1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020

73 511 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Phát Triển Ngành Công Nghiệp Phụ Trợ Đóng Tàu Trong Giai Đoạn Đến Năm 2020
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 414,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn đến 2020, Đảng và Nhà Nước ta đã xác định rõ ngành công nghiệp tàu thủy là một trong bảy ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam

Trang 1

Mục lục

Lời nói đầu 1

Chương I: Sự cần thiết phải phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu 5

1 Khái quát các đặc điểm của ngành công nghiệp đóng tàu 5

1.1 Khái niệm công nghiệp đóng tàu 5

1.2 Các đặc điểm cơ bản về công nghệ, kỹ thuật và quy trình của ngành công nghiệp đóng tàu 5

1.2.1 Đặc điểm cơ bản của ngành công nghiệp đóng tàu 5

1.2.2 Đặc điểm quy trình đóng tàu 6

1.3 Các bộ phận cơ bản của một con tàu và các loại tàu cơ bản 9

13.1 Các bộ phận cơ bản của một con tàu 9

1.3.2 Các loại tàu thủy chính 10

1.4 Các bộ phận trong một con tàu mà Việt Nam ta cần hướng tới sản xuất trong nước 11

2 Công nghiệp phụ trợ đóng tàu 12

2.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ 12

2.2 Công nghiệp phụ trợ cho đóng tàu 16

2.3 Phân loại các ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu 16

3 Sự cần thiết phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu 17

4 Những lợi thế của Việt Nam trong việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu 18

4.1 Những thuận lợi của Việt Nam trong phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu 18

4.2 Những khó khăn của Việt Nam trong phát triển công nghiệp đóng tàu 19

Chương II: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu Việt Nam trong thời gian qua 21

1 Khái quát thành tựu của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam trong thời gian qua 21

Trang 2

1.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp đóng tàu trong thời

gian qua 21

1.1.1 Tình hình kinh doanh của ngành công nghiệp tàu thủy 21

1.1.2 Cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp tàu thủy 28

1.2 Những khó khăn tồn tại của ngành công ngiệp đóng tàu Việt Nam ta trong thời gian qua 29

2 Thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu Việt Nam ta trong thời gian qua 31

2.1 Thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ công nghiệp đóng tàu Việt Nam trong thời gian qua 31

2.2 Đánh giá thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu Việt Nam 36

2.2.1 Số lượng các nhà máy 36

2.2.2 Về phân bổ các nhà máy 39

2.2.3 Về công nghệ đóng- sửa chữa tàu 39

2.2.4 Về các ngành công nghiệp phụ trợ 39

Chương III: Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020 50

1 Định hướng phát triển các ngành phụ trợ 50

1.1 Căn cứ xác định phương hướng phát triển của ngành công nghiệp tàu thủy nước ta 50

1.2 Quan điểm, mục tiêu và phương hướng phát triển công nghiệp phụ trợ .52 1.2.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu 52

1.2.2 Kế hoạch thực hiện 57

2 Các giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu 60 2.1 Quy hoạch phù hợp và hiệu quả 60

2.1.1 Nội dung cơ bản của quy hoạch CNTTVN đến 2010 và định hướng đến 2020 mục tiêu phát triển quy hoạch 60

2.1.2 Quan điểm phát triển quy hoạch 61

2.1.3 Nội dung quy hoạch 61

Trang 3

2.2 Khuôn khổ pháp lý 62

2.3 Các chính sách hỗ trợ của Nhà Nước 63

2.3.1 Chính sách tín dụng đầu tư 63

2.3.2 Chính sách bảo hộ sản phẩm 63

2.33 chính sách kích cầu tiêu dùng sản phẩm trong nước 63

2.3.4 Chính sách đầu tư cho nghiên cứu và phát triển 63

2.3.5 Các chính sách thuế ưu đãi 63

2.4 Kêu gợi đầu tư nước ngoài 64

2.4 Đào tạo phát triển đội ngũ thiết kế, cán bộ kỹ sư và công nhân có trình độ cao 64

2.5 Đầu tư nâng cấp các cơ sở công nghiệp phụ trợ đã có để nâng cao năng lực sản xuất 65

2.6 Cần có sự phối hợp của các ngành các cấp liên quan 66

2.7 Đầu tư có lựa chọn, có ưu tiên 67

Kết luận 68

Danh mục tài liệu tham khảo 69

Trang 4

Danh mục bảng biểu

Bảng 1: Bảng doanh thu của Vinashin giai đoạn 2004-2008 25 Bảng 2: Bảng tỷ suất lợi nhuận của Vinashin giai đoạn 2004 2008 26 Bảng 3: Dự báo số tàu thuyền tăng thêm trong giai đoạn 2001-2010 và 2020 27 Bang 4: Dự báo số tàu chở khách tới giai đoạn 2005-2010 27 Bảng 5: Bảng năng lực đóng mới của Vinashin đến 2015 28 Bảng 6: kích cỡ gam máy cắt kim loại điều khiển CNC đã được chế tạo tại viện máy và dụng cụ công nghiệp 42 Bảng 7: thiết bị sản xuất được trong thơi gian qua 43 Bảng 8: động cơ diesel và máy phát điện đồng bộ dùng cho ngành hàng hải, đường sắt 44 Bảng 9: động cơ máy chính dùng cho hàng hải 45

Bảng 10: động cơ máy chính dùng cho hàng hải 46

Trang 5

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn đến 2020, Đảng và NhàNước ta đã xác định rõ ngành công nghiệp tàu thủy là một trong bảy ngành côngnghiệp mũi nhọn của Việt Nam – là ngành có nhiều lợi thế so sánh động mà ViệtNam cần có những chính sách hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của ngành nhằmthúc đẩy sự phát triển của công nghiệp nói chung Nhưng đến nay, tình trạng ngànhcông nghiệp đóng tàu của Việt Nam vẫn chỉ mới dừng lại ở trình độ lắp ráp, hầuhết các thiết bị, phụ kiện dùng để đóng tàu đều phải nhập khẩu từ bên ngoài Điềunày dẫn tới giá trị của một con tàu đóng mới rất thấp Do đó, để ngành phát triểncon đường duy nhất đó là nâng cao giá trị của một con tàu đóng mới, và phươngthức duy nhất để làm được điều đó một cách hiệu quả đó là nâng cao tỷ lệ nội địahóa rong ngành đóng tàu Điều này đồng nghĩa với việc phát triển các ngành côngnghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp đóng tàu Như vậy, nhiệm vụ cấp bách trướcmắt để Việt Nam ta phát triển được công nghiệp đóng tàu là phải đi phát triển nhanh

và mạnh các ngành công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu để từ đó tăng tối

đa giá trị gia tăng của một con tàu đóng mới Trên thực tế, nước ta cũng đã quantâm chú ý đầu tư phát triển tới các ngành công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóngtàu trong những năm gần đây Nhưng do chưa thực sự nhận thức được hết vai tròhết sức quan trọng của ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp đóng tàunên nguồn vốn đầu tư cho ngành còn tương đối hạn hẹp, các chính sách quan tâmcủa Chính Phủ cũng chưa thực sự thích đáng, quy hoạch chưa đúng Do đó, cho đếnnay mặc dù có thể nói Việt Nam có một ngành công nghiệp đóng tàu tương đối pháttriển nhưng ngành phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu thì hầu như chưa có nên doanhthu nói chung của ngành đóng tàu là còn tương đối thấp Để sửa sai, trong chiếnlược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn tới năm 2020 chính phủ cũng nêu rõ quanđiểm của mình như sau: hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ như một khâu đột phácủa giai đoạn 2006-2020 để đưa công nghiệp phát triển cao trong giai đoạn sau

Trang 6

Như vậy vừa để phù hợp với chiến lược phát triển, vừa để phát triển đượcngành công nghiệp đóng tàu ta phải tìm ra giải pháp để phát triển các ngành côngnghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu Do đó, đây là một vấn đề cấp thiết củacông nghiệp Việt Nam Việt Nam muốn phát triển ngành công nghiệp đóng tàu nhấtthiết phải phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp đóng tàu.Đây cũng là một cách nhằm thúc đẩy nhiều ngành công nghiệp khác phát triển, vàtận dụng mọi lợi thế sẵn có của Việt Nam Đó là lý do mà em chọn đề tài này Kết cấu của bài viết về đề tài những giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợcho công nghiệp đóng tàu bao gồm ba chương như sau: chương 1: Sự cần thiết phảiphát triển công nghiệp phụ trợ: chương 2: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợcông nghiệp đóng tàu trong thời gian qua: chương 3: Giải pháp phát triển côngnghiệp phụ trợ công nghiệp đóng tàu trong giai đoạn tới 2020

Do sự hiểu biết về ngành đóng tàu cũng như các ngành công nghiệp phụ trợđóng tàu còn hạn hẹp, thời gian và tài liệu hạn hẹp nên bài viết còn nhiều phần chưađược rõ , và còn nhiều bất cập sai sot, mong các thầy cô đọc và góp ý để bài viếtđược hoàn thiện hơn

Bài chuyên để này được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình và chân thànhcủa thầy giáo Phan Huy Đức, và của chú cán bộ Bộ Kế Hoạch và đầu tư chú Thông

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phan Huy Đức đã giúp đỡ em hoàn thànhchuyên đề này

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu đê tài

Công nghiệp tàu thủy được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế xã hôigiai đoạn từ nay tới năm 2020 là một trong bảy ngành công nghiệp mũi nhọn củanền côngn nghiệp Việt Nam Do đo, cần nhanh cóng tìm ra giải pháp phát triểnngành một cách hiệu quả nhất và nhanh nhất HIện nay ngành vẫn chưa phát triểnđúng như mong muốn,tiềm năng của ngành, giá trị gia tăng của một con tùa đóngmới còn tương đối thấp Nguyên nhân chính của giá trị gia tăng của tàu do VIệt

Trang 7

Nam đóng mới chưa cao là do trình độ nội địa hóa của ngành còn kém, các thiết bị,nguyên vật liệu cho đóng tàu chủ yếu là nhập khẩu Do đó vấn đề phát triển ngànhcông nghiệp mũi nhọn công nghiệp đóng tàu trở thành vấn đề phát triển côngnghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu Chỉ khi công nghiệp phụ trợ công nghiệpđóng trùa phát triển thì mới có thể nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từ đó nâng cao giá trịgia tăng của một con tàu đong mới, từ đó mới phát triển được ngành công nghiệpđong tàu đúng như mong muốn.

