1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá khái quát về công tác tiêu thụ của công ty xi măng Hải Phòng

75 587 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Khái Quát Về Công Tác Tiêu Thụ Của Công Ty Xi Măng Hải Phòng
Tác giả Bùi Xuân Hải
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 428 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triển vọng ở trước mặt, những nguy cơ thất bại cũng nhãn tiền nếu không giải quyết tốt, còn để tồn tại, khúc mắc ở một mặt nào đó. Chẳng hạn vấn đề “Sản xuất cho ai?”

Trang 1

Lời Mở Đầu 1 Chương 1- Giới thiệu chung về công ty Xi măng Hải Phòng 3 Chương 2- Thực trạng về tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty xi măng Hải Phòng 17 Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm ở công ty xi măng Hải Phòng 56 Kết luận 72 Danh mục tài liệu tham khảo 74

Trang 2

Lời Mở Đầu

Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, một nội dung vô cùngquan trọng là đổi mới cơ chế quản lý đang diễn ra ở các doanh nghiệp và cácthành phần kinh tế Cơ chế quản lý theo tiêu chuẩn kế hoạch hoá tập trung baocấp đã bị xoá bỏ, cơ chế thị trường từng bước được xác lập với xác lập củaNhà nước Nó đã mở ra triển vọng phát triển cho tất cả các doanh nghiệpthuộc mọi thành phần kinh tế, cho dù doanh nghiệp với thành phần sở hữunào cũng đều có quyền bình đẳng như nhau, đều có sự tồn tại và phát triển.Chung quy lại nếy biết giải quyết tốt 3 vấn đề kinh tế cơ bản:

- Sản xuất cái gì?

- Sản xuất cho ai?

- Sản xuất như thế nào?

Triển vọng ở trước mặt, những nguy cơ thất bại cũng nhãn tiền nếukhông giải quyết tốt, còn để tồn tại, khúc mắc ở một mặt nào đó Chẳng hạnvấn đề “Sản xuất cho ai?” nếu không sản xuất được, tức là cái mà doanhnghiệp sản xuất ra không phục vụ cho đối tượng tiêu dùng nào, không phùhợp với nhu cầu, không được thị trường chấp nhận Thì sớm hay muộndoanh nghiệp cũng đi đến chỗ lụi bại và phá sản

Công ty xi măng Hải Phòng mà một doanh nghiệp Nhà nước, cũng nhưcác doanh nghiệp khác khi chuyển sang cơ chế mới được dành nhiều quyềnchủ động song cũng phải đối phó với không ít những khó khăn mới, nếukhông xử lý tốt sẽ dẫn đến thất bại

Công ty được quền tự chủ, xác định lấy nhiệm vụ sản xuất kinh doanh làchính và tất nhiên là phải lo đủ vật tư, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất

và tổ chức tiêu thụ sản phẩm để thu hồi vốn, bù đắp cho chi phí, đạt hiệu quảcao có lãi Để không bị đào thải trong cạnh tranh, được nằm trong danh sách

Trang 3

các doanh nghiệp phát triển luôn là vấn đề trăn trở chra các lãnh đạo và cán

bộ công nhân viên công ty Với cố gắng tìm tòi lời giải đáp cho sự tồn tại vàphát triển dần được tháo gỡ, các sản phẩm của công ty sản xuất ra rồi, nhưnglàm thế nào để tiêu thụ được, đẩy mạnh tiêu thụ hơn nữa và sớm thu hồi đượcvốn, phcụ vụ mở rộng sản xuất ở chu kỳ sau luôn là vấn đề thời sự

Được đăng ký thực tập tại công ty xi măng Hải Phòng, qua khảo sát vàtìm hiểu thực tế, tôi thấy vấn đề tiêu thụ đang có rất nhiều vấn đề cần giảiquyết Vì vậy tôi đã quan tâm nghiên cứu vấn đề tiêu thụ sản phẩm của công

ty với đề tài: “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm ở công ty xi măng Hải Phòng”.

Trang 4

Chương 1- Giới thiệu chung về công ty Xi măng Hải Phòng.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty xi măng Hải Phòng.

Tên doanh nghiệp : Công ty Xi măng Hải Phòng

Tên giao dịch tiếng anh : Hai Phong Cenment Company

Địa chỉ : Tràng Kênh – Minh Đức – Thủy Nguyên

Mã số thuế : 020015521

Diện tích : 3.161.000 m2

Tổng cán bộ công nhân viên hiện nay là hơn 1200 người

Công ty Xi măng Hải Phòng là doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Tổngcông ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam Được thành lập theo Quyết định số353/BXD-TCLĐ, ngày 09/8/1993 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Tiền thân củaCông ty là nhà máy Xi măng Hải Phòng, được Đế quốc Pháp xây dựng ngày25/12/1899 trên vùng đất ngã ba Sông Cấm và Kênh đào Hạ Lý

Xi măng Hải Phòng được ra đời sớm nhất ở Việt Nam và Đông Dương,

từ lâu được coi là những trọng điểm kinh tế của đất nước và là cái “Nôi” củangành Công nghiệp Xi măng Việt Nam

Từ năm 1899 – 1925 : Đây là giai đoạn khởi công xây dựng và đi vàosản xuất, toàn bộ nhà máy có 04 lò đứng theo phương pháp khô ( nửa thủcông) năm 1925 phát triển thêm thành 25 lò đứng theo kiểu Vertical Candlotsản xuất Xi măng theo phương pháp khô, hoạt động nửa thủ công, nửa cơ khí.Công suất thiết kế có khả năng sản xuất 150.000 tấn/năm

Ngày 8/1/1930 dưới sự lãnh đạo và tổ chức của Chi bộ Đảng đã phátđộng cuộc đình công lớn thu hút gần 2000 công nhân tham gia đấu tranh vớigiới chủ, đòi tăng lương, giảm giờ làm Ngày 8/1/1930 đã trở thành ngàytruyền thống cách mạng của Công nhân xi măng Hải Phòng và nay trở thành

Trang 5

ngày truyền thống của công nhân viên chức ngành Công nghiệp Xi măng ViệtNam.

Trong thời kỳ giành chính quyền (1941-1945) cũng như trong 9 nămkháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) Đảng bộ Xi măng Hải Phòngluôn thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, sáng tạo để đóng góp sứcngười, sức của cho chiến tranh giải phóng dân tộc Sau Hiệp định Giơ - Ne -

Vơ về Đông Dương (1954), địch âm mưu phá hoại nhà máy, di chuyển máymóc thiết bị vào Nam, Cấp uỷ đảng đã lãnh đạo cán bộ đảng viên, công nhân

Xi măng Hải Phòng mưu trí, dũng cảm phân tán cất giấu máy móc Đến năm

1955 Chính quyền ta tiếp quản, hàng nghìn công nhân đã trở lại làm việc vàmang máy móc đã cất giấu về lắp đặt, sửa chữa khôi phục nhà máy

Từ năm 1925 - 1954 Công ty sản xuất theo phương pháp ướt lò hiện đại (

3 lò nung ) tổ chức theo giây truyền khép kín sản lượng đạt trên 305.000 tấn

xi măng đen / năm

- Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ, Xi măngHải Phòng là những mục tiêu trọng điểm của đế quốc Mỹ ném bom phá hoại,nhà máy đã bị Mỹ phá hoại năng nề, nhiều lò nung không hoạt động được.Nhưng Cán bộ đảng viên công nhân viên chức Công ty đã hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ vẻ vang của mình tiếp tục tiếp quản và khôi phục lại hoàn toàndây truyền sản xuất xi măng đen của thực dân Pháp để lại Được sựu giúp đỡ

và đầu tư của nhà nước Rumani, 2 dây truyền lò Nung số 6 và số 7 ra đời.tiếptục tiếp quản và khôi phục lại hoàn toàn dây truyền sản xuất xi măng đen củathực dân Pháp để lại Được sự giúp đỡ và đầu tư của nhà nước Rumani, 2 dâytruyền lò Nung số 6 và số 7 ra đời Với những khẩu hiệu “ Trái tim còn đập,

