1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở việt nam

16 223 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 308 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên bình diện quốc gia, hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng lực khoa học của một nước là số lượng ấn phẩm khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có hệ thố

Trang 1

Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam

08:49-20/04/2009

Tóm lược Trên bình diện quốc gia, hai chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá năng lực khoa

học của một nước là số lượng ấn phẩm khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế có

hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals), và số lần trích dẫn (citations) của những bài báo khoa học Bài viết này phân tích các ấn phẩm khoa học Việt Nam và các nước trong vùng Đông Nam Á trên các tập san khoa học quốc tế từ năm 1996 đến 2005, và chỉ số trích dẫn của những ấn phẩm khoa học trong thời gian 2000-2001 Kết quả cho thấy trong thời gian 1996-2005, Việt Nam công bố được 3456 công trình nghiên cứu khoa học, và số ấn phẩm khoa học này đứng vào hàng thấp nhất trong vùng: bằng khoảng 1/5 số bài báo từ Thái Lan (n = 14.594), 1/3 Malaysia (n = 9742), 1/14 Singapore (n = 45.633), và thấp hơn Indonesia (n = 4.389) và Philippines (n = 3901)

Nhưng về chất lượng, ấn phẩm khoa học Việt Nam có phần cao hơn các nước trong vùng, với

số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo trong vòng 5 năm là 9,74 lần Chất lượng ấn phẩm khoa học Việt Nam chủ yếu nhờ vào các công trình hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài Qua phân tích, một số đề nghị được đưa ra nhằm cải tiến tình hình: (a) hướng đến việc công bố nghiên cứu trên các tập san khoa học quốc tế như là một tiêu chuẩn để đánh giá (hay “nghiệm thu”?) một dự án khoa học; (b) khuyến khích các nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án; (c) cần có chính sách đãi ngộ và tưởng thưởng các nhà khoa học trẻ có công trình công bố quốc tế; và (d) khuyến khích các tập san khoa học Việt Nam vươn đến tầm quốc tế

1 Lượng và chất trong nghiên cứu khoa học

Bất cứ học thuyết xã hội nào cũng nhất trí một điều là nếu một quốc gia muốn trở thành một thành viên có uy tín trên trường quốc tế, ngoài vị trí kinh tế - chính trị, nghiên cứu và phát triển khoa học (R&D) đóng một vai trò then chốt Bắt chước người khác, bán sản phẩm và công nghệ của người khác, hay gia công sản phẩm có thể đem lại vài thành quả ngắn hạn, nhưng không thể là nền móng cho phát triển về lâu dài Khả năng bắt chước và khả năng sáng tạo có thể phân biệt qua các chỉ số phát triển công nghệ và các sản phẩm tri thức Sản phẩm tri thức và sáng tạo được hình thành từ những nghiên cứu khoa học Singapore, Đài Loan, và Hàn Quốc không thể phát triển như ngày nay nếu không có chiến lược đầu tư lâu dài cho nghiên cứu khoa học Bài học từ các nước này là khả năng sáng tạo trong khoa học và công nghệ là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của một nước Do đó, nghiên cứu khoa học đóng một vai trò cực kì quan trọng trong công cuộc đưa đất nước chuyển biến sang một nền kinh tế tiên tiến và góp phần tạo nên một vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế

Đánh giá năng lực khoa học của một nước không đơn giản chút nào, vì thành tựu của nghiên cứu khoa học thường không thể cân đo đong đếm như sản phẩm kĩ nghệ Không giống như hoạt động sản xuất kĩ nghệ với những sản phẩm vật chất cụ thể mà công chúng có thể sử dụng được cho cuộc sống hằng ngày, sản phẩm của nghiên cứu khoa học - nhất là nghiên cứu khoa học cơ bản - thường mang tính trừu tượng, rất ít khi nào gần gũi trực tiếp với người tiêu dùng Trong nhiều trường hợp, thành tựu của nghiên cứu khoa học chỉ hiển nhiên sau vài ba chục năm sau khi công trình nghiên cứu hoàn tất Chẳng hạn như các nghiên cứu về khả năng truyền dẫn hình ảnh qua fibre optics trong thập niên 1950, phải đợi đến 30 năm sau mới tìm

Trang 2

được ứng dụng của thành tựu này qua việc phát triển các máy nội soi trong y khoa Tương tự, khám phá về vai trò của testosterone (một hormone nội tiết nam) trong thập niên 1930, nhưng phải chờ đến 40 năm sau mới tìm thấy ứng dụng trong lâm sàng và chăn nuôi

