Hành vi đầu tư và tiết kiệm của hộ gia đình
Trang 1KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ KIỀU LAM
HÀNH VI ĐẦU TƯ VÀ TIẾT KIỆM CỦA HỘ GIA ĐÌNH
KHU VỰC NÔNG THÔN AN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tháng 06 - 2008
Trang 2KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
HÀNH VI ĐẦU TƯ VÀ TIẾT KIỆM CỦA HỘ GIA ĐÌNH
KHU VỰC NÔNG THÔN AN GIANG CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Kiều Lam Lớp DH5TC – MSSV: DTC041747
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Tri Khiêm
Trang 3KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Người hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Tri Khiêm
Trang 4Thắm thoát 4 năm học cũng trôi qua, tôi sắp phải xa mái trường Đại học nơi có những kỷ niệm vui buồn, những người bạn thân cùng với thầy cô những người mà tôi luôn yêu mến và kính trọng.
Đầu tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến tất cả quý thầy cô trường Đại Học An Giang Đặc biệt là thầy cô khoa Kinh Tế - Quản Trị kinh Doanh những người đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong những năm Đại học Cảm ơn ba mẹ những người đã sinh và nuôi tôi khôn lớn, những người luôn tạo cho tôi niềm tin và nghị lực trong cuộc sống
Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến thầy Nguyễn Tri Khiêm người đã hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này với sự nhiệt tình, động viên và khuyến khích
Cảm ơn chân thành đến những hộ nông dân ở 2 Xã Vĩnh Khánh và Vĩnh Chánh đã hổ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình phỏng vấn, thu thập số liệu
Và sau cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn đến bạn bè tôi Đặc biệt là tập thể lớp DH5TC những người đã cùng tôi song hành trong 4 năm Đại học, luôn sẵn sàng giúp đỡ, động viên tôi những lúc khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống Cảm ơn sự đóng góp ý kiến chân thành của các bạn để tôi có thể hoàn thành khóa luận này
Xin chúc tất cả mọi người sức khỏe - hạnh phúc - thành công trong cuộc sống!
Sinh viên
Nguyễn Thị Kiều Lam
Trang 5Với hơn 2 triệu dân số sống ở khu vực nông thôn, việc phát triển kinh tế cải thiện đờisống của các hộ gia đình là điều mà các cấp chính quyền địa phương luôn đặt lên hàng đầu.
Do đó việc chuyển dịch cơ cấu, phát triển các ngành nghề mới, các ngành nghề truyềnthống cần được quan tâm đẩy mạnh Hệ quả của các chính sách đó có tác động trực tiếp đếncác hộ gia đình nông thôn, vì vậy quá trình tích lũy để tái đầu tư cho sản xuất là rất cầnthiết để nâng cao thu nhập Với các mức thu nhập khác nhau các hộ gia đình cũng có cáchình thức tiết kiệm và quy mô đầu tư cũng khác nhau
Đề tài tập trung nghiên cứu Hành vi đầu tư và tiết kiệm hộ gia đình khu vực nôngthôn An Giang Với mục tiêu:
- Tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đầu tư và tiết kiệm của người dân ở địabàn nông thôn An Giang
- Ước lượng xu hướng chi tiêu khi thu nhập thay đổi
- Tìm hiểu các hình thức tín dụng và tiết kiệm mà hộ gia đình sử dụng khi thiếu vốn
và thừa vốn
Bố cục của đề tài được chia thành 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu Chương này giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu và phạm
- Chương 5: Kết luận, kiến nghị và đề xuất giải pháp
Trang 6CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 Khái niệm tiết kiệm, đầu tư, thu nhập và chi tiêu 3
2.1.1 Tiết kiệm 3
2.1.2 Đầu tư 3
2.1.3 Chi tiêu 3
2.1.4 Thu nhập1 3
2.2 Mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, thu nhập và chi tiêu 4
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
3.1 Thiết kế nghiên cứu 5
3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ 5
3.1.2 Nghiên cứu chính thức 5
3.1.3 Xử lý dữ liệu 6
3.2 Mẫu 6
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu 6
3.2.2 Cỡ mẫu 6
3.3 Thang đo 6
3.3.1 Thang đo biểu danh (danh xưng) 6
3.3.2 Thang đo tỷ lệ 7
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
4.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn 8
4.2 Hiện trạng và cơ cấu thu nhập của hộ gia đình nông thôn An Giang 9
4.2.1 Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất 9
4.2.2 Thu nhập phân theo trình độ học vấn 12
4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập 15
Trang 74.2.5 Sử dụng thu nhập sau khi trừ chi phí 17
4.3 Các hình thức chi tiêu 18
4.5 Các hình thức tiết kiệm 25
4.7 Các hình thức tín dụng ở nông thôn 28
4.7.1 Các hình thức tín dụng phân theo thu nhập 29
4.7.2 Các hình thức tín dụng phân theo trình độ học vấn 31
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT 36
GIẢI PHÁP 36
5.1 Kết luận 36
5.2 Kiến nghị 37
5.2.1 Đối với hộ gia đình nông dân 37
5.2.2 Đối với nhà nước và chính quyền địa phương 37
5.2.3 Đối với các tổ chức tín dụng nông thôn 38
5.3 Giải pháp 38
5.3.1 Các giải pháp tăng thu nhập cho hộ gia đình ở nông thôn 38
5.3.2 Giải pháp thúc đẩy các hình thức tín dụng chính thức ở nông dân 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤC LỤC 1 42
PHỤC LỤC 2 46
Trang 8Bảng 3.1 Các bước nghiên cứu 5
Bảng 4.1 Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất 9
Bảng 4.2 Nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấp của hộ nông dân và hệ quả đối với từng nhóm hộ 16