Trong bài chuyên đề của mình, tôi tập trung đi tìm giải phát phát triển côngnghiệp phụ trợ công nghiệp đóng tàu dựa trên cơ sở khác phục những cái mà ViệtNam ta yếu, tận dụng tối đa những lợi thế của đất nước

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trong khuôn khổ 15 tuần thực tập, sự thu thập tài liệu của bản thân có hạn nêntôi chỉ xin nghiên cứu chính là tình hihf phát triển của các ngành công nghiệp đóngtàu và các ngành phụ trợ công nghiệp đóng tàu trong một số năm gần đây, và tậptrung vào tập đoàn công nghiệp tàu thủy VIệt Nam Vinashin là chủ yếu Trongngành công nghiệp đóng tàu tôi chỉ tập trung xem xét tình hình sản xuất cũng nhưtình hình kinh doanh những năm gần đây: sản xuất những loại tàu nào, trọng tải baonhiêu, doanh thu như thế nào, bản cho những loại đối tượng nào, số lượng baonhiêu,…; đặc biệt là hệ thống cơ sử hạ tầng của ngành: có bao nhiêu nhà máy đóngmơi, bao nhiêu nhà máy sửa chữa, bao nhieu nhà máy sản xuất nguyên vật liệu phụcphụ đóng tàu, Trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp phát triển ngành công nghiệpphụ trợ để có thể phát triển công nghiệp đóng tàu

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong bài là các phương pháp nghiên cứuthông dụng mà tôi đã được học trong giai đoạn học lý thuyết bao gồm:

Các phương pháp thu thập số liệu:`các số liệu tôi dùng trong bài chủ yếu tôithu thập tại cơ quan thực tập Bộ kế hoạch và đầu tư, từ các báo cáo của các tập đoàn

Trang 8

công ty đóng tàu hàng tháng , hàng năm, từ các trang wed, các tạp chí nói về côngnghiệp đóng tàu,

Phương pháp dự báo: trong một số phầnp tôi sử d ụng phương pháp dự báo để

dự báo tình hình sản xuất của các cơ sở sản xuất tàu thủy trong những năm tiếp theocủa bảng số liệu và dự báo tốc độ tăng trưởng của chúng trong tương lai gần, Ngoài ra còn một só phương pháp khác như phương pháp thống kê,phươngpháp dự báo cầu, dự báo nhu cầu về tàu thủy trong những năm sắp tới về số lượng,

số loại tàu như thế nào,…

4 Nội dung nghiên cứu

Trong chuyên đề tốt nghiệp của mình tôi chỉ tập trung nghin cứu các nội dungsau trong 3 chương của bài viết: Sự cần thiết phải phát triển công nghiệp phụ trợ;Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ công nghiệp đóng tàu trong thời gian qua;Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ công nghiệp đóng tàu trong giai đoạn tới2020

Trang 9

Chương I: Sự cần thiết phải phát triển công nghiệp phụ trợ

đóng tàu

1 Khái quát các đặc điểm của ngành công nghiệp đóng tàu

1.1 Khái niệm công nghiệp đóng tàu

Ngành cơ khí là một trong bảy ngành công nghiệp trọng điểm mũi nhọn cầnđược thúc đảy đầu tư phát triển trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Namtrong thời gian tới và định hướng tầm nhìn tới năm 2020 Trong đó, công nghiệpđóng tàu là một trong những ngành công nghiệp quan trọng nhất của ngành côngnghiệp cơ khí mà nếu phát triển dược sẽ khéo theo nhiều ngành công nghiệp cơ khíkhác phát triển Ngành công nghiệp đóng tàu là một trong những ngành công nghiệpnặng chuyên về thiết kế, đóng và sửa chữa các loại tàu thủy

1.2 Các đặc điểm cơ bản về công nghệ, kỹ thuật và quy trình của ngành công nghiệp đóng tàu

1.2.1 Đặc điểm cơ bản của ngành công nghiệp đóng tàu

Công nghiệp tàu thủy là ngành công ngiệp đòi hỏi vốn đầu tư lớn Ngoài vốn

để thuê mua mặt bằng như những ngành khác thì chi phí để mua các máy móc, trangthiết bị nằm đóng và sửa chữa tàu thủy là rất lớn Do đó, để thành lập một nhà máyđóng tàu thì cấn rất nhiều sự đầu tư của chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư liêndoanh, và đặc biệt không thể thiếu được sự hỗ trợ của nhà Nước

Ngành công nghiệp tàu thủy là ngành đòi hỏi công nghệ cao và luôn luôn đổimới công nghệ Đóng tàu phải đáp ứng được rất nhiều tiêu chuẩn của thế giới, tiêuchuẩn về độ an toàn của tùa, tiêu chuẩn về đảm bảo môi trường,… vì thế công nghệdùng trong công nghiệp đóng tàu thường là rất cao Công nghệ này cũng phải đượcthường xuyên cập nhật và đổi mới theo nhịp độ thay đổi của công nghệ đóng tàu thếgiới

Trang 10

Công nghiệp tàu thủy đòi hỏi đội ngũ công nhân viên cán bộ phải có trình độ.Không giống như một số ngành công nghiệp nặng khác, công nghiệp đóng tàu đòihỏi rất cao về độ chính xác trong thiết kế, đóng và sửa chữa nên yêu cầu công nhântrong các nhà máy đóng tàu cũng phải có một trình độ tay nghề nhất nhất định Đặcbiệt là đội ngũ quản lý trong các nhà máy đóng tàu cần phải có trình độ nhất định.Công nghiệp đóng tàu muốn phát triển phải có sự quan tâm phát triển đồngđều của nhiều ngành nên rất cần nhiều chính sahcs hỗ trợ của nhà Nước, các chínhsách về vay vốn ưu đãi, các chính sách hỗ trợ về thuê mặt bằng, và nhiều chính sáchkhác,…

1.2.2 Đặc điểm quy trình đóng tàu

Để đóng mới hoàn thành một con tàu, cần trải qua mười giai đoạn như sau

Giai đoạn 1:Thiết kế

Ở giai đoạn này, người ta thực hiện các bản vẽ thiết kế hình dáng vỏ tàu vàchân vịt, đồng thời tiến hành chế tạo và thử mô hình tàu ngay sau khi kí hợp đồng

và có những đặc tính kỹ thuật cơ bản

Tiến hành thiết kế cơ bản (Basic design): Trong đó bao gồm cả tính toán thửnghiêng, khả năng ổn tính, các kết cấu cơ bản như: đường hình dáng, mặt cắt ngang,các vách chính, các boong, phần mũi, phần lái v v

Tiến hành thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công (Technical and Productiondesigns): Trong quá trình này các bản vẽ cơ bản như kết cấu tàu, các hệ thống ống,máy, điện được triển khai chi tiết Các bản vẽ thi công được thực hiện cho kết cấutừng tổng đoạn, lắp đặt thiết bị v.v Đồng thời cũng tiến hành xác định các đặctính sơn cho vỏ tàu

Các bản vẽ thiết kế cơ bản, kỹ thuật và thi công được thực hiện trên máy tính

và bằng các phần mềm thiết kế, các dữ liệu vế vật tư, thiết bị cần mua được chuyểnqua mạng nội bộ sang các bộ phận mua bán vật tư, thiết bị để tiến hành các thủ tụcđặt hàng

Trang 11

*Giai đoạn 2:Cắt tôn, một số nhà máy coi giai đoạn này mới là bắt đầu khởi công đóng mpis một con tàu

Đầu tiên các tấm tôn được sơn lót, sau đó được chuyển đến phân xưởng cắtbằng dây chuyền

Trên cơ sở các thông tin thu nhận được từ máy tính, máy cắt tự động sẽ cắt cáctấm tôn theo đúng như trong bản vẽ thiết kế

Mỗi tấm tôn khi được cắt ra sẽ có kí hiệu riêng và sau đó chúng được chuyểnsang phân xưởng lắp ráp

*Giai đoạn 3:Lắp ráp phân, tổng đoạn

Trong quá trình lắp ráp, các tấm tôn riêng biệt được hàn vào với nhau thànhcác phân, tổng đoạn

Công việc lắp ráp được thực hiện theo qui trình sản xuất, các tấm tôn phẳngnhư khung đọc, khung ngang được lắp trước, sau đó mới nối với các phần cong.Quá trình hàn được thực hiện trên dây chuyền

Ở các nhà máy đóng tàu lớn của Hàn Quốc, hàng ngày trong các phân xưởng

có thể tiến hành lắp từ 20 đến 30 tổng đoạn, mỗi chiếc có trọng lượng tới 300T

*Giai đoạn 4: Sơ bộ Lắp ráp các khí cụ ,giá đỡ

Rất nhiều thiết bị được lắp sơ bộ trong khi lắp ráp các phân, tổng đoạn tàu.Các đường ống, cáp điện lớn và các bệ máy cũng được đặt đồng thời trong phân,tổng đoạn Rất nhiều các bộ phận thiết bị cho buồng máy, cho các đường ống, dâyđiện cũng được lắp sơ bộ

