1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn

32 1,1K 27
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Vốn Việt Nam- Lý Luận Và Thực Tiễn
Tác giả Nguyễn Thị Thu Phương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 243,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài;Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với lao động và đất đai, vốn là một yếu tố đầu vào vô cùng quantrọng mà tất cả các doanh nghiệp phải lựa và sử dụng một cách hợp lý Ngày nay,với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, trị trường vốn ở nước cũng phát triểnngày càng phong phú, đa dạng

Như ta đã biết, thị trường vốn là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại.Nền kinh tế của một quốc gia có phát triển mạnh mẽ hay không , điều đó sẽ đượcphản ánh thông qua thị trường vốn Tất cả các biến động trong nền kinh tế đều ítnhiều gây ra các ảnh hưởng đối với thị trường vốn, vì vậy mà thị trường vốn cònđược coi là “ một nền kinh tế tượng trưng” cho nền kinh tế thực

Bên cạnh đó, một quốc gia muốn phát triển về mọi mặt đặc biệt là về kinh

tế thì điều vô cùng quan trọng đối với quốc gia đó chính là vốn- điều kiện hàngđầu trong quá trình phát triển của mọi quốc gia, nhất là đối với các quốc gia đangphát triển như nước ta Đứng trước yêu cầu phát triển đất nước, đưa đất nướcthoát khỏi tình trạng đói nghèo để trở thành một quốc gia có nền công nghiệp pháttriển, nền kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đờisống nhân dân được nâng cao về mọi mặt, củng cố an ninh quốc phòng, phát triểnvăn hoá-xã hội…; thì nhu cầu về vốn càng lớn và càng trở nên cấp thiết Do vậymỗi doanh nghiệp, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế đều đặt vấn đề thuhút vốn đầu tư trong và ngoài nước và sử dụng vốn sao cho hiệu quả lên vị tríquan trọng Hiện nay, thị trường vốn chính là kênh cung cấp vốn phong phú nhất,

đa dạng nhất với nhiều hình thức khác nhau, nhiều thời hạn khác nhau cho cácchủ thể trong nền kinh tế quốc dân

Từ những lí do kể trên, chúng ta thấy được vai trò quan trọng của thị trườngvốn đối với nền kinh tế Việt Nam, cũng như tính cấp thiết của việc nghiên cứuloại thị trường này để đưa các giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện thị trườngvốn

Dựa trên những kiến thức đã được học trong bộ môn kinh tế học, đặc biệt là kinh

tế học vi mô và xuất phát từ tình hình thực tiến của thị trường vốn ở Việt Nam,

em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn”.

Kết cấu của đề tài bao gồm ba chương:

Chương I : Những lý luận chung về thị trường vốn

24

Trang 2

Chương II : Thực trạng về thị trường vốn ở Việt Nam.

Chương III : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hoạt động của thịtrường vốn Việt Nam

Đây là một đề tài nghiên cứu những vấn đề lớn, bức xúc và không kémphần phức tạp do thực tiễn đặt ra Do vậy trong quá trình nghiên cứu không tránhkhỏi những thiếu sót, em hy vọng sẽ nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô

và các bạn

Em xin chân thành cảm ơn thầy cô đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề tàinày

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thu Phương

K43.11.01

24

Trang 3

CHƯƠNG INHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN

1.1 Khái niệm về vốn - tư bản

Các yếu tố sản xuất được chia thành 3 nhóm cơ bản là : lao động, đất đai vàvốn Thuật ngữ vốn để chỉ khối lượng trang thiết bị và cơ sơ hạ tầng sử dụngtrong toàn bộ quá trình sản xuất, được hiểu là vốn hiện vật Vậy vốn hiện vật làgì?

Vốn hiện vật bao gồm máy móc của dây chuyền lắp ráp dùng để sản xuất

xe hơi, đườn ray xe lửa để làm dịch vụ vận tải, vật liệu dự trữ cho quá trình sảnxuất kinh doanh, các trường sở tạo nên dịch vụ giáo dục, các nhà ở để làm dịch vụcho thuê nhà và cả những đồ dùng lâu bền trong gia đình

Vốn hiện vật khác với đất đai ở chỗ là chúng được chế tạo ra Vốn và đấtđai gộp lại tạo nên tài sản hữu hình của nền kinh tế

Phân biệt giữa vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là một bộ phậncủa tài sản hữu hình; vốn hàng hoá có thể mua, bán, cho thuê nên nó phải có giá.Vốn tài chính không phải là tài sản hữu hình, vốn tài chính không trực tiếp sảnxuất hàng hóa, nó là phương tiện sử dụng để mua các yếu tố sản xuất dùng để sảnxuất ra hàng hóa và dịch vụ

Trong thực tế khó tính được chính xác tổng số vốn của các doanh nghiệp ởcác thời điểm vì vốn bị hao mòn theo thời gian và những tiến bộ khoa học kỹthuật, làm cho các tài sản cũ kém năng suất và đắt hơn các tài sản mới Để bù đắp

sự hao mòn này các doanh nghiệp phải có sự đầu tư thường xuyên nhằm duy trì

sự hoạt động của các tài sản trong hiện tại và tương lai Việc bù đắp phải đượctính toán trên cơ sở giá của tài sản và mức độ sử dụng của tài sản

1.1.2 Lãi suất và giá của tài sản

1.1.2.1 Định nghĩa về giá

24

Trang 4

Giá của một tài sản là tổng số tiền có thể mua đứt quỹ tài sản vốn đó.

Bằng cách sở hữu một tài sản vốn, người mua tài sản đó thu được quyền sử dụng các dịch vụ vốn trong tương lai do vốn đó tạo ra.

