Ảnh hưởng của nâng giá đồng Yên đến nền kinh tế Nhật bản
Trang 1Trường đại học ngoại thương cơ sở II tại TP Hồ Chí Minh
Trang 2Danh sách nhóm thực hiện:
(nhóm trưởng)
Trang 3MỤC LỤC
Phần I: Cơ sở lý thuyết về tỉ giả và tác động của việc nâng giá tiền tệ 5
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về tỉ giá 5
1.1 Khái niệm về tỉ giá và phương pháp yết giá 5
1.2 Chức năng của tỉ giá 6
1.3 Các nhân tố tác động lên tỉ giá 7
Chương 2: Lý luận về nguyên nhân và tác động của việc nâng giá tiền tệ 8
2.1 Khái niệm nâng giá tiền tệ 8
2.2 Nguyên nhân việc nâng giá tiền tệ 8
2.3 Tác động của việc nâng giá tiền tệ 10
Phần II: Vấn đề nâng giá tiền tệ sau thỏa ước Plaza và tác động của nó lên nền kinh tế Nhật Bản từ 1985- 2000 11
Chương 3: Tổng quan về thỏa ước Plaza và giá trị đồng Yên sau thỏa ước 11
3.1 Hoàn cảnh kí kết thỏa ước 11
3.2 Nội dung thỏa ước 12
3.3 Giá trị đồng Yên sau thỏa ước 14
Trang 4Chương 4: Giá trị đồng Yên Nhật và các chính sách của Chính
phủ và NHTW Nhật Bản trong giai đoạn 1985- 2000 16
4.1 Giai đoạn 1985- 1989, sự hình thành nền kinh tế bong bóng 174.2 Giai đoạn 1990 – 1993, nền kinh tế bong bóng nổ tung 194.3 Giai đoạn 1994- 1996, giai đoạn phục hồi yếu của nền kinh tế Nhật
204.4 Giai đoạn 1997-2000, giai đoạn khủng hoảng trầm trọng 20
Chương 5: Ảnh hưởng của việc nâng giá đồng Yên lên một số
mặt của nền kinh tế Nhật bản giai đoạn 1985- 2000 21
5.1 Ảnh hưởng của việc nâng giá đồng Yên đến thị trường chính
khoán và thị trường bất động sản tại Nhật Bản 215.2 Ảnh hướng của việc nâng giá đồng Yên lên tình hình xuất nhập
khẩu của Nhật Bản 23
Phần 3: Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc kiểm soát nền kinh tế
hiệu quả sau khi nâng giá đồng Yên của Nhật Bản 26
Chương 6: Bài học từ những chính sách thiếu hiệu quả của
chính phủ và ngân hàng trung ương Nhật Bản 26
6.1 Chính sách tiền tệ mở rộng trong một thời gian dài 266.2 Chính sách tài khóa mở rộng thiếu hiệu quả 27
Chương 7: Bài học từ việc cải cách toàn diện nền kinh tế theo
hướng tự do hóa để ngăn chặn những cuộc khủng hoảng trong
Trang 5Phần I: Cơ sở lý thuyết về tỉ giả và tác động của việc nâng giá tiền tệ
Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về tỉ giá
1.1 Khái niệm và phương pháp yết giá
Khái niệm
Khái niệm 1: Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường
hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định Vì vậy, giá cảcủa một đơn vị tiền tệ này được thể hiện bằng 1 đơn vị tiền tệ nước kia gọi là tỷ giá hốiđoái
Ví dụ: một người nhập khẩu nước Mỹ phải bỏ ra 160.000 USD để mua một tờ séc
có mệnh quá 100.000 GBP để trả tiền hàng nhập khẩu từ nước Anh Như vậy, giá của 1GBP = 1,6 USD, đây là tỷ giá hối đoái giữa đồng bảng Anh và đồng đôla Mỹ
Khái niệm 2: Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở 1 khía cạnh khác: đó là quan
hệ so sánh giữa hai tiền tệ của 2 nước với nhau theo tiêu chuẩn nào đó
- Trong chế độ bản vị vàng, tiền tệ trong lưu thông là tiền đúc bằng vàng và giấybạc ngân hàng được tự do đổi ra vàng căn cứ vào hàm lượng vàng của nó Tỷ giá hốiđoái là quan hệ so sánh 2 đồng tiền vàng của 2 nước khác nhau hoặc là so sánh hàmlượng vàng của 2 đồng tiền 2 nước khác nhau
So sánh hàm lượng vàng của 2 tiền tệ với nhau gọi là ngang giá vàng Hay nói 1cách khác, ngang giá vàng của tiền tệ là cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái trong chế độbảng vị vàng
- Trong chế độ lưu thông tiền giấy, tiền đúc trong lưu thông không còn nữa, giấybạc ngân hàng không còn tự do đổi ra vàng theo hàm lượng vàng của nó, do đó, nganggiá vàng không còn làm cơ sở hình thành tỷ giá hối đoái
Trang 6Việc so sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng so sánh sức mua của 2tiền tệ với nhau, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ.