Trang 12

*Giai đoạn 5: Sơn

Các phân, tổng đoạn sau khi lắp xong được chuyển đến phân xưởng sơn bằngcác xe chở tổng đoạn Bề mặt các tấm tôn của tổng đoạn được làm sạch và sau đósơn từ 3 đến 6 lớp sơn

Các chỗ dùng để nối các tổng đoạn với nhau sẽ được sơn kỹ hơn sau khi cáctổng đoạn đã được hàn nối với nhau trên đà

Hiện nay nhiều nhà máy đóng tàu hiện đại có những phân xưởng sơn rất lớn,được trang bị đầy đủ các thiết bị chống ô nhiễm và sử dụng các hoại sơn không độc,thân thiện với môi trường, chống gỉ rất tốt, không gây tổn hại cho sức khỏe conngười và kéo dài tuổi thọ của tàu

*Giai đoạn 6: Đấu tổng đoạn trên đà

Sau khi sơn xong ở bãi lắp ráp ngoài trời gần đà, các phân đoạn nhỏ được hànvới nhau để thành các tổng đoạn lớn

Các tổng đoạn lớn được đưa lên đà để hàn đấu với nhau thành con tàu

*Giai đoạn 7: Hạ thuỷ

Sau khi đấu xong các tổng đoạn và các phần mũi, lái, tàu được hạ thủy xuốngnước và đưa ra cầu tàu để tiếp tục lắp phần ca bin thượng tầng và các thiết bị khácTheo truyền thống, khi hạ thủy người mẹ đỡ đầu cho con tàu sẽ ném chai sâmpanh vào phần mũi tàu Sau khi chai sâm panh vỡ tung, tàu được cắt các dây giữ vàđược đẩy xuống nước

*Giai đoạn 8: Lắp hoàn chỉnh thiết bị

Trên những bệ, giá đã được đặt sẵn ở giai đoạn trước trên tàu, các thiết bị nhưmáy chính, nồi hơi, thiết bị máy, thiết bị điện được tiến hành lắp và hoàn thiện trongbuồng máy, ca bin cũng như trong các khu vực khác của tàu

Trang 13

Tuy nhiên, ở các nhà máy đóng tàu của Hàn Quốc có tới 90% các thiết bị đượclắp lên tàu trước khi hạ thủy, vì khi lắp thiết bị trên bờ thì các điều kiện về ổn địnhtốt hơn và do đó chất lượng lắp ráp cũng tốt hơn.

*Giai đoạn 9: Thử đường dài

Trong quá trình thử đường dài, tất cả chức năng của các hệ thống trên tàu sẽđược kiểm nghiệm và hoạt động như khi hành trình thật Máy chính, trạm phát điệnhoạt động cung cấp điện năng cho tất cả các thiết bị để tiến hành thử các hệ thống.Chủ tàu và cơ quan Đăng kiểm cũng tham gia thử đường dài để xác nhận toàn

bộ các hạng mục theo đúng hợp đồng và thiết kế

*Giai đoạn 10: Bàn giao

Sau khi tàu thử đường dài xong sẽ làm lễ bàn giao cho chủ tàu

Sau khi bàn giao xong, tàu được phép chính thức vận hành

Để nâng cao được tỷ lệ nội địa hoá không những đòi hỏi phải sản xuất đượccác thiết bị tàu thuỷ mà còn phải làm chủ được quy trình đóng tàu bằng đội ngũcông nhân kỹ sư trong nước.Chỉ khi nào ngành đóng tàu Việt Nam làm chủ đượcquy trình đóng tàu , đồng nghĩa với làm chủ được công nghệ thì chúng ta mới thực

sự nội địa hoá thành

1.3 Các bộ phận cơ bản của một con tàu và các loại tàu cơ bản

13.1 Các bộ phận cơ bản của một con tàu

Về cơ bản các thiết bị tàu thuỷ có thể chia làm 3 phần: phần vỏ tàu, phần điện

Trang 14

thuỷ; sơn và vật liệu hàn…đòi hỏi phải có nhà máy sản xuất vật liệu hàn và nhà máysơn,hoá chất Một vài đòi hỏi trên cho thấy để nội địa hoá được phần vỏ tàu đòi hỏiphải có ngành công nghiệp phụ trợ rất mạnh, đặt ra rất nhiều khó khăn cho ngànhđóng tàu trong việc nâng cao tỷ lệ nội địa hoá đạt 60% vào năm 2010.

* Phần máy:bao gồm động cơ hai thì, động cơ bốn thì, hệ thống điều khiển,bánh lái,máy quay chân vịt, máy phát điện, các loại bơm, các thiết bị hộp số, chânvịt,…

Tàu thủy có rất nhiều loại máy như: máy chính quay chân vịt,máy phátđiện,các loại bơm,nồi hơi tàu thuỷ ,các thiết bị hộp số và chân vịt…Để tự sản xuấtđược phần máy tàu cần có ngành cơ khí chế tạo máy đi kèm

* Phần điện

Một vài chi tiết, hệ thống cần chế tạo: trước hết phải có được bản thiết kế sơ

đồ hệ thống điện trên tàu, hệ thống chuông truyền lệnh chỉ huy, thiết bị tự động phátbáo hiệu sương mù, bảng đèn và tín hiệu hàng hải, bộ báo động số…Để nội địa hoáđược phần điện cần có ngành điện tử đi kèm

1.3.2 Các loại tàu thủy chính

Theo chức năng chuyên chở và đối tượng phục vụ: tàu hàng, tàu khách, tàuđánh bắt thủy sản, tàu quân sự, tàu nghiên cứu thềm lục địa, tàu chuyên dụng Theo vùng hoạt động (cấp tàu): bao gồm tàu biển và tàu sông Tàu biển: cấpkhông hạn chế, hạn chế cấp I: cách bờ không quá 200 hải lý, hạn chế cấp II: cách

bờ không quá 50 hải lý, hạn chế cấp III: cách bờ không quá 20 hải lý; Tàu sông:hạn chế cấp I: chiều cao sóng h 3% không quá 2m, hạn chế cấp II: chiều cao sóng h

3% không quá 1.2m; Tàu pha sông biển: theo cấp tàu biển

Cách phân loại theo chức năng chuyên chở thường được áp dụng rộng rãi nhất.Tàu hàng là loại tàu chuyên chở hàng hóa, tàu khách là tàu chuyên chở khách dulịch hoặc tàu chở khách thông thường, tàu đánh bắt thủy sản là tàu các ngư dân hoặccác doanh nghiệp dùng để ra biển đánh bắt thủy hải sản, tàu quân sự là tàu dùng

Trang 15

trong ngành quân sự như tàu chiến,…, tàu nghiên cứu thềm lục địa thường là tàungầm dùng chuyên lặn sâu xuống các lục địa để các nhà khoa học nghiên cứu dướiđáy đại dương, và các loại tàu chuyên dụng khác là các loại tàu chuyên dùng vàomột mục đích nào đó,…

1.4 Các bộ phận trong một con tàu mà Việt Nam ta cần hướng tới sản xuất trong nước

Để nâng cao giá trị gia tăng của một con tàu Việt Nam ta cần chú tâm tới pháttriển các bộ phận của một con tàu mà cần trình độ công nghệ có thể chưa cần quácao, ta không cần sản xuất tất cả các bộ phận của một con tùa mà ta chỉ nên pháttriển sản xuất những gì tận dụng được những lợi thế trong nước như:

Vỏ tàu bằng thép: yêu cầu cần có ngành công nghiệp thép đóng tàu phát triểntheo Ngành công nghiệp thép đóng tàu có thể liên doanh hoặc chuyển giao côngnghệ từ các hãng sản xuất thép nổi tiếng thế giới để chế tạo thép tấm đóng tàu kíchthước lớn 24m*4,5m*0,05m; thép hình các loại; thép ống không hàn; thép cường độcao, thép chế tạo, thép không rỉ,…Hiện nay, tổng công ty tàu biển Việt Nam đangtriển khai xây dựng nhiều nhà máy cán thép phục vụ cho đóng tàu

Động cơ tàu thủy: hiện nay, có tổng công ty máy Động lực và máy Nôngnghiệp Bộ Công nghiệp có 21 đơn vị thành viên, có thể sản xuất được các loại động

cơ tàu thủy 160CV, hộp số 6-90CV, xích neo 10000DWT

Bộ điều kiển tự động: trình độ tin học Việt Nam ta hiện nay cũng tương đốicao, và ngành công nghệ thông tin ở VIệt Nam cũng tương đối phát triển và cónhiều tiềm năng, do đó ngành công nghiệp đóng tàu nên đầu tư phát triển sản xuấtcác thiết bị điều khiển tự động Đây là giai đoạn mà ta có thể nhảy vọt để phát triểncông nghiệp đóng tàu

Ngoài ra, Việt nam ta cũng có thể hướng tới sản xuất các bộ phận khác nhưcác trang thiết bị nội thất trên tàu, hệ thống điện, hệ trục, chân vịt,…

Trang 16

2 Công nghiệp phụ trợ đóng tàu

2.1 Khái niệm công nghiệp phụ trợ

Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi, thế nhưng khái niệmcông nghiệp phụ trợ chưa hình thành một cách hiểu thống nhất trong các lý thuyếtkinh tế cũng như trên thực tế.Junichi Mori (2005) cho rằng có hai cách tiếp cận đốivới khái niệm công nghiệp phụ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinhdoanh

Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các ngành sảnxuất đầu vào (manufactured inputs) Công nghiệp phụ trợ chính là những ngành sảnxuất các sản phẩm đầu vào, gồm: Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediategoods);Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods)

Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp phụ trợ

Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng linh kiện phục vụcho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp phụtrợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo

ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sảnphẩm Khái niệm công nghiệp phụ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngànhcông nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tínhchính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt.Hai ngành công nghiệp hay sử dụng nhiều khái niệm công nghiệp phụ trợ là ngành

ô tô và điện tử Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phảiđược hiểu một cách tổng quát như một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nóichung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗiloại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độkhác nhau về yếu tố phụ trợ

Công nghiệp phụ trợ còn được hiểu theo nghĩa: gồm tất cả các ngành côngnghiệp sản xuất đầu vào hay bó hẹp trong một số ngành sản xuất các bộ phận sản

Trang 17

phẩm, linh kiện và thiết bị phục vụ cho một số ngành sẽ tùy thuộc vào mục đích tiếpcận của người sử dụng khái niệm này.