Bảng 4.3 Những lý do mà hộ gia đình tích lũy 26
Bảng 4.4 Kết quả ước lượng hồi quy 28
Bảng 4.5 Lý do chọn và không chọn các hình thức tín dụng 33
Bảng 4.6 Tỷ lệ các hộ sử dụng các dịch vụ chính thức 34
Bảng 4.7 Các dịch vụ hộ gia đình sử dụng 34
Bảng 4.8 Mức độ giao dịch 35
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn (% trên tổng số hộ điều tra) 8
Biểu đồ 4.2 Thu nhập phân theo trình độ học vấn 12
Biểu đồ 4.3 Những khó khăn gặp phải trong quá trình sản suất 13
Biểu đồ 4.4 Sử dụng thu nhập sau khi trừ chi phí 17
Biểu đồ 4.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu 19
Biểu đồ 4.7 Các yếu tố ảnh hướng đến hành vi đầu tư 22
Biểu đồ 4.8 Các hình thức tiết kiệm 25
Biểu đồ 4.9 Các hình thức tín dụng phân theo thu nhập 29
Biểu đồ 4.10 Các hình thức tín dụng phân theo trình độ học vấn 31
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, thu nhập và chi tiêu 3
Trang 11(6b)
(5.a)
Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, thu nhập và chi tiêu
(1) Chi phí: giống, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc thiết bị… đầu tư vào diệntích canh tác, nuôi trồng
(2) Khi đến mùa vụ thu hoạch bán tạo ra thu nhập danh nghĩa
(4a),(4b), (4c) Một phần thu nhập thuần sẽ được đem đi tiếp tục đầu tư sản xuất,một phần được giữ lại chi tiêu hàng ngày, nếu có dư sẽ được tiết kiệm
(5a), (5b) Trong quá trình đầu tư hoặc chi tiêu nếu thiếu tiền hộ nông dân có thể
bổ sung bằng nguồn tiết kiệm
(6a), (6b) Trong quá trình đầu tư sản xuất nếu thừa tiền một phần hộ nông dân cóthể bổ sung thêm nguồn tiết kiệm hoặc bổ sung thêm cho chi tiêu
1Nguồn: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân do thay đổi hệthống canh tác ở Đồng bằng Sông Hồng
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Bảng 3.1 Các bước nghiên cứu Bước Dạng nghiên cứu Phương pháp Kỹ thuật phỏng vấn
3.1.1 Nghiên cứu sơ bộ
Phỏng vấn sâu với 3 hộ nông dân được chọn thuận tiện việc phỏng vấn, ý kiến củacác nông dân đưa ra được ghi lại để làm cơ sở cho việc thiết kế bảng câu hỏi
Phỏng vấn trực tiếp 5 hộ nông dân dựa trên bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn,mục đích của việc phỏng vấn này là phát hiện ra những sai sót:
Chi tiêu,chi khác
Trang 12- Người được phỏng vấn có hiểu và trả lời được câu hỏi của mình hay không?
- Câu hỏi đưa ra có đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin cần thiết hay không?
- Những câu hỏi có gây khó khăn cho quá trình trả lời của người được phỏng vấnhay không?
Từ đó chỉnh sửa cho phù hợp để bước vào phỏng vấn chính thức
Thu nhập/tháng của gia đình cô, chú chủ
yếu từ những nguồn nào và cụ thể là bao
nhiêu?
Thu nhập của gia đình cô, chú chủ yếu từnhững nguồn nào và cụ thể là bao nhiêutrong năm qua?
3.1.2 Nghiên cứu chính thức
Dựa trên bảng câu hỏi chính thức tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua quátrình phỏng vấn trực tiếp đến từng nhà 100 hộ tại khu vực Xã Vĩnh Khánh, Vĩnh Chánhkết hợp với việc quan sát, đồng thời giải thích những từ ngữ còn khá xa lạ với hộ nôngdân như: khấu hao, lạm phát… để từ đó các hộ có thể đưa ra đáp án chính xác, việc nàygiúp cho nguồn thông tin thu thập được có độ tin cậy cao
Ngoài ra những ý kiến, đề nghị của người dân đưa ra cũng được ghi lại trong bảngcâu hỏi để làm cơ sở cho quá trình phân tích, kết luận sau này mà những dữ liệu địnhlượng chưa giải thích được
Số liệu thứ cấp: Thu thập thông tin từ sách, internet, những kiến thức đã học ởtrường và hiểu biết của bản thân trong quá trình sinh sống tại nông thôn
Tham khảo những tài liệu có liên quan, tài liệu giảng dạy các của giáo viên, thamkhảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn
3.1.3 Xử lý dữ liệu
Phương pháp thống kê mô tả nhằm đánh giá thực trạng tình hình phát triển kinh
tế nông nghiệp mà trong đó nhấn mạnh đến tình hình kinh tế của nông hộ: tình hình đầu
tư, tiết kiệm của nông hộ, kết quả thu nhập, các yếu tố phục vụ sản xuất; các hình thứctín dụng ở nông thôn
Phương pháp hồi quy được áp dụng để xem xét mối quan hệ giữa chi tiêu và thunhập Mục đích nhằm xem xét việc thu nhập thay đổi thì chi tiêu sẽ thay đổi như thếnào
Ta có phương trình hàm chi tiêu: Y = b + aX
Trang 133.2 Mẫu
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Sau khi lựa chọn địa điểm nghiên cứu tại 2 Xã Vĩnh Khánh và Vĩnh Chánh Việcchọn hộ điều tra được thực hiện với 20 mẫu được chọn ngẫu nhiên ở khu vực chợ VĩnhKhánh, 80 mẫu được chọn thuận tiện những nông hộ ở 2 Xã Mục đích của việc lựachọn này nhằm xem xét coi việc ngành nghề tạo ra thu nhập giữa nhóm nông hộ vànhóm hộ sống ở khu vực chợ có khác nhau không
3.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu càng lớn thì ước lượng càng tin cậy nhưng do giới hạn về thời gian, kinhphí nên tôi chỉ chọn 100 mẫu để nghiên cứu và kết luận cho một tổng thể là tỉnh AnGiang
3.3 Thang đo
Có 2 loại thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi chính thức: Thang đo biểudanh và thang đo tỷ lệ
3.3.1 Thang đo biểu danh (danh xưng)
Thang đo biểu danh là loại thang đo trong đó số đo dùng để xếp loại, nó không có
ý nghĩa về lượng, bao gồm câu hỏi một lựa chọn và nhiều lựa chọn:
- Câu hỏi một lựa chọn
Câu 19: Trình độ học vấn cô (chú) cấp mấy?