Lò còn quay”; “ Hãy sản xuất nhiều xi măng cho Tổ quốc” thực hiện kếhoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) và kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1966-1970) Công ty nghiên cứu sản xuất thành công xi măng mác P600 để dự xây

Trang 6

dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo Tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh, CầuThăng Long, Thuỷ điện Hoà Bình và một số công trình trọng điểm của đấtnước

- Sau năm 1975 đất nước thống nhất, cán bộ công nhân viên nhà máy đãnhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình là nhà máy duy nhất ở miền bắc lúc

đó nên phải gồng mình lên vượt qua mọi thử thách với khẩu hiệu “Hãy sảnxuất nhiều Xi măng cho Tổ quốc” để mau chóng hàn gắn vết thương chiếntranh Chính những năm tháng này nhà máy đã sản xuất được Xi măng P400,P500, P600 và nhiều chủng loại Xi măng khác đáp ứng kịp thời những nhucầu cấp bách đặt ra

Mười năm đổi mới cũng là thời kì thử thách khốc liệt nhất Trước đây ởViệt Nam chỉ có duy nhất một nhà máy Xi măng Hải Phòng đến nay đã cóthêm rất nhiều nhà máy mới như Xi măng Chinh phong, Thủ Đức, Bỉm Sơn,Thanh Hoá và hàng chục nhà máy địa phương khác, nhà máy Xi măng HảiPhòng lại đứng trước sự lựa chọn và thách thức mới Với truyền thống sẵn cónên toàn bộ nhà máy đã từng bước vượt lên chính mình, vượt lên trên hết khókhăn để tồn tại và phát triển như ngày nay Chất lượng Xi măng không ngừngđược nâng cao, công suất các thiết bị chính đến nay đã vượt xa công suất thiết

kế, sản lượng hàng năm đều vượt kế hoạch đề ra Chính vì vậy đời sống côngnhân viên được đảm bảo, trật tự, kỉ cương an ninh được giữ vững

- Năm 1993 thực hiện Quyết định số 353/BXD, ngày 9/8/1993 của Bộtrưởng Bộ Xây dựng, nhà máy xi măng Hải phòng được sát nhập với Công tykinh doanh xi măng thành Công ty xi măng Hải Phòng vừa sản xuất, vừa kinhdoanh đã đáp ứng được với cơ chế thị trường

- Thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệphoá- hiện đại hoá, Đảng bộ Xi măng Hải Phòng đã ý thức được vấn đề cầnphải đổi mới công nghệ sản xuất để cạnh tranh và tồn tại trong điều kiện kinh

Trang 7

tế thị trường Mặt khác vấn đề quy hoạch đô thị, vấn đề trả lại môi trườngtrong sạch cho nhân dân thành phố, càng đòi hỏi phải di dời chuyển đổi mộtnhà máy đã quá cũ và lạc hậu về công nghệ sản xuất.

- Năm 1997 thực hiện Quyết định số 1019/TTg, ngày 29/11/1997 củaThủ Tướng Chính phủ cho phép Công ty Xi măng Hải Phòng xây dựng nhàmáy mới, trên mảnh đất Tràng Kênh, bên cạnh dòng Sông Bạch Đằng lịch sử,với dây chuyền công nghệ của hãng F.l.S.Midth Vương quốc Đan Mạch, tiêntiến, hiện đại bậc nhất Việt Nam hiện nay, đạt trình độ tự động hoá cao, côngsuất 1,4 triệu tấn sản phẩm năm

- Năm 1998 nhà máy chính thức đổi tên thành Công ty Xi măng HảiPhòng

- Ngày 30/11/2005 mẻ clinker đầu tiên của nhà máy đã được ra lò đạtchất lượng tốt, đánh dấu một bước ngoặt mới, một sự phát triển mới của Ximăng Hải Phòng

- Năm 2006, năm đầu tiên sản xuất đồng bộ tại Nhà máy mới, Công ty ximăng Hải Phòng sản xuất và tiêu thụ vượt kế hoạch đề ra, không ngừng mởrộng thị phận, giữ chữ tín về Chất lượng, hiệu quả với khách hàng Đặc biệttrong quý 1/2007, Công ty đã tiêu thụ được hơn 210.000 tấn xi măng tăng gấphơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước - Đó là 1 tín hiệu vui

1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty Xi Măng Hải Phòng.

Trên cơ sở những nguyên tắc, quan điểm trên Công ty Xi măng HảiPhòng tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh theo mô hình phân xưởng, bộ máycủa Công ty được tổ chức sản xuất theo kiểu trực tuyến, chức năng nhiệm vụbao gồm : Ban lãnh đạo Công ty và các phòng ban trực thuộc sự quản lý sảnxuất và phục vụ sản xuất

Trang 8

Hiện tại công ty có 2 xí nghiệp trực thuộc là xí nghiệp Đá Tràng Kênh

và xí nghiệp vận tải và tiêu thụ sản phẩm 4 và có 5 phân xưởng sản xuấtchính Trong đó:

+ Xí nghiệp Đá Tràng kênh chịu trách nhiệm khai thác đá vôi, phục vụcho sản xuất xi măng

+ Xí nghiệp vận tải và tiêu thụ sản phẩm: chịu trách nhiệm vận chuyển

xi măng tới các địa bàn tiêu thụ

+ Các phân xưởng sản xuất chính tạo thành 2 hệ thống sản xuất xi măngđen và trắng (Phân xưởng máy đá nghiền nguyên liệu; xưởng lò nung; xưởngnghiền than mịn; nghiền đóng bao xi măng; phân xưởng xi măng trắng)

+ Ngoài ra còn có 3 đơn vị phụ trách đầu vào: phòng vật tư, tổng kho,đoàn vận tải thuỷ

Hiện tại công ty có 29 đầu mối đơn vị; Đảng uỷ Công ty; Ban Giám đốc;Công đoàn Công ty; Đoàn thanh niên; 2 Ban quản lý dự án (Ban quản lý nhàmáy Xi măng Hải Phòng mới và Khu đô thị Xi măng Hải Phòng; 12 Phòngban; 5 Xưởng sản xuất chính; 4 đơn vị hỗ trợ và 2 Trung tâm tiêu thụ sảnphẩm tại nội thành, thành phố Hải Phòng và tỉnh Thái Bình

Cụ thể Công ty gồm có phòng tham mưu, các phòng chức năng và cácđơn vị hỗ trợ sản xuất : Phòng kế hoạch; Phòng kỹ thuật cơ điện;Phòng kỹthuật sản xuất; Phòng xây dựng cơ bản; Phòng tiếp thị; Phòng KCS; Vănphòng hành chính quản trị; Phòng bảo vệ quân sự; Phòng an toàn vệ sinh môitrường; Phòng y tế; Cơ quan Đảng, đoàn thể; Ban giám đốc; Phân xưởngđộng học; Phân xưởng cơ khí; Phân xưởng bao giấy; Phân xưởng sửa chữacông trình; Phân xưởng lắp ráp; Phân xưởng sửa chữa và vận tải cơ giới

Trang 10

1.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Xi măng Hải Phòng.

1.2.1 Đặc điểm về cơ sở vật chất, kĩ thuật.