Có ba cách thể hiện chính thức định nghĩa về công nghiệp phụ trợ trong cácvăn bản cấp quốc gia, gồm:

Theo cách tổng quát Định nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp phụtrợ được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đưa ra vào vàonăm 1993: Công nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cầnthiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn… cho các ngành công nghiệp lắp ráp

(bao gồm ô tô, điện và điện tử) Cũng theo cách này, Phòng Năng lượng Hoa Kỳ

trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi “Các ngành công nghiệp phụ trợ: công nghiệpcủa tương lai”, đã định nghĩa công nghiệp phụ trợ là những ngành sử dụng nguyênvật liệu và các quy trình cần thiết để định hình và chế tạo ra sản phẩm trước khichúng được lưu thông đến ngành công nghiệp sử dụng cuối cùng (end-useindutries) Tuy khái niệm của Phòng Năng lượng Hoa Kỳ đưa ra rất tổng quátnhưng cơ quan này, trong phạm vi chức năng của mình, tập trung chủ yếu vào mụctiêu tiết kiệm năng lượng Do đó, công nghiệp phụ trợ theo quan điểm của cơ quannày là những ngành tiêu tốn nhiều năng lượng như than, luyện kim, thiết bị nhiệt,hàn, đúc…

Theo cách cụ thể Định nghĩa của Văn phòng phát triển công nghiệp phụ trợThái Lan (Bureau of Supporting Industries Development - BSID): Công nghiệp phụtrợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đónggói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơkhí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngành công nghiệp phụtrợ quan trọng)

Theo cách liệt kê Hội đồng đầu tư Thái Lan phân loại các ngành công nghiệpsản xuất thành phẩm thành 3 bậc: lắp ráp, sản xuất linh kiện và phụ kiện, và cácngành công nghiệp phụ trợ Năm sản phẩm chính của ngành công nghiệp phụ trợ làgia công khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các gia công nhiệt

Trang 18

Có thể nói, công nghiệp phụ trợ cho đến nay vẫn chưa được hiểu một cáchthống nhất Không chỉ về chuẩn hóa định nghĩa hay cách tiếp cận, còn có hai quanđiểm trái ngược nhau về đặc thù của ngành công nghiệp phụ trợ.

Quan điểm từ các lý thuyết kinh tế phát triển về công nghiệp thượng nguồn và

hạ nguồn cho rằng, công nghiệp phụ trợ có đặc tính thâm dụng vốn, có độ phủ rộngphục vụ và chia sẻ với nhiều ngành sản xuất Khác với ngành hình thành sản phẩmcuối cùng có thể cần nhiều nhân lực phổ thông, các thiết bị, linh kiện, sản phẩm hỗtrợ được sản xuất với sự đầu tư tốn kém về máy móc và nguồn nhân lực kỹ thuậtcao Chính vì vậy, công nghiệp phụ trợ là những ngành thâm dụng vốn, đòi hỏi cao

về chất lượng lao động Mặt khác, công nghiệp phụ trợ có độ phủ rộng, sản phẩm cóthể sử dụng chung cho nhiều ngành, do đó phải đáp ứng được những yêu cầunghiêm ngặt về công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật Cả hai đặc tính này khiến côngnghiệp phụ trợ ở các nước đang phát triển kém tính cạnh tranh Các doanh nghiệpvừa và nhỏ tại các nước đang phát triển thường không đủ nguồn lực về vốn cũngnhư về lao động kỹ thuật cao để có thể phát huy vai trò của công nghiệp phụ trợ khitham gia chuỗi giá trị

Ngược lại, công nghiệp phụ trợ trong quan điểm khác gắn với khái niệmdoanh nghiệp vừa và nhỏ Khái niệm công nghiệp phụ trợ của Trần Văn Thọ(2006) chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuấtcác thành phẩm chính, cụ thể gồm những linh kiện, phụ tùng, phụ liệu, bao bì…vàbao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế Sản phẩm côngnghiệp phụ trợ, theo ông, thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa Do đó, những ngành sản xuất thâm dụng vốn như quanđiểm trên sẽ không được tính là công nghiệp phụ trợ MITI - Bộ Công nghiệp vàThương mại quốc tế Nhật Bản (đổi thành METI vào năm 2001) ban đầu với mụcđích thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏtại các nước Đông Nam Á cũng đã có cách hiểu tương tự Trong các báo cáo củaMITI vào năm 1985, công nghiệp phụ trợ được xem là các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 19

sản xuất linh kiện, đóng vai trò tạo lập hạ tầng công nghiệp vững mạnh tại các quốcgia Đông Nam Á trong trung và dài hạn.

Ở Việt Nam, quan niệm về công nghiệp phụ trợ xuất hiện trong các chươngtrình hợp tác kinh tế với Nhật Bản Khái niệm này được du nhập vào nước ta thôngqua vai trò của Diễn đàn kinh tế Việt Nam (VDF) và ảnh hưởng của các luồng FDINhật Bản, đặc biệt gắn với việc chọn lựa địa điểm đặt các nhà máy sản xuất củanhững tập đoàn đa quốc gia Thuật ngữ công nghiệp phụ trợ được sử dụng chínhthức từ năm 2004, chủ yếu trong các chỉ thị, công văn chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ Chỉ thị số 47/2004/CT-TTg ngày 22/12/2004 về các giải pháp nâng cao sứccạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có đề ra nhiệm vụ trong năm

2005: “Tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để tăng cường khả năng

cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phẩm, phụ liệu đầu vào trong nước cho sảnxuất hàng công nghiệp xuất khẩu và thúc đẩy mối quan hệ bổ trợ liên ngành giữa

các ngành công nghiệp…” Một vài công văn và chỉ thị sau đó cũng lặp lại nội dung

này (Chỉ thị 27/2006/CT-TTg ngày 07/08/2006) Đặc biệt, nội dung phát triển pháttriển công nghiệp đã được đề cập trong Quy hoạch tổng thể phát triển các ngànhcông nghiệp Việt Nam (Quyết định số 73/2006/QĐ-TTg ngày 04/04/2006 về phêduyệt Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020) Công nghiệp phụ trợ trở thànhmột trong những nội dung chính đối với Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệpđiện tử Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 (Quyết định số 75/2007/QĐ-TTg ngày 28/05/2007) Tuy nhiên, trong các văn bản này vẫn chưa xuất hiện mộtđịnh nghĩa chính thức về công nghiệp phụ trợ

Ngày 31/07/2007, Bộ Công nghiệp ra Quyết định số 37/2007/QĐ-BCN phêduyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm

2020 Nội dung quy hoạch không xác định thế nào là công nghiệp hỗ trợ, chủ yếunêu ra các ngành cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, gồm: dệt-may, dagiày, điện tử-tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo Thực tế, công nghiệp

hỗ trợ hay công nghiệp phụ trợ chỉ khác nhau ở cách sử dụng từ ngữ Nếu căn cứ từ

Trang 20

nguyên gốc, supporting industries chủ yếu hướng tới các ngành lắp ráp, có sản

phẩm cuối cùng là một chỉnh thể được lắp ráp từ nhiều bộ phận, linh kiện khácnhau Có lẽ theo ý đồ những nhà soạn thảo chính sách, sử dụng thuật ngữ côngnghiệp hỗ trợ sẽ bao hàm nhiều ngành hơn, phù hợp với việc đưa ra các giải phápchung Như vậy, đến nay vẫn chưa hình thành quan điểm chính thức về công nghiệpphụ trợ ở Việt Nam Các chính sách, văn bản dường như cẩn trọng trong cách sửdụng thuật ngữ do những khó khăn trong việc định hình một khái niệm vốn cónhiều quan điểm và tùy từng mục tiêu mà có các lý giải khác nhau

2.2 Công nghiệp phụ trợ cho đóng tàu

Công nghiệp phụ trợ đóng tàu là một ngành công nghiệp phụ trợ cho ngànhcông nghiệp đóng tàu Theo cách hiểu đơn giản nhất ngành công nghiệp phụ trợđóng tàu là ngành công nghiệp sản xuất các bộ phận trung gian phục phụ cho ngànhcông nghiệp đóng tàu bao gồm các ngành công nghiệp sản xuất các linh kiện, phụtùng phục vụ sản xuất đóng tàu

2.3 Phân loại các ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu

Công nghiệp chế tạo thép đóng tàu: thép tấm, thép ống, thép hình,…

Công nghệ chế tạo động cơ tàu thủy động cơ Diesel cao tốc, trung tốc, thấptốc; 4 thì, 2 thì,…

Công nghệ chế tạo hệ thông hộp số , trục và chân vịt tàu thủy

Công nghệ chế tạo hệ thống phát điện tàu thủy

Công nghệ chế tạo trang thiết bị tàu thủy:động cơ điện, khí điện tàu thủy, cápđiện tàu thủy, các loại đèn công tắc, ổ cắm tàu thủy, các loại tủ bảng điện tàu thủy,các hệ thống tự động điều khiển

Công nghệ chế tạo nghi khí hằng hải: rađa, dò sâu, định vị vệ tinh, đo tốc độnước, và đo hướng gió, hệ thống thông tin liên lạc…

Công nghệ chế tạo thiết bị trên boong tàu: nắp hầm hàng, caanf cẩu, tời cácloại, hệ thống neo, hệ thống cứu sinh,…