Cấp I trở xuống
Cấp II
Cấp III
Trên phổ thông
- Câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu 5: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu của cô (chú) là gì?
Ví dụ câu hỏi sau:
Câu 1: Thu nhập của gia đình cô (chú) chủ yếu từ những nguồn nào và cụ thể làbao nhiêu trong năm qua?
Trang 15CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu kinh tế nông thôn (% trên tổng số hộ điều tra)
80 34
22 19 15 9 9 6 15
Trồng lúa
Làm thuê Buôn bán Chăn nuôi Trồng hoa màu
Dịch vụ Nuôi trồn thủy sản
Tiểu thủ công nghiệp
Khác
%
Đa số hộ gia đình khu vực nông thôn sống bằng nghề trồng lúa chiếm đến 80%,làm thuê 34 %, buôn bán 22 %, chăn nuôi 19 %, trồng hoa màu 15 %, nuôi trồng thủysản 9%, dịch vụ 9 %, tiểu thủ công nghiệp 6 %, khác chiếm 15% như: kiều hối, phụ cấp,làm công ăn lương… trên tổng số hộ điều tra Ta thấy sự phân công lao động khu vựcnông thôn vẫn nặng về nông nghiệp và cụ thể là trồng lúa Riêng trong lĩnh vực chănnuôi và nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua đã phát triển đáng kể nhờ chuyển đổinhững diện tích trồng lúa năng suất thấp và tận dụng những phế phẩm từ trồng trọt vàđời sống hàng ngày
Bên cạnh đó hệ thống thủy điện, giao thông nông thôn được phủ khắp các ấp, xãtrong tỉnh Vì vậy hầu hết các hộ gia đình đều có tivi, xe gắn máy… tạo điều kiện thuậnlợi cho việc đi lại cũng như phát triển kinh tế nông thôn được dễ dàng Đặc biệt là ngườidân có điều kiện tiếp thu tiến bộ khoa học – kỹ thuật, những mô hình chăn nuôi, trồngtrọt đạt hiệu quả từ những hộ nông dân khác thông qua chương trình làm bạn với nhànông, nông thôn An Giang trên tivi và học hỏi kinh nghiệm từ những hộ nông dân sảnxuất giỏi, nhờ vậy mà sản xuất ngày càng đạt hiệu quả hơn góp phần gia tăng thu nhậpcho kinh tế hộ
Trong lĩnh vực trồng trọt và đặc biệt là trồng lúa hiện nay với giá cả dao động4.400 đồng/kg – 6.000 đồng/kg từ đầu mùa vụ đến nay làm cho nông dân rất phấn khởithay vì trong những năm trước lợi nhuận thu được cho một công từ vụ đông xuân từ 1triệu – 2 triệu thì vụ mùa năm nay hộ đạt lợi nhuận thấp nhất cũng là 2,5 triệu/công vàcao nhất có thể đạt 5 triệu/công Ông Nguyễn Văn Dự một hộ nông dân cho biết:
“Những năm trước khi giá lúa cao nhất cũng chỉ đạt được 3.500 đồng/kg gia đình ông
Trang 16sản xuất chỉ đủ ăn nhiều khi chỉ dư được chút đỉnh Do vậy món nợ ông vay ngân hàng
50 triệu để mở rộng sản xuất vẫn chưa trả được nhưng năm nay với giá lúa như vậy khibán ông không những trả được nợ mà có dư nữa Nhưng hiện nay với giá cả vật tư nôngnghiệp tăng chóng mặt gấp 2 – 3 lần mà nếu giá lúa không giữ ở mức này thì có lẽ vụtới sẽ lỗ nặng”
Chăn nuôi chủ yếu tập trung vào các loại gia súc và gia cầm phổ biến như: gà, vịt,heo, bò… nhưng thời gian qua do dịch cúm gia cầm những nhóm hộ có thu nhập chủyếu từ chăn nuôi bị ảnh hưởng đáng kể, làm cho thu nhập không những đã thấp mà cònphải lâm vào cảnh nợ nần
Buôn bán, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp tập trung ở những khu vực đông dân cư,khu vự chợ trong thời gian qua cũng phát phát triển mạnh vì đây là ngành mang lợinhuận cao, do vậy rất được người dân ưa chuộng và số lượng không ngừng tăng lên.Bên cạnh hộ có nguồn thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán… thì làm thuê tậptrung ở những số hộ không có đất canh tác hoặc diện tích đất canh tác thấp (thu nhậpthấp thường tập trung vào nhóm hộ này), những hộ có máy móc phục vụ sản xuất nôngnghiệp: máy cày, máy tuốt lúa, máy bơm nước… Ngoài ra một số hộ còn có nguồn thukhác từ kiều hối, trợ cấp xã hội, làm công ăn lương
4.2 Hiện trạng và cơ cấu thu nhập của hộ gia đình nông thôn An Giang
Sắp xếp thu nhập của 100 hộ quan sát theo thứ tự từ thấp đến cao và phân thành 4nhóm bằng nhau: Thu nhập nhóm cao nhất từ 3 triệu đồng/người/tháng trở lên, thu nhậpnhóm khá từ 1,5 triệu đồng/người/tháng – 3 triệu đồng/người/tháng, thu nhập nhómtrung bình từ 700 ngàn đồng/người/tháng – 1,5 triệu đồng/người/tháng, thu nhập nhómthấp nhất từ 700 ngàn đồng/người/tháng trở xuống Cuối cùng, trong khoảng hộ đềunhau đó tính thu nhập trung bình của mỗi nhóm Mục đích của việc phân nhóm hộ theomức thu nhập này để xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, chi tiêu, tiếtkiệm, đầu tư của từng nhóm hộ sẽ như thế nào
4.2.1 Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất
Bảng 4.1 Thu nhập phân theo hoạt động sản xuất
Thu nhập Nhóm hộ cao nhất Nhóm hộ khá trung bình Nhóm hộ thấp nhất Nhóm hộ
Trang 17Mặc dù kinh tế hộ nông dân ở khu vực nông thôn An Giang rất phong phú và đadạng Nhưng cho đến nay, nông nghiệp vẫn là nền tảng và là thế mạnh của kinh tế hộ.Đại đa số cư dân nông thôn An Giang đều coi sản xuất nông nghiệp là hoạt động đemlại thu nhập chính lâu dài cho hộ gia đình Bên cạnh đó nó còn đảm bảo nguồn lươngthực tại chỗ cho gia đình.