Ví dụ: Trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị của Anh và Mỹ là như nhau.Một tấn lúa mì loại 1 ở Anh co giá là 100 GBP, ở Mỹ là 178 USD Ngang giá sức mua
là
1 GBP = 1 / 100 = 1,78 USD
Đây là tỷ giá hối đoái giữa bảng Anh và đôla Mỹ
Phương pháp yết tỷ giá:
Theo tập quán kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, TGHĐ thường được yết giánhư sau:
USD / CNY = 8,15/75USD / VND = 15.840/45Đồng USD đứng trước gọi là tiền yết giá và là 1 đơn vị tiền tệ Các đồng CNY,VND đứng sau gọi là tiền định giá và là 1 số đơn vị tiền tệ và thường thay đổi phụthuộc vào thời giá của tiền yết giá
Tỷ giá đứng trước 8,15 là tỷ giá mua USD trả bằng CNY của ngân hàng và tỷ giáđứng trước 15.840 là tỷ giá mua USD trả bằng VND của ngân hàng, chúng được gọi là
tỷ giá mua vào của ngân hàng
Tỷ giá đứng sau 8,15 là tỷ giá bán USD thu bằng CNY của ngân hàng và 15.845
là tỷ giá bán USD thu bằng VND của ngân hàng, chúng được gọi là tỷ giá bán ra củangân hàng
Tỷ giá bán thường lớn hơn tỷ giá mua, chênh lệch giữa chúng gọi là lợi nhuậnchưa thuế của ngân hàng
Trong giao dịch mua bán ngoại hối qua ngân hàng, để đảm bảo tính nhanh, gọn,các tỷ giá thường không được đọc đầy đủ, mà chỉ đọc những số nào thường biến động,
đó là những số cuối
1.2 Chức năng của tỷ giá hối đóai
Chức năng so sánh sức mua: Thông qua TGHĐ ta có thể so sánh được giá cả ở
thị trường nội địa so với thị trường thế giới, từ đó thấy được mức chênh lệch về năng
Trang 7suất lao động ở trong nước với thế giới bên ngoài, biết được đồng tiền quốc gia này làbội số hay ước của số của đồng tiền quốc gia kia.