Trang 21

Công nghệ chế tạo máy phụ tàu thủy: nồi hơi tàu thủy, các loại bơm, các loạivan vòi, phụ kiện đường ống,các loại máy lọc dầu, hầm dầu, lọc nơpcs biển, làmmát nước và dầu, sản xuất nước ngọt, hệ thông đo bao mức két,…

Công nghệ chế tạo vật liệu phụ đóng tàu: sơn tàu thủy, vật liệu hàn, điệncựcchống ăn mòn, vật liệu cách nhiệt, cách âm,…

Công nghệ chế tạo vật liệu trang thiết bị và nội thất tàu thủy

Ngoài ra còn rất nhiều loại máy móc thiết bị phụ tùng, vật tư khác có thể được

sử dụng từ các ngành công nghiệp phụ trợ khácphục phụ đóng tàu

3 Sự cần thiết phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu

Phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu để nâng cao năng lực cạnh tranh của

ngành công nghiệp đóng tàu trong nước Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh củangành là vấn đè sống còn của ngành công nghiệp đóng tàu đặc biệt là trong giaiđoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay

Phát triển công nghiệp đóng tàu là một cách nâng cao vị thế đất nước dựa vàotận dụng tối đa tiềm năng của đất nước Việt Nam ta là một quốc gia co nhiều tiềmănng, lợi thế cho sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp đóng tùa Bờ biển dài3250km, có thể xây dựng hàng trăm hải cảng, 20000m bến, 2,2 triệu m bãi cùngnhiều eo vịnh nhỏ Đặc biệt, nhiều địa điểm có thể xây dựng các cảng nước sâu có

cơ hội để đón nhận xu thế đầu tư công nghệ diễn ra mạnh mẽ hiện nay Phát triểncông nghiệp đóng tàu cũng góp phần phát triển giao thông đường thủy, mà nước ta

là trung gian giao thông giữa châu Âu và châu Á, án ngữ giữa các tuyến giao thônghằng hải giữa Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, giữa Châu Âu và trung cận Đôngtới Trung Quốc,… Hơn nữa dân số vùng duyên hải chiếm 32% dân số cả nước, đây

là một nguồn lao đông dồi dào và là một tiềm năng cho phát triển ngành côngnghiệp tàu thủy

Ngành công nghiệp đóng tàu là một trong những ngành công nghiệp tiềm năngcủa công nghiệp nặng nước ta, là một trong 8 ngành công nghiệp nằm trong những

Trang 22

ngành công nghiệp cần định hướng phát triển, do đó viecj phát triển ngành côngnghiệp đóng tàu là một nhiệm vụ hết sức quan trọng Muốn phát triển ngành côngnghiệp đóng tau trước hết phải phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cho đóng tàu.Hay nói cách khác nước ta khoong thể phát triển ngành công nghiệp dóng tàu khikhông phát triển trước ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàung tàu, nội địa hóa ngànhcông nghiệp đóng tàu, tăng giá trị gia tăng của một tàu đóng mới do Việt Nam tasản xuất.

Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu còn là mắt xích để phát triểncác ngành công nghiệp khác như ngành công nghiệp sản xuất thép, công nghệ thôngtin, điện tử, …

Tận dụng tối đa các nguồn lực trong nước như nguồn nhân công dồi dào, giàutài nguyên thiên nhiên đặc biệt là quặng để sản xuất thép,…

Đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp cao, góp phần đưa đất nướcthoát khỏi tình trạng suy thoái hiện nay

4 Những lợi thế của Việt Nam trong việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu

4.1 Những thuận lợi của Việt Nam trong phát triển công nghiệp phụ trợ đóng tàu

Bên cạnh những khó khăn ngành đóng tàu Việt Nam cũng có rất nhiều thuậnlợi phát triển

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển công nghiệp đóng tàu như nguồn tàinguyên rất dồi dào để phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ như sản xuất thépđóng tàu, dooif dào nguồn nhân công giá rẻ Việt Nam là cầu nối giao thông cho rấtnhiều quốc gia

Ngành đóng tàu được chọn làm ngành công nghiệp trọng điểm ưu tiên pháttriển của Việt Nam Đồng nghĩa với nó là vị trí ưu tiên trong chính sách phát triểncác ngành công nghiệp trong giai đoạn tới của Chính Phủ.Hàng năm đóng tàu nhân

Trang 23

được rất nhiều vốn dành cho đầu tư phát triển từ nhà nước Đây là một thuận lợi rấtlớn nhưng cũng là áp lực thúc đẩy ngành phát triển.

Xu hướng hợp tác phân công lao động quốc tế trong ngành đóng tàu hiện naycũng tạo ra cơ hội cho ngành phát triển

Việt Nam có giá nhân công rẻ đây là thuận lợi rất lớn cho ngành đóng tàutrong cạnh tranh với các nước như Nhật Bản và Hàn Quốc

Nhu cầu về tàu thủy các loại ngày càng cao tạo ra cho ngành tàu thủy VIệtNam những đơn đặt hàng ổn định cũng là một cơ hội thuận lợi cho ngành côngnghiệp tàu thủy VIệt Nam phát triển

4.2 Những khó khăn của Việt Nam trong phát triển công nghiệp đóng tàu

Ngành đóng tàu Việt Nam tuy đã có truyền thống lâu đời nhưng hiện nay đang

ở trình độ thấp hơn so với các nước có ngành đóng tàu phát triển mạnh trong khuvực như Nhật Bản ,HànQuốc và TrungQuốc.Ngành đóng tàu sẽ gặp khó khăn khiphải cạnh tranh với các nước trên trong việc giành các hợp đồng đóng mới tàubiển.Ngành đóng tàu đang gặp một số khó khăn chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: hệ thống cảng biển phát triển không đồng bộ với sự phát triển củangành đóng tàu.Xây dựng hệ thống cảng biển hiện đại là điều kiện đầu tiên để pháttriển các ngành kinh tế biển trong đó có ngành đóng tàu.Những cảng trọng điểmquốc gia Việt Nam hiện nay có cảng Cái Lân,Hải Phòng-ĐìnhVũ,Cửa Lò,Tiên sa-

Đà Nẵng,Quy Nhơn,Nha Trang,Dung Quất,Sài Gòn,Thị Vải và cảng Cần Thơ.Hệthống cảng biển Việt Nam hiện nay phát triển khá tủn mủn vì vậy không có tácdụng hỗ trợ phát triển đóng tàu.Việt Nam muốn quy hoạch các trung tâm đóng tàulại phải đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển

Thứ hai: các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành đóng tàu không phát triển.Đóng tàu là ngành công nghiệp khá tổng hợp ,sử dụng sản phẩm của rất nhiềungành như :cơ khí chế tạo máy, điện tử,sơn,vật liệu hàn…làm đầu vào.Chính vì vậythiếu các ngành công nghiệp phụ trợ là khó khăn rất lớn của ngành

Trang 24

Thứ ba: Những năm gần đây ngành đóng tàu Việt Nam phát triển rất nhanhvới tốc độ khoảng 40%/năm, để đáp ứng tốc độ tăng trưởng này đòi hỏi một lượngnhân lực bổ xung hàng năm rất lớn.Thực tế hiện nay nhân lực đóng tàu đang thiếu

cả về số lượng và chất lượng Ngành đang thiếu nhân lực chất lượng cao đặc biệttrong các khâu đòi hỏi kỹ thuật cao như thiết kế.Với sự thiếu hụt này ngành khôngthể tiến hành đổi mới nâng cấp công nghệ đóng tàu,gây cản trở lớn tới sự pháttriển

Thứ tư:Ngành đóng tàu là ngành công nghiệp nặng đòi hỏi vốn đầu tư rấtlớn.Với thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay việc thiếu vốn đầu tư phát triểnngành đóng tàu là không tránh khỏi.Thiếu vốn đầu tư phát triển trong những nămtới đang là khó khăn rất lớn đặt ra

Trang 25

Chương II: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu Việt

Nam trong thời gian qua

1 Khái quát thành tựu của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam trong thời gian qua

1.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp đóng tàu trong thời gian qua

1.1.1 Tình hình kinh doanh của ngành công nghiệp tàu thủy

Công nghiệp đóng tàu ở nước ta tuy còn non trẻ so với các nước trong khu vựcchâu Á, nhưng những năm qua đã gặt hái được nhiều thành công Những năm trở lạiđây, ngành Công nghiệp đóng tàu ở nước ta đã gặt hái nhiều thành công và từngbước khẳng định mình trên thương trường quốc tế Công nghiệp đóng tàu Việt Nam

đã hướng ra biển lớn khi Tập đoàn Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) bàn giao hai contàu trọng tải 53.000 tấn đầu tiên cho Tập đoàn Graig Investment (Vương quốc Anh).Sắp tới đây, tàu Tay Do Star, tải trọng 6.400 tấn, cũng được bàn giao cho Công tyVận tải sông biển Cần Thơ (thuộc Vinashin) khai thác… Đây là con tàu “Made inViệt Nam” xuất xưởng đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất theo tiêu chuẩnquốc tế về đăng kiểm tàu thủy, do đội ngũ kỹ sư, công nhân của Trung tâm Tư vấnThiết kế Công nghiệp tàu thủy Sài Gòn và Công ty TNHH Nhà nước một thành viênCông nghiệp Tàu thủy Sài Gòn thực hiện.Dù đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu haynội địa thì công nghiệp đóng tàu ở nước ta cũng đã có những bước phát triển vượtbậc từ công đoạn thiết kế, thi công, lắp ráp Tính đến nay, Vinashin đã nhận đượckhoảng 6 tỷ USD đơn hàng, trong đó có trên 4 tỷ USD đơn hàng xuất khẩu sang cácnước có ngành Công nghiệp đóng tàu phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh,Đức… Phần lớn đơn đặt hàng kéo dài đến năm 2009, 2010 và 2012 Ông PhạmThanh Bình, Chủ tịch Tập đoàn vinashin phấn khởi cho biết, ngành công nghiệpđóng tàu việt nam ngày nay đã khiến cả thế giới biết đến, khi liên tục nhận đượcnhững hợp đồng lớn, với hàng loạt dự án đầy tiềm năng đang được triển khai.Đó