Mặc dù các phương pháp sử dụng để đánh giá khả năng khoa học vẫn còn trong vòng tranh cãi, nói chung cộng đồng quốc tế nhất trí rằng có thể sử dụng một số chỉ tiêu để xếp hạng khả

năng khoa học giữa các nước Chỉ tiêu quan trọng nhất là số lượng ấn phẩm khoa học và chất

lượng nghiên cứu Số lượng bài báo khoa học phản ảnh “sản lượng” của một nền khoa học, và

mức độ đóng góp vào tri thức toàn cầu của một nước Trên thế giới ngày nay có hơn 100.000 tập san khoa học đủ loại với chất lượng “thượng vàng hạ cám”; do đó, chỉ có một số tập san được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận là nghiêm chỉnh và đáng tin cậy, và các tập san này (chỉ khoảng trên dưới 4000) nằm trong danh mục của tổ chức Thomson Scientific Information (trước đây gọi là ISI hay Institute of Scientific Information) Trung Quốc có

4497 tập san khoa học (số liệu năm 2003), nhưng chỉ có 67 tập san được công nhận và liệt kê trong danh bạ của ISI Hằng năm, tổ chức Thomson thu thập tất cả các bài báo trên thế giới,

kể cả các chi tiết như tên và địa chỉ của tác giả, nước xuất phát, đề tài, lĩnh vực nghiên cứu, năm công bố, số lần trích dẫn, v.v… Dựa vào các số liệu này, chúng ta có thể đánh giá một phần tình trạng hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta và so sánh với các nước trong vùng 1

Đánh giá chất lượng nghiên cứu là một việc làm rất khó, vì cộng đồng khoa học vẫn chưa

nhất trí một chuẩn mực thống nhất cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu Tuy nhiên, hai chỉ số thường được sử dụng để ước định chất lượng của một công trình nghiên cứu khoa học là hệ số ảnh hưởng (còn gọi là impact factor), và số lần trích dẫn (citation index) Theo định nghĩa được công nhận, hệ số ảnh hưởng là số lần trích dẫn hay tham khảo trung bình các bài báo mà tạp chí đã công bố hai năm trước 2 Do đó, những công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao cũng có thể đồng nghĩa với chất lượng cao của công trình

nghiên cứu Chẳng hạn như một nghiên cứu được công bố trên các tạp chí như Science,

Nature, Cell, PNAS, New England Journal of Medicine, Lancet, v.v… chắc chắn phải có chất

lượng cao hơn các nghiên cứu công bố trên các tạp chí ở Á châu, Âu châu hay tạp chí chuyên ngành ở Mỹ Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tạp chí cũng tùy thuộc vào bộ môn khoa học (chẳng hạn như các tập san thuộc bộ môn khoa học thực nghiệm thường có hệ số tác dụng cao hơn các tập san trong các ngành khoa học tự nhiên và toán học)

Nhưng hệ số ảnh hưởng chỉ phản ánh uy tín của tạp chí chứ không hẳn phản ảnh chất lượng của một bài báo cụ thể Vì thế, một cách đánh giá chất lượng khác công bằng hơn là tính số lần các nhà khoa học khác trích dẫn bài báo mà nhà khoa học đã công bố Có thể nói ví von rằng số lần trích dẫn là âm vang của một công trình nghiên cứu Một công trình nghiên cứu có chất lượng có khả năng gây ảnh hưởng trong chuyên ngành, và được nhiều đồng nghiệp trên thế giới trích dẫn Do đó, chỉ số trích dẫn phản ảnh khá chính xác chất lượng một công trình nghiên cứu khoa học Chỉ số ảnh hưởng và chỉ số trích dẫn phản ảnh chất lượng khoa học Thật vậy, một nghiên cứu trong thập niên 1970 về tần số trích dẫn các nghiên cứu công bố trước khi các nhà khoa học được trao giải Nobel cho thấy tính trung bình, số lần trích dẫn là

62 (so với tần số trung bình của tất cả các nhà khoa học là 6 lần) Do đó, dù có vài biệt lệ và khiếm khuyết, số lần trích dẫn và hệ số ảnh hưởng của tạp chí phản ảnh chất lượng nghiên cứu

Liên quan đến Việt Nam, theo tôi biết vẫn chưa có một phân tích về chất lượng nghiên cứu khoa học qua số lần trích dẫn một cách chi tiết và so sánh với các nước khác trong vùng Vì thế, tôi tiến hành một phân tích về chất lượng các ấn phẩm khoa học trên các tập san khoa học quốc tế Phân tích này nhằm trả lời hai câu cụ thể: thứ nhất, chất lượng nghiên cứu khoa học đang ở vị trí nào; và thứ hai, có mối liên hệ nào giữa ấn phẩm khoa học và đầu tư cho khoa học Hi vọng qua kết quả trả lời hai câu hỏi trên, các nhà chức trách có thể tìm cách để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta

Để trả lời hai câu hỏi trên, tôi sử dụng hệ thống "Web of Science" của Viện Thông tin Khoa học (Institute of Scientific Information) để thu thập số lượng ấn phẩm khoa học, và tần số