Với dây chuyền sản xuất xi măng hiện đại nhất Việt Nam hiện nay đượcxây dựng tại Mỏ đá Tràng Kênh - Thị trấn Minh Đức - Huyện Thuỷ Nguyên -Hải Phòng công suất 1,4 triệu tấn xi măng một năm theo phương pháp khô (lòquay) do hãng F.L.Smith (Đan Mạch) chế tạo, cung cấp Dây chuyền này córất nhiều ưu điểm như tiêu hao nhiệt năng và điện năng thấp Đặc biệt, trongquá trình sản xuất, năng suất thiết bị có khả năng vượt từ 10-15% so với côngsuất thiết kế Đây là thành công lớn trong quá trình đầu tư và lắp đặt thiết bị.Mặt khác, dự án xây dựng nhà máy xi măng Hải Phòng mới đã thực hiện tổngvốn đầu tư đạt 2.900 tỷ VND - tương đương 208,68 triệu USD, giảm 18 triệuUSD so với dự toán Không chỉ thế, việc xây dựng nhà máy đã vượt trướcthời hạn 1 tháng Nhờ vậy, hàng chục nghìn tấn clinker đã được sản xuất, đemlại giá trị hàng chục tỷ VND

Trang 11

Sơ đồ công nghệ sản xuất của công ty xi măng Hải Phòng.

Than cám

Mýa sấy than

Máy bừa

Máy nghiền than

Kho chứa xi măng

Máy bừa

Máy nghiền bùn

Giếng điều chế

Clinker

Thạch cao nhỏ

xi măng bột

Trang 12

Các thiết bị công nghệ chính

1 - Máy nghiền:

* Nghiền phụ gia: Năng suất 30 tấn/h

* Nghiền xi măng: Nghiền đứng: Năng suất 240 tấn/h

Nghiền bi: Năng suất 200 tấn/h

* Nghiền than: Năng suất 25 tấn/h

2 - Lò nung: Năng suất 3300 tấn/ ngày

1.2.2 Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu và tình hình vốn kinh doanh của Công

- Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu đối với bất kỳ một hoạtđộng sản xuất kinh doanh nào Qua bảng tốc độ tăng giảm nguồn vốn qua cácnăm dễ nhận thấy

Trang 13

Tốc độ tăng giảm nguồn vốn qua các năm :

Năm Tốc độ tăng(giảm)

Vốn

Tốc độ tăng (giảm)Vốn ngắn hạn

Tốc độ tăng (giảm)Vốn dài hạn

06/07 304.198.290 10,35 177.388.993 33,48 126.809.297 0,5307/08 -7.861.904 0,024 -44.507.949 6,29 36.646.046 1,45

- Vốn năm 2007 tăng 1 lượng khá lớn so với năm 2006 Cuối năm 2006tổng nguồn vốn là 2.938.043.684 nghìn đồng qua 1 năm hoạt động đến cuốinăm 2007 tổng nguồn vốn đó là 3.242.241.984 nghìn đồng tăng 304.198.290nghìn đồng tương ứng với tăng 10,35% Lượng vốn tăng mạnh như vậy là dotốc độ tăng của vốn ngắn hạn là rất cao tăng 33,48% Bởi công ty đã giảmđược lượng phải thu thu về tiền mặt để hoạt động sản xuất tiếp tục hiệu quả

Sự giảm nhẹ về tổng nguồn vốn năm 2008 so với năm 2007 ( giảm7.861.904 nghìn đồng tương đương 0,024%) là do nguồn vốn ngắn hạn giảmmạnh, giảm 6,29%

1.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.

Lực lượng cán bộ đảng viên lao động của Công ty hiện nay gồm: 1.171người trong đó :

- 03 người có trình độ trên Đại học

- 355 người trình độ Đại học

- 103 người trình độ cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp

Còn lại là lực lượng công nhân kỹ thuật có trình độ tay nghề được đàotạo bài bản chuyên sâu có đủ khả năng đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanhcủa Công ty.Vì vậy trong những năm gần đây công ty xi đã đạt được nhữngthành tích đáng khen ngợi Cụ thể như:

Kết quả SXKD Năm 2006

năm trước

Trang 14

Sản xuất clinker 800.000 tấn 1.001.411 tấn 125,18 225,53Tiêu thụ sản phẩm 800.000 tấn 1.079.240 tấn 134,91 239,81Tổng doanh thu 486 tỷ 635,630 tỷ 130,78 218,76

126,5tỷ

Tiết kiệm chi phí 90 tỷ

Thu nhập BQ 4.500.000đ 6.000.000đ 133.30 139,53 Công ty xi măng Hải Phòng là Công ty đầu tiên trong ngành xi măngViệt Nam sau hai năm đầu tư xây dựng đưa vào sản xuất phải trả vốn vay đầu

tư đã sản xuất có lãi 30,1 tỷ đồng Đây là thành tích đặc biệt xuất sắc của Cán

bộ đảng viên công nhân viên chức công ty.Năm 2007 là năm thứ 2 đưa nhàmáy xi măng Hải Phòng mới vào sản xuất trên công nghệ hiện đại vào bậcnhất Châu âu, người thợ xi măng Hải Phòng nhanh chóng làm chủ côngnghệ, thể hiện ở việc sản xuất kinh doanh không ngừng tăng trưởng Clinkherđạt hơn 1 triệu tấn , năng suất lò nung vượt gần 10% so với thiết kế, đưatổng sản lượng sản xuất của nhà máy vượt sản lượng thiết kế ,xi măng tiêuthụ tăng gấp hơn 2 lần so với năm trước Kết thúc năm 2007, Công ty ximăng Hải Phòng đã lập kỉ lục mới trong sản xuất kinh doanh với tổng doanhthu 932,197 tỷ đồng và nộp ngân sách 60,10 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần năm2006

Trang 15

Kết quả SXKD Năm 2008

năm trướcSản xuất clinker 1.100.000 tấn 1.121.000 tấn 102,00 105,75Tiêu thụ sản phẩm 1.570.000 tấn 1.610.000 tấn 102,54 117,68Tổng doanh thu 1.000 tỷ 1.194 tỷ 128,10 137,44

Tiết kiệm chi phí 124 tỷ

Thu nhập BQ 6.000.000đ 7.000.000đ 116,66 116,66Năm 2008, ngoài những khó khăn chung do diễn biến phức tạp, bấtthường về giá cả, lạm phát tăng cao, Công ty Xi măng Hải Phòng còn phải đốimặt với những khó khăn ảnh hưởng trực tiếp từ chính sách cắt giảm vốn đầu tưxây dựng cơ bản, giãn, hoãn tiến độ các công trình xây dựng cơ bản Mặt khác,

là năm thứ 3 đưa nhà máy mới đi vào hoạt động, Công ty tiếp tục phải cân đốinguồn tài chính để trả vốn và lãi vay đầu tư xây dựng nhà máy Song, với sự nỗlực cố gắng, Đảng bộ Công ty đã nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy dân chủ,kiên trì khắc phục khó khăn, chủ động, nhạy bén, năng động sáng tạo, lãnh đạoCông ty hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao sovới năm 2007

Trong tháng 1/2009, Cty đã sản xuất được 95.177 tấn clinker và tiêu thụgần 60.000 tấn xi măng Sáng mùng 2 tết, Cty đã tổ chức bán lô hàng xi măngđầu tiên năm Kỷ Sửu

Trang 16

- Tổng sản phẩm tiêu thụ năm 2008 đạt 1.610.000 tấn tăng 530.760 sovới 1.079.240 năm 2006 tăng 49,18%.

- Lợi nhuận năm 2008 đạt 104,13 tỷ đồng tăng 26.13 tỷ so với 78 tỷ năm

đó Công ty xi măng Hải Phòng đã tiến hành tiết kiệm triệt để vật tư và các chiphí quản lý, duy trì và hoàn thiện chế độ hạch toán kinh tế, giao quyền chủđộng quản lý vật tư, thiết bị và chất lượng sản phẩm cho cán bộ công nhânviên các đơn vị cơ sở, cân đối chặt chẽ tiền vốn vật tư, tổ chức tiêu sản nhanh,

có kết quả trong quá trình thu hồi vốn, khắc phục tình trạng ứ đọng vật tư, đẩynhanh công tác tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở hoàn thiện đội ngũ tiếp thị, đảmbảo nhanh gọn, hiệu quả để mặt hàng xi măng luôn đáp ứng kịp thời nhu cầucủa người tiêu dùng

Với những thành tích đạt được trong quá trình chiến đấu và xây dựng,cán bộ công nhân viên Xi măng Hải Phòng đã được Đảng, Nhà nước tặngthưởng 80 huân chương các loại, trong đó có:

- 01 huân chương độc lập hạng Nhất

- 01 huân chương chiến công hạng Nhất

- 01 huân chương chiến công hạng Nhì

- 02 huân chương lao động hạng Nhất

- 02 huân chương lao động hạng Nhì

Trang 17

- 10 huân chương lao động hạng Ba.

- Được tặng thưởng Danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dâncho Cán bộ công nhân viên Xi măng Hải Phòng

- 01 Tổ Anh hùng lao động - Tổ đá nhỏ Ca A với danh hiệu “ Con chimđầu đàn của phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc ”

- 03 cá nhân Anh hùng lao động

- 01 chiến sỹ thi đua toàn quốc

- Nhiều lần được tặng cờ thi đua và bằng khen của Thủ tướng chính phủ,

Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Xây dựng, Bộ LĐTB&XH, Bộ Công An, Vụ TổngLĐLĐ Việt Nam, UBND Thành phố Hải Phòng và Tổng công ty xi măngViệt Nam

- Đảng bộ, Công đoàn, Thanh niên Công ty nhiều năm được công nhậnđạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh, xuất sắc

Trang 18

Chương 2- Thực trạng về tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công

ty xi măng Hải Phòng 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ xi măng của Công ty.

2.1.1 Các nhân tố khách quan.

2.1.1.1 Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.

Mặc dù chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp được quyềnchủ động trong sản xuất kinh doanh, tự hạch toán lỗ lãi Nhưng Nhà nước lạiquản lý trên cơ sở đề ra đường lối chính sách và cơ chế quản lý kinh tế Đó làchính sách ưu tiên hoặc hạn chế xuất, nhập khẩu, chính sách thế và các quyđịnh về pháp luật Đây là việc tạo môi trường cho sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp

Đặc biệt với công ty xi măng Hải Phòng là công ty trực thuộc của Tổngcông ty công nghiệp xi măng Việt Nam Do Tổng công ty nắm giữ 100% vốnđiều lệoi nên sẽ chịu ảnh hưởng ít nhiều đến sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX: "Doanh nghiệp nhànước ( ) phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả,giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhànước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủyếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế"

Nhận thức rõ vị trí của một doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt ximăng Hải phòng cần phát triển sản xuất đúng hướng, luôn tăng sản lượng sảnphẩm sản xuất ra để đảm bảo nguồn cung đáp ứng đủ nhu cầu thị trườngthường xuyên tăng lên, trên cơ sở đó đã thực hiện tốt nhiệm vụ bình ổn thịtrường xi măng Nhà nước giao

Trang 19

- Tính ít co giãn của cầu theo giá làm cho việc giảm giá đồng loạt củacác công ty sẽ không kích cầu nhiều Điều này giải thích tại sao các công tyliên doanh sử dụng quảng cáo và khuyến mãi là công cụ chiến lược để tăng sốlượng bán, không thích việc giảm giá bán

- Vốn đầu tư cho nhà máy xi măng rất lớn, chí phí cố định chiếm trên65% trong tổng chi phí Các công ty tìm mọi cách sử dụng 100% công suấtnhà máy để đưa chi phí sản xuất ở mức thấp nhất Để làm được điều này, cáccông ty tìm mọi cách giành giật thị phần lẫn nhau Hơn nữa, do xi măng làloại sản phẩm có trọng lượng nặng so với giá trị, chi phí phân phối cao và phụthuộc theo vùng, do đó các công ty sẵn sàng bán chi phí biên ở những thịtrường xa

2.1.1.3 Khách hàng.

Khách hàng là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp, là người quyết định

số phận của sản phẩm trên thị trường Khái niệm khách hàng có thể là ngườitiêu dùng cá nhân, có thể là các cơ quan, đơn vị, các nhà sản xuất hoặc cácnhà phân phối Số lượng khách hàng là nhân tố ảnh hưởng cùng chiều với sốlượng tiêu thụ: nếu trên thị trường đông đảo khách hàng thì khối lượng sảnphẩm luân chuyển lớn và ngược lại

Trang 20

Khách hàng là người tiêu dùng cá nhân thường chịu tác động của nhiềunhân tố như văn hoá, chính trị, phong tục tập quán, tâm lý… tuy nhiên khi đềcập đến khái niệm cầu thì phải hội đủ hai yếu tố : có khả năng mua (thu nhập)

và sẵn sàng mua (mức độ thoả mãn nhu cầu) Vì vậy yếu tố quyết định ở đây

là thu nhập của dân cư và chất lượng sản phẩm

Khách hàng và sức ép từ phía khách hàng có tác động hết sức mạnh mẽtới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Khách hàng và nhu cầu củakhách hàng quyết định đến quy mô và cơ cấu nhu cầu thị trường của doanhnghiệp Đó là yếu tố quan trọng nhất khi tiến hành kế hoạch và hoạch địnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để nâng cao hiểu quả hoạt động tiêuthụ sản phẩm thì doanh nghiệp nên duy trì và phát triển các mối quan hệ vớikhách hàng cũ và lôi cuốn tạo niềm tin với khách hàng mới Nói cách khác làdoanh nghiệp phải luôn luôn giữ được “chữ tín” với khách hàng của mình.Vìvậy muốn làm được việc đó thì chẳng có cách nào khác là doanh nghiệp phảiquan tâm chăm sóc, phân tích sự biến động của nhu cầu tiêu thụ sản phẩm củakhách hàng và tìm cách đáp ứng những nhu cầu đó Doanh nghiệp phải luônđặt khách hàng vào vị trí trung tâm trong “bộ ba chiến lược”

Việc định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh hướng vào nhu cầu củakhách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp và tạo thói quen và

tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu dùng củakhách là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sảnphẩm Một nhân tố đặc biệt quan trọng đó là mức thu nhập và khả năng thanhtoán của khách hàng có tính quyết định đến lượng hàng hóa tiêu thụ củadoanh nghiệp Khi thu nhập tăng thì nhu cầu tăng và khi thu nhập giảm thìnhu cầu giảm, do vậy doanh nghiệp cần có những chính sách giá và sản phẩmhợp lý

Trang 21

Để có thể giảm thiểu sức ép của khách hàng, công ty cần phục vụ kháchhàng tốt hơn Muốn có căn cứ xác định để tạo ra ưu thế trong việc xây dựngchiến lược phục vụ khách hàng các doanh nghiệp cần phải lập hồ sơ theo dõi

và quản lý khách hàng, thiết lập hệ thống Marketing quan hệ bền vững

Những năm trước cũng như trong những năm gần đây, công ty xi măngHải Phòng luôn tạo được niềm tin đối với khách hàng “Xi măng Hải Phòng ”gắn liền với người dân thành phố Hải Phòng

2.1.1.4 Đối thủ cạnh tranh.

Cạnh tranh là yếu tố cơ bản quyết định sự sống còn của doanh nghiệptrong điều kiện hiện nay Các doanh nghiệp muốn chiến thắng trong cạnhtranh, nhất là trong việc mua bán sản phẩm thì cần có chiến lược cụ thể.Doanh nghiệp phải xét đến tiềm lực về vốn, con người và thế mạnh khác trênthị trường, không chỉ có sự cạnh tranh giữa người mua và người bán, ngườibán với nhau

Trong những năm trước đây, Tổng công ty xi măng Việt Nam giữ vị tríđộc quyền về việc điều phối các hoạt động trên thị trường xi măng Ngườitiêu dùng và các nhà thầu xây dựng phải năn nỉ chờ duyệt kế hoạch, bị ám ảnhbởi giá xi măng, đặc biệt là vào đầu mùa xây dựng.Năm 1995, khủng hoảngthiếu làm cho giá cả tăng vọt, các nhà thầu phải đồng loạt ngưng thi công Sựphát triển của ngành xây dựng đã làm cho cầu xi măng tăng vọt Tổng công ty

xi măng Việt Nam, được sự giao phó của nhà nước, đã huy động hết côngsuất nhà máy nhưng vẫn không đáp ứng đủ cầu Để giải quyết sự thiếu hụtnày, một mặt, chính phủ cho phép nhập khẩu xi măng và ấn định hạn ngạchnhập khẩu để bảo vệ nhà sản xuất trong nước; mặt khác, nhà nước ấn định giábán cao nhất ở năm vùng trọng điểm : Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP HồChí Minh, Cần Thơ để bảo vệ người tiêu dùng Điều này đã gây thiệt hại lớn

Trang 22

cho ngân sách nhà nước do việc nhập khẩu lậu, làm phát sinh việc mua bánhạn ngạch nhập khẩu và tạo ra những hoạt động phi sản xuất trong nước.Trong bối cảnh cầu vượt cung và nguồn vốn trong nước bị hạn chế cũngnhư vai trò quan trọng ngành công nghiệp xi măng Chính phủ đã khuyếnkhích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành công nhiệp này dưới hìnhthức liên doanh Năm 1994, các tập đoàn Chinfon Global, Lucksvaxi,Holderbank đã nhảy vào và lập những dự án liên doanh : Chinfon, Văn Xá,Sao Mai Sự bước vào hoạt đọâng của các công ty liên doanh năm 1997 làmthay đổi cơ cấu thị trường, từ một thị trường độc quyền chuyển sang thịtrường thiểu số độc quyền Nền tảng và cơ sở cho việc phân tích thị trường vàchiến lược doanh nghiệp ở thị trường thiểu số độc quyền này dựa trên ba yếu

tố chính: chi phí sản xuất, hàng rào ngăn cản các nhà đầu tư nhảy vào và sựphản ứng mang tính chiến lược giữa các công ty trong ngành xi măng này Sựchuyển sang cơ cấu thị trường thiểu số độc quyền làm tăng sức cạnh tranhtrong ngành qua việc giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sảnphẩm, cải thiện phong cách phục vụ của các công ty, mang lại cho người tiêudùng nhiều thuận lợi Hơn nữa, việc xuất hiện những liên doanh đã loại bỏđược việc chảy máu ngoại tệ do việc nhập khẩu, sử dụng nguồn tài nguyêntrong nước cũng như việc tận dụng nguồn lực từ nước ngoài.Vì vậy công tynên liên tục nghiên cứu thị trường để có thể đưa ra được những chiến lược cụthể để có thể tiêu thụ tốt kế hoạch đã đề ra

Còn trong điều kiện hiện nay có nhiều thuận lợi song cũng không ít khókhăn do những diễn biến phức tạp, bất thường của nền kinh tế thế giới tácđộng trực tiếp tới nền kinh tế của đất nước, một doanh nghiệp muốn tồn tạiluôn luôn phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp khác

Trang 23

2.1.2 Các nhân tố chủ quan.

Các nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc bên trong doanh nghiệphoặc nằm trong vòng kiểm soát của doanh nghiệp Các yếu tố này bao gồmnhững điểm mạnh, điểm yếu ảnh hưởng trực tiếp tới việc sản xuất và tiêu thụsản phẩm của doanh nghiệp Do vậy doanh nghiệp cần phải phân tích cặn kẽnhững ưu, nhược điểm của mình để tìm ra những đối sách hợp lý nhằm pháthuy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu của mình Hoạt động tiêu thụ sản phẩmthường chịu ảnh hưởng của nhiều khâu từ khâu nghiên cứu thị trường, khâu

kế hoạch hoá tiêu thụ, khâu dự trữ, khâu lựa chọn kênh tiêu thụ, khâu tổ chứccác hoạt động bán hàng và dịch vụ sau bán hàng như đã phân tích trong phầnnội dung, ngoài ra còn có những nhân tố sau đây:

2.1.2.1 Chất lượng sản phẩm.

Chất lượng sản phẩm không phải do người sản xuất quyết định mà chính

do người tiêu dùng kiểm nghiệm quyết định Chất lượng sản phẩm là hệ thốngnhững đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số cóthể so sánh được hoặc có thể đo được phù hợp với những điều kiện hiện tại vàthoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội

Chất lượng sản phẩm được hình thành khi thiết kế sản phẩm, trở thànhhiện thực trong quá trình chế tạo sản phẩm được khẳng định qua kiểm tra kỹthuật và mang ra sử dụng

Đảm bảo chất lượng sản phẩm là yếu tố rất cần thiết đảm bảo thực hiện

ba mục tiêu: Lợi nhuận – An toàn - Ưu thế của doanh nghiệp và đẩy nhanhquá trình tiêu thụ sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãmhoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trườngchất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh tranh vô cùng sắc bén có thể dễ dàng

đè bẹp các đối thủ cạnh tranh cùng ngành

Trang 24

Chất lượng sản phẩm tốt không những thu hút được khách hàng làm tăngkhối lượng tiêu thụ sản phảm mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp nângcao uy tín của mình, đồng thời có thể nâng cao giá bán sản phẩm một cáchhợp lý mà vẫn thu hút được khách hàng Ngược lại, chất lượng sản phẩm quáthấp thì việc tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, ngay cả khi bán giá rẻ vẫn không đượcngười tiêu dùng chấp nhận.

Việc bảo đảm chất lượng lâu dài với phương châm “Trước sau như một”

sẽ có ý nghĩa là lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp chính là uy tíncủa doanh nghiệp đối với khách hàng Chất lượng sản phẩm tốt sẽ như sợi dây

vô hình thắt chặt khách hàng với doanh nghiệp, tạo đà cho hoạt động tiêu thụdiễn ra thuận lợi

Những năm gần đây toàn bộ sản phẩm của tổng công ty xi măng HảiPhòng đều được hợp chuẩn, được sản xuất theo công nghệ hiện đại Tất cả cácdây chuyền sản xuất của các nhà máy đều được quản lý theo tiêu chuẩn chấtlượng quốc tế ISO 9000 và ISO 14000 Chất lượng sản phẩm của công ty rất

ổn định, thị trường các tỉnh phía Bắc chủ yếu tiêu thụ xi măng đen PCB 30.Nhiều năm nay chất lượng sản phẩm của công ty đã có uy tín rất cao trên thịtrường, các công trình trọng điểm của Nhà nước đều sử dụng sản phẩm củacông ty Về mặt chất lượng sản phẩm, công ty xi măng Hải Phòng đang cónhiều lợi thế cạnh tranh và công ty nhận thức rằng chất lượng sản phẩm là vấn

đề mấu chốt quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi loại sản phẩm hàng hoátrên thương trường, nên đã tập trung quản lý chặt chẽ quá trình sản xuất đểnâng cao uy tín của công ty đối với người tiêu dùng

Theo các chuyên gia ở lĩnh vực xây dựng thì sản phẩm xi măng HảiPhòng hiện có chất lượng tốt nhất trong các nhà máy sản xuất xi măng trong

cả nước.Sản phẩm xi măng Pooc lăng hỗn hợp PCB30, PCB40 và các loại ximăng đặc biệt khác mang thương hiệu Con Rồng do nhà máy xi măng Hải

Trang 25

Phòng sản xuất đã trở thành một trong những biểu tượng, thành niềm tự hàocủa thành phố.