Trang 26

chính là niềm tin, là cơ sở để Vinashin vay được số tiền lớn 600 triệu USD từ Ngânhàng Thụy Sĩ vào tháng 7/2007, cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư các

dự án lớn như đóng tàu 105.000 DWT tại Dung Quất, kho nổi 150.000 DWT tạiNam Triệu, tàu chở ô tô 4.900 xe tại Hạ Long, hợp đồng 27 tàu chở hàng 53.000DWT cho chủ tàu Graig (Anh Quốc) cùng các tàu 22.500 DWT, 12.500 DWT,

10.500 DWT và 8.700 DWT cho chủ tàu Nhật Bản Tuy nhiên, bước vào “sân chơi”

mới, ngành Tàu thủy Việt Nam đũi hỏi phải đáp ứng những nhu cầu khắt khe về kỹthuật của ngành đóng tàu thế giới.Bước vào “sân chơi” WTO, buộc chúng ta phảichấp nhận “luật chơi” của quốc tế So với các cường quốc đóng tàu ở châu Á nhưHàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc, Việt Nam còn non về “tuổi nghề” Điều đókhông tránh khỏi việc các nhà máy đóng tàu của Việt Nam hiện vẫn còn nhỏ do đầu

tư manh mún và phân tán, nên không tận dụng triệt để ưu thế của ngành côngnghiệp này mang lại Mặt khác, công nghiệp đóng tàu của ta còn phụ thuộc nhiềuvào các chuyên gia giám sát, tư vấn viên và đặc biệt là hầu hết các nguyên vật liệuchính, máy móc đều phải nhập khẩu từ nước ngoài…

Ngành Công nghiệp đóng tàu là một ngành đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao, lạithay đổi, cải tiến liên tục nên không thể nóng vội, đầu tư hàng loạt để hình thànhmột nền công nghiệp đóng tàu mạnh được Có những phần mềm chỉ phục vụ chomột cấu phần nhỏ trong quá trình thi công cũng trị giá hàng triệu USD Những kỹthuật mới nhất, đắt giá nhất nếu vội nhập về, chưa chắc sử dụng được bởi khả năngtương thích với dây chuyền kỹ thuật đã có Phần mềm đắt tiền chưa chắc đã phùhợp, mà phải nỗ lực đổi mới để hình thành một quy trình sản xuất đóng tàu của ViệtNam Trong quá trình thi công, việc kiểm tra các tuyến hình có được bôi trơn đầy

đủ để giảm lực cản nước biển khi tàu chạy là rất khó khăn Xuất phát từ thực tế trên,phần mềm kiểm tra được cải tiến để có thể kiểm tra trong không gian 3 chiều, máytính có thể phóng lớn chi tiết để kiểm tra Các cơ quan đăng kiểm cũng đánh giáphần mềm giúp bôi trơn được đều hơn, giảm sức cản khi chạy, giúp tàu đạt được tốc

độ cao hơn và giảm chi phí nhiên liệu

Trang 27

Việc ứng dụng thành công nội địa hóa thiết kế thi công vỏ tàu biển chỉ là mộttrong cấu phần nhỏ của đóng mới tàu biển tải trọng lớn Tuy nhiên, đây cũng là mộttiền đề để từ đó nhân rộng thêm các mô hình nghiên cứu ứng dụng các quy trình sảnxuất “Made in Việt Nam”

Công nghiệp đóng tàu Việt Nam cũng đã lôi cuốn được nhiều người chú ý từvài năm gần đây do đã biết lợi dụng khả năng hạn hẹp của các nước đóng tàu chủyếu trên thế giới và nhẩy vào thị trường xuất khẩu tàu thế giới Nhưng cuộc khủng hoảng toàn cầu đã xảy ra làm nảy sinh vấn đề công nghiệp đóngtàu phải phát triển sao cho thật sự bền vững

Nhận thức vai trò quan trọng của ngành Công nghiệp đóng tàu, Vinashin đãthiết lập được các trung tâm đóng tàu lớn ở cả 3 miền: Hải Phòng, Quảng Ninh(miền Bắc), Dung Quất (miền Trung); Hậu Giang (miền Nam) Với hàng loạt dự ánlớn được đầu tư theo hướng khép kín (gồm cả công nghiệp phụ trợ, đào tạo…),Vinashin phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa trên 60% vào năm 2010 Mặt khác,Vinashin còn mạnh dạn đầu tư, ứng dụng máy móc thiết bị, công nghệ cao, nhữngphần mềm thiết kế và công nghệ đóng tàu hiện đại đưa vào sản xuất Cụ thể, cáccông nghệ lắp ráp có tổng đoạn lớn, công nghệ phóng dạng vỏ tàu bằng phần mềmthiết kế thi công Ship Constructor, dây chuyền sản xuất vật liệu hàn hiện đại… đượcVinashin đưa vào sử dụng, đã rút ngắn được thời gian thi công và nâng cao chấtlượng tàu Đây là một hướng đi mới mà ngành đóng tàu Việt Nam đang tập trungđầu tư.Gần đây, Vinashin phát biểu rằng họ hy vọng xuấnt khẩu một tỷ đô la tàutrong năm nay,cao hơn năm trước 700 triệu đô la

Chính phủ Việt Nam cũng tỏ ra đặc biệt quan tâm tới việc phát triển côngnghiệp đóng tàu quốc gia Chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn ,doanh nghiệpquốc doanh Vinashin đã đi từ chỗ chỉ đóng các con tàu bách hóa nhỏ đã tiến tớiđóng các tàu chở xô loại supramax, tàu chở ô tô và nhiều loại tàu khác nữa.Theothông báo của Vinashin ,tốc độ phát triển nhanh trên các bậc thang công nghệ gầnđây đã tạo một bước tiến ngoạn mục khác với việc chiếc kho nổi FSO đầu tiên đang

Trang 28

được đóng và con tàu dầu đầu tiên trong một loạt bốn chiếc aframax đang được tiếnhành

Theo Cục Đăng kiểm Việt Nam, đến nay cả nước có 128 cơ sở đóng và sửachữa tàu biển Phần lớn các cơ sở nàytrực thuộc tập đoàn công nghiệptauf thủy ViệtNam, tập đoàn dầu khí Việt Nam, tập đoàn than khoáng sản Việt Nam, và một số

cơ sở tư nhân khác Các cơ sở này đang đóng mới 550 tàu biển có kích cỡ khácnhau, từ 1.000 tới 150.000 DWT, ở nhiều giai đoạn khác nhau.Chỉ trong khoảngthời gian bảy năm gần đây, ngành đóng tàu nước ta với đại diện là công ty tàu thủyViệt Nam đã có bước phát t riển đáng tự hào Chế tạo được nhiều loại tàu có chấtlượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế như các xêri tùa chở hàng tải trọng từ 6500 tấn,

11500 tấn, 22000 tấn, 53000 tấn, hiện nay ngành tàu thủy nước ta đã và đang đóngmới các loại tàu cao tốc phục vụ cho an ninh quốc phòng, các loại tùa chở hàngcontainer, tàu chở dầu thô150000 DWT,… Hiện nay ngành đóng tàu đã có thể thỏamãn nhu cầu trong nước và có một số đơn đặt hàng của nước ngoài của các nướckhu vực Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc,… Trong thiết kế sản xuất tàu chúng ta

đã bước đầu chủ động được một phần thiết kế, sản xuất được một số chủng loại vật

tư phục vụ đóng tàu như vật liệu hàn, vật liệu chống cháy, máy lái, trang bị nội thất,thiết bị nâng hạ,…

Ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam đến nay đã đóng mới xuất khẩu đượccác loại tàu có trọng tải đến 53000 tấn cho các chủ tàu Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc,Đức, Đan mạch, Nga, đóng và sửa chữa các loại tàu có tính năng phức tạp, gópphần làm tăng số lượng và trọng tải đội tàu vận tải biển của doanh nghiệp trongnước với các chủng loại như : tàu chở container,1700 TEU tương đương với 22000tấn, tàu khách biển cao tốc 200 chỗ, tùa đánh cá xa bờ 600 mã lực, tàu cao tốc vỏthép cường độ cao, tàu cao tốc vỏ nhôm, các loại vỏ composite, tàu kéo biển 6000sức ngựa, đóng ụ nổi 85000 tấn Hiện nay ngành đang triển khai đóng các loại tùa

có trọng tải trên 100000 tấn, kho chứa dầu tọng tải 150000 tấn, chuẩn bị đóng tàutrọng tải trên 300000 tấn, sản xuất dàn khoan dầu khí,…

Trang 29

Đội tàu biển Việt Nam đã có sự phát triển cả về mặt chất và lượng, tính đến ngày

30 tháng 9 năm 2008, Việt Nam đã có 1640 tàu biển với tổng dung tích hơn 3,28 triệutấn đăng ký và trọng tải toàn phần hơn 5,26 triệu DWT, trong đó có trên hơn 450 tàuhoạt động tuyến quốc tế Tính từ 2002 đến nay, tổng dung tích đội tàu biển ViệtNamtawng bình quân hàng năm là 21% Bên cạnh đội tàu mang quốc tịch Việt Nam,các chủ tàu Việt Nam cũng quản lý khai thác trên 50 tà mang quốc tịch nước ngoàinhư: panama,tuvalu, MÔng cổ,…Ngày càng có nhiều tàu mới hiện đại với tải trọng lớnđược bổ xung vào đội tàu biển Việt Nam, nước ta có mọi loại tàu thương mại khácnhau, bao gồm cả tàu chở hóa chất, tàu chở khí háo lỏng, tàu cao tốc, tùa lặn và tàu chởkhách Các con tùa treo cờ đổ sao vàng ngày càng xuất hiện nhiều hơn ở khắp các hảicảng của mọi đại dương, góp phần mang hình ảnh cảu đất nước Việt Nam đổi mới,năng động hơn đến với bạn bè năm châu Đội thương thuyền VIệt Nam đang ngàycàng vươn xa trên các đại dương trên thế giới