Trang 3

trích dẫn cho từng bài báo từ Việt Nam Về số lượng ấn phẩm, tôi chọn thời gian khảo sát trong vòng 10 năm, từ 1996 đến 2005 Để phân tích chất lượng ấn phẩm nghiên cứu, tôi chọn các ấn phẩm trong thời gian 2000-2001 Tôi chọn thời gian này vì hai lí do chính : (a) một bài báo khi đã công bố đòi hỏi thời gian để cộng đồng khoa học thẩm định và tham khảo, và qua kinh nghiệm, chúng tôi chọn thời gian 5 năm sau công bố để tính số lần trích dẫn vì thời gian

5 năm có thể nói là "đủ" để một công trình nghiên cứu có khả năng gây tác động ; và (b) số lượng bài báo hàng năm từ Việt Nam còn thấp (dao động khoảng 330 đến 350 bài), cho nên nếu làm phân tích số bài báo trong vòng một năm e rằng không đủ số liệu để phân tích theo chuyên ngành, và vì thế chúng tôi quyết định chọn thời gian 2 năm để tăng số lượng bài báo

và qua đó tăng độ tin cậy thống kê của các ước số

2 Ấn phẩm khoa học 1996-2005

Trong thời gian 1996 đến 2005, có tất cả 3.456 bài báo khoa học trên các tập san ISI có địa chỉ từ Việt Nam Con số bài báo từ Việt Nam nếu mới nhìn qua có thể gây “ấn tượng”, nhưng trên thực tế, chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, 1/3 của Malaysia , và 1/14 của Singapore Ngay cả so với Philippines (3901 bài) và Indonesia (4389 bài), số bài báo khoa học từ nước ta vẫn thấp hơn

Lĩnh vực nghiên cứu Bảng 1 sau đây cho thấy một số xu hướng đáng chú ý giữa các nước.

Chẳng hạn như Thái Lan khá mạnh về lĩnh vực y sinh học (số bài báo trong lĩnh vực này chiếm gần 43% tổng số bài báo khoa học từ Thái Lan), trong khi đó Singapore thì mạnh về các lĩnh vực kĩ thuật (chiếm 40% tổng số bài báo khoa học) Philippines là nước có nhiều bài báo về nông nghiệp (chiếm gần 29% tổng số bài báo khoa học), tức gần gấp hai hay ba lần Việt Nam, Indonesia , Malaysia hay Thái Lan

Số lượng bài báo khoa học liên quan đến ngành toán và vật lí từ Việt Nam chiếm gần một phần tư tổng số bài báo khoa học, nhưng ở các nước như Thái Lan, Malaysia , Indonesia và Philippines con số này chỉ dao động từ 0,5% đến 4% Ngay cả ở Singapore, các bài báo toán học và vật lí học cộng lại chỉ khoảng 11%, chưa bằng tỉ lệ của một ngành toán ở Việt Nam Các kết quả này cho thấy ngành toán và vật lí là hai ngành "mạnh" ở nước ta Tuy nhiên, khi

so sánh với các lĩnh vực khác trong nước thì số lượng bài báo từ ngành y sinh học chiếm đến 24% (tức gấp hai lần số bài về toán hay vật lí) tổng số bài báo khoa học

Malaysia tuy rất khiêm tốn về toán, nhưng tỉ lệ bài báo liên quan đến ngành kĩ thuật và hóa học thì cao gần gấp hai tỉ lệ của Việt Nam và các nước trong vùng Điều đáng ngạc nhiên là công nghệ sinh học thuần túy còn rất khiêm tốn ở trong vùng, với số lượng bài báo khoa học chỉ dao động trong khoảng 1-4%

Bảng 1 Phần trăm các bài báo khoa học 1996-2005 tính cho từng nước và phân chia theo lĩnh vực nghiên cứu

Lĩnh vực

nghiên

cứu

Việt Nam Thái Lan Malaysia Indonesia Philippine

s

Singapor e

Trang 4

MT 4,0 5,3 3,7 11,9 14,5 1,8

Tổng cộng 100

(n=3456)

100 (n=14594)

100 (n=9742)

100 (n=4389)

100 (n=3901)

100 (n=45633) Chú thích: Vì làm chẵn, cho nên khi cộng lại tổng số có thể trên hay dưới 100%; n là

tổng số bài báo trong thời gian 1996-2005

Nội lực và hợp tác Một điều đáng quan tâm hơn là phần lớn các nghiên cứu khoa học từ

Việt Nam còn phụ thuộc vào các “ngoại lực” quá nhiều Theo một phân tích trước đây của giáo sư Phạm Duy Hiển 3, có đến 75% các công trình khoa học từ Việt Nam do đứng tên chung hoặc hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài

Trong phân tích này, tôi ghi nhận khoảng 20% các bài báo công bố trong thời gian 2000-2001

là do nội lực (tức không hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài) Tuy nhiên tỉ lệ nội lực dao