Qua chức năng so sánh sức mua của các tiền tệ, TGHĐ trở thành công cụ quantrọng trong việc họach định các chính sách kinh tế đối ngoại, định hướng phát triển cáchọat động ngoại thương, dịch vụ đối ngoại và các ngành kinh tế khác trong nước
Chức năng điều chỉnh xuất nhập khẩu và thu chi quốc tế: Thông qua việc ổn
định TGHĐ, Nhà nước sẽ có những tác động trực tiếp đến hoạt động xuất, nhập khẩutheo hướng khuyến khích hoặc hạn chế, từ đó điều chỉnh quan hệ thu chi quốc tế, cảithiện cán cân thương mại và cán cân thanh tóan quốc tế
Chức năng phân phối: Nhà nước có thể sử dụng TGHĐ như một công cụ để
điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các lĩnh vực hoạt động kinh tế đối ngoại
1.3 Các nhân tố tác động lên ti giá
Các nhân tố tác động trực tiếp lên tỷ giá
- Họat động của NHTW trên thị trường ngọai hối thông qua việc mua bán đồngnội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định hay ảnh hương làm tỷ giá thay đổi đat đến mụctiên đề ra bằng dự trữ ngọai hối của mình Các họat động can thiệp trực tiếp của NHTW
sẽ tạo ra hiệu ứng thay đổi cung ứng tiền trong lưu thông, tạo ra áp lực lạm phát haygiảm phát khônng mong muốn cho nền kinh tế; chính vì vậy sẽ NHTW thường sử dụngthêm nghiệp vu thị trường mở
- Ngòai ra còn phải kể đến các can thiệp hành chính của chính phủ như biện phápkết hối hay quy định hạn chê về đối tượng được mua ngọai tệ, mục đích sử dụng ngoai
tệ v.v…
Tuy nhiên với xu thế mở cửa tự do hóa thương mại hiện nay thì các biện pháphành chính ngày càng trở nen không phù hợp mà thay vào đó là chuyển sang các công
cụ thị trường
Các nhân tố gián tiếp
Lãi suất tái chiết khấu : Khi NHTW tăng mứa lãi suất tái chiết khấu dẫn đến làmtăng mặt bằng lãi suất thị trường; lãi suất thị trường tăng hấp dẫn các luồng vốn ngọai tệchạy vào làm nội tệ lên giá và ngược lại
Trang 8Thuế quan: thuế quan cao có tác dụng hạn chế nhập khẩu; nhập khẩu giảm làmcho cầu ngọai tệ giảm, kết quả làm cho nội tệ lên giá Thuế quan thấp sẽ có tác dụngngược lại.
Hạn ngạch: Khi dỡ bỏ hạn ngạch sẽ có tác dụng tăng nhập khẩu, sẽ có tác dụnglên tỷ giá giống thuế quan thấp
Giá cả: Chính phủ có thể trợ giá cho những mặt hàng xuất khẩu chiến lượckhiến khối lượng xuất tăng lên, tăng cung ngọai tệ khiến cho nội tệ lên giá Đối với việc
bù giá sẽ cho kết quả ngược lại
Điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngọai tệ đối với các NHTM : Khi ngọai tệkhan hiếm trên FOREX, NHTW có thể tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với huy động bằngngọai tệ của các NHTM, làm chi phí sử dụng vốn ngọai tê tăng, tăng kinh doanh có lãithì NHTM phải hạ lãi suất huy động ngọai tệ, việc sở hữu ngọai tệ trở nên kém hấp dẫnhơn việc nắm giữ nội tệ, làm tăng cung ngọai tê trên FOREX
Chương 2: Lý luận về nguyên nhân và tác động của nâng giá tiền tệ
2.1 Khái niệm về nâng giá tiền tê
Nâng giá tiền tệ là việc nâng sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, caohơn sức mua thực tế của nó, tức là làm cho tỷ giá cua ngọai hối so với tiền tệ nâng giá
bị sụt xuống, hạ thấp tỷ giá hối đóai xuống
2.2 Nguyên nhân của việc nâng giá tiền tệ