Mặc dù tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam là đơn vị mới thành lập năm 1996theo mô hình tổng công ty 91 và từ năm 2006 đến nay hoạt động theo mô hình Tập đoànkinh tế Nhà Nước, bằng nỗ lực của tập đoàn vinahsin cũng như được sự hỗ trợ của Nhànước, Chính Phủ và các bộ ngành liên quan kết quả kinh doanh hàng năm của vinahsintăng trưởng tương đối cao 30%\ năm Tổng sản lượng của tập đoàn năm 2008 sẽ vượt2.5 tỷ USD, số lượng lao động trong vinahsin tăng lên 70000 nghìn người Tổng hợpđồng đã ký đạt trên 12 tỷ USD, tổng tài sản đã tăng lên hơn 70000 tỷ đồng

Bảng 1: Bảng doanh thu của Vinashin giai đoạn 2004-2008

Trang 30

Nhìn vào bảng doanh thu của Vinashin những năm gần đây cho ta một cáinhìn khá khả quan về tình hình phát triển của công nghiệp đóng tàu Việt Nam Tốc

độ tăng trưởng do đón tàu được giữ tương đối vững chắc, đặc biệt là trong năm

2007 sang năm 2008 có xu hướng tăng, đó là dấu hiệu khả quan cho ngành côngnghiệp nặng tiềm năng của Việt Nam

Bảng 2: Bảng tỷ suất lợi nhuận của Vinashin giai đoạn 2004 2008

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh củavinashin đêu tăng, chứng tỏ một điều ngành công nghiệp đóng tàu của Việt Namkhông ngừng tăng trưởng Đặc biệt là trong giai đoạn 2007-2008 là giai đoạn nềnkinh tế khủng hoảng, nhiều ngành có tốc độ tăng trưởng giảm nhưng riêng ngànhcông nghiệp đóng tàu vẫn đạt tốc độ tăng trưởng dương Đó là một minh chứng cho

sự lựa chọn đường đi đúng của ngành, và là một chính sách phát triển đúng củaViệt Nam ta cần phát huy.Mỗi năm, Vinashin phấn đấu xuất khẩu tàu thủy đạt 1 tỷUSD, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của đất nước Việt Nam đã nhậnđược nhiều đơn đặt hàng của nhiều Quốc Gia nổi tiếng về ngành đóng tàu trên thếgiới như Nhật, Anh, Tương lai của ngành đóng tàu Việt Namm đang ngày càngrộng mở

Theo báo cáo của Tập đoàn Vinashin, năm 2008, trong điều kiện khó khăn,Tập đoàn vẫn tiếp tục đạt các chỉ tiêu và tăng trưởng cao so với năm 2007, sản xuấtcác sản phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật cao, giải quyết việc làm cho hàng nghìn laođộng với mức lương đảm bảo

Trang 31

Năm 2008, giá trị tổng sản lượng của Tập đoàn đạt trên 36.000 tỷ đồng, tăng38,45% so với năm 2007 Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp là 26.564 tỷ đồng,chiếm 72%, vận tải 5.463 tỷ đồng, chiếm 15% Tổng doanh thu đạt trên 32.500 tỷđồng, tăng 47% so với năm 2007

Năm 2009, Vinashin sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược xuất khẩu tàu thủy từ nayđến năm 2010 đạt xấp xỉ 1 tỷ USD/năm và đóng 3 triệu tấn tàu các loại cho cácngành vận tải biển, hàng hải, dầu khí, xi măng…để từ năm 2015 xuất khẩu đượctrên 2 tỷ USD/năm và đóng được 5 triệu tấn tàu mỗi năm

Tập đoàn Vinashin xác định, nhu cầu vận tải biển nước ta đến năm 2015 là rấtlớn, cần tổng số đội tàu trong nước khoảng 5 triệu tấn trọng tải Đến năm 2020, cần

25 triệu tấn tàu để đảm bảo vận tải Bắc -Nam khoảng 30 triệu tấn và 30% vận tảinhập khẩu dầu thô, dầu sản phẩm, quặng sắt, than đá… như vậy trung bình mỗi nămthị trường đóng tàu nước ta có thể đảm bảo 1 triệu tấn trọng tải

Bảng 3: Dự báo số tàu thuyền tăng thêm trong

Bang 4: Dự báo số tàu chở khách tới giai đoạn 2005-2010

Tầu thuyền 2005 2010 Đường biển 59 79

Đường sông 522 650

Đây là cơ hội lớn để Việt nam ta phát triển ngành công nghiệp đóng tàu

Bên cạnh đó, ngành tập trung cho các hợp đồng lớn với các nước như AnhQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… và phấn đấu giữ vững thị trường, uy tín của ngành

Trang 32

đóng tàu Việt Nam hiện nay cũng như đón bắt cơ hội, chiếm lĩnh thị trường, tăngcường khả năng cạnh tranh, khai thác triệt để các đơn hàng trong nước để duy trìhoạt động sản xuất kinh doanh và đảm bảo việc làm cho người lao động

Bảng 5: Bảng năng lực đóng mới của Vinashin đến 2015

cỡ tàutàu chở hàng <= 200000DWT

tàu chở conteiner <= 7000TEU

các loại tàu thủy kháctàu chở khách, tàu công trình, tàu cứu hộ, tàu quân sự, tùa cá,…

1.1.2 Cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp tàu thủy

Về cơ sở hạ tầng, thì cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp đóng tàu hầu nhưdang ở giai đoạn củng cố hoàn thiện cơ sở hạ tầng hiện có, nâng cấp bổ sung trangthiết _ công nghệ mới để có thể đóng sửa chữa tàu phục vụ chủ tàu trogn nước vàquốc tế Cơ sở hạ tầng ngành đóng tàu được phân thành ba khu vực chủ yếu nhưsau:

Thứ nhất khu vực Hải Phòng _ Quảng Ninh: Hải phòng hiện nay đanglaf nơitập trung chủ yếu cảu các nhà máy đóng tàu của cả nước,các nhà máy đều được xâydựng từ những năm 60 – 70, cơ sở hạ tầng những năm gần đây đang được nâng cấp

mở rộng và nâng cấp để đáp ứng nhu cầuddongs và sửa chữa trong nước và quốc

tế Tại đây có bốn tổ hợp đóng tàu lớn là Nam Triệu, Phà Rừng, Hạ Long, BạchĐằng có khả năng đóng tàu tới 100000 tấn, cùng các khu công nghiệp Cái Lân, AnHồng sản xuất thép và đóng tàu, máy móc trnag thiết bị tàu thủy,…

Thứ hai là khu vực miền Trung: các máy do địa phương bàn giao nhìn chungchưa được đầu tư, hầu hết là các cơ sở đóng và sửa chữa các loại tàu có trọng tảidưới 1000 tấn Hiện nay đang được đầu tư nâng cấp để đóng các tàu đánh cá tàu venbiển có trọng tải đến 5000 tấn Đang xây dựng các cơ sở hiện đại như Nghi Sơn –Thanh Hóa để đóng tàu trọng tải 50000 tấn, cơ sở tại Dung Quất – Quảng Ngãi để

Trang 33

đóng tàu chở dầu có trọng tải cỡ 300000 tấn, cơ sở đóng tàu tại Đà Nẵng để đóngtàu trọng tải đến 100000 tấn,…

Thứ ba là khu vực Miền Nam: các cơ cở mới đang được đầu tư xây dựng vànâng cấp đồng bộ, hoàn chỉnh và xây dựng hạ tầng để có thể đóng tàu đến 50000tấn Bao gồm các cơ sở như: công ty công nghiệp tàu thủy Sài Gòn được đầu tư cơ

sơ hạ tầng để đóng và sửa chữa tùa biển đến 20000 tấn; công ty đóng tàu và côngnghiệp hằng hải Sài Gòn đang được đàu tư để có khả năng sửa chữa tàu đến 20000tấn Các nhà máy đóng tàu Soài Rạp ( Tiền Giang), Nhơn trạch ( Đồng Nai), CàMau, Hậu Giang,… đang tiến hành xây dựng để đóng tàu có trọng tải đến 50000tấn,

1.2 Những khó khăn tồn tại của ngành công ngiệp đóng tàu Việt Nam ta trong thời gian qua

Theo đánh giá của một số chuyên gia, công nghiệp đóng tàu Việt Nam hiệnchủ yếu vẫn là lắp ráp Hợp đồng đóng tàu mới dừng lại ở trình độ làm gia côngtheo thiết kế các loại, mẫu mã, vật tư, nguyên liệu, động cơ, cũng như giám sát,đăng kiểm… đều của nước ngoài

Chất lượng tàu biển Việt Nam tuy được cải thiện nâng cao nhưng chất lượngvẫn chưa thực sự đạt yêu cầu Tuổi trung bình của cả đội tàu là 14,5 năm ở mứctương đối thấp so với các loại tùa của các nhà máy đóng tàu trên thế giới

Năng lực cạnh tranh tấp Trong năm 2007 toàn bộ đội tàu quốc gia mới chỉtham gia vận chuyển được 21,4% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của ViệtNam, do các nguyên vật liệu, các bộ phận để đóng tàu mới nước ta đang dùng chủyếu hiện nay đều là đang được nhập khẩu nên giá thành tương đối cao so với tàucủa các nước tự thiết kế sản xuất được toàn bộ con tàu

Thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao: thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật và côngnhân lành nghề và công nhân chuyên môn phục vụ cho chuyên đóng tàu Sinh viênngành tàu thủy cũng giống như sinh viên của nhiều ngành khác cua nước ta ratrường về cơ sở họ lại mất công đào tạo lại từ đầu, do đó ngành vẫn thiếu những

Trang 34

cán bộ có thể làm việc được ngay Đội ngũ công nhân cũng như đội ngũ trí thức củangành còn vừa yếu vừa kém cả về chất lượng cũng như số lượng.