động rất lớn giữa các ngành (Biểu đồ 1) Ch ng h n nh trong ng nh y sinh h c, ẳng hạn như trong ngành y sinh học, ạn như trong ngành y sinh học, ư trong ngành y sinh học, ành y sinh học, ọc,

m t ng nh t ành y sinh học, ư trong ngành y sinh học,ơng đối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ng đối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo i th m nh v n ế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ạn như trong ngành y sinh học, ành y sinh học, ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo định ở nước ta, trong số 164 bài báo nh n ở nước ta, trong số 164 bài báo ư trong ngành y sinh học,ớc ta, trong số 164 bài báo c ta, trong s 164 b i báo ối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ành y sinh học,

c công b trên các t p san qu c t , ch có 5 b i (3%) l do n i l c, nh ng

đư trong ngành y sinh học, ối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ành y sinh học, ành y sinh học, ực, nhưng ư trong ngành y sinh học, các ng nh có t l n i l c cao l toán (66%), k thu t (~40%) v kinh t h c ành y sinh học, ỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ệ nội lực cao là toán (66%), kĩ thuật (~40%) và kinh tế học ực, nhưng ành y sinh học, ĩ thuật (~40%) và kinh tế học ập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ành y sinh học, ế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ọc, (41%) Riêng 11 b i báo liên quan ành y sinh học, đế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo n ng nh công ngh sinh h c, 100% l ành y sinh học, ệ nội lực cao là toán (66%), kĩ thuật (~40%) và kinh tế học ọc, ành y sinh học,

do h p tác v i n ớc ta, trong số 164 bài báo ư trong ngành y sinh học,ớc ta, trong số 164 bài báo c ngo i Ch a có d li u v các công trình n i l c v h p ành y sinh học, ư trong ngành y sinh học, ữ liệu về các công trình nội lực và hợp ệ nội lực cao là toán (66%), kĩ thuật (~40%) và kinh tế học ề các công trình nội lực và hợp ực, nhưng ành y sinh học, tác cho các n ư trong ngành y sinh học,ớc ta, trong số 164 bài báo c trong vùng, nên ch a th so sánh v i n ư trong ngành y sinh học, ể so sánh với nước ta ớc ta, trong số 164 bài báo ư trong ngành y sinh học,ớc ta, trong số 164 bài báo c ta

Biểu đồ 1 Phần trăm bài báo hoàn toàn do nội lực Ghi chú: YS=y sinh

học, KT=kĩ thuật, NN=nông nghiệp, VL=vật liệu, MT=môi trường,

KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã hội.

Phân tích tăng trưởng cho tất cả các nước trong vùng đều có xu hướng tăng trưởng số lượng bài báo khoa học, nhưng mức độ tăng trưởng khác nhau giữa các nước (Biểu đồ 2) Tính trung bình, ấn phẩm khoa học Việt

Nam tăng khoảng 26% mỗi năm (41 bài/năm); tỉ lệ tăng trưởng này tương đương với Singapore (khoảng 27% hay 480 bài/năm) và Malaysia (24% hay 114 bài/năm), cao hơn Indonesia (tăng 9% hay 29 bài/năm) và Philippines (8% hay 23 bài/năm), nhưng thấp hơn Thái Lan (45% hay 222 bài/năm)

Trang 5

Biểu đồ 2 Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên các tập san

khoa học quốc tế tính từ 1996 đến 2005 (biểu đồ bên trái), và cụ thể cho 3 nước Việt Nam, Indonesia và Philippines với số lượng bài báo dưới 1000 (biểu đồ phía phải).

Phân tích tốc độ tăng trưởng số bài báo khoa học từng ngành trong hai thời kì 1996-2000 và

2001-2005 (Biểu đồ 3) cho thấy các ngành “khiêm tốn” (tức có ít bài báo khoa học so với

tổng thể) thường có tỉ lệ tăng trưởng cao hơn những ngành được xem là “mạnh” của nước ta như toán học Chẳng hạn như ngành môi trường học, số bài báo trong thời kì 2001-2005 tăng gấp 2,74 lần so với thời kì 1996-2000 (từ 51 tăng lên 140 bài), nông nghiệp tăng 2,67% (từ 92 lên 246 bài), công nghệ sinh học tăng 2,62 lần (từ 16 tăng lên 42 bài) Đáng chú ý là ngành y sinh học vẫn duy trì tốc độc tăng trường gần 2 lần trong thời kì 2001-2005 so với 1996-2000 Tuy nhiên, ngành toán có tỉ lệ tăng trưởng dưới trung bình (20%)

Biểu đồ 3 Phần trăm tăng trưởng số bài báo khoa học từ Việt Nam trong hai thời

kì 1996-2000 và 2001-2005 Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật, NN=nông

Trang 6

nghiệp, VL=vật liệu, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã

hội.