Một quốc gia có thể nâng giá tiền tệ là do 4 nguyên nhân chính sau
- Do áp lực của nước khác muốn tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hoá của họvào quốc gia có cán cân thương mại và cán cân thanh tóan quốc tế dư thừa Trung Quốc
là một ví dụ điển hình trong thời gian này Trong những năm gần đây, nền kinh tế củaTrung Quốc phát triển rất nhanh, hàng hóa xuất khẩu tràn ngập thị trường nước ngoàivới ưu thế là giá rẻ do Nhà nước của Trung Quốc duy trì đồng Nhân dân tệ yếu nhằmđẩy mạnh xuất khẩu, thu ngoại tệ Điều này tạo ra sự đe dọa lớn đối với các ngành sảnxuất của các nền kinh tế khác, đặc biệt là Mỹ, thị trường tiêu thụ sản phẩm của Trung
Trang 9Quốc lớn nhất thế giới Dưới sức ép từ Mỹ và các nước khác trên thế giới, Trung Quốc
đã phải đồng ý thi hành chính sách nâng giá đồng Nhân dân tệ
- Tránh những đồng tiền mất giá chạy trốn vào nước mình
- Những nước có nền kinh tế phát triển quá “nóng” muốn làm “lạnh”nềnkinh tế để tránh những khung hỏang về cơ cấu thì sẽ nâng giá tiền tệ để giảm xuất khẩuhàng hóa, giảm đầu tư vào trong nước mình Tăng trưởng nóng là hiện tượng nền kinh
tế tăng trưởng vượt bậc, vượt mức sản lượng tiềm năng Tại mức sản lượng tiềm năngcác tiềm lực kinh tế được sử dụng một cách hiệu quả nhất, tỷ lệ lạm phát vừa phải, thấtnghiệp thấp nhất, tức là vẫn còn một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cho phép để ổn định nềnkinh tế Tăng trưởng nóng tạo nên một số chỉ tiêu vượt bậc về kinh tế từ đó gây ra một
số hệ quả không tốt cho nền kinh tế Một nền kinh tế tăng trưởng nóng sẽ nhanhchóng rơi vào tình trạng suy thoái sau cơn “phát nhiệt”, đặc biệt khi có những cú sốcngoại lainếu không có những biện pháp ngăn chặn kịp thời để làm nguội dần nền kinh
tế trước khi đứa nó về trạng thái phát triển cân bằng và ổn định
Khi một quốc gia đang tăng trưởng nóng cần phải có biện pháp giảm xuất khẩuhàng hóa ra bên ngoài, đồng thời cần phải khuyến khích nhập khẩu các trang thiết bịhiện đại, bên cạnh đó cần phải hạn chế đầu tư vào trong nước Đó chính là lúc nhà nướcđưa ra chính sách nâng giá tiền tệ Để thực hiện được những mục tiêu “giảm nhiệt” chonền kinh tế, mỗi quốc gia cần phải biết cách lựa chọn thời điểm để tiến hành nâng giátiền tệ sao cho phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình
- Phục vụ cho việc chuyển vốn đầu tư ra bên ngòai xây dưng một nền kinh
tế của mình “trong lòng” các nước khác nhằm giữ vững thị trường bên ngòai, vấn đềsống còn của nền kinh tế mỗi quốc gia Chính phủ của các nước có thể xem xét sử dụngbiện pháp nâng giá tiền tệ để có thể nâng cao sự ảnh hưởng của nước mình đối với cácnước khác trên thế giới Một khi thực hiện biện pháp này sẽ tăng cường đầu tư và xuấtkhẩu vốn ra bên ngoài, từ đó sẽ khiến nền kinh tế của nước nhận đầu tư sẽ phần nào bịảnh hưởng bởi nền kinh tế của nước đầu tư Nguyên nhân này chủ yếu xảy ra ở cácnước có nền kinh tế đã phát triển, lượng vốn đang ở trạng thái bão hòa, không còn có
Trang 10thể tăng được hiệu quả của dòng vốn đầu tư Do đó, những nhà đầu tư mong muốn dichuyển nguồn vốn của mình ra những nước có nền kinh tế kém phát triển hơn.