Kết quả khảo sát cho thấy:
- Nhóm hộ thu nhập cao có nguồn thu chính chủ yếu từ trồng lúa 3,711 triệu đồng/người/tháng (chiếm 71,9%), nuôi trồng thủy sản là 1,044 triệu đồng/người/tháng chiếm(20,2%)
- Nhóm hộ thu nhập khá có nguồn thu chủ yếu là từ trồng lúa 1,149 triệuđồng/người/tháng (chiếm 60,1%), buôn bán 386 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 20,2%)
- Nhóm hộ trung bình có nguồn thu chủ yếu là từ trồng lúa 712 triệuđồng/người/tháng (chiếm 65,7%) chăn nuôi 91 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 8,4%)
- Nhóm hộ thu nhập thấp nhất thì nguồn thu chủ yếu từ trồng lúa 211 ngànđồng/người/tháng (chiếm 43,8%), làm thuê 134 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 27,8%),chăn nuôi 53 ngàn đồng/người/tháng (chiếm 11%)
Hầu hết các nhóm hộ có mức thu nhập chênh lệch khác nhau khá xa, thu nhậpnhóm hộ cao nhất đạt 5,162 triệu đồng/người/tháng cao gấp 2,7 lần so với nhóm hộ khá
là 1,911 triệu đồng/người/tháng, gấp 4,8 lần so với nhóm hộ trung bình là 1,083 triệuđồng/người/tháng và gấp 10,7 lần so với nhóm hộ thu nhập thấp là 482 ngànđồng/người/tháng
Trong thời gian qua nhờ việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nênnăng suất lúa không ngừng tăng lên cùng với việc đa canh, đa dạng hóa hoạt động sảnxuất trong nông nghiệp được phát triển rộng khắp trong vài năm gần đây Vì vậy thunhập hộ nông dân ngày càng tăng
Trong lĩnh vực trồng lúa có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm quan sát trongđó:
- Thu nhập nhóm hộ cao nhất từ trồng lúa đạt 3,711 triệu đồng/người/tháng
- Thu nhập nhóm hộ khá đạt 1,149 triệu đồng/người/tháng
- Thu nhập nhóm hộ trung bình từ trồng lúa đạt 712 ngàn đồng/người/tháng
- Thu nhập nhóm hộ thấp nhất từ trồng lúa đạt 211 ngàn đồng/người/tháng
Như vậy, nhóm hộ cao nhất có thu nhập từ trồng lúa cao gấp 3,2 lần nhóm hộ thunhập khá, cao gấp 5,2 lần so với nhóm hộ có thu nhập trung bình và cao gấp 17,6 lần sovới nhóm hộ thấp nhất, sở dĩ có sự chênh lệch về thu nhập này là do sự cách biệt về diệntích đất canh tác giữa các nhóm hộ:
- Nhóm có diện tích đất canh tác cao nhất đạt 180 công
- Nhóm có diện tích đất canh tác thấp nhất là 1,5 công
Ngoài ra để bù đắp những thiếu hụt từ trồng lúa, nhiều hộ nông dân còn có thêmthu nhập từ hoạt động sản xuất khác như: nuôi trồng thủy sản, buôn bán, tiểu thủ côngnghiệp, dịch vụ… và xu hướng này ngày càng mở rộng
Trang 18Tổng giá trị nuôi trồng thủy sản của các nhóm là 1,095 triệu đồng/người/thángtrong đó:
- Nhóm thu nhập cao là 1,044 triệu đồng/người/tháng
- Nhóm hộ khá là 51 ngàn đồng/người/tháng
Sở dĩ nuôi trồng thủy sản chỉ tập trung ở nhóm hộ có thu nhập cao nhất là vì:
- Đòi hỏi phải có nhiều vốn, trình độ hiểu biết, kỹ thuật nuôi trồng
- Có khả năng gặp nhiều rủi ro vì chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: dịchbệnh, chất lượng con giống, giá cả đầu ra…
Vì vậy, một số hộ từ con cá, tôm mà làm giàu thì cũng có một số hộ vì nó phảiphá sản lâm vào cảnh nợ nần từ hộ giàu trở thành hộ nghèo
Buôn bán tập trung những khu vực đông dân cư, chợ thu nhập trung bình của từngnhóm quan sát cụ thể như sau:
- Nhóm thu nhập cao 265 ngàn đồng/người/tháng
Chăn nuôi chủ yếu tập trung ở nhóm hộ trung bình chiếm 8,4% và hộ thấp nhất là11% Bên cạnh các nhóm hộ có thu nhập chính từ trồng lúa, nuôi trồng thủy sản, buônbán… thì ở nhóm hộ thấp nhất có nguồn thu nhập chính khác cũng rất quan trọng đó làlàm thuê 134 ngàn đồng/người/tháng Đây là nhóm thường tập trung những hộ không cóđất canh tác hoặc có diện tích đất canh tác thấp, vì vậy làm thuê được coi như là hoạtđộng chính nhằm mang lại nguồn thu nhập cho gia đình, tuy nhiên thu nhập của nhóm
hộ này thường không ổn định, bấp bênh vì chỉ mang tính thời vụ
Ngoài ra, các nhóm hộ còn có nguồn thu khác từ hoa màu, tiểu thủ công nghiệp,dịch vụ, kiều hối, phụ cấp… mặc dù đây là một khoản thu không lớn chỉ tập trung ở một
số hộ nhưng nó cũng rất quan trọng đối với việc đầu tư nông nghiệp của hộ nông dânđặc biệt là nhóm hộ có thu nhập thấp, thường thì nhóm hộ này chỉ cần 100 – 500 ngànđồng là có thể đầu tư cho chăn nuôi, trồng trọt góp phần gia tăng thu nhập