3 “Chất lượng” nghiên cứu khoa học

Một bài báo khi đã công bố đòi hỏi thời gian để cộng đồng khoa học thẩm định và tham khảo Nói chung, một bài báo có ảnh hưởng lớn là một bài báo được nhiều đồng nghiệp trích dẫn và tham khảo trong những năm sau đó Để đánh giá chất lượng nghiên cứu khoa học, tôi xem xét những bài báo công bố trong năm 2000-2001 và thu thập số lần trích dẫn những bài báo này trong 5 năm sau Tính trung bình, mỗi bài báo từ Việt Nam công bố trong thời kì

2000-2001 được trích dẫn 9,7 lần trong 5 năm sau Tỉ lệ trích dẫn các bài báo Việt Nam cao nhất so

với các nước trong vùng (xem Bảng 2) Các nước khác tuy có số lượng bài báo cao hơn nước

ta, nhưng số lần trích dẫn trung bình thấp hơn nước ta

Bảng 2 Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên

các tập san khoa học quốc tế trong thời gian 2000-2001, và số lần

trích dẫn từ 2001 đến 2006

Nước

Số lượng bài báo 2000-2001

Tổng số lần trích dẫn 2001-2006

Số lần trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo

Hệ số h (1)

Chú thích: Tổng số bài báo tính từ cơ sở dữ liệu của SCI-Expanded, SSCI,

A&HCI (1) Hệ số h có nghĩa là có h bài báo với số lần trích dẫn h hay cao

hơn Ví dụ: hệ số h = 33 của Việt Nam có nghĩa là có 33 bài báo từ Việt Nam

công bố trong thời gian 2000-2001 được trích dẫn ít nhất là 33 lần trong những

năm sau đó.

Số lần trích dẫn bao nhiêu là cao? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này, nhưng theo phân tích của ISI, trong tất cả các bài báo khoa học công bố trên thế giới, có khoảng 55% không bao giờ được ai (kể cả chính tác giả) trích dẫn hay tham khảo sau 5 năm công bố 4 Trong các ngành như kĩ thuật tần số không trích dẫn lên đến 70% Ngay cả được trích dẫn và tham khảo, con số cũng rất khiêm tốn : chỉ có trên dưới 1% bài báo khoa học được trích dẫn hơn 6 lần mà thôi (trong vòng 5 năm) Do đó, có người đề nghị là một bài báo được trích dẫn một cách độc lập (tức không phải chính tác giả tự trích dẫn) hơn 5 lần được xem là "có ảnh hưởng" Những công trình có ảnh hưởng lớn thường có số lần trích dẫn 100 lần trở lên Nếu tính theo số lần trích dẫn trên 5 lần trong vòng 5 năm thì có thể nói rằng chất lượng các nghiên cứu từ Việt Nam cũng có phần khả quan Tính trung bình, khoảng 42% các bài báo từ Việt Nam được trích dẫn trên 5 lần, tức là cao hơn số trung bình trên thế giới Các ngành khoa học Việt Nam có trích dẫn cao thường là các ngành khoa học thực nghiệm như y sinh học, hóa học, nông nghiệp, môi trường và công nghệ sinh học

Trang 7

Tuy nhiên chỉ số này không phản ánh đúng thực tế vì có hai bài báo y học từ Việt Nam có số lần trích dẫn rất cao (995 lần và 230 lần), do đó chi phối đến cách tính toán Do đó, một hệ số

khác khách quan hơn là hệ số h [5] Việt Nam có hệ số h thuộc vào hàng thấp nhất (h = 33,

tương đương với Phi Luật Tân) so với các nước trong vùng Singapore và Thái Lan có nhiều bài báo có ảnh hưởng hơn nước ta

Một cách khác để gián tiếp đánh giá chất lượng là xem xét tỉ lệ các bài báo chưa bao giờ được trích dẫn Có khoảng 1/5 các bài báo khoa học từ Việt Nam chưa bao giờ được trích

dẫn sau 5 năm công bố Đây cũng là tình trạng chung ở các nước trong vùng, với tỉ lệ chưa bao giờ trích dẫn (trong vòng 5 năm) được ghi nhận tại Thái Lan (15%), Malaysia (19%), Indonesia (19%), Philippines (13%), và Singapore (17%)

Phân tích chi tiết tần số trích dẫn tất cả các bài báo từ Việt Nam công bố trong thời gian

1996-2005 cho từng lĩnh vực nghiên cứu (Bảng 3) cho thấy một vài xu hướng đáng chú ý Tính

chung, gần 1/4 (23%) các công trình nghiên cứu từ Việt Nam chưa hề được trích dẫn trong thời gian 10 năm Những ngành có tỉ lệ chưa trích dẫn thấp là y sinh học và hóa học (khoảng

17 đến 18%), tiếp đến là các ngành như khoa học xã hội, môi trường học, công nghệ sinh học, nông nghiệp, kinh tế học, và vật lí (dao động trong khoảng 22% đến 32%) Riêng hai ngành toán và kĩ thuật, có đến 44% bài báo chưa được trích dẫn lần nào trong vòng 1996-2005