2.3 Tác động của việc nâng giá tiền tệ
Khuyến khích dòng vốn từ trong nước chảy ra nước ngoài với mục đích đi dulịch, chuyển kiểu hối và đầu tư
Nâng giá tiền tệ về bản chất là mang tính quốc tế, cho nên nó có ảnh hưởng đếnquan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ kinh tế
Thị trường ngoại hối luôn ở trạng thái cầu lớn hơn cung, nghĩa là thị trường khanhiếm hàng hóa, tạo ra cảnh “ mua bán tranh ép” hay “ bán thì cưỡng ép còn mua thìphân phối”
Do tỷ giá luôn chịu sức ép tăng một chiều khiến cho những nhà đầu cơ vào cuộc.Một mặt, họ găm giữ ngoại tệ; mặt khác, họ tích cực mua vào chờ thời cơ tỷ giá tăng đểbán ra kiếm lời Điều này khiến cho thị trường ngoại hối càng tỏ ra căng thẳng và tạo rasức ép mạnh hơn lên phá giá nội tệ
Tỷ giá thấp cùng với doanh số mua bán ngoại tệ giảm đã kìm hãm phát triểnngoại thương và khiến cho các nguồn lực trong xã hội phân bổ kém hiệu quả
Trang 11Và trong trường hợp của Nhật Bản vào giai đọan 1985 – 1987, khi thực hiệnnâng giá tiền tệ thi nguyên nhân chính là do áp lực của các cường quốc khác trong thời
kì này là muốn tăng khả năng cạnh tranh hàng hóa của mình
Phần II: Vấn đề nâng giá tiền tệ sau thỏa ước Plaza và tác động của
nó lên nền kinh tế Nhật Bản từ 1985- 2000.
Chương 3: Tổng quan về thỏa ước Plaza và giá trị đồng Yên sau thỏa ước 3.1 Hòan cảnh kí kết thỏa ước
Từ một nền kinh tế hoang tàn sau chiến tranh thế giới thứ II, đến giữa thập niên
1980, Nhật Bản đã vươn lên mạnh mẽ và “tham gia vào bộ ba quyền lực đứng đầu thếgiới (gồm Mỹ, Tây Đức và Nhật Bản - TG)” Yếu tố cơ bản tạo ra điều thần kỳ đó chính
là mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu mà một trong những trụ cột quan trọng nhất
là chính sách tỷ giá hối đoái “đồng Yên yếu” Việc duy trì một đồng Yên yếu so vớiđồng USD kéo dài mấy thập niên đã giúp cho hàng hóa Nhật Bản tăng sức cạnh tranh
so với hàng hóa của các nền kinh tế phát triển ở Tây Âu, Bắc Mỹ Nhờ đó, trong suốtthập niên 1970 và nửa đầu thập niên 1980, Nhật Bản đánh bại hầu như tất cả các địchthủ kinh tế ở bất cứ lĩnh vực nào mà các công ty Nhật Bản chọn làm chiến trường cạnhtranh Các nền kinh tế - đối thủ cạnh tranh của Nhật Bản bị mất dần thị phần của nhiềusản phẩm mang tính biểu tượng vào tay Nhật Bản Được mệnh danh là “những kẻ luônluôn chiến thắng”, các ngành công nghiệp và các công ty Nhật Bản đã đẩy đối thủphương Tây vào cuộc tháo chạy kéo dài, kể cả ở những mặt trận vốn được coi là niềm
tự hào của họ Ô tô và hàng điện tử gia dụng là những ví dụ điển hình cho chiến thắngkinh tế huy hoàng của Nhật Bản và là nỗi cay đắng của các đối thủ cạnh tranh Mỹ vàTây Âu trong giai đoạn này1 “Chẳng có quốc gia công nghiệp nào có được thặng dưmậu dịch về sản phẩm chế tạo với Nhật Bản” (L Thurow 1994) Đặc biệt, nền kinh tế
Trang 12Mỹ lâm vào tình trạng thâm hụt thương mại ngày càng nặng nề trong quan hệ buôn bánvới Nhật.