Nhìn chung, nguồn thu nhập chính của hộ gia đình khu vực nông thôn An Giangchủ yếu từ các nguồn trồng lúa, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, buôn bán, làm thuê.Ngoài ra một số hộ còn có nguồn thu từ trồng hoa màu, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp,kiều hối và phụ cấp… Việc chênh lệch về diện tích đất canh tác, nuôi trồng càng tạokhoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm hộ ngày càng rõ rệt ảnh hưởng chung đến sựphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và việc giảm sự cách biệt về giàu nghèo ở nông thônngày càng khó khăn
Trang 194.2.2 Thu nhập phân theo trình độ học vấn
Biểu đồ 4.2 Thu nhập phân theo trình độ học vấn
Cấp I trở xuống
5 10 15 20 25 30 35 40
- Trình độ cấp II nhóm hộ thu nhập cao lại chiếm tỷ lệ lớn đến 53%, thu nhập khá
là 22%, còn lại nhóm hộ có thu nhập trung bình 19% và nhóm thu nhập thấp 6%
- Trình độ cấp III chỉ còn lại nhóm hộ thu nhập cao 67% và thu nhập khá 33%
- Trái ngược lại, ở trình độ trên phổ thông thì nhóm thu nhập khá chiếm đa số với
tỷ lệ 67% còn lại là 33% là các hộ có thu nhập cao
Qua đó chúng ta thấy rằng trình độ học vấn cũng là một yếu tố quyết định đến thunhập của các hộ gia đình ở nông thôn Đa phần các hộ có thu nhập cao, khá có trình độhọc vấn từ cấp II trở lên, còn ngược lại các hộ gia đình có thu nhập thấp, trung bình chỉtập trung ở trình độ cấp I
Trang 2064 60 40
32 24 32 16 24
Giống GVTNNghiệp
Vốn NCLĐộng MMPVSXuất Thời tiết Dịch bệnh KTCTác, NTrồng
12 28 48 28 16
8 28
0 20 40 60 80 100 120
Giống GVTNNghiệp
Vốn NCLĐộng MMPVSXuất Thời tiết Dịch bệnh KTCTác, NTrồng
52 40 60 60 28
20
0 20 40 60 80 100 120 Giống
Biểu đồ 4.3 Những khó khăn gặp phải trong quá trình sản suất
Giống: Chất lượng giống cây trồng, vật nuôi kém gây ảnh hưởng rất nhiều đến
quá trình sản xuất cũng như sản lượng thu hoạch và quá trình tiêu thụ sản phẩm gặp khó
khăn Từ đó làm giảm thu nhập với mức độ ảnh hưởng của từng nhóm cụ thể là:
- Nhóm thu nhập cao chiếm 44%
- Nhóm thu nhập khá 32%
- Nhóm thu nhập trung bình 24%
- Nhóm thu nhập thấp 12%
Vì vậy việc chất lượng giống tốt là nhân tố quan trọng trong quá trình sản xuất
góp phần gia tăng thu nhập giúp kinh tế hộ phát triển
Giá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn: Đây là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến
quá trình sản xuất và cũng như thu nhập của các nhóm hộ:
- Nhóm thu nhập cao chiếm 96%
Trang 21- Nhóm thu nhập thấp 64%
Biến động tăng giá sẽ làm tăng chi phí sản xuất, tạo ra sức ép về vốn đối với các
hộ nông dân Hệ quả là năng suất lao động nông nghiệp có thể giảm xuống và thu nhậpcủa người nông dân cũng bị ảnh hưởng theo Sản lượng cung cấp ra thị trường vì thếcũng hạn chế Từ đó có thể dẫn đến việc nông dân hạn chế đầu tư thâm canh hoặc sẽchuyển đổi hệ thống sản xuất, lựa chọn những cây trồng, vật nuôi ít chịu tác động củagiá cả vật tư nông nghiệp, thức ăn đồng thời áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật
để tăng năng suất lao động, giảm thiểu chi phí sản xuất
Vốn: Đây là yếu tố có tác động lớn nhất trong quá trình sản xuất, đặc biệt ở nhóm
các hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình thường gặp nhiều khó khăn trong việcđầu tư vốn sản xuất cụ thể:
- Nhóm hộ có thu nhập cao chiếm 56%
Nhân công lao động: Do sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nên chỉ khi nào
đến mùa vụ thì những người làm thuê mới có thu nhập còn vào những thời gian khác laođộng nhàn rỗi, vì vậy để có được thu nhập ổn định hơn lực lượng lao động chủ yếu ởnông thôn tập trung về các thành phố, các nhà máy chế biến thủy sản hoặc vào khu côngnghiệp nên bắt đầu mùa vụ sản xuất, thu hoạch lực lượng lao động trở nên khan hiếm.Điều đó gây khó khăn cho các nông hộ, phải thuê mướn lao động với giá cao làm chiphí sản xuất tăng lên Tác động cụ thể trên từng nhóm như sau:
- Nhóm hộ thu nhập cao thuờng xuyên gặp khó khăn nhất vì quy mô sản xuất lớnchiếm 52%
- Nhóm hộ thu nhập khá 40%
- Nhóm hộ thu nhập trung bình 20%
- Còn đối với nhóm hộ có thu nhập thấp thì hoàn toàn không ảnh hưởng là do thunhập chủ yếu của nhóm hộ này chủ yếu từ làm thuê