Bảng 3 Số lần trích dẫn (hay không trích dẫn) của các bài báo

khoa học từ Việt Nam phân tích theo lĩnh vực nghiên cứu

Lĩnh vực

nghiên cứu

Số bài báo trong thời gian 1996-2005

Số lần trích dẫn (% tổng số bài báo) Chưa trích

dẫn lần nào

1 đến 5 lần 6 lần trở lên

Một cách so sánh có ý nghĩa hơn là ước tính chỉ số trích dẫn tương đối (relative citation index hay RCI) [6], vì chỉ số này phản ảnh một phần chất lượng nghiên cứu khoa học của một

nước và mức độ ảnh hưởng trên thế giới Tính theo chỉ số này, chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học Việt Nam thuộc vào hàng cao nhất trong vùng, với RCI = 0,59 Malaysia là nước tuy có nhiều bài báo khoa học hơn nước ta, nhưng số lần trích dẫn không cao và cũng chẳng gây ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế, do đó chỉ số RCI chỉ 0,39 Ngay

cả các nước khác có sản lượng khoa học cao như Singapore và Thái Lan cũng có hệ số RCI

Trang 8

thấp hơn Việt Nam Sở dĩ có kết quả này là vì trong năm 2000-2001, có hai công trình y sinh học từ Việt Nam với hơn 200 lần trích dẫn, và làm tăng số lần trích dẫn trung bình cho nước

ta Tuy nhiên, nếu chúng tôi loại bỏ hai bài báo này ra khỏi phương trình tính toán thì hệ số

RCI của Việt Nam vẫn thuộc vào hạng cao nhất trong vùng (Bảng 4).

Bảng 4 Chỉ số trích dẫn tương đối

của một số nước trên thế giới

Chất lượng của công trình hợp tác và nội lực Tính trung bình, các công trình nội lực có

chất lượng thấp hơn các công trình hợp tác với nước ngoài Mỗi công trình nội lực được trích dẫn trung bình là 3,2 lần, trong khi đó công trình hợp tác có chỉ số trích dẫn trung bình là 11,6

lần Xu hướng này thể hiện gần như trong tất cả các ngành khoa học (Biểu đồ 4).

Nh ư trong ngành y sinh học, đề các công trình nội lực và hợp ập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng c p trên, ng nh y sinh h c có s l n trích d n cao nh t, k ành y sinh học, ọc, ối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ần trích dẫn cao nhất, kế đến là ẫn cao nhất, kế đến là ất, kế đến là ế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo đế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ành y sinh học, n l

ng nh v t lí, hóa h c v môi tr ành y sinh học, ập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ọc, ành y sinh học, ư trong ngành y sinh học,ờng học Nhưng phân tích theo nội lực và ng h c Nh ng phân tích theo n i l c v ọc, ư trong ngành y sinh học, ực, nhưng ành y sinh học,

h p tác cho chúng ta m t “b c tranh” ho n to n khác: các công trình y h c ức tranh” hoàn toàn khác: các công trình y học ành y sinh học, ành y sinh học, ọc,

c trích d n nhi u l nh ng công trình h p tác v i n c ngo i (ch s

đư trong ngành y sinh học, ẫn cao nhất, kế đến là ề các công trình nội lực và hợp ành y sinh học, ữ liệu về các công trình nội lực và hợp ớc ta, trong số 164 bài báo ư trong ngành y sinh học,ớc ta, trong số 164 bài báo ành y sinh học, ỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo trích d n trung bình l 16) ch không ph i công trình n i l c (ch s trích ẫn cao nhất, kế đến là ành y sinh học, ức tranh” hoàn toàn khác: các công trình y học ải công trình nội lực (chỉ số trích ực, nhưng ỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ối thế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo

d n ch 3,6 l n) S chênh l ch thiên v các công trình h p tác nh th c ng ẫn cao nhất, kế đến là ỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ần trích dẫn cao nhất, kế đến là ực, nhưng ệ nội lực cao là toán (66%), kĩ thuật (~40%) và kinh tế học ề các công trình nội lực và hợp ư trong ngành y sinh học, ế mạnh và ổn định ở nước ta, trong số 164 bài báo ũng

th y trong các ng nh nh v t lí (12 so v i 4,5), hóa h c (10,8 so v i 3,4), v ất, kế đến là ành y sinh học, ư trong ngành y sinh học, ập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ớc ta, trong số 164 bài báo ọc, ớc ta, trong số 164 bài báo ành y sinh học,

k thu t (9,3 so v i 1,5) ĩ thuật (~40%) và kinh tế học ập san quốc tế, chỉ có 5 bài (3%) là do nội lực, nhưng ớc ta, trong số 164 bài báo

Trang 9

Biểu đồ 4 Số lần trích dẫn trung bình cho mỗi bài báo công bố trong thời gian 2000-2001 phân

tích theo hợp tác (ô đặc) và nội lực (ô chéo) Ghi chú: YS=y sinh học, KT=kĩ thuật, NN=nông

nghiệp, VL=vật liệu, MT=môi trường, KTế=kinh tế, CNSH=công nghệ sinh học, KHXH=khoa học xã

hội.