Khi phân tích nguyên nhân sinh ra mối đe dọa từ phía Nhật Bản, một cườngquốc công nghiệp bị chiến tranh tàn phá chỉ mới phục hồi nhưng lại luôn luôn có thặng
dư thương mại với phần còn lại của thế giới, các chuyên gia và nhà hoạch định chínhsách hàng đầu của các nền kinh tế phương Tây nhận thấy vai trò đặc biệt to lớn, thậmchí có thể coi là quyết định, của chính sách tỷ giá hối đoái mà Chính phủ Nhật Bản ápdụng Đó là chính sách có mục tiêu duy trì đồng Yên giá trị thấp so với đồng USD,được Chính phủ Nhật Bản kiên trì áp dụng trong hơn 20 năm, biến nó thành động lựcquan trọng bậc nhất, giúp nền kinh tế Nhật Bản triển khai thành công mô hình tăngtrưởng hướng vào xuất khẩu
Nhận thức được sức mạnh thực tiễn của nguyên lý đó trong trường hợp NhậtBản, các Chính phủ phương Tây đã sử dụng chính nó để "phản đòn" Họ đi tới kết luậnvốn rất thông thường về mặt lý thuyết rằng việc thay đổi tỷ giá theo hướng giảm giáđồng USD, tăng giá đồng yên sẽ “triệt tiêu” động lực tăng trưởng xuất khẩu của NhậtBản, giúp các nền kinh tế phương Tây thoát khỏi tình trạng thâm hụt mậu dịch trường
kỳ trong quan hệ thương mại với Nhật
Nhận định trên là cơ sở để 5 cường quốc tài chính là Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Nhậtgặp nhau ngày 22/9/1985 tại khách sạn New Yorker Plaza để tìm kiếm một giải phápnhằm chặn đứng xu hướng gia tăng thặng dư thương mại theo cấp số nhân của Nhật vàgiảm thiểu mức độ tăng thâm hụt thương mại tương ứng của Mỹ Giải pháp được chọn
để đạt mục tiêu là phá giá mạnh đồng USD, tăng giá các đồng tiền khác, trong đó, đíchngắm chính là đồng Yên
3.2.Nội dung thỏa ước Plaza
Thỏa ước Plaza hay Hiệp định Plaza (tiếng Anh: Plaza Accord) là thỏa ước tài
chính được ký ngày 22 tháng 9 năm 1985 lại khách sạn Plaza, thành phố NewYork, Mỹ, bởi nhóm G5 khi đó gồm Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp( HÌNH) Nhóm
Trang 13G5 đi đến thỏa thuận giảm giá đồng đô-la Mỹ so với đồng Yên Nhật và đồng Mác Đức(đơn vị tiền tệ của Cộng hòa liên bang Đức trước khi đồng Euro có hiệu lực) bằng cáchcan thiệp vào thị trường ngoại hối.
Thoả thuận Plaza (Plaza Accord) năm 1985 là điểm mốc quan trọng, lúc đó mộtUSD là 240 Yen Nhóm G5 áp lực Nhật chấp nhận đồng thuận trên nhằm tăng giá đồngYen và giảm giá đồng USD Nhật chấp nhận vì không muốn các nước G5, đặc biệt là
Mỹ đưa ra các biện pháp bảo vệ thị trường, ngăn chặn hàng Nhật
Trong vòng hai năm kể từ khi Thỏa thuận này có hiệu lực, tỷ giá hối đoáigiữa đô la Mỹ và Yên Nhật đã giảm tới 51% Phần lớn sự giảm giá này là nhờ khoản 10
tỷ đô-la bán ra của cácngân hàng trung ương liên quan Đầu cơ tiền tệ tiếp tục khiếnđồng đô-la xuống giá khi chấm dứt các hành động can thiệp Việc đồng đô-la xuống giánày được hoạch định và thực thi với sự thông báo trước và rộng rãi, nó cũng không gây
ra rối loạn ở các thị trường trên toàn cầu
Mục đích của việc phá giá đồng đô-la Mỹ là:
Cắt giảm thâm hụt tài khoản vãng lai của Hoa Kỳ đã tới 3,5% GDP;
Giúp kinh tế Mỹ hồi phục từ khủng hoảng trầm trọng đầu những năm 1980
Để kiềm chế lạm phát hồi đầu thập niên 1980, Cục dự trữ liên bang dướiquyền Paul Volker đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Lãi suất được nâng lên rấtcao, trên 10% Kết quả là các dòng vốn trên thế giới đổ dồn về Mỹ Dollar Mỹ, vì thếlên giá, khiến cho xuất khẩu của Mỹ giảm trong khi nhập khẩu vào nước này tănglên Cán cân thương mại và tài khoản vãng lai trở nên xấu đi
Thỏa ước Plaza đã thành công trong việc cắt giảm thâm hụt thương mại của Mỹvới Tây Âu nhưng thất bại trong mục tiêu cơ bản là hạn chế thâm hụt thương mạivới Nhật Bản Lý do là sự thâm hụt này bắt nguồn từ cơ cấu kinh tế chứ không từ cácyếu tố tiền tệ Hàng chế tạo của Mỹ trở nên cạnh tranh trong lĩnh vực xuất khẩu nhưngkhông thành công tại thị trường Nhật Bản do các biện pháp hạn chế nhập khẩu của NhậtBản.Thực tế, điều này cũng không thực sự đem lại nhiều ngạc nhiên Nhằm đối phó vớinhững bất lợi của thỏa ước Plaza, Nhật Bản đã thực thi chính sách tín dụng lãi suất thấp
Trang 14đối với các doanh nghiệp sản xuất trong khi ngầm bảo đảm cho các khoản vay của ngânhàng Kết quả là hàng hóa dành cho xuất khẩu tiếp tục tăng lên mặc dù hàng hóa dànhcho tiêu dùng bị giảm đi Và chính vì thế, thặng dư thương mại với Mỹ vẫn tăng lên.
B iểu đồ 3.2 : So sánh về tài khỏan vãng lai dựa trên % GDP danh nghĩa giữa 3 quốc gia Mĩ, Nhật Bản và Đức
từ năm 1980 – 2008
(Nguồn: Domestic-Demand-Led Economic Growth: Japan’s Lesson Learned; Mashahiko Nakazawa)
3.3 Giá trị đồng Yên Nhật sau thỏa ước
BẢNH SO SÁNH ĐỒNG YEN QUA CÁC THỜI KỲ
Sau thế chiến lần thứ hai, kinh tế Nhật đã dựa vào thương mại quốc tế để pháttriển vì Nhật thiếu tài nguyên thiên nhiên Xuất khẩu do đó là con bài chủ lực để Nhậtnhập khẩu nguyên liệu nhằm phát triển trong khi bằng mọi cách bảo vệ thị trường nộiđịa Hàng hoá nội địa do đó đắt so với các nước khác Chính vì vậy Chính phụ NhậtBản đã kiên trì theo đuổi chính sách giữ đồng Yen yếu cũng là lý do bảo đảm hàng hoáNhật xuất khẩu rẻ trên thị trường thế giới và làm cho hàng hoá nước ngoài đắt trên thịtrường nội địa Đầu những năm 1970, một USD có lúc lên tới 370 Yen
Trang 15Thực tế của Nhật Bản phù hợp với nguyên tắc lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷgiá hối đoái và thành tích xuất, nhập khẩu, được phản ánh trong một nguyên lý kinh tếhọc đơn giản, thông thường nhưng rất hiệu quả: một chế độ tỷ giá, trong đó, đồng nội tệ
bị “đánh giá thấp” so với đồng ngoại tệ, sẽ có tác động thúc đẩy xuất khẩu và kiềm chếnhập khẩu, giúp nền kinh tế thu được thặng dư thương mại; ngược lại, đồng nội tệ được
“đánh giá cao” trong quan hệ tỷ giá sẽ khuyến khích nhập khẩu và cản trở xuất khẩu,trở thành một trong những nguyên nhân chính gây thâm hụt mậu dịch
Biểu đồ 3.3 Tỷ giá JPY/USD từ năm 1971 – 1999
(Nguồn : Domestic-Demand-Led Economic Growth: Japan’s Lesson Learned; Mashahiko Nakazawa)
Tuy nhiên sau cuộc gặp lịch sử Plaza, trước áp lực rất mạnh của Mỹ và các đốitác châu Âu, Nhật Bản buộc phải chấp nhận nâng giá đồng Yên Hiệp ước Plaza có tácdụng tức thì Giá trị đồng Yên nhanh chóng tăng vọt Biểu đồ trên cho thấy ngay sauThỏa ước Plaza, trong năm 1985, đồng Yên lập tức tăng giá 30% Và chỉ sau đó chưađầy một năm rưỡi, đồng Yên lại tăng giá thêm 50% Từ cuối năm 1985 đến đầu năm
Trang 161987, giá trị tỷ giá của đồng Yên đã nhân đôi Thật sự đã diễn ra một sự đảo ngược tỷgiá Đi vào chi tiết, đàu tháng 12/1985 cho đến trước khi có thỏa ước Plaza, 1 usd đỏiđược 240 yen Trước khi dĩen ra thỏa ước Plaza 1 ngày, con số này là 241 7 yen tren 1usd
Tháng 11/1986 : tỉ giá là 162.29 yen trên 1 usd,
Tháng 11/1987 ; con số này chỉ còn 128.59 yen trên 1 usd
Đỉnh đỉem là vào ngày 4 tháng 1 năm 1988, 1 usd chỉ còn đổi ra được 121 yen,gàn nhu là bằng ½ khi so sánh vào tháng 12 năm 1985
Chương 4: Giá trị đồng Yên Nhật và các chính sách của Chính phủ và Ngân hàng trung ương Nhật Bản đưa ra trong giai đoạn 1985-2000
Như đã nói ở phần trên, việc kí kết thỏa ước Plaza vào tháng 9 năm 1985 dẫn tớiviệc Nhật Bản phải tăng giá đồng Yên trong những năm tiếp theo Việc đồng Yên tănggiá trong bối cảnh trước đó đồng tiền này luôn được định giá ở mức thấp so với đồngUSD đòi hỏi chính phủ Nhật Bản cũng như ngân hàng trung ương nước này (BOJ) phải
có những chính sách phù hợp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì mức tăng trưởngcao trong khoảng 4 thập niên trước đó Nhưng dựa trên những kết quả ghi nhận được từthực trạng nền kinh tế nước này trong khoảng thời gian 15 năm sau khi kí kết thỏa ướcPlaza, tức là từ 1985 đến 2000, rõ ràng việc điều tiết vĩ mô của Nhật Bản trong khoảngthời gian này đã mắc phải nhiều sai lầm dẫn tới những ảnh hưởng nghiêm trọng đến nềnkinh tế lớn thứ 2 thế giới
Vào thời điểm cuối những năm 80, nền kinh tế Nhật Bản ở trong tình trạng “nềnkinh tế bong bóng”, giá cổ phiếu và bất động sản leo thang ở mức chóng mặt Nền kinh
tế bong bóng sụp đổ vào năm 1990 kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng và cáccông ty tài chính, thị trường chứng khoán và thị trường nhà đất nước này cũng tụt dốckhông phanh Tất cả những sự sụp đổ hay tụt dốc đó có thể đã không diễn ra nếu nhưchính phủ Nhật Bản và BOJ phản ứng mạnh mẽ và ngay lập tức đối với những hệ quả
từ việc định giá lại đồng Yên vào năm 1985