Máy móc phục vụ sản xuất: Máy cày, máy tuốt lúa, máy bơm nước, máy sấy
lúa… cũng làm cho hộ nông dân gặp không ích khó khăn khi đến mùa vụ sản xuất:
- Nhóm thu nhập cao là 40%
- Nhóm hộ thu nhập khá 32%
- Nhóm hộ thu nhập trung bình 12%
- Nhóm hộ thu nhập thấp 8%
Những số liệu trên cho thấy yếu tố máy móc tác động phần lớn lên các nhóm hộ
có thu nhập cao, khá do quy mô và diện tích canh tác lớn, còn đối với các nhóm hộ cóthu nhập trung bình, thấp thì diện tích đất canh tác nông nghiệp ít nên các yếu tố máymóc không có tác động lớn đến nhóm hộ này
Trang 22Thời tiết: Bất lợi gây khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất đặc biệt chịu
ảnh hưởng nhiều nhất có thể nói đến là trồng lúa, nuôi trồng thủy sản… Việc thời tiếtthất thường khi nóng quá, khi mưa nhiều đã làm giảm sản lượng thu hoạch và sự tácđộng này thường gây ảnh hưởng lớn nhất đối với nhóm hộ có thu nhập cao chiếm 60%
vì quy mô sản xuất nhóm hộ này tương đối lớn và đa dạng
Dịch bệnh: Ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất như: dịch ốc bưu
vàng, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa, dịch cúm trên gia cầm, lỡ mồm long móngtrên gia súc, bệnh đốm trắng trên cá… gây thiệt hại nặng đến cây trồng, vật nuôi Do đó,việc hiểu biết và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phòng và trị dịchbệnh là yếu tố rất cần thiết để tăng năng suất cải thiện thu nhập
Kỹ thuật canh tác, nuôi trồng: Bón phân khi nào, hàm lượng thuốc trừ sâu bao
nhiêu là đủ và an toàn, áp dụng máy móc vào trong quá trình sản xuất, đối với từng loạibệnh trên cây trồng, vật nuôi thì phải biết sử dụng loại thuốc nào cho phù hợp Vì vậy
kỹ thuật canh tác nuôi trồng là khâu quyết định đến năng suất, chất lượng hàng nông sảncung cấp ra thị trường
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: trình độ quản lý, tay nghề lao động… cũnggây khó khăn đến quá trình sản xuất
4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
Cơ cấu kinh tế theo ngành chuyển đổi còn chậm, ngành trồng trọt vẫn còn chiếm
tỷ lệ cao Trong cơ cấu ngành trồng trọt, trồng lúa chiếm một phần rất quan trọng trong
cơ cấu ngành Dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp đã có sự gia tăng về giá trịnhưng vẫn còn quá thấp so với trồng trọt Với cơ cấu thiên về cây lương thực chủ yếu làlúa đã gây nên tính thời vụ cao cho việc sử dụng sức lao động nông nghiệp, đồng thờikhả năng tăng thu nhập cũng hạn chế
Chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của hộ gia đình trong thời gian qua chưa được chútrọng phát triển
Cơ sở hạ tầng nông thôn trong thời gian qua đã có bước cải thiện đáng kể nhưngvẫn còn tình trạng không đồng bộ, chưa đủ sức tạo ra những tiền đề vật chất để pháttriển nông nghiệp và nông thôn
Chất lượng lao động nông thôn thấp đã gây trở ngại cho việc tiếp cận, tìm kiếm vàtạo lập việc làm của lao động nông thôn trong các lĩnh vực phi nông nghiệp thuộc nhiềuthành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt là trong các ngành đòi hỏi kỹ thuật và trình độtay nghề cao
Quy mô diện tích đất canh tác giữa các nhóm hộ cách biệt khá xa, gây khó khăncho các nhóm hộ đặc biệt là nhóm có thu nhập thấp trong việc mở rộng sản xuất
Tóm lại, tiềm năng để phát triển ngành nghề và dịch vụ phục vụ cho đời sống cònlớn Nhưng quy mô phát triển của các hộ gia đình còn hạn chế, quy mô nhỏ lẻ chưatương xứng với tiềm năng của vùng
Trang 234.2.4 Nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấp của hộ nông dân và hệ quả đối với từng nhóm hộ
Bảng 4.2 Nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấp của hộ nông dân và hệ quả
đối với từng nhóm hộ Nguyên nhân dẫn đến
Không mở rộng được sản xuất
xuấtTrình độ học vấn thấp Khó khăn trong việc học tập và
ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật
Khả năng tiếp cận thị trường thấp Không nắm bắt được giá cả và nhu cầu thị trường nên bị thương
buôn ép giá dẫn đến lợi nhuận thu được thấp
Trình độ canh tác thấp Năng suất thấp
Nhóm thu nhập cao,
thu nhập khá
Hệ thống giao thông chưa
Phụ thuộc vào lúa Khó phát triển kinh tế Khó tìm ngành nghề đầu
tư mới do thiếu trình độ chuyên môn
Vẫn duy trì ngành nghề sản xuất cũ