Thiếu đội ngũ thiết kế, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ, đàotạo liên quan tới tàu biển Chuyển giao công nghệ mà không có người có tay nghề

để vận dụng thì cũng như không có công nghệ Ngành đang thiếu trầm trọng nhữnggười có đủ khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ, vận dụng được các côngnghệ được chuyển giao

Thiếu những người làm công tác quản lý đóng tàu đủ tầm từ cấp tổ trưởng trởlên

Hầu hết các cơ sở nhỏ mới thành lập trong thời gian vừa qua đều có cơ sở vậtchất kỹ thuật sơ sài, máy móc thiết bị thô sơ, cũ

Do nguồn vốn đầu tư hạn chế, đến nay, cơ bản nước ta chưa có công nghiệpphụ trợ cho ngành đóng tàu, hầu hết vật tư, máy móc phải nhập khẩu, dẫn đến giá trịgia tăng trong sản phẩm đóng tàu nhỏ bé, sức cạnh tranh thấp Tập đoàn tàu thủyViệt Nam đang tập trung củng cố, hoàn thiện các cơ sở hiện có, nâng cấp, đầu tưtrang, thiết bị, công nghệ tại ba khu vực: Hải Phòng-Quảng Ninh, miền trung vàmiền nam hình thành hệ thống công nghiệp phụ trợ

Công nghệ lạc hậu,hầu hết việc đóng tàu đều được thực hiện bằng các laođộng chân tay đơn thuần

Môi trường làm việc của công nhân không được đảm bảo, độc hại

Năng suất lao động thấp, do trình độ công nhân thấp, cộng với thiếu đội ngũgiám sát nên năng suất làm việc c ủa ngành là tương đối thấp

Mất cân đối giữa tỷ lệ cơ sở đóng tàu và sữa chữa tàu biển: Việt Nam có nhiềunhà máy đóng tau, đội tàu biển tăng trưởng nhanh, nhưng lại co s quá ít cơ sở sửachữa Mặc dù nhà nước đã có quy hoạch ngành nhưng những dự án quy hoạch vẫnnằm trên giấy tờ, hoặc có được triển khai tì cũng rời rạc, thiếu tập trung

Trang 35

Công nghiệp phụ trợ cho công nghiệp đóng tàu còn hạn chế, vừa thiếu vừa yếu

cả về chất và lượng, tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạtkhoang 30-35% nên giá trị của tàu thấp

2 Thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu Việt Nam ta trong thời gian qua

2.1 Thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ công nghiệp đóng tàu Việt Nam trong thời gian qua

Trong những năm qua, ngành công nghiệp phụ trợ đã được chú ý đầu tư nhưng

do nguồn vốn hạn chế nên hiện nay hầu như nền công nghiệp phụ trợ đóng tàu hầunhư là không có Hầu hết toàn bộ máy móc phục phụ cho đóng tàu đều phải nhậpkhẩu Theo ước tính, trên 90% vật liệu phục phụ cho đóng tàu và sửa chữa tàu biểntrong nước phải nhập khẩu từ nước ngoài với các thị trường chính là Trung Quốc,Nhật Bản, Hàn Quốc và Tây Âu

Các cơ sở sản xuất vật liệu, máy và trang thiết bị dùng cho công nghiệp đóngtàu như vật liệu hàn, vật liệu chống cháy, máy lái, xuồng cứu sinh, thiết bị hạxuồng, nồi hơi, chân vịt, neo, xích neo, trang bị nội thất, bảng điều kiển,sơn,…chúng ta đều có nhưng số lượng rất hạn chế Số lượng các sản phẩm sản xuất trongnước đáp ứng được các tiêu chuẩn tế để lắp đặt trên tàu lớn là không đáng kể; màchủ yếu các sản phẩm trong nước sản xuất ra chủ yếu là đóng các tàu nhỏ ven biển.Lượng thép và kim loại dung cho dóng tàu chế tạo trong nước chiểm một tỷ trọnghết sức nhỏ, không đáng kể; các cơ sở chế tạo động cơ diesel, động cơ điện, bơm,van,… là hầu như chúng ta chưa có Tất cả các trang thiết bị trên tàu như vô tuyếnđiện, thông tin liên lạc, nghi khí hằng hải, thiết bị ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra

và hầu hết các trang thiết bị cứu sing, cứu hỏa đều phải nhập khẩu từ nước ngoài.Nước ta cũng có rất ít các cơ sở dịch vụ kỹ thuật hằng hải đủ năng lực để thựchiện kiểm tra không phá hủy; lắp đặt và bảo dưỡng các thiết bị hằng hải, vô tuyensđiện, cứu sinh, cứu hỏa; kiểm tra và sửa chữa phần chìm của con tàu bằng thợlặn, gây nên nhiều khó khăn cho ngành công nghiệp đóng tàu và ngành vận tải tàubiển, đậc biệt là đối với các tùa đang khai thác

Trang 36

Nước ta cũng hầu như chưa có trung tâm thử nghiệm và cơ sở thí nghiệm đạttiêu chuẩn để thử nghiệm vật liệu, động cơ, thiết bị điện, kết cấu chống cháy, trang

bị cứu sinh, cứu hỏa, vô tuyến điện, theo quy định của hằng hải quốc tế (IMO)phục phụ cho công nghiệp đóng tàu và vận tải biển

Từ những yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp tàuthủy dẫn tới ngành công nghiệp tàu thủy của nước ta có bước phát triển nhanh,nhưng hiệu quả còn hạn chế và chưa vững chắc Trước vận hội mới để nâng caohiệu quả và sức cạnh tranh, vấn đề đặt ra cho công nghiệp tàu thủy trong những nămtới là phải tập trung phát triển công nghiệp phụ trợ Theo báo cáo của Tập đoànCông nghiệp Tàu thủy, trong 6 tháng đầu năm, hoạt động sản xuất kinh doanhngành công nghiệp đóng tàu tiếp tục đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ Giá trị sản xuấtđạt 4.430 tỷ, tăng 53,2%, doanh thu đạt 3.685 tỷ, tăng 48% Theo Bộ Thương mại,

dự kiến đến năm 2010 ngành đóng tàu Việt Nam có thể xuất khẩu được giá trị đạt1,7 tỷ USD.Những thế mạnh của ngành đóng tàu Việt Nam là bờ biển dài 3.250kmvới nhiều địa điểm có thể xây dựng các cảng nước sâu có cơ hội để đón nhận xu thếđầu tư công nghệ diễn ra mạnh mẽ hiện nay Nhiều đánh giá cho thấy trong 5 nămtới, ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam có thể đóng được các loại tàu từ 150.000tấn đến trên 200.000 tấn và sửa chữa được các tàu có trọng tải lớn hơn Ngoài ra, cóthể đa dạng hóa sản phẩm từ việc đóng được các loại tàu từ tàu dầu sản phẩm đếntàu dầu thô cũng như các tàu container, các tàu khách ven biển và các loại tàu hàngkhác Bên cạnh đó, mục tiêu khác mà ngành đóng tàu hướng tới là phải nội địa hoátrên 60% bằng việc ký một loạt các thoả thuận hợp tác về chuyển giao công nghệcho mục tiêu nội địa hoá của ngành Đồng thời nâng mức sản lượng từ 300.000 tấntàu lên 3 triệu tấn vào năm 2010 và chiếm khoảng 6-7% thị phần đóng tàu thế giớivới việc xây dựng thêm một số nhà máy đóng tàu lớn, sản xuất được các máy móc,trang thiết bị tàu thuỷ, cũng như các dịch vụ đi kèm Hiện tại, xuất khẩu tàu thủyhiện nay đạt khoảng 150 triệu USD/năm

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, ngành đóng tàu Việt Nam trước hết phảikhắc phục những vấn đề tồn tại không nhỏ hiện nay Đó là năng lực nhỏ bé, trình độ

Ngày đăng: 23/04/2013, 20:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng doanh thu của  Vinashin giai đoạn 2004-2008 - Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020
Bảng 1 Bảng doanh thu của Vinashin giai đoạn 2004-2008 (Trang 30)
Bảng 2: Bảng tỷ suất lợi nhuận của Vinashin  giai đoạn 2004 2008 - Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020
Bảng 2 Bảng tỷ suất lợi nhuận của Vinashin giai đoạn 2004 2008 (Trang 31)
Bảng 3:  Dự báo số tàu thuyền tăng thêm trong  giai đoa ̣n 2001-2010 và 2020 - Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020
Bảng 3 Dự báo số tàu thuyền tăng thêm trong giai đoa ̣n 2001-2010 và 2020 (Trang 32)
Bảng 7: thiết bị sản xuất được trong thơi gian qua - Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020
Bảng 7 thiết bị sản xuất được trong thơi gian qua (Trang 47)
Bảng 8: động cơ diesel và máy phát điện đồng bộ dùng cho ngành hàng hải, đường sắt... - Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020
Bảng 8 động cơ diesel và máy phát điện đồng bộ dùng cho ngành hàng hải, đường sắt (Trang 49)
Bảng 9: động cơ máy chính dùng cho hàng hải - Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020
Bảng 9 động cơ máy chính dùng cho hàng hải (Trang 50)
Bảng 10: động cơ máy chính dùng cho hàng hải - Giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ đóng tàu trong giai đoạn đến năm 2020
Bảng 10 động cơ máy chính dùng cho hàng hải (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w