủa Công ty phải tập hợp các yếu tố này lại, đề ra những phương án sao cho giảm thiểucác thiệt hại xảy ra Phát huy những thuận lợi đối với hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty nói chung và công tác lương, thưởng nói riêng
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG, TRẢ THƯỞNG TẠI CÔNG TY TƯ VẤN - ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BA ĐÌNH.
2.2.1 Quy chế trả lương, trả thưởng tại Công ty.
Thực hiện Nghị định số 205/204/NĐ-CP của Chính phủ về đổi mới chế độ tiềnlương trong các doanh nghiệp Nhà nước
Thực hiện thông tu 01/2005/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động – Thương binh và Xãhội hướng dẫn chuyển lương cũ sang lương mới đối với CBCNV và người lao độngtrong Công ty Nhà nước
Căn cứ Bộ luật lao động ngày 23 tháng 06 năm 1994; Luật sửa đổi bổ dung một sốđiều của Bộ luật lao động ngày 02 tháng 04 năm 2004;
Căn cứ điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty
Căn cứ nhu cầu quản lý chế độ tiền lương, tiền công trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty
Công ty Cổ phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình tiến hành quy chế trả lươngtheo nguyên tắc sau:
- CBCNV đang lam công việc gì, giữ chức vụ gì thì xếp lương, phụ cấp theo côngviệc, chức vụ đó Trong quá trình công tác nếu thay đổi công việc, chức vụ thìphải xếp lại bậc lương cho phù hợp với công việc mới
Trang 28- Thu nhập hàng tháng của công nhân viên không cố định mà có thể tăng hoặcgiảm tuỳ thuộc vào năng suất lao động và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty.
- Những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm áp dụng trả lương theo định mứclao động và đơn giá tiền lương sản phẩm
- Những người không trực tiếp làm ra sản phẩm, làm việc theo thời gian được trả100% lương cấp bậc chức vụ, phụ cấp trách nhiệm theo Nghị định 205/204/NĐ-
CP của Chính phủ Phần tiền lương thăng thêm do kết quả hoạt động sản xuấtkinh doanh trong tháng được trả theo trách nhiệm đóng góp và hiệu quả công táccủa từng người
2.2.2 Các hình thức trả lương, trả thưởng tại Công ty.
a) Nguyên tắc trả lương
Tiền lương của CBCNV được trả trên cơ sở chế độ chính sách của Nhà nước vàkết quả lao động của mỗi người theo chức danh công việc mà người lao động đảmnhận
Tiền lương được trả theo hai hình thức sau:
- Hình thức trả lương theo thời gian: Hình thức này bao gồm: Tiền lương cơbản (lương cấp bậc, chức vụ, các khoản phụ cấp) và tiền lương kinh doanh
- Hình thức trả lương theo sản phẩm
b) Nguyên tắc phân phối tiền thưởng
Căn cứ vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và mức độhoàn thành công việc của người lao động, tiền thưởng được phân phối cho CBCNVtrên cơ sở: Mức lương thoả thuận, phụ cấp chức vụ, thời gian làm việc thực tế vàhạng thành tích của mỗi người
2.2.3 Thực trạng công tác trả lương, trả thưởng tại Công ty.
2.2.3.1 Thực trạng công tác trả lương tại Công ty.
a) Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức này áp dụng cho các viên chức lãnh đạo, quản lý, thừa hành phục vụ và
Trang 29các đối tượng khác mà không thể thực hiện trả lương theo sản phẩm hoặc theo lươngkhoán Vì tính chất công việc của những người này là không trực tiếp sản xuất ra sảnphẩm Vì thế không thể đo lường được một cách chính xác.
Hình thức này bao gồm: Tiền lương cơ bản (lương cấp bậc, chức vụ, các khoảnphụ cấp) và tiền lương kinh doanh
Tiền lương cơ bản (lương cấp bậc, chức vụ, các khoản phụ cấp)
Công thức tính:
TLcbi= MLTTx ( Hcbi+Hpci )
Trong đó:
- TLcbi: Là tiền lương cơ bản của người thứ i
- MLTT: Mức lương tối thiểu (do Nhà nước quy định)
- Hcbi: Hệ số lương cấp bậc của người thứ i
- Hpci: Hệ số phụ cấp lương của người thứ I (nếu có)
- Ti: Số ngày làm việc thực tế của người thứ i trong tháng
- Nc: Ngày công chế độ trong tháng
Bảng 4: Ví dụ tính tiền lương cơ bản của CBCNV trong Công ty Cổ
phần Tư vấn - Đầu tư xây dựng Ba Đình.
Trang 308 Nhân viên kỹ thuật 450.000 3,89 0,3 4,19 22 21 1.799.795
Nguồn: Phòng Kế toán tài chính
Tiền lương kinh doanh
Phương thức phân phối quỹ tiền lương kinh doanh
Quỹ tiền lương kinh doanh là phần còn lại của tổng quỹ tiền lương dànhcho bộ phận quản lý và các khoản thanh toán lương theo định mức tiền lươngtính trên doanh thu trực tiếp của hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi đãthanh toán đầy đủ lương cơ bản
Nguyên tắc phân phối quỹ tiền lương kinh doanh: Phân phối theo lao động,gắn tiền lương với năng suất lao động, hiệu quả công việc của từng người,khuyến khích người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Phương thức phân phối theo nhóm công việc kết hợp với bình xét A,B,C,D
Trong đó:
- n: Là số người được tính tiền lương kinh doanh
- TLkdi: Tiền lương kinh doanh của người thứ i
- Qkd: quỹ tiền lương kinh doanh
- Ni: Số ngày công làm việc thực tế của người thứ i (không kể công thêmgiờ)
- Hni: Hệ số phân phối theo nhóm công việc của người thứ i
- Hcvi: Hệ số mức độ hoàn thành công việc của người thứ i trong tháng(A,B,C,D)
Theo công thức trên thì tình hình phân phối quỹ lương theo kinh doanhcủa phòng Tổ chứ kế hoạch và hành chính được phân phối như sau:
Trang 31Bảng 5: Phân phối quỹ lương của phòng Tổ chức kế hoạch và
5 Trịnh Xuân Khánh Nhân viên 21 1,3 0,85 23,205 1.910.292,7
6 Trần Thị Kim Dung Nhân viên 20 1,2 0,85 20,4 1.679.378,2
7 Nguyễn Danh Xuân Nhân viên 21 1,2 0,85 21,42 1.763.347,1
Nguồn: Phòng Tổ chức kế hoạch và hành chính
Hệ số phân phối theo nhóm công việc
Nhóm công việc được áp dụng đối với cán bộ, công nhân viên mà côngviệc họ đảm nhận trực tiếp hoặc gián tiếp tạo nên quỹ tiền lương kinh doanhcủa Công ty Việc xếp nhóm công việc theo hệ số quy định do Chủ tịch hộiđồng quản trị và Ban giám đốc cùng các trưởng phòng ban sắp xếp theo nhiệm
vụ được giao không lệ thuộc người đó có hệ số lương bậc cao hay thấp Việcxếp hệ số của các nhóm không cố định có thể thay đổi được tuỳ thuộc vào sự
cố gắng phấn đấu của từng CBCNV
Nhóm công việc được xếp thành 8 nhóm với các hệ số như sau: