1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội

60 396 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Huy Đức
Trường học NHNo&PTNT Chi Nhánh Tây Hà Nội
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 406,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đưa ra khái niệm về SMEs.Hiện nay trên thế giới có rất nhiều loại hình Doanh nghiệp đa dạng và phong phú trong nền kinh tế, nếu chúng ta căn cứ vào qui mô hoạt động của các Doanh nghiệp thì các loại hình Doanh nghiệp được chia ra làm 2 loại

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tếcủa đất nước là sự bùng nổ về số lượng các doanh nghiệp mà chủyếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Theosố liệu của Bộ Kếhoạch và Đầu tư và Tổng cục Thống kê, kể từ khi Luật DoanhNghiệp của nước ta được ban hành và đưa vào thực hiện, từ năm

2000 đến cuối năm 2003 đã có hơn 72.000 doanh nghiệp đượcthành lập, và chỉ tính riêng năm 2008, số lượng doanh nghiệpđăng ký mới (chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ) đã là 52.162doanh nghiệp, vượt mức tổng số doanh nghiệp trước giai đoạn

2000 Với sự đa dạng về thành phần sở hữu, doanh nghiệp vừa vànhỏ ở Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tếquốc dân

Tuy nhiên, các DNVVN ở nước ta còn có nhiều hạn chế,đặc biệt là qui mô quá nhỏ bé so với quy mô doanh nghiệp thôngthường của các nước phát triển và có nền kinh tế mới nổi, mànguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn.Điều này gây khó khăn lớncho các DNVVN nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước

Như chúng ta đã biết, vốn là một trong 4 yếu tố đầu vàoquan trọng của quá trình sản xuất Nhưng hiện nay, việc cácDNVVN tiếp cận các nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn ngân hànggặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi còn phải dùng tới nguồn tíndụng đen với lãi suất cắt cổ

Vì vậy trong quá trình thực tập tại NHNo&PTNT chi nhánh

Tây Hà Nội,em đã chọn đề tài nghiên cứu “Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh

Trang 2

tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội” Với đề tài

nghiên cứu này, em hi vọng được đóng góp một phần nhỏ bétrong việc giải quyết vấn đề kinh tế bức xúc nhất hiện nay đó là

hỗ trợ vốn cho các DNVVN để phát triển kinh tế đất nước

Tuy đã có nhiều cố gắng song bài viết không thể tránh khỏinhững thiếu sót.Em rất mong được sự chỉ bảo của thầy giáohướng dẫn thực tập và các bạn để đề tài nghiên cứu của em đượchoàn thiện hơn

Em xin cảm ơn thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Lê Huy Đức vàcác anh chị tại phòng Kế hoạch Tổng hợp của NHNo&PTNT chinhánh Tây Hà Nội đã có nhiều cố gắng giúp đỡ em hoàn thànhbài viết này

Trang 3

CHƯƠNG I

SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG HỖ TRỢ VỐN

CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1 Khái niệm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)

Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đưa ra khái niệm về SMEs.Hiệnnay trên thế giới có rất nhiều loại hình Doanh nghiệp đa dạng và phong phútrong nền kinh tế, nếu chúng ta căn cứ vào qui mô hoạt động của các Doanhnghiệp thì các loại hình Doanh nghiệp được chia ra làm 2 loại: doanh nghiệplớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ Các tiêu chuẩn xác định qui mô Doanhnghiệp nhìn chung ở các quốc gia đó là: số lượng lao động, tổng nguồn vốn(tổng tài sản) và doanh thu trung bình hàn năm Nhưng nhìn chung có thểhiểu SMEs theo nghĩa thông thường là những cơ sở sản xuất kinh doanhtương đối nhỏ, qui mô không lớn lắm, có tư cách pháp lý, chuyên môn hóathấp, qui mô vốn thấp, số lượng lao động và doanh thu hàng năm thấp.Tuynhiên khó có thể đưa ra khái niệm chuẩn về SMEs cụ thể bởi vì qui mô lớnhay nhỏ ở mỗi quốc gia lại phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế ở mỗiquốc gia đó, hơn nữa cách xác định SMEs trong từng ngành nghề kinhdoanh là khác nhau, ví dụ như Doanh Nghiệp công nghiệp có thể coi là nhỏtrong khi một Doanh Nghiệp thương mại cùng cỡ là Doanh nghiệp vừa vàlớn bởi vì Doanh nghiệp Công nghiệp cần nhiều lao động hơn

Trên thế giới, khái niệm SMEs đã được biết đến từ những năm đầucủa thế kỷ XX, và được quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ

Trang 4

XX Và theo định nghĩa của World Bank, các Doanh nghiệp vừa và nhỏđược phân chia theo qui mô như bảng sau:

Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Loại hình DN Số lao động Doanh thu

hàng năm (USD)

Tổng tài sản (USD)

DN siêu nhỏ 1 – 9 < 0,1 triệu < 0,1 triệu

DN nhỏ 10 – 49 < 3 triệu < 3 triệu

DN vừa 50 – 300 < 15 triệu < 15 triệu

(Nguồn: http://www.worldbank.org )

Đây là cách phân loại chung được World Bank đưa ra sau khi thu thập

số liệu về SMEs ở hầu hết các quốc gia trên Thế giới.Còn cách phân loạiSMEs ở các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) như sau:

Bảng 1.2 Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hội đồng EU

Loại hình DN Số lao động Doanh thu

hàng năm (EURO)

Tổng tài sản (EURO)

DN siêu nhỏ 1 – 9 <2 triệu <2 triệu

Trang 5

xác định SMEs là những Doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và sốlao động bình quân dưới 200 người Việc áp dụng một trong 2 tiêu chí hay

cả 2 tiêu chí lại tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng vùng, từng địaphương, từng ngành, từng lĩnh vực Đây có thể là văn bản đầu tiên đưa ratiêu chí xác định SMEs, là cơ sở để thực hiện các biện pháp hỗ trợ khu vựcnày Đến ngày 23/11/2001, Chính Phủ ban hành nghị định 90/2001/NĐ-CP

về trợ giúp phát triển SMEs thì SMEs được định nghĩa như sau :” Doanh

nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động hàng năm không quá 300 người” Đây được coi là văn bản chính thức

qui định về SMEs, là cơ sở cho các chính sách và biện pháp hỗ trợ của cơquan nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước.Sự phân loại này tồn tại chođến nay.Căn cứ vào tình hình kinh tế, xã hội của từng ngành, từng địaphương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp cóthể linh hoạt áp dụng cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong 2 tiêu chínói trên

Theo nghị định này thì các SMEs bao gồm :

 Các Doanh nghiệp nhà nước có qui mô vừa và nhỏ thành lập và hoạtđộng theo luật Doanh nghiệp

 Các Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợpdoanh, công ty tư nhân qui mô vừa và nhỏ

 Các hợp tác xã có qui mô vừa và nhỏ hoạt động theo luật hợp tác xã

 Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định số 02/2000/NĐ-CP

về đăng ký kinh doanh

Như vậy, 2 tiêu thức chính để xác định SMEs là vốn đăng ký và lao độngtrung bình hàng năm :

Trang 6

 Vốn đăng ký : Đối với Doanh Nghiệp nhà nước thì vốn đăng ký làvốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với các Doanh nghiệp ngoài quốcdoanh, vốn đăng ký là vốn ghi trên đăng ký kinh doanh, giấy phếp đầutư.

 Lao động trung bình hàng năm : là số lao động bình quân mà Doanhnghiệp đăng ký với cơ quan quản lý lao động và có tham gia bảo hiểm

xã hội (không bao gồm số lao động mà Doanh nghiệp ký hợp đồngthời vụ, hợp đồng công việc)

SMEs ở Việt Nam có một hệ thống thể chế hỗ trợ hoạt động dưới sự chỉ đạocủa Thủ tướng Chính phủ được thành lập theo Nghị định 90/2001/NĐ-CPngày 23/11/2001 Các cơ quan ban ngành của Chính phủ ở Trung ương phốihợp chặt chẽ với các tổ chức đại diện cho khu vực tư nhân và các nhà cungcấp dịch vụ tư nhân cũng như nhà nước hỗ trợ SMEs nâng cao năng lực cạnhtranh

Trang 7

2 Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ

SMEs là một thực thể kinh tế và nó mang những đặc điểm riêng biệtxuất phát từ qui mô của nó SMEs ở Việt Nam bên cạnh những đặc điểmgiống với các quốc gia khác trên thế giới còn có những điểm riêng biệt đặctrưng của một nước có nền kinh tế đang phát triển

SMEs Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức

tổ chức Doanh Nghiệp như đã nêu ở phần trên.Trong một thời gian dài cácDoanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau không dược đối xử bìnhđắng Chính điều này ảnh hưởng đến phong cách kinh doanh của các DoanhNghiệp hiện nay, đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiệm cậnnguồn lực không giống nhau Bên cạnh đó theo đánh giá chung, hành langpháp lý cũng như môi trường kinh doanh như hiện nay vẫn chưa đáp ứngđược xu thế phát triển nhanh và đa dạng của SMEs Đây là một thách thứclớn, giống như một vật cản trong tiến trình phát triển của SMEs tại Việtnam

Mặc dù môi trường pháp lý trong những năm gần đây đã được cảithiện nhiều song chưa nhanh và chưa thực sự cách mạng Việt Nam đứngthứ hạng 113/127 quốc gia do tạp chí Forbes xếp hạng về sự thuận lợi môitrường kinh doanh Tạp chí Forbes xếp tới các yếu tố như mức độ năng độngcủa nền kinh tế, tình trạng quan liêu tham nhũng Việt Nam đứng cuối bảngtrong số các nước Đông Nam Á được xếp hạng

Là những Doanh Nghiệp có qui mô vốn và lao động nhỏ, SMEsthường là những Doanh Nghiệp khởi sự thuộc khu vực tư nhân Đặc điểmnày đã làm cho các SMEs hoạt động tương đối khó khăn trong thời gian qua

Thứ nhất về nguồn tài chính, SMEs bị hạn chế về nguồn vốn và khả

năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng Đây là đặc điểm chính chi phối các đặc

điểm khác của SMEs

Trang 8

Với đặc thù là qui mô vừa và nhỏ, trung bình tổng tài sản của mộtSMEs tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 2 tỷ đồng (sơ đồ)

Vấn đề tiếp cận nguồn tín dụng cũng gặp nhiều trở ngại Đặc biệt là

trong tình trạng kinh tế lạm phát hiện nay SMEs với nguồn vốn hẻo, lạithêm những hạn chế do chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất cao, nên cơ hộitiếp cận càng khó hơn Với mức lãi suất 21% hiện nay, nhiều DN khó làmviệc hiệu quả để đảm bảo trả nợ và lãi ngân hàng Trong khi tất cả các chiphí tăng cao, và tăng nhanh, lợi nhuận làm ra khó để đảm bảo DN có lãi.Mặt khác khi vay vốn Ngân hàng, SMEs gặp những thành kiến như ăn sâuvào rễ, cùng với những thủ tục cho vay rườm rà và phức tạp, yêu cầu chovay khắt khe

Nguyên nhân các ngân hàng e ngại khi cho SMEs vay vốn với những

lý do như sau :

o Thứ nhất là vì việc cho vay đối với SMEs khá khó do hệ thốngpháp lý của chúng ta không chặt chẽ Ví dụ, tại các nước khác,doanh nghiệp được nhìn nhận mức độ an toàn và rủi ro dựa trêncác đánh giá về xếp hạng điểm tín dụng Như, nếu doanhnghiệp không “sòng phẳng” trong thanh toán các công nợ, họ sẽ

bị “đánh tụt” về điểm số, và điều này sẽ gây khó khăn vớidoanh nghiệp đó trong tương lai khi muốn tiếp cận nguồn vốn,

vì vậy ý chí tuân thủ pháp lý của họ rất cao

 Trong khi đó tại Việt Nam, một vài doanh nghiệp chưa hình dungđược mức độ quan trọng của vấn đề này, nên tỷ lệ nợ xấu tại các ngân

Trang 9

hàng vẫn khá cao do các doanh nghiệp không có khái niệm trả nợđúng hạn.

o Thứ hai, ở Việt Nam, thông tin tài chính của doanh nghiệp chưathực sự công khai, nhiều doanh nghiệp vẫn “né tránh” việckiểm toán, dẫn đến công tác thẩm định từ phía ngân hàng đốivới doanh nghiệp thường mất nhiều thời gian và phức tạp.Ngoài ra, việc thiếu minh bạch trong kiểm toán tài chính doanhnghiệp cũng là lý do khiến ngân hàng thường đặt “nghi ngờ”đối với chính doanh nghiệp này

 Thứ ba, độ chín của các SMEs Việt Nam trong nghề vẫn còn thấp, docác doanh nghiệp này thường là doanh nghiệp trẻ, chưa va vấp quanhiều chu kỳ lên xuống, thăng trầm của nền kinh tế chính vì vậy kinhnghiệm ứng phó trong các hoàn cảnh cụ thể không cao, dẫn đến dễ đổvỡ

 Thứ tư là thiếu tài sản bảo đảm, Vốn tự có tham gia vào dự án,phương án của SMEs thấp nếu Ngân hàng cho vay, rủi ro với ngânhàng cao, do đó Ngân hàng yêu cầu các điều kiện về tài sản bảo đảmnghiêm ngặt hơn, nhưng phần lớn các Doanh Nghiệp lại thiếu tài sảnbảo đảm Doanh nghiệp thường dùng tài sản bảo đảm cho khoản vay

là tài sản cá nhân, trang thiết bị của chính DN Tài sản cá nhân thường

có giá trị thấp nên không vay được nhiều, tài sản là trang thiết bị nênphần lớn Ngân hàng ngại vì khó kiểm soát

Trang 10

 Cuối cùng là khối DNVVN chịu tác động mạnh nhất bởi tình hìnhkinh tế vĩ mô, sức khỏe của ngành tài chính Do vậy, tác động lan tỏa

từ biến cố kinh tế vĩ mô đến các doanh nghiệp khu vực này là rất lớn.Chính vì vậy ở Việt Nam, thông thường SMEs chủ yếu được thành lậpdựa trên vốn tự có, sự vay mượn của gia đình bạn bè và người thân, do đókhả năng tài chính hạn chế, việc mở rộng sản xuất kinh doanh gặp nhiều trởngại Nhiều khi Doanh nghiệp còn phải tiếp cận tới cả nguồn tín dụng đenvới lãi suất cắt cổ Theo thống kê năm 2008, khoảng 50% doanh nghiệp cóvốn dưới 1 tỷ đồng, gần 75% doanh nghiệp có vốn dưới 2 tỷ đồng, và có tới90% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng ( Nguồn : Cục phát triển SMEs –

Bộ Kế hoạch và đầu tư năm 2008)

Thứ hai về năng lực quản lý, SMEs có năng lực quản lý còn hạn chế,

Các ông chủ của SMEs thường là những người lao động bình thường hoặc lànhững kỹ sư, kỹ thuật viên có vốn tự có đứng ra thành lập doanh nghiệp đểhoạt động sản xuất kinh doanh Những ông chủ, bà chủ này vừa là ngườiquản lý đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuấtvận hành máy móc tạo ra sản phẩm… nên trình độ chuyên môn hóa trongquản lý không cao Phần lớn những người chủ này điều hành Doanh nghiệptheo cảm tính và kinh nghiệm mà không qua một trường lớp nào về quản lýDoanh nghiệp

Theo kết quả điều tra năm 2008 về thực trạng SMEs do Cục Phát triểndoanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ KHĐT) tiến hành với sự tham gia của hơn63.000 doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc.Theo số liệu thống kê, có tới55.63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống,trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổthông các cấp Cụ thể, số người là tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%;

đã tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp

Trang 11

trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn Điềuđáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp ngay những người có trình độ họcvấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiếnthức kinh tế và quản trị doanh nghiệp Điều này có ảnh hưởng lớn đến việclập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý của các doanhnghiệp Việt Nam.

Sự thiếu hiểu biết về kiến thức quản lý kinh tế, pháp luật, đã khiến cácSMEs gặp những khó khăn trong việc hoạch định một chiến lược kinh doanh

rõ ràng, chưa xây dựng cho mình những bước đi trong tiến trình hội nhậpkhi Việt Nam gia nhập WTO

Điều này cũng chính là một thách thức lớn cho SMEs khi Việt Namtham gia vào tiến trình hội nhập WTO, khi mà trình độ quản lý của SMEsViệt Nam còn tụt hậu xa so với các nước trên thế giới

Thứ ba về lao động, Số lượng, trình độ học vấn cũng như trình độ tay

nghề của lao động trong SMEs còn có nhiều hạn chế Số lượng lao độngtrung bình trong mỗi Doanh nghiệp cũng không lớn Theo số liệu thống kêcuối năm 2004, trong tổng số 88.222 SMEs hoạt động có 2.211.895 lao độngtương đương với tỷ lệ bình quân mỗi Doanh nghiệp có 25 lao động Như vậyqui mô về cả vốn và lao động của SMEs ở Việt Nam còn quá nhỏ bé so vớicác nước trong khu vực và trên thế giới Đây là một bất lợi lớn khi Việt Namgia nhập WTO Với qui mô quá nhỏ bé như vậy, chưa kể đến trình độ côngnghệ lạc hậu đã buộc SMEs Việt Nam bỏ lỡ những hợp đồng lớn

Trình độ của lao động tại SMEs còn thấp, chủ yếu là lao động phổthông với trình độ khoa học kỹ thuật thấp, khả năng ứng dụng công nghệ kỹthuật không cao Mặt khác do không thể trả lương cao, các Doanh nghiệpvừa và nhỏ thường chọn giải pháp là tuyển những nhân viên tiềm năng, sau

đó sẽ trang bị và đào tạo cho họ những kỹ năng để làm việc hiệu quả Điều

Trang 12

có lợi nhất cho các doanh nghiệp ấy là chi phí "đào tạo" thấp và nhân viênthích ứng với công việc dễ dàng hơn, song khi những nhân viên này đượcdày công đào tạo, họ lại bị lôi kéo bởi những lời mời hấp dẫn hơn từ cáccông ty khác Điều này đã gây ra hiện tượng chảy máu chất xám từ cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ sang các doanh nghiệp lớn có uy tín

Nguyên nhân chính của vấn đề này là do SMEs có qui mô vốn nhỏ,qui mô hoạt động sản xuất nhỏ và doanh nghiệp không có đủ khả năng tàichính cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn để thuê và giữ chân những ngườilao động có trình độ cao Mặt khác các ông chủ cũng chưa nhận thức đượctầm quan trọng của người lao động có trình độ tay nghề cao, do đó họ cóchính sách đãi ngộ chưa tương xứng với công sức của những lao động trình

độ cao đóng góp cho công ty Bên cạnh đó theo tâm lý của người lao động,

họ không muốn làm việc tại SMEs cũng chi phối tới trình độ lao động trongloại hình Doanh nghiệp này

Thứ tư là về công nghệ, Trình độ sản xuất của Doanh nghiệp, khả

năng đáp ứng nhu cầu thị trường mạnh hay yếu phụ thuộc rất nhiều vào yếu

tố công nghệ Nhìn chung công nghệ tại SMEs ở Việt Nam còn lạc hậu và

chưa được quan tâm.

Về trình độ sử dụng công nghệ, một cuộc điều tra quy mô được CụcPhát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ KHĐT) tiến hành với sự tham giacủa hơn 63 ngàn doanh nghiệp tại 30 tỉnh thành phía Bắc vào cuối năm

2007, chỉ có khoảng 8% số doanh nghiệp đạt trình độ công nghệ tiên tiến màphần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Doanh nghiệptrong nước đang sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu và khả năng cạnh tranh vềcông nghệ của các doanh nghiệp là rất thấp Theo kết quả điều tra đánh giátrên, hệ thống máy móc, thiết bị trong SMEs lạc hậu khoảng 10 – 20 năm

Trang 13

trong ngành điện tử, 20 năm đối với ngành cơ khí, và khoảng 70% côngnghệ ngành dệt may dã được sử dụng 20 năm.

Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cũng cho thấy, tuy sốdoanh nghiệp có sử dụng máy vi tính lên đến hơn 60% nhưng chỉ có 11,55%doanh nghiệp có sử dụng mạng nội bộ - LAN, số doanh nghiệp có Website

là rất thấp chỉ 2,16%

Đây là một kết quả rất đáng lo ngại vì khả năng tham gia thương mạiđiện tử và khai thác thông tin qua mạng của các doanh nghiệp còn rất thấp,chưa tương xứng với mong muốn phát triển thương mại điện tử của Chínhphủ

Cuộc điều tra cũng chỉ ra một nghịch lý; trong khi trình độ về kỹ thuậtcông nghệ còn thấp nhưng nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ củadoanh nghiệp có tỷ lệ rất thấp; chỉ 5.65% doanh nghiệp được điều tra có nhucầu về đào tạo công nghệ Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị ở Việt Nam chỉ đang ởmức 5 – 7%, quá thấp so với mức bình quân 20% trên Thế giới Công nghệlạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1.5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thếgiới

Điều này cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, chưa coitrọng đúng mức đến các vấn đề về kỹ thuật và công nghệ Mặc dù đây là yếu

tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường

Số liệu tổng hợp cũng cho thấy một sự khác biệt cơ bản giữa cácdoanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp của các nước khác Trong khicác doanh nghiệp trên thế giới quan tâm hàng đầu về các thông tin côngnghệ và tiến bộ kỹ thuật, thị trường cung cấp và tiêu thụ thì doanh nghiệp

Trang 14

Việt Nam lại chủ yếu quan tâm đến các thông tin về cơ chế, chính sách liênquan đến doanh nghiệp, rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các thông tin về kỹthuật và công nghệ.

Công nghệ, năng lực sử dụng công nghệ liên quan mật thiết đến nănglực quản lý của Doanh nghiệp Các Doanh nghiệp có khả năng quản lý tốtthường là những Doanh nghiệp thường xuyên có những thay đổi (cải tiến,đổi mới) công nghệ và cần nhiều vốn SMEs ở Việt Nam có trình độ côngnghệ lạc hậu cũng do họ gặp khó khăn về vốn Họ không có đủ tiềm lực tàichính để nhập những công nghệ hiện đại, do đó họ thường sử dụng nhữngcông nghệ cũ kỹ lạc hậu hiệu quả không cao Thậm chí có những Doanhnghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu tới hàng chục năm Việc sử dụng côngnghệ lạc hậu đã dẫn đến sản phẩm làm ra thiếu tính đa dạng, không đáp ứngđược chất lượng và mẫu mã sản phẩm, qui trình sản xuất kéo dài, tốn kémnhiên liệu, do đó giá thành sản phẩm cao, sản phẩm kém tính cạnh tranh trênthương trường

Mặt khác hoạt động nghiên cứu, triển khai ở SMEs cũng ít có khảnăng thực hiện mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu vốn và cán bộ giỏi Do đókhó có khả năng hình thành công nghệ mới, hoặc những phát minh sang chếđược hình thành cũng khó được thực hiện, và do đó những phát minh, sángchế này bị các doanh nghiệp lớn mua lại với giá rẻ mạt

Trên đây tôi đã đi nghiên cứu về bốn đặc điểm chính của SMEs ViệtNam đó là : Vốn, Lao động, Năng lực quản lý, Công nghệ Ngoài những đặcđiểm chính đó, còn có một số đặc điểm khác bị chi phối bởi bốn đặc điểm đã

Trang 15

để sử dụng mặt bằng Việc xin cấp đất hoặc thuê đất của SMEs gặp nhiều trởngại bởi hồ sơ thủ tục khá phức tạp Số địa phương cố gắng tạo điều kiệnthuận lợi đang còn rất ít Và khi Doanh nghiệp thuê được đất thì lại gặpnhiều trở ngại trong việc giải phóng mặt bằng, đền bù.

Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt là thị trường nước ngoài.Nguyên nhân chính là SMEs do năng lực tài chính hạn chế nên hoạt độngMaketing không được chú trọng và phát triển Những khách hàng của họ chủyếu là những khách hàng quen thuộc trong phạm vi địa lý nhỏ hẹp việc mởrộng thị trường mới tương đối là khó khăn Việt Nam gia nhập WTO, theoqui định, Việt Nam phải mở rộng thị trường bán lẻ cho các nhà phân phốinước ngoài Với qui mô lớn, mạng lưới phân phối toàn cầu và có tính chiếnlược cao, các công ty nước ngoài sẽ là những đối thủ lớn, đe dọa sự tồn tạicủa SMEs Việt Nam

Theo điều tra của Cục Phát Triển Doanh Nghiệp, có 66.95% doanhnghiệp cho biết họ thường gặp khó khăn về tài chính, 50.62% Doanh nghiệpthường gặp khó khăn về việc mở rộng thị trường, 41.74% Doanh nghiệp gặpkhó khăn về đất đai và mở rộng mặt bằng sản xuất, 24.23% doanh nghiệpgặp khó khăn về các ưu đãi thuế, 19.47% Doanh nghiệp khó khăn vì thiếuthông tin, 25.22% Doanh nghiệp gặp khó khăn về cắt giảm chi phí sản xuất,17.56% Doanh nghiệp gặp khó khăn về đào tạo nguồn nhân lực Bên cạnh

đó, việc tham gia các chương trình xúc tiến thương mại của nhà nước cũnggặp nhiều khó khăn, chỉ có khoảng 5.2% số Doanh nghiệp được tham gia,23.12% số Doanh nghiệp khó được tham gia và 71.67% số Doanh nghiệpkhông được tham gia

SMEs bày tỏ nhu cầu về đào tạo trong nhiều lĩnh vực, trong đó có33.64% số doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về tài chính, kế toán, 31.62% sốnhu cầu đào tạo về quản trị Doanh nghiệp, 24.14% có nhu cầu đào tạo về

Trang 16

phát triển thị trường, 20.17% số Doanh nghiệp có nhu câuuf về đào tạo lập

kế hoạch, chiến lược khinh doanh, 12.89% có nhu cầu đào tạo về phát triểnsản phẩm mới, 13.5% có nhu cầu đào tạo về phát triển kỹ năng đàm phán và

ký kết hợp đông kinh tế, 11.62% có nhu cầu đào tạo về quản lý nguồn nhânlực, 10.85% Doanh nghiệp có nhu cầu đào tạo về ứng dụng công nghệ thôngtin trong doanh nghiệp

Rõ ràng là các Doanh nghiệp đã nhân thấy nhu cầu rất lớn về đào tạonhưng chưa được đáp ứng Đây là vấn đề mà cá cơ quan chức năng cần tậptrung hỗ trợ đồng thời cũng là một thị trường đang cần nhiêu dịch vụ đào tạochất lượng cao

Xét trong dài hạn, trước áp lực cạnh tranh của thị trường trong nước

và quốc tế, SMEs sẽ phải tích cực nâng cao năng lực quản lý, đổi mới côngnghệ, chú trọng sử dụng nguồn nhân lực có chất lượng, nâng cao năng lựctài chính, cải thiện văn hoá doanh nghiệp cho các nhân viên để làm việc mộtcách hiệu quả Có như vậy mới có thể phát triển doanh nghiệp bền vững hơntrong môi trường cạnh tranh quốc tế bởi nếu không doanh nghiệp sẽ khôngthể tồn tại và sẽ bị phá sản, đánh bật ra khỏi thị trường nhất là trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

3 Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong phát triển kinh tế

SMEs đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân với nhiều hìnhthức đa dạng phong phú, hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, đặc biệt làvới một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam SMEs đangphát huy tích cực và khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế Ở mỗinền kinh tế, quốc gia hay lãnh thổ, SMEs có thể giữ những vai trò khác nhauvới mức độ khác nhau Ở Việt Nam với đường lối kinh tế đúng đắn, SMEs

ở Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Nhìn

Trang 17

chung SMEs có những vai trò chính trong nền kinh tế đang phát triển nhưsau :

Là một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế,ở Việt Nam SMEs

chiếm khoảng 97% trong tổng số khoảng 200.000 doanh nghiệp

đã thành lập trên toàn quốc Các doanh nghiệp này đang đónggóp khoảng 26% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp,tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, và26% lực lượng lao động trong cả nước

Tại nhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển, những nướcđang phát triển, những nước có nền kinh tế trong thời kì quá độ,

và những nước kém phát triển, tỷ trọng doanh nghiệp vừa và nhỏthường là một con số đáng kể Với một nước có nền kinh tế pháttriển, theo nước Mỹ có đến 99.7% tổng số hãng kinh doanh cóthuê nhân công là doanh nghiệp nhỏ, tạo ra được 75 % số việclàm mới và chiếm 96% tổng số các nhà xuất khẩu hàng hóa Ởkhu vực Đông Nam Á, Thái Lan là nước có nền kinh tế khá tiêubiểu, theo điều tra của Tập đoàn tài chính công nghiệp Thái Lan,năm 2002, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 95% số doanhnghiệp công nghiệp, tuyển dụng từ 85%-90% lực lượng lao động,đóng góp trên 50% GDP, có vai trò quan trọng trong việc tạoviệc làm và xuất khẩu, phát triển kinh tế ở các vùng lạc hậu ởThái Lan, là một kết cấu hạ tầng quan Theo Nguyễn Ngọc Phúc(2005) doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chiếm khoảng 97%trong tổng số khoảng 200.000 doanh nghiệp đã thành lập trêntoàn quốc Các doanh nghiệp này đang đóng góp khoảng 26%GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, tạo ra khoảng 49%

Trang 18

việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, và 26% lực lượng laođộng trong cả nước.

Tại nhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển, những nướcđang phát triển, những nước có nền kinh tế trong thời kì quá độ,

và những nước kém phát triển, tỷ trọng doanh nghiệp vừa và nhỏthường là một con số đáng kể Với một nước có nền kinh tế pháttriển, theo nước Mỹ có đến 99.7% tổng số hãng kinh doanh cóthuê nhân công là doanh nghiệp nhỏ, tạo ra được 75 % số việclàm mới và chiếm 96% tổng số các nhà xuất khẩu hàng hóa Ởkhu vực Đông Nam Á, Thái Lan là nước có nền kinh tế khá tiêubiểu, theo điều tra của Tập đoàn tài chính công nghiệp Thái Lan,năm 2005, SMEs chiếm khoảng 95% số doanh nghiệp côngnghiệp, tuyển dụng từ 85%-90% lực lượng lao động, đóng góptrên 50% GDP, có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm vàxuất khẩu, phát triển kinh tế ở các vùng lạc hậu ở Thái Lan, làmột kết cấu hạ tầng quan trọng cho các công ty lớn xuyên quốcgia trong và ngoài nước hoạt động tại Thái Lan Ngày nay, tầmquan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được quốc tế thừanhận, hoạt động và sự phát triển của chúng đóng vai trò lớn trong

sự phát triển nền kinh tế quốc gia

 Tạo việc làm cho người lao động: trong báo cáo của Ngânhàng Thế giới, mức độ sử dụng lao động của các doanh nghiệpnhỏ tăng gấp 4-10 lần, thu hút nhiều lao động Điều này có ýnghĩa rất lớn đối với Việt Nam, một nước có số dân hơn 80 triệu,nguồn lao động vẫn tăng liên tục và sức ép dân số tạo ra hiệntượng di cư vào đô thị gây ra những khó khăn không nhỏ về xãhội, giải quyết việc làm là một nhu cầu bức bách

Trang 19

 Đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập dâncư: ở hầu hết các quốc gia các doanh nghiệp và nhỏ thường đónggóp khoảng 20 -50% thu nhập quốc dân Một khía cạnh khác làcác doanh nghiệp này chủ yếu phục vụ cho thị trường nội địa,hoạt động dựa trên nguồn lực, phát triển các công nghệ và kỹnăng trong nước, điều này có ý nghĩa đòn bẩy giúp nâng cao chấtlượng cuộc sống, giảm thiểu gánh nặng từ những tiêu cực xã hội.

 Đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế: với quy mô kinhdoanh gọn nhẹ, vốn nhỏ, doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều khảnăng chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với nhu cầu thị trường

mà ít gây biến động lớn, ít chịu ảnh hưởng và có khả năng phụchồi nhanh sau những cuộc khủng hoảng kinh tế trên góc độ kinh

tế quốc gia Số lượng loại hình doanh nghiệp này gia tăng sẽ góp

phần tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển ý

tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các nền kinh tếtrong và ngoài khu vực

Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội sảnxuất nhiều loại hàng hóa, đa dạng phù hợp với quy mô và dunglượng thị trường phân tán, có khả năng giải quyết công ăn việclàm tại chỗ, khai thác các nguồn nguyên liệu địa phương, đónggóp đáng kể trong quá trình phân bổ thích hợp cho lực lượng laođộng đặc biệt là lao động nông nhàn, giảm bớt khoảng cáchchênh lệch giữa các khu vực, góp phần thúc đẩy việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Ngoài ra, sự phát triển của loại hình doanh nghiệp còn tạo điềukiện thuận lợi cho quá trình chuyên môn hóa và đa dạng hóa cácngành nghề, duy trì và phát triển các nghề thủ công truyền thống

Trang 20

giữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần xây dựng vàrèn luyện một lực lượng trẻ mới có năng lực và khả năng thíchứng nhanh với nền kinh tế thị trường.

Ngày nay, tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đượcquốc tế thừa nhận, hoạt động và sự phát triển của chúng đóng vaitrò lớn trong sự phát triển nền kinh tế quốc gia

Bảng 1.3: tỷ trọng doanh thu của Doanh Nghiệp vừa và nỏ qua cácnăm gần đây

Năm Tổng doanh thu(Tỷ đồng)

Tỷ trọngdoanh thuDNV&N (%)

Theo quy mô lao động (%)

<5 5 - 200 200-300

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2005

Tạo công ăn việc làm cho người lao động : trong báo cáo

của Ngân hàng Thế giới, mức độ sử dụng lao động của các doanhnghiệp nhỏ tăng gấp 4-10 lần, thu hút nhiều lao động Điều này

có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam, một nước có số dân hơn 80triệu, nguồn lao động vẫn tăng liên tục và sức ép dân số tạo rahiện tượng di cư vào đô thị gây ra những khó khăn không nhỏ về

xã hội, giải quyết việc làm là một nhu cầu bức bách Bên cạnh đókhu vực nhà nước đang thực hiện sắp xếp lại, nên không nhữngkhông thể thu hút thêm lực lượng lao động mà còn tinh giảm biên

Trang 21

chế để bộ máy nhà nước bớt cồng kềnh, nên tăng thêm lực lượnglao động dôi dư Khu vực đầu tư nước ngoài hàng năm cũng chỉtạo ra khoảng 30.000 chỗ làm mới, một tỷ lệ không đáng kể Mặtkhác lao động Việt Nam với trình độ học vấn, chuyên môn và taynghề chưa cao, chính vì vậy phần lớn số người tham gia vào lựclượng lao động này trông chờ vào khu vực nông thôn và khu vựcSMEs Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2006cho thấy, SMEs chiếm tới 99% số lượng cơ sở sản xuất kinhdoanh của cả nước, 25% tổng đầu tư xã hội và thu hút khoảng77% lưc lượng lao động phi nông thôn Các doanh nghiệp thuộckhu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là SMEs có mức tăng trưởngcao về số lao động trong những năm qua Theo thống kê năm

2007, khu vực SMEs tạo khoảng 12 triệu lao động cho xã hội, dựtính năm 2010 tạo việc làm cho khoảng 20 triệu lao động mà cáchđây khoảng 10 năm, từ năm 1991 đến 1997, SMEs đã tạo rakhoảng 3,5 triệu việc làm

 Đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập dâncư: ở hầu hết các quốc gia các doanh nghiệp và nhỏ thường đónggóp khoảng 20 -50% thu nhập quốc dân Một khía cạnh khác làcác doanh nghiệp này chủ yếu phục vụ cho thị trường nội địa,hoạt động dựa trên nguồn lực, phát triển các công nghệ và kỹnăng trong nước, điều này có ý nghĩa đòn bẩy giúp nâng cao chấtlượng cuộc sống, giảm thiểu gánh nặng từ những tiêu cực xã hội

 Đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế: với quy mô kinhdoanh gọn nhẹ, vốn nhỏ, doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều khảnăng chuyển đổi mặt hàng nhanh phù hợp với nhu cầu thị trường

mà ít gây biến động lớn, ít chịu ảnh hưởng và có khả năng phục

Trang 22

hồi nhanh sau những cuộc khủng hoảng kinh tế trên góc độ kinh

tế quốc gia Số lượng loại hình doanh nghiệp này gia tăng sẽ góp

phần tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển ý

tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các nền kinh tếtrong và ngoài khu vực

Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hộisản xuất nhiều loại hàng hóa, đa dạng phù hợp với quy mô vàdung lượng thị trường phân tán, có khả năng giải quyết công ănviệc làm tại chỗ, khai thác các nguồn nguyên liệu địa phương,đóng góp đáng kể trong quá trình phân bổ thích hợp cho lựclượng lao động đặc biệt là lao động nông nhàn, giảm bớt khoảngcách chênh lệch giữa các khu vực, góp phần thúc đẩy việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Ngoài ra, sự phát triển của loại hình doanh nghiệp còn tạo điềukiện thuận lợi cho quá trình chuyên môn hóa và đa dạng hóa cácngành nghề, duy trì và phát triển các nghề thủ công truyền thốnggiữ gìn giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần xây dựng vàrèn luyện một lực lượng trẻ mới có năng lực và khả năng thíchứng nhanh với nền kinh tế thị trường

II.VAI TRÒ CỦA NHNo&PTNT CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI ĐỐI VỚI SMEs

1 Tổng quan về NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội

1 Vị trí

NHN&PTNT chi nhánh tây Hà Nội là một chi nhánh củaNHN&PTNT của TP Hà Nội trong hệ thống NHN& PTNT ViệtNam, đặt trụ sở chính tại số 115 Nguyễn Lương Bằng Là mộtchi nhánh với quy mô hoạt động lớn Do vậy phương châm của

Trang 23

Ngân hàng là cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động an toàn và hiệu quả, mụctiêu lợi nhuận không phải là hàng đầu mà tập trung vào hỗ trợphát triển kinh tế đất nước một cách hiệu quả nhất.

NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội đã nỗ lực phấn đấuvượt mọi khó khăn thử thách làm quen và thích ứng với thịtrường Chi nhánh Tây Hà Nội là một trong những chi nhánh cấp

1 trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam có doanh số hoạt động lớncủa Ngân hàng Nông nghiệp thành phố Hà Nội

Sơ đồ cơ cấu tổ chức và điều hành của Ngân hàng

Chức năng nhiệm vụ chủ yếu

* Huy động vốn:

Nhận tiền gửi không kỳ hạn, nhận tiền gửi có kỳ hạn, nhậntiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn từ các tổ chức, cánhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài huyện

Phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng,

Phòng Hành chính

Phòng Tín dụng

Trang 24

Các hình thức huy động khác theo quy định của Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

* Cho Vay:

Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng VND đối với các

tổ chức cá nhân, hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế trênđịa bàn huyện

* Chuyển tiền điện tử nội tỉnh, chuyển tiền nhanh qua hệthống Western Union

Bộ máy tổ chức của Ngân hàng được phân công như sau:

Ban cán bộ gồm có ba đồng chí đều có trình độ đại học,trong đó:

Một giám đốc chịu trách nhiệm chung toàn chi nhánh

Một phó giám đốc phụ trách về tín dụng

Một phó giám đốc phụ trách về kế toán ngân quỹ và hành chính

Mỗi phòng tín dụng và kế toán ngân quỹ hành chính đều cóphó giám đốc

phụ trách chung đồng thời có trưởng phòng, phó trưởng phòngphụ giúp việc cùng với các nhân viên trong phòng

2.1.3 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Là một chi nhánh của ngân hàng nông nghiệp - một ngânhàng thương mại nhà nước hoạt động trên địa bàn huyện thựchiện chức năng kinh doanh tiền tệ và cung ứng tín dụng trên mặttrận nông nghiệp nông thôn và các thành phần kinh tế khác trênđịa bàn, NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội đã và đang cố gắng

nỗ lực hết mình phấn đấu trở thành nhân tố giữ vai trò chủ đạotrên mặt trận kinh tế, thị trường tài chính tín dụng Trong nhữngnăm qua mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh

Trang 25

doanh, song dưới sự chỉ đạo của ban lãnh đạo, sự đoàn kết nhấttrí của các phòng ban cùng với sự cố gắng phấn đấu không ngừngcủa toàn nhân viên ngân hàng đã giúp nâng cao hiệu quả hoạtđộng của ngân hàng, đưa ngân hàng trở thành một trong nhữngngân hàng đứng đầu trong khối ngân hàng nông nghiệp hoạtđộng trên địa bàn Thành Phố.

Tình hình huy động và sử dụng vốn.

Hoạt động chính của ngân hàng là huy động vốn và cho vay

Là ngân hàng duy nhất hoạt động trên địa bàn trong một thời giandài cho tới hiện tại, ngân hàng nông nghiệp chi nhánh Tây HàNội đã thể hiện tốt vai trò là một ngân hàng nhận tiền tiết kiệm

và cung ứng phần lớn cho nhu cầu vốn trên địa bàn Ngân hàngkhông ngừng học hỏi đổi mới để khẳng định uy tín, giữ vữngniềm tin trong lòng khách hàng Lượng vốn huy động cũng nhưlượng vốn ngân hàng sử dụng để cho vay tăng nhanh qua cácnăm

Năm 2008

Trang 26

(Theo nguồn báo cáo năm 2006, 2007, 2008)

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy:

Trước hết về tình hình huy động vốn, ta nhận thấy vốn huyđộng tăng tương đối nhanh qua các năm Tổng nguồn vốn huyđộng năm 2005 la 114.988 triệu đồng, năm 2006 tăng 18% đạt135.691 triệu đồng Năm 2007 huy động được 164.458 triệu đồngtăng 28.767 triệu đồng so với năm 2006, tương đương với tăng21.2% Trong đó chủ yếu vẫn là nguồn vốn ngắn hạn không kỳhạn, kỳ hạn 3 tháng, kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn 12 tháng Nguồn vốndài hạn cũng có nhưng rất ít, chiếm tỷ lệ không đáng kể khoảng4%

Ngân hàng chủ động bám sát tình hình diễn biến thị trườnglãi suất để có sự điều chỉnh lãi suất phù hợp đáp ứng được mongmuốn của người gửi tiền

Thứ hai là tình hình sử dụng vốn Bất kỳ ngân hàng nàocũng vậy, mục tiêu của hoạt động sử dụng vốn luôn là tìm kiếmlợi nhuận, lấy lãi từ hoạt động cho vay để trang trãi chi phí huyđộng vốn và có tích luỹ Doanh số cho vay năm 2005 đạt 104.137triệu đồng, tương đương với 91% nguồn vốn huy động được.Ngân hàng sau khi trích lập dự phòng theo quy định sử dụng mộtcách tối đa nguồn vốn huy động để vay, không để nguồn vốn huyđộng bị ứ đọng Năm 2006 doanh số cho vay đạt 144,705 triệuđồng, tăng 39% tương đương với 40,568 triệu đồng, sang năm

2007 doanh số cho vay tăng chậm hơn 28,6% nhưng quy ra sốtuyệt đối lớn hơn đạt 186,068 triệu đồng, tăng 41,363 triệu đồng

Trang 27

Tình hình dư nợ năm 2006 và 2007

Đối tượng vay vốn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tíndụng của Ngân hàng là kinh tế hộ gia đình, chiếm khoảng hơn90% tổng dư nợ Hiện tại, Ngân hàng đã chuyển hướng sự quantaam hơn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trên địa bàn.Những doanh nghiệp này thường vay vốn những khoản vay có giátrị lớn, trung bình khoảng 1 tỷ đồng cho một khoản vay

Trang 28

Bảng 6: Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế.

Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình dư nợ năm 2006, 2007

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy cho vay kinh tế chiếm tỷtrọng lớn nhất, mạng lại nguồn thu chủ yếu cho Ngân hàng Năm

2006 cho vay kinh tế hộ gia đình chiếm 96,6% tổng dư nợ, năm

2007 chiếm 95,3% tổng dư nợ, mặc dù tỷ trọng có giảm hơn sovới năm trước song vẫn rất cao Cho vay doanh nghiệp chiếm tỷtrọng nhỏ va chỉ có doanh nghiệp ngoài quốc doanh, không códoanh nghiệp nhà nước và cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Năm 2006 tỷ trọng cho vay doanh nghiệp ngoài quốcdoanh là 3,3% tổng dư nợ, năm 2007 con số này tăng lên 4,5%.Đây là một dấu hiệu đáng mừng trong việc đa dạng hoá đối tượngcho vay vốn của Ngân hàng đồng thời chỉ ra rằng doanh nghiệphoạt động trên địa bàn đang có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận vốnvay Ngân hàng mặc dù hạn chế

Trang 29

Đánh giá sơ bộ về kết quả hoạt động tín dụng năm 2007 củaNgân hàng:

Tăng giản

so với KH(%)

Tỷ trọng dư nợ tín dụng

DN/Tổng dư nợ

Nguồn: Báo cáo tín dụng năm 2007

Nhìn vào bảng hoạt động tín dụng trên ta thấy tăng trưởng

dư nợ tín dụng đạt mức 8,6% trong đó chủ yếu vẫn là cho vay hộnông dân, hộ kinh doanh cá thể vốn là những đối tượng chủ yếu

và truyền thống của Ngân hàng Dư nợ cho vay doanh nghiệp vẫncòn quá bé nhỏ, nguyên nhân là loại hình doanh nghiệp vẫn đangtrong thời kỳ hình thành và phát triển vẫn còn mong manh Ngânhàng mới chỉ hướng sự chú ý tới khu vực doanh nghiệp trong vài

ba năm trở lại đây nên dư nợ còn thấp

Tỷ lệ nợ xấu còn ở mức khá cao 9,1%, điều này cho thấyNgân hàng cần chú trọng hơn trong việc cho vay, nâng cao chấtlượng thẩm định tín dụng đồng thời xây dựng biện pháp thu hồivốn kịp thời

2 Các hình thức cho vay đối với SMEs của NHNo&PTNT chi nhánh

Tây Hà Nội

Trang 30

2.1 Phân loại cho vay.

Có nhiều tiêu thức phân loại cho vay

Theo phương thức tài trợ có:

Để được thấu cho, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạnmức thấu chi và thời gian thấu chi, có thể phải trả phí cam kếtcho ngân hàng Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kýséc, lập ủy nhiệm chi, mua vé vượt quá số dư để chi trả (songtrong hạn mức thấu chi) Khi khách hàng có tiền nhập vào tàikhoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Các khoản chiquá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụnghình thức này

Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng khôngphù hợp về thời gian và quy mô Thời gian và số lượng thiếu cóthể dự đoán được dựa trên dự đoán về ngân quỹ song có thểkhông chính xác Do vậy hình thức cho vay này tạo điều kiệnthuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán, sự chủđộng, nhanh chóng, kịp thời

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tụcđơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanhnghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng, vài tháng trong nămdùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng Hình thức

Ngày đăng: 23/04/2013, 22:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hội đồng EU - Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội
Bảng 1.2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hội đồng EU (Trang 4)
Bảng 1.3:  tỷ trọng doanh thu của Doanh Nghiệp vừa và nỏ qua các năm gần đây - Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội
Bảng 1.3 tỷ trọng doanh thu của Doanh Nghiệp vừa và nỏ qua các năm gần đây (Trang 20)
Sơ đồ cơ cấu tổ chức và điều hành của Ngân hàng - Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức và điều hành của Ngân hàng (Trang 23)
Bảng 6: Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế. - Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội
Bảng 6 Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế (Trang 28)
Bảng 7: Hoạt động tín dụng năm 2007 - Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội
Bảng 7 Hoạt động tín dụng năm 2007 (Trang 29)
Bảng   9:   Dư   nợ   cho   vay   Doanh   nghiệp   vừa   và   nhỏ   theo   thành phần kinh tế - Giải pháp tăng cường hỗ trợ vốn cho các DNVVN trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội
ng 9: Dư nợ cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ theo thành phần kinh tế (Trang 36)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w