2.1.2.2 Giá cả sản phẩm.

Giá cả vẫn được coi là một nhân tố cạnh tranh rất lợi hại, đặc biệt trongthị trường nhu cầu của dân cư thấp Khá nhiều khách hàng khi mua hàng điềuđầu tiên họ quan tâm đó là giá cả

Đặc biệt việc tiêu thụ sản phẩm chịu tác động rất lớn của nhân tố giá cảsản phẩm về nguyên tắc, giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa

và giá cả xoay quanh giá trị hàng hóa, theo cơ chế thị trường giá cả được hìnhthành tự phát trên thị trường theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán

Do đó, doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng giá cả như một công cụ hết sứcsắc bén để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm Nếu doanh nghiệp đưa ra một mứcgiá phù hợp với chất lượng sản phẩm được đa số người tiêu dùng chấp nhận,doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình Và ngược lại, nếu địnhgiá quá cao, người tiêu dùng không chấp nhận thì doanh nghiệp chỉ có thểngồi nhìn sản phẩm chất đống trong kho mà không tiêu thụ được Mặt khác,nếu doanh nghiệp quản lý kinh doanh tốt làm cho giá thành sản phẩm thấpdoanh nghiệp có thể bán hàng với giá thấp hơn so với mặt bằng giá của cácsản phẩm cùng loại trên thị trường Đây chính là một lợi thế trong cạnh tranhgiúp cho doanh nghiệp có thể thu hút được cả khách hàng của các đối thủcạnh tranh Từ đó dẫn đến thành công của doanh nghiệp Đối với thị trường

có sức mua có hạn, trình độ tiêu thụ ở mức độ thấp thì giá cả sẽ có ý nghĩađặc biệt quan trọng trong tiêu thụ sản phẩm Với mức giá chỉ thấp hơn mộtchút là đã có thể tạo ra một sức tiêu thụ lớn nhưng với mức giá chỉ nhỉnh hơn

đã có thể làm sức tiêu thụ giảm đi rất nhiều

Hiện nay trên thị trường, ngoài cạnh tranh bằng giá cả, còn có các loạihình cạnh tranh khác tiên tiến hơn như cạnh tranh bằng chất lượng, bằng dịch

Trang 26

vụ nhưng giá cả vẫn có một vai trò khá quan trọng Hàng hoá của doanhnghiệp sẽ không tiêu thụ được nếu giá cả hàng hoá không được người tiêudùng chấp nhận Người tiêu dùng luôn quan tâm đến giá cả và coi đó như mộtchỉ dẫn về chất lượng hàng hoá và các chỉ tiêu khác của hàng hoá, do vậy việcxác định một chính sách giá đúng có vai trò sống còn đối với bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào Đối với thị trường Việt Nam hiện nay, thu nhập của dân cưchưa cao, yêu cầu về chất lượng và chủng loại chưa cao nên cạnh tranh bằngchiến lược giá vẫn được coi là vũ khí lợi hại.

Khi định giá doanh nghiệp cần ý thức chính sách giá cả của mình phụthuộc vào hình thái thị trường Theo các nhà kinh doanh có bốn kiểu hình tháithị trường đó là (cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, cạnh tranh độcquyền tập đoàn, độc quyền tuyệt đối), và mỗi kiểu có những vấn đề riêng vềlĩnh vực hình thành giá cả

Quy trình định giá tổng thể:

- Chọn mục tiêu định giá

- Phân định cầu thị trường

- Lượng giá chi phí

- Phân tích giá đối thủ cạnh tranh

- Chọn kỹ thuật định giá thích hợp

- Chọn giá cuối cùng của mặt hàng

Cũng như các công ty xi măng khác trực thuộc tổng công ty xi măngViệt Nam, công ty xi măng Hải Phòng đang thực hiện nhiệm vụ do Nhà nướcgiao cho là "bình ổn" giá cả xi măng trên thị trường cả nước Khoảng 10 nămtrở lại đây hầu hết giá cả các yếu tố đầu vào của sản xuất xi măng đều đã tăng

từ 40% đến 80% như giá điện, than, xăng dầu các loại chỉ số giá hàng tiêudùng hàng năm đều tăng từ 8% đến 14% Trong khi đó Nhà nước vẫn khôngcho phép nâng giá xi măng, nghĩa là 10 năm nay giá bán xi măng của công ty

Trang 27

vẫn cố định Thực chất giá bán xi măng của công ty đến nay đã giảm tới 30%

so với 10 năm trước đây

Trong khi giá xi măng của các nước trong khu vực đều ở mức 60 đến 62USD một tấn xi măng Như vậy, nếu xét về khả năng cạnh tranh bằng giá cảthì giá bán xi măng của công ty đang có lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, thực tếviệc kìm hãm giá cả lâu nay của Nhà nước đã ảnh hưởng rất lớn đến lợinhuận, đến khả năng tích lũy tái đầu tư của công ty, không khuyến khích đầu

tư từ bên ngoài, không có động cơ kích thích người lao động

2.1.2.3 Nguồn lực của doanh nghiệp.

Thành công hay thất bại của hoạt động tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc khálớn vào yếu tố con người (nguồn còn gọi là nguồn nhân lực) và tài chính vậtchất của chính doanh nghiệp Nghiệp vụ, kỹ năng, tay nghề, tư tưởng của độingũ cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp tốt thì doanh nghiệp mới cóthể bền vững, mới có đủ sức cạnh tranh lớn Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư,trang thiết bị máy móc, nhà xưởng của doanh nghiệp cũng tạo đà cho doanhnghiệp đẩy nhanh tiến độ tiêu thụ sản phẩm, phô trương thanh thế và nâng cao

uy tín cho doanh nghiệp

Khi nghiên cứu thị trường, biết được nhu cầu của thị trường thì việccung cấp sản phẩm phụ thuộc vào khả năng, điều kiện sản xuất kinh doanhcủa từng doanh nghiệp

Điều đó phụ thuộc vào những yếu tố chủ yếu sau:

- Trình độ máy móc, trình độ công nghệ

- Vốn, tỷ trọng vốn

- Trình độ tay nghể của công nhân

- Trình độ cán bộ quản lý

- Khả năng mở rộng và đa dạng hoá mặt hàng

- Vị trí, địa điểm của doanh nghiệp

Trang 28

- Tiềm lực, uy tín của loại sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp trên thịtrường.

- Điều kiện thị trường đầu vào của doanh nghiệp

- Điều kiện liên lạc của doanh nghiệp với bên ngoài

Từ đó doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm để đáp ứng những loại thịtrường nào? Với khối lượng bao nhiêu?

Với tình hình hiện có như: Trình độ công nghệ cao, máy móc hiện đại,công nhân lành nghề và uy tín doanh nghiệp đang dần được khẳng định Ximăng Hải Phòng lên tiếp tục mở rộng thị trường để có thể đạt được những kếtquả tốt hơn

Song song với đó doanh nghiệp cần tiếp tục nâng cao năng lực cạnhtranh của chính bản thân doanh nghiệp như:

- Đầu tư phát triển kỹ thuật sản xuất theo hướng quy mô lớn, tự động hóacao.Với mục tiêu phát triển ngành công nghiệp Xi măng đến năm 2010 vàđịnh hướng đến năm 2020

- Xây dựng đồng bộ lực lượng lao động có đủ trình độ quản lý, vận hànhcác cơ sở sản xuất hiện đại, hoạt động trong nền kinh tế thị trường hội nhập:Thực tế những năm qua cho thấy, trình độ kỹ thuật công nghệ của nhiều dâychuyền sản xuất xi măng của công ty xi măng Hải Phòng đã đạt trình độ tiêntiến của thế giới, nhưng trình độ quản lý nói chung chưa theo kịp; sự hiểu biết

về quy luật hoạt động của kinh tế thị trường, sự hiểu biết về luật pháp kinhdoanh quốc tế ở cán bộ chưa cao, chưa theo kịp trình độ của khu vực và thếgiới Chính vì thế công ty cần phải tổ chức đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũcán bộ đang có, tuyển dụng mới những cán bộ có trình độ cao để xây dựngmột đội ngũ cán bộ đủ mạnh theo kịp trình độ thế giới, quản lý tốt những cơ

sở sản xuất hiện đại theo tiêu trí của nền kinh tế trí thức

Trang 29

Cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật sản xuất hiện đại, cần phải có đội ngũcông nhân kỹ thuật lành nghề ở trình độ cao mới có khả năng vận hành, khaithác hết năng lực của thiết bị công nghệ, tận dụng tối đa công suất của maymóc thiết bị để nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượngcao, giảm thấp chi phí sản xuất Vì vậy, xi măng Hải Phòng cần dùng nhiềuphương thức đào tạo để nhanh chóng có ngay đội ngũ công nhân kỹ thuạt đápứng nhu cầu phát triển chung của toàn ngành công nghiệp Xi măng Việt nam.