4 Đầu tư cho khoa học và công nghệ

Trong năm 2006, Việt Nam đầu tư 428 triệu USD cho khoa học và công nghệ (KH&CN), chiếm khoảng 0,17% GDP toàn quốc Theo số liệu của UNESCO, Singapore là nước (trong vùng) có đầu tư cho KHCN cao nhất với 2,2% GDP (tương đương với 3,01 tỉ USD), kế đến là Malaysia (0,5% GDP hay 1,54 tỉ USD), Thái Lan (0,3% GDP hay 1,79 tỉ USD) Tuy nhiên, tính trên GDP, đầu tư cho KHCN ở nước ta vẫn còn cao hơn Indonesia (0,05% GDP) và

Philippines (0,12% GDP) (Bảng 5)

Đầu tư cho KHCN ở nước ta có hiệu suất cỡ nào? Một cách [có lẽ quá đơn giản] để trả lời câu hỏi này là tính số bài báo khoa học trên mỗi triệu USD đầu tư Tính trung bình, có 8 bài báo khoa học cho mỗi triệu USD đầu tư cho KHCN ở nước ta, và con số này tương đương với Thái Lan và Indonesia, nhưng cao hơn Malaysia và Philippines Singapore là nước có hiệu suất cao nhất, với 13 bài báo cho mỗi triệu USD đầu tư cho KHCN

Bảng 5 Năng suất khoa học (bài báo) tính trên dân số, tổng sản lượng quốc gia (GDP), và mức độ đầu tư vào khoa học và công nghệ

Nước

Dân số trung bình (1000)

GDP (tỉ USD)

Đầu tư vào khoa học và công nghệ (triệu USD)

Số bài báo trên 100.000 dân

Số bài báo trên 1 triệu USD đầu tư vào KH&CN

Nguồn: Số liệu về dân số và GDP được trích từ website sau đây:

http://en.wikipedia.org/wiki/Southeast_Asia (ngày truy nhập 9/10/2007) Số liệu về đầu tư cho khoa học và công nghệ được trích từ báo cáo “UNESCO Science Report 2005” (trang 225) của Liên Hiệp Quốc

5 Vài nhận xét

Những số liệu về số lượng bài báo khoa học và so sánh với các nước trong vùng cho thấy rõ ràng rằng mức độ đóng góp cho tri thức toàn cầu từ các nhà khoa học nước ta nói chung vẫn còn khá lu mờ Sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế, và ngay cả trong vùng, còn rất khiêm tốn So với Thái Lan, Malaysia và Singapore, số lượng bài báo khoa học từ nước ta có thể nói là “không đáng kể” So với hai nước này, tốc độ tăng trưởng về sản lượng khoa học của nước ta vẫn chưa theo đuổi kịp họ Có thể thấy sự tụt hậu của ta qua một tính toán [có thể quá đơn giản] như sau: nếu mức độ tăng trưởng số bài báo khoa học của Việt Nam là 41 bài / năm (như ước tính từ phân tích này) và theo hàm số đường thẳng, và chúng ta bắt đầu với 202 bài năm 1996, thì phải cần đến 60 năm sau chúng ta mới bắt kịp số lượng bài báo của Thái Lan vào năm 2005! Nói cách khác, nếu chúng ta muốn bắt kịp nước bạn, các nhà khoa học nước ta phải phấn đấu gấp hai, thậm chí gấp ba lần, so với năng suất hiện nay

Trang 10

Trái lại với nhiều cảm nhận thông thường cho rằng ngành toán và vật lí nước ta ở vị trí

“mạnh”, phân tích của chúng tôi cho thấy cảm nhận này không có cơ sở Thật vậy, ngành y sinh học (chứ không phải toán học và vật lí) mới là ngành có nhiều đóng góp cho khoa học nước ta Hai ngành toán học và vật lí mỗi ngành chỉ đóng góp khoảng 10% cho tổng số ấn phẩm khoa học Việt Nam, tương đương với nông nghiệp, kĩ thuật và hóa học Một điều đáng chú ý là đóng góp của ngành toán cho tổng sản lượng khoa học đang có xu hướng giảm, vì tỉ

lệ tăng trưởng dưới trung bình Ngược lại, sự tăng trưởng nhanh của các ngành như nông nghiệp, công nghệ sinh học, và môi trường học là một tín hiệu đáng mừng, vì nó cho thấy các

bộ môn khoa học thực nghiệm quan trọng này đang có chuyển biến theo chiều hướng tích cực

Về chất lượng nghiên cứu khoa học, nói chung, dù số lượng bài báo từ Việt Nam không cao,

số lần trích dẫn trung bình có phần cao hơn các nước trong vùng Thật vậy, nếu dựa vào chỉ

số RCI để đánh giá chất lượng và ảnh hưởng của nghiên cứu khoa học, Việt Nam có chỉ số RCI (0,59) cao nhất trong vùng Ngay cả Trung Quốc hàng năm "sản xuất" trên 20.000 bài báo khoa học trên các tập san trong danh bạ ISI, nhưng chỉ số RCI chỉ 0,27 7