Giống cây trồng, vật nuôi không đảm bảo chất lượng
Năng suất thấp, thu nhập giảm
Thiếu lao động Khó khăn trong quá trình sản
xuất
xuất
Trang 24Dùng để tích lũy
20 40 60 80 100 120
Chi tiêu hằng ngày
Đầu tư tiếp tục sản xuất
Dùng để tích lũy
Chi tiêu hằng ngày
Đầu tư tiếp tục sản xuất
Dùng để tích lũy
Dùng để tích lũy
Trả nợ Chi khác
%
Nhóm hộ trung bình
4.2.5 Sử dụng thu nhập sau khi trừ chi phí
Biểu đồ 4.4 Sử dụng thu nhập sau khi trừ chi phí
Số tiền sau khi trừ chi phí hầu hết các nhóm hộ từ thu nhập thấp đến thu nhập caođều dùng vào việc chi tiêu hàng ngày và tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực mà họ đang hoạtđộng sản xuất chiếm 100% Trong khi đó tích lũy chỉ tập trung ở nhóm hộ:
- Nhóm hộ thu nhập cao và thu nhập khá cùng chiếm 100%
- Nhóm trung bình chiếm 40%
- Còn đối với nhóm hộ có thu nhập thấp việc đủ tiền trong chi tiêu hàng ngày vàtiếp tục đầu tư sản xuất đã là một điều khó khăn chứ nói chi đến tích lũy Bà Lê thị Thơmột hộ nông dân tâm sự: “Gia đình tôi có 5 miệng ăn mà chỉ sống dựa vào 3 côngruộng, tiền làm thuê của chồng và các con, mà tôi lại nay ốm mai đau đôi khi không đủtiền để chi tiêu hàng ngày lấy gì mà tích lũy”
Ngoài số tiền dùng để chi tiêu hàng ngày, đầu tư tiếp tục sản xuất, tích lũy thì hộnông dân còn phải chi thêm một khoản đó là trả nợ vay, số tiền mà hộ gia đình đã vay
Trang 250 100 200 300 400 500 600
Ăn uống
hành
Mua sắm
Đám tiệc
Chi khác Ngàn đồng/người/tháng
Nhóm hộ khá
718
81
163 101
45 143 0
Đám tiệc
Chi khác Ngàn đồng/người/tháng
Đám tiệc
Chi khác Ngàn đồng/người/tháng
0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 200
Ăn uống
Đi lại Học hành
Mua sắm
Đám tiệc
Chi khác Ngàn đồng/người/tháng
4.3 Các hình thức chi tiêu
Chi tiêu của hộ gia đình chỉ tính đến những khoản mà hộ gia đình dùng tiền, hàng hóa trao đổi, mua bán không tính đến những khoản mà hộ gia đình tự cung tự cấp
Biểu đồ 4.5 Các hình thức chi tiêu
Một hộ có thu nhập càng cao thì có mức chi tiêu càng cao, như vậy chi tiêu phụthuộc vào thu nhập của hộ gia đình chi tiêu của nhóm thu nhập cao là 1,25 triệuđồng/người/tháng gấp 1,4 lần nhóm hộ thu nhập khá 869 ngàn đồng/người/tháng, gấp
Trang 26100 28
52 60 44 64 44 12
1
100 44
56 80 28
80 24
24
0 20 40 60 80 100 120 Thu nhập
Lạm phát Giá cả hàng hóa Tập quán sinh hoạt
Đầu tư Tiết kiệm Học hành Khác
%
Nhóm hộ khá
2,2 lần nhóm thu nhập trung bình 566 ngàn đồng/người/tháng và gấp 3,8 lần nhóm hộ
có thu nhập thấp 332 ngàn đồng/người/tháng Ta thấy, khoảng cách giữa nhóm chi tiêucao nhất là 1,25 triệu đồng/người/tháng và chi tiêu thấp nhất là 332 ngànđồng/người/tháng
Đây là mức chi tiêu tương đối chêch lệch, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tếchung khu vực nông thôn An Giang và khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa cácnhóm hộ ngày càng rõ nét
Điều đó có thể thấy rằng những hộ gia đình có thu nhập khá và cao thì nhu cầukhông chỉ dừng lại ở ăn no, mặc ấm nữa mà là ăn ngon, mặc đẹp Còn đối với nhóm hộ
có thu nhập trung bình và thấp thì nhu cầu chi tiêu chỉ dừng lại ở ăn no, mặc ấm là đã đủchứ nói gì đến ăn ngon, mặc đẹp, đó chỉ là một điều mơ ước Hộ có thu nhập cao cómức chi tiêu cho ăn uống đạt 718 ngàn đồng/người/tháng gấp 3,9 lần so với nhóm hộ cóthu nhập thấp là 183 ngàn đồng/người/tháng Bên cạnh chi tiêu cho việc ăn uống thì đilại, học hành, mua sắm, đám tiệc, du lịch… cũng chiếm một khoản khá lớn trong tổngchi tiêu của các nhóm hộ
Chi tiêu ở các khu vực và nhóm dân cư cũng có sự khác nhau Nhóm hộ gia đìnhthuần nông có mức chi tiêu thấp hơn so với nhóm hộ ở khu vực chợ là vì: Nhóm hộsống bằng nông nghiệp có thể tận dụng được những phế phẩm từ sản xuất lúa và trongcuộc sống hằng ngày để trồng trọt và chăn nuôi thêm để phục vụ cho nhu cầu ăn uốnghàng ngày Ngoài ra vào mùa nước nổi họ có thể giăng lưới bắt cá, do đó sẽ tiết kiệmđược một khoản chi tiêu đáng kể so với nhóm hộ ở khu vực chợ thì cái gì cũng phảimua
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu
Biểu đồ 4.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chi tiêu
Trang 27100 68
96 100 56
56 16
16
0 20 40 60 80 100 120 Thu nhập
0 24 24