2.1.2.4 Chính sách quảng cáo.

Quảng cáo là phương pháp dùng ngôn ngữ và hình ảnh tác động vàokhách hàng nhằm giới thiệu sản phẩm (dịch vụ) của doanh nghiệp cho kháchhàng, gây sự chú ý, tạo sự say mê, thuyết phục khách hàng mua hàng củadoanh nghiệp

- Mục tiêu của quảng cáo

+ Tăng số lượng tiêu thụ trên thị trường truyền thống

+ Mở rộng thêm thị trường mới

+ Giới thiệu sản phẩm mới của doanh nghiệp

+ Xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệu hàng hoá và uy tíncủa doanh nghiệp

+ Thu hút, lôi cuốn khách hàng qua các biện pháp giới thiệu, truyền tinthích hợp

- Đối tượng quảng cáo: là doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp.Nội dung quảng cáo cần lưu ý 4 điểm:

+ Sản phẩm của doanh nghiệp đang bán hoặc sau này sẽ bán ra trên thịtrường tương tự như những hàng hoá nổi tiếng mà khách hàng quen dùng.+ Sản phẩm của doanh nghiệp có ưu thế gì đặc biệt so với các loại hànghoá khác

+ Dung lượng quảng cáo cần phải cao

Trang 30

+ Thông tin phải đáng tin cậy.

- Phương thức quảng cáo:

+ Phải có độ biểu cảm cao và phù hợp với nội dung quảng cáo

+ Ngôn ngữ, hình ảnh phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với đa số quầnchúng, đặc biệt không dùng từ chuyên môn quá sâu

- Phương pháp quảng cáo:

+ Quảng cáo phải mang tính độc đáo và hấp dẫn

+ Quảng cáo phải ngắn gọn, dễ hiểu

- Công cụ và phương tiện quảng cáo:

+ Quảng cáo thông qua các phương tiện in ấn, sách báo tạp chí

+ Quảng cáo thông qua phương tiện nghe nhìn

+ Quảng cáo thông qua bao bì, nhãn hiệu sản phẩm

+ Quảng cáo thông qua các talô áp phích

+ Quảng cáo thông qua các nhân vật nổi tiếng

+ Quảng cáo thông qua các hoạt động văn hoá, thể thao và các hoạt độngquần chúng

- Về ngân sách quảng cáo: Cầm căn cứ vào mục tiêu của quảng cáo đểxác định ngân sách

- Những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách quảng cáo

+ Thứ nhất, mục tiêu cụ thể phải đạt của kỳ kế hoạch

+ Thứ hai, tác dụng của quảng cáo

+ Thứ ba, thời gian và không gian

Nội dung chủ yếu của kế hoạch quảng cáo đó là: Xác định các hình thứcquảng cáo cụ thể, quy mô mỗi hình thức quảng cáo trong đó xác định rõ thờigian, địa điểm cụ thể và xác định các phương tiện sử dụng cũng như xác địnhngân quỹ quảng cáo tối đạt ưu cho kỳ kế hoạch

Trang 31

2.1.2.5 Chính sách phân phối.

Phân phối là một công cụ then chốt trong Marketing-mix nó bao gồmnhững hoạt động khác nhau mà Công ty tiến nhằm đưa sản phẩm đến nhữngnơi để khách hàng mục tiêu có thể tiếp cận và mua chúng

Hầu hết những người sản xuất đều cung cấp sản phẩm của mình cho thịtrường thông qua những người trung gian Do vậy nhà sản xuất sẽ phải quan

hệ, liên kết với một số tổ chức, lực lượng bên ngoài nhằm đạt được mục tiêuphân phối của mình

Những quyết định quan trọng nhất trong chính sách phân phối là cácquyết định về kênh phân phối Kênh phân phối được tạo thành như một dòngchảy có hệ thống được đặt trưng bởi số cấp của kênh, bao gồm người sảnxuất, các trung gian cuối cùng là người tiêu dùng Kênh phân phối thực hiệncông việc chuyển hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng, vượtnhững ngăn cách về thời gian, không gian và quyền sở hữu xen giữa hàng hoá

và dịch vụ với người sử dụng Các quyết định cơ bản về kênh gồm:

- Quyết định về thiết kế kênh

- Quyết định về quản lý kênh

Kênh phân phối là cốt lõi của chính sách phân phối Các kênh phân phốilàm nên sự khác nhau giữa các công ty với nhau, nó trở thành một công cụcạnh tranh có hiệu qủa

2.1.2.6 Tổ chức bán hàng, hoạt động của những người bán và đại lý.

Công tác tổ chức bán hàng trong mọi doanh nghiệp là một nhân tố quantrọng thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cao hay thấp.Công tác tổ chức bán hàng gồm nhiều mặt:

- Hình thức bán hàng: Nếu doanh nghiệp kết hợp tổng hợp các hình thức:Bán buôn, bán lẻ tại kho, tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm, thông qua các đại

Trang 32

lý sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn những doanh nghiệp chỉ áp dụngmột hình thức bán hàng nào đó

- Tổ chức thanh toán: Khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái hơn và có nhiềuphương án lựa chọn hơn nếu doanh nghiệp áp dụng nhiều phương thức thanhtoán khác nhau như: Thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán ngay, thanh toánchậm khi đó khách hàng có thể lựa chọn cho mình phương thức thanh toántiện lợi nhất, hiệu quả nhất Để thu hút được đông đảo khách hàng thì doanhnghiệp nên áp dụng nhiều hình thức thanh toán đem lại sự thuận tiện chokhách hàng, làm đòn bẩy để kích thích tiêu thụ sản phẩm

- Dịch vụ kèm theo sau khi bán gồm: Dịch vụ vận chuyển, bảo quản, lắpráp, hiệu chỉnh sản phẩm và có bảo hành, sửa chữa Nếu doanh nghiệp làmtốt công tác này sẽ làm cho khách hàng cảm thấy thuận lợi, yên tâm, thoả máihơn khi sử dụng sản phẩm có uy tín của doanh nghiệp Nhờ vậy mà khốilượng sản phẩm tiêu thụ sẽ tăng lên

Hoạt động của những người bán: Là những hoạt động quyết định, ảnhhưởng tới sự tăng trưởng về mức tiêu thụ của doanh nghiệp Bao gồm cácbiện pháp nghiệp vụ điều hành quá trình kinh doanh, các hoạt động quản trịnhằm đạt được hiệu quả tiêu thụ cao nhất Các hoạt động tổ chức và quản lýtiêu thụ là quan trọng nhất, vì vậy các cán bộ quản trị phải hướng dẫn nhânviên cấp dưới thực hiện các hoạt động đó sao cho hài hoà giữa các mục tiêuvới nhau

Người lãnh đạo phải có chế độ khen thưởng phù hợp để khơi dậy sựnhiệt tình của nhân viên, phải thường xuyên đào tạo họ, nâng cao trình độ cho

họ theo kịp những thay đổi về hàng hoá, kĩ thuật Nhân viên cần được quántriệt mục tiêu của doanh nghiệp để khi thực hiện mới ăn khớp được với ý đồcủa nhà quản trị

Trang 33

Nhà quản trị sẽ quyết định tới lượng hàng hoá cần tiêu thụ bằng việc xâydựng kế hoạch mua hàng, dự trữ hàng hoá sao cho đảm bảo cho việc tiêu thụdiễn ra được thường xuyên liên tục Nhà quản trị giỏi là phải biết dự đoán tốtnhững nhu cầu của thị trường, của người tiêu dùng để từ đó có những quyếtđịnh đúng đắn về mặt hàng kinh doanh, về tiêu thụ.