Tại sao số lượng bài báo khoa học từ nước ta thấp hơn, nhưng chỉ số RCI cao hơn, các nước trong vùng Đông Nam Á và vài nơi trên thế giới? Tôi nghĩ đến hai giả thuyết để giải thích cho tình trạng vừa nêu Thứ nhất, các nước như Singapore và Thái Lan có một số tập san nội địa xuất bản bằng tiếng Anh được công nhận và nằm trong danh bạ của ISI, nhưng các tập san này thường công bố những công trình nghiên cứu có chất lượng thấp (hiểu theo nghĩa ít người quan tâm và ít trích dẫn) Có khả năng là các nhà khoa học địa phương không thành công đăng bài ở các tập san quốc tế họ đăng ở các tập san địa phương, và do đó chỉ số trích dẫn cũng như RCI của họ không cao Trong khi đó, các nhà khoa học Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là công bố nghiên cứu của họ trên các tập san bên Mỹ hay Âu châu, thường

có hệ số ảnh hưởng (impact factor) cao hơn các tập san Singapore hay Thái Lan, nên hệ quả là chỉ số RCI của Việt Nam khá cao Thứ hai, các nghiên cứu từ Việt Nam phần lớn dựa vào hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài (như chúng tôi vừa trình bày) và các tác giả này có

xu hướng công bố trên các tập san quốc tế có uy tín cao, và do đó chỉ số trích dẫn các bài báo

từ Việt Nam cũng có thể tăng cao Điều này có thể đúng vì những nghiên cứu về các bệnh nhiệt đới từ Việt Nam (và chỉ có thể thực hiện ở các nước như Việt Nam) rất được đồng nghiệp thế giới chú ý, và qua đó gia tăng hệ số ảnh hưởng trung bình của các công trình nghiên cứu từ Việt Nam

Tôi nghĩ cả hai giả thuyết trên đây đều có cơ sở Gần 80% các bài báo khoa học từ Việt Nam trong thời gian 2000-2001 là do hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài (Con số này, tỉ lệ hợp tác với nước ngoài, ở Anh và Úc là khoảng 25%) Nhìn chung, các công trình hợp tác với nước ngoài có chất lượng tương đối cao hơn các công trình do nội lực Có đến gần 1/3 các công trình do nội lực chưa bao giờ được trích dẫn trong vòng 5 năm, trong khi đó con số này

là 16% cho các công trình hợp tác Trong thực tế, có vài công trình nghiên cứu từ Việt Nam (chẳng hạn như công trình giải mã gene vi khuẩn SARS và nghiên cứu về dịch cúm gà) có ảnh hưởng cực kì lớn trên trường quốc tế, với số lần trích dẫn trong vòng 5 năm lên đến gần con số 1000! Nhưng chỉ có ngành y sinh học là có gây chút ảnh hưởng và tiếng vang, còn các ngành khác thì dưới trung bình Điều này cho thấy hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài có thể nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học

Gần 44% các công trình nghiên cứu về toán và kĩ thuật không/chưa được trích dẫn trong thời gian 10 năm Tuy nhiên, con số này có thể không phản ảnh chất lượng nghiên cứu ngành toán

và kĩ thuật thấp, mà có thể phản ảnh “văn hóa” hai ngành này với những nghiên cứu tập trung vào các lĩnh vực hẹp mà số người theo đuổi trên thế giới không nhiều như các ngành khác Ngoài ra, các công trình toán học thường trừu tượng và tiềm năng ứng dụng chỉ hiển nhiên sau vài mươi năm, cho nên số lần trích dẫn không thể cao như các ngành khoa học thực nghiệm

Ngày đăng: 04/12/2015, 08:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.  Phần trăm các bài báo khoa học 1996-2005 tính cho từng nước và phân chia theo lĩnh vực nghiên cứu - Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở việt nam
Bảng 1. Phần trăm các bài báo khoa học 1996-2005 tính cho từng nước và phân chia theo lĩnh vực nghiên cứu (Trang 3)
Bảng 2.  Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên - Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở việt nam
Bảng 2. Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên (Trang 6)
Bảng 3.  Số lần trích dẫn (hay không trích dẫn) của các bài báo - Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở việt nam
Bảng 3. Số lần trích dẫn (hay không trích dẫn) của các bài báo (Trang 7)
Bảng 4.   Chỉ số trích dẫn tương đối - Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở việt nam
Bảng 4. Chỉ số trích dẫn tương đối (Trang 8)
Bảng 5.  Năng suất khoa học (bài báo) tính trên dân số, tổng sản lượng quốc gia  (GDP), và mức độ đầu tư vào khoa học và công nghệ - Phân tích chất lượng nghiên cứu khoa học ở việt nam
Bảng 5. Năng suất khoa học (bài báo) tính trên dân số, tổng sản lượng quốc gia (GDP), và mức độ đầu tư vào khoa học và công nghệ (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w