0 20 40 60 80 100 120 Thu nhập
Lạm phát Giá cả hàng hóa Tập quán sinh hoạt
Đầu tư Tiết kiệm Học hành Khác
%
Nhóm hộ thấp nhất
Thu nhập: Thật vậy thu nhập là yếu tố rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày
nó chi phối hầu hết các yếu tố khác trong đó có chi tiêu, 100% số hộ từ thu nhập thấpnhất đến thu nhập cao đều cho rằng chi tiêu chịu ảnh hưởng bởi thu nhập
Lạm phát: Chỉ có 28% số hộ nhóm thu nhập cao và 44% thu nhập khá cho rằng
lạm phát ảnh hưởng đến chi tiêu Trong khi đó hai nhóm còn lại chiếm tỷ lệ cao hơn cụthể: Nhóm hộ thu nhập trung bình là 68%, thu nhập thấp là 80%
Giá cả hàng hóa: Việc giá cả hàng hóa tiêu dùng trong hàng ngày trong thời gian
qua liên tục tăng đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, thực phẩm cũng đãảnh hưởng phần nào đến mức chi tiêu của các nhóm hộ Cụ thể:
- Nhóm thu nhập cao là 52%
- Nhóm thu nhập khá có 56%
Nhóm này cho rằng do thói quen chi tiêu như vậy, thì dù giá cả sinh hoạt có tăngnhưng họ vẫn giữ ở mức chi tiêu cũ Hơn thế nữa, mặc dù giá cả hàng hóa có tăngnhưng thu nhập mà họ thu được từ sản xuất kinh doanh cũng tăng tính qua tính lại cũngchẳng thấy có ảnh hưởng gì
Còn hai nhóm còn lại thì việc giá cả hàng hóa tăng ảnh hưởng nhiều đến chi tiêu:
- Nhóm thu nhập trung bình là 96%
- Nhóm thu nhập thấp 100%
Cho biết ngày xưa chỉ cần 30 ngàn đồng đã mua được 1 kg thịt heo bây giờ phảiđến 65 ngàn đồng mới mua được 1 kg, còn gạo 5 ngàn đồng/kg bây giờ phải chi 9 ngànđồng/kg nhưng gạo dù có tăng giá đến đây cũng không giảm được nên chỉ có thể hạnchế chi tiêu cho thịt, cá Vì vậy trong bữa ăn hàng ngày của nhóm hộ này bây giờ chủyếu là cá và rau
Tập quán sinh hoạt: Sinh hoạt của hộ gia đình khu vực nông thôn cũng phần nào
ảnh hưởng đến chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày họ có thể tự chăn nuôi, trồng trọt: gà,vịt, cá, rau, cải… để phục vụ cho gia đình mình Chi tiêu của hộ nông dân cũng chịu sựtác động bởi mùa vụ Vào mùa vụ chi tiêu cho việc ăn uống của hộ nông dân tăng vìnhu cầu thuê lao động tăng, còn đến mùa nước nổi thì chi tiêu giảm xuống do các hộnày có thể giăng câu, đặt lờ để kiếm nguồn thức ăn nên tiết kiệm được một khoản chi
Trang 28tiêu Đối với các nhóm hộ thì tập quán sinh hoạt ảnh hưởng đến chi tiêu cũng khácnhau:
- Nhóm thu nhập cao chiếm 60%
- Nhóm thu nhập khá 80%
- Nhóm thu nhập trung bình 100%
- Nhóm thu nhập thấp 92%
Đầu tư: Đối với một số hộ cho rằng khi chi tiêu thì đầu tư sẽ không mấy ảnh
hưởng ngược lại thì một số hộ cho là có ảnh hưởng cụ thể: Nhóm hộ thu nhập cao 44%;Nhóm hộ có thu nhập khá 28%; Nhóm hộ có thu nhập trung bình 56% và nhóm hộ cóthu nhập thấp là 36%
Tiết kiệm: Chỉ có 3 nhóm hộ cho là có ảnh hưởng đến chi tiêu:
- Nhóm có thu nhập cao nhất chiếm 64%
- Nhóm thu nhập khá 80%
- Nhóm thu nhập trung bình 56%
Vì khi nhu cầu chi tiêu tăng thì phần tiết kiệm mà hộ gia đình giữ lại sẽ ít hơn.Còn tiết kiệm sẽ không ảnh hướng đến chi tiêu đối với nhóm thu nhập thấp do nhómnày hầu như không có tiết kiệm
Học hành: Chiếm một tỷ lệ không lớn so với các yếu tố khác:
- Nhóm thu nhập cao chiếm 44%
- Nhóm thu nhập khá 24%
- Nhóm thu nhập trung bình 16%
- Nhóm thu nhập thấp 24%
Nhưng được coi là khoản chi tiêu không thể cắt giảm được
Ngoài ra còn một số yếu tố khác ảnh hưởng đến việc chi tiêu của hộ gia đình như:
số thành viên trong gia đình, độ tuổi, giới tính của các thành viên, mua sắm, rủi ro bấtthường…
4.4 Các hình thức đầu tư
Từ các nguồn thu nhập của hộ gia đình Ta có thể chia ra ở khu vực nông thôn có
2 hình thức đầu tư chính đó là: Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp (lúa, hoa màu, chănnuôi, nuôi trồng thủy sản) chiếm 86% và đầu tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp (buônbán, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, làm thuê…) chiếm 34%
Đầu tư là việc rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất của hộ gia đìnhkhu vực nông thôn Ta thấy đa số hộ gia đình đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chiếm86% Vì:
- Đây được coi là lĩnh vực dễ đầu tư
- Mang lại nguồn thu nhập tương đối ổn định
- Đây còn là ngành nghề truyền thống của gia đình từ bao đời nay