2.2 Thực trạng công tác tiêu thụ của công ty xi măng Hải Phòng.

2.2.1 Kết quả tiêu thụ của công ty.

2.2.1.1 Mặt hàng tiêu thụ chủ yếu của công ty.

Về mặt hàng kinh doanh của công ty xi măng Hải Phòng đó là: Sản xuất,kinh doanh các chủng loại Xi măng và Clinker:

- Xi măng thông dụng: PC30, PC40,PC50

Xi măng Poóclăng là chất kết dính thủy, được chế tạo bằng cách nghiềnmịn clanhke xi măng poóclăng với một lượng thạch cao cần thiết Trong quátrình nghiền có thể sử dụng phụ gia công nghệ nhưng không quá 1% so vớikhối lượng clanhke

- Xi măng Portland hỗn hợp: PCB30

Với tính năng, công dụng sản phẩm: Vật liệu kết dính sử dụng trong xâydựng, với những đặc tính ưu việt:

.Có đặc tính hóa lý ổn định

.Tăng thêm độ dẻo cho vữa và bê tông

.Có cường độ phát triển nhanh, rút ngắn thời gian thi công

.Tăng cường độ bền vững theo thời gian

.Tăng cường tính chống thấm, chống xâm thực của môi trường

- Xi măng đặc biệt: Xi măng Portland bền Sulfat, Xi măng Portland ít toảnhiệt

Trang 34

2.2.1.2 Kết quả tiêu thụ của công ty xi măng Hải Phòng trong 3 năm 2006,

Trang 35

Kết quả SXKD Năm 2007

năm trướcSản xuất clinker 850.000 tấn 1.060.000 tấn 124,70 105,89Tiêu thụ sản phẩm 1.000.000 tấn 1.366.441 tấn 136,64 126,61Kết quả SXKD Năm 2008

Chỉ tiêu KH Thực hiện % so KH % so với

năm trướcSản xuất clinker 1.100.000 tấn 1.121.000 tấn 102,00 105,75Tiêu thụ sản phẩm 1.570.000 tấn 1.610.000 tấn 102,54 117,68Phân tích:

- Có thể nhận thấy rõ sự tăng mạnh tiêu thụ của công ty xi măng HảiPhòng trong năm 2006

Sản xuất Clinker trong năm 2006 đạt 1.001.411 tấn tăng 557.385 tấn đạt225.53% so với năm 2005

Cũng như trong sản xuất Clinker tiêu thụ sản phẩm năm 2006 là1.079.240 tấn tăng 629.200 tấn đạt gần gấp 2,4 lần so với năm 2005

Sự tăng mạnh trong năm 2006 có thể dễ giải thích đó là bởi năm 2006 lànăm nhà máy xi măng Hải Phòng mới đi vào hoạt động với tổng mức đầu tư3.000 tỷ đồng Đây là công trình được Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu

tư nhằm giải quyết ô nhiễm môi trường cho Thành phố Hải Phòng do nhàmáy xi măng cũ gây ra và giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 36

Trong đó thị trường tiêu thụ xi măng năm 2006 như sau:

(Đơn vị: Nghìntấn)

2005

KH 2006

Ước TT 2006

- Mặc dù sản xuất Clinker chỉ tăng nhẹ trong năm 2007 so với năm2006.Nhưng tiêu thụ sản phẩm trong năm 2007 vẫn tăng mạnh so với năm2006.Điều đó chứng tỏ sản phẩm mới của doanh nghiệp đã được thị trườngtiếp nhận một cách mạnh mẽ

Năm 2007 sản xuất Clinker đạt 1.060.000 tấn tăng 58.589 tấn so với năm

2006 đạt 105,89 % so với năm trước

Tiêu thụ sản phẩm năm 2007 đạt 1.366.441 tấn tăng 287.201 tấn so vớinăm 2006 tăng 26.61%

Đạt được kết quả đó trong năm 2007 đó là do công ty đã không ngừng

mở rộng thị phận, giữ chữ tín về chất lượng, hiệu quả với khách hàng Đặcbiệt trong quý 1/2007, công ty đã tiêu thụ được hơn 210.000 tấn xi măng tănggấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2006

Trang 37

Nếu như trước đây, 1 ngày công ty xi măng Hải Phòng tiêu thụ khoảng1.000 - 1.500 tấn sản phẩm thì hiện nay, bình quân 1 ngày trong năm 2007công ty đã tiêu thụ tới 4.000 tấn sản phẩm, cao điểm có ngày tiêu thụ tới gần6.000 tấn sản phẩm xi măng Sản xuất đến đâu tiêu thụ ngay đến đó Theo cácchuyên gia ở lĩnh vực xây dựng thì sản phẩm xi măng Hải Phòng hiện có chấtlượng tốt nhất trong các nhà máy sản xuất xi măng trong cả nước Không chỉsản xuất đủ clinker phục vụ cho công đoạn nghiền xi măng, trong quý 1 nàyCông ty xi măng Hải Phòng còn cung cấp bán hơn 30.000 tấn clinker chocông ty xi măng Chinpong Hải Phòng.

Công ty đã chiếm gần 60% thị phần xi măng ở các thị trường HảiPhòng, Thái Bình, Quảng Ninh và một số tỉnh biên giới phía Bắc

Để đạt được mức tăng trưởng cao như vậy trong năm 2007, công ty đãthực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, như: quản lý thiết bị và công nghệ, chínhsách chất lượng sản phẩm, cơ chế khoán sản phẩm cho các phân xưởng vàchiến lược phát triển thị trường Năm thứ 2 đưa dây chuyền sản xuất xi măngtiên tiến công suất 1,4 triệu tấn năm vào hoạt động, Công ty đã tổ chứcthường xuyên các lớp bồi dưỡng để nâng cao trình độ tay nghề cho công nhânnắm vững qui trình, qui phạm kĩ thuật và công nghệ vận hành an toàn và hiệuquả thiết bị Nhờ làm chủ công nghệ mới nên Công ty xi măng Hải Phòng đãđưa hệ số khai thác thiết bị sản xuất lên gần 90% Để tăng sức cạnh tranh,Công ty đã thực hiện nhiều biện pháp tiết kiệm chi phí đầu vào thông qua cơchế khoán định mức tiêu hao vật tư, điện năng cho các phân xưởng Theo đócác loại vật tư như than giảm 10%, điện giảm 5%, phụ gia giảm 5%, các loạichi phí dịch vụ và văn phòng giảm 10% Cùng với các biện pháp tiết kiệm chiphí sản xuất, Công ty đã kiện toàn lại hệ thống phân phối trong các tỉnh, thành

cả nước theo hướng chuyên nghiệp Hiện Công ty đã có gần 20 nhà phân phốilớn tại các địa bàn trọng điểm và khu vực thường xuyên được giám sát, kiểm

Ngày đăng: 23/04/2013, 22:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Quản trị kinh doanh: Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
2. Giáo Trình Quản trị sản xuất và tác nghiệp: Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
3. Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
4. Giáo trình Marketing cơ bản: Trường Đại học Kinh tế quốc dân Khác
5. Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, Báo cáo tổng kết năm 2008 Khác
6. Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam, Tình hình 2 tháng năm 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ công nghệ sản xuất của công ty xi măng Hải Phòng. - Đánh giá khái quát về công tác tiêu thụ của công ty xi măng Hải Phòng
Sơ đồ c ông nghệ sản xuất của công ty xi măng Hải Phòng (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w