Cần phân biệt giá mua và giá thuê Giá mua đất đai hoặc vốn hàng hoá làgiá mà một cá nhân hay một tổ chức trả để có quyền sở hữu mãi mãi yếu tố sảnxuất đó Giá thuê là giá mà một cá nhân trả để có quyền sử dụng yếu tố đó trongmột thời kỳ nhất định

Tài sản tính bằng tiền chính là vốn tài sản của người chủ đã mua sắm tàisản đó Người mua sẽ thu hồi số tiền mua tài sản đó thông qua tiền thuê được trảtrong tương lai do các dịch vụ của các tài sản cung cấp Trong nền kinh tế thịtrường, việc mua tài sản và cho thuê tài sản đều tính bằng tiền Giá trị hiện hànhcủa tài sản và tiền thuê dịch vụ tài sản đều gắn với tiền trả lãi suất và thời gian

1.1.2.2 Lãi suất và giá trị hiện tại

Tài sản tính bằng tiền chính là vốn tài sản của người chủ đã mua sắm tàisản đó Người mua sẽ thu hồi số tiền mua tài sản đó thông qua tiền thuê được trảtrong tương lai do các dịch vụ của các tài sản cung cấp Trong nền kinh tế thịtrường, việc mua tài sản và cho thuê tài sản đều tính bằng tiền Giá trị hiện hànhcủa tài sản và tiền thuê dịch vụ tài sản đều gắn với tiền trả lãi suất và thời gian

Giá trị hiện tại của 1 USD tại một ngày nào đó trong tương lai là số tiền

mà nếu đem cho vay ngày hôm nay, sẽ tích lũy thành 1 USD vào ngày nào đó trong tương lai.

Quy luật của lãi kép chỉ ra rằng, cho vay 1 USD hôm nay sẽ tích lũy thànhmột số tiền càng lớn, nếu tương lai mà chúng ta duy trì khoản cho vay và cho vaytiếp khoản lãi càng lâu dài Ngược lại, giá trị hiện tại của một USD kiếm được tạimột thời điểm tương lai nào đó trở lên ngày càng nhỏ, nếu thời điểm tương lai màtại đó kiếm được một USD, càng xa xôi

24

Trang 5

Sự tích lũy thông qua lãi suất

Hình trên cho ta thấy việc vay 1 USD ngày hôm nay sẽ tích lũy ở các mứclãi kép 5% và 10% như thế nào Sau 10 năm, 1 USD cho vay sẽ tích luỹ thành2.59 USD ở mức lãi suất 10%, nhưng chỉ là 1.62 USD ở mức 5% Các mức lãisuất cao hơn tạo ra tích lũy nhanh hơn thông qua việc cho vay Do đó giá trị hiệntại của 1USD sau thời gian là 10 năm là 1/2.59 = 0.386 USD với mức lãi suất10% Tuy nhiên nếu mức lãi suất là 5% thì giá trị 1 USD sau 10 năm là 1/1.62 =

0.617 USD

Sử dụng mức lãi suất để tính các giá trị hiện tại của các khoản trả trongtương lai cho ta biết cách đúng đắn để cộng gộp lại các khoản trả ở những điểmthời gian khác nhau Chúng ta tính giá trị hiện tại cho mỗi khoản trả ở mỗi thờiđiểm Sau đó, chúng ta cộng gộp lại các giá trị hiện tại của các khoản trả khácnhau Giá của tài sản vốn có liên quan đến chuỗi các khoản trả trong tương lai mà

sẽ thu được từ các dịch vụ vốn mà nó cung cấp Việc tính toán giá trị hiện tại củakhoản tiền cho thuê kiếm được bằng tài sản đó trong mỗi năm của thời gian họatđộng của nó và cộng những giá trị hiện tại đó với nhau cho ta biết tài sản đó đánggiá bao nhiêu tại ngày hôm nay

1.1.2.3 Xác định giá trị hiện tại

Việc xác định giá tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng tới quyết định đầu

tư của một doanh nghiệp Doanh nghiệp phải so sánh những phí tổn mà họ phảichi ra hiện nay với luồng tiền mà tài sản đó tạo ra trong tương lai Tuy nhiên chiphí mà doanh nghiệp phải chi ra và luồng tiền có thể thu được trong tương lai từ

Lãi suất 5%

Lãi suất 10% 2.59 USD

Trang 6

tài sản không đồng nhất về thời gian, do đó để có thể so sánh được chúng ta phảiđặt chúng trên cùng một mặt bằng về thời gian Một trong những cách đó làchuyển giá trị những khoản tiền dự kiến thu được trong tương lai về hiện tại Ta

sẽ xem xét kĩ hơn về giá trị hiện tại

Giá trị hiện tại (PDV) là giá trị tính bằng tiền hiện hành của các khoản thu

hoặc các khoản thanh toán trong tương lai.

Để xác định được giá trị của khoản tiền được trả trong tương lai đáng giábao nhiêu hiện nay, ta phải tiến hành xác định giá trị tương lai

Giá trị tương lai của một khoản đầu tư

Giả sử chúng ta có vốn K đem đầu tư ngày hôm nay với lãi suất r Ta có giátrị tương lai là:

FV1=K(1+r) sau 1 kỳ

FV2=K(1+r)2 sau 2 kỳ, ……

FVn=K(1+r)n sau n kỳTrong đó (1+r)n là hệ số tính kép để tính chuyển các khoản tiền từ giá trịmặt bằng thời gian hiện tại về mặt bằng thời gian tương lai

r : là tỷ suất sử dụng để tính chuyển

Công thức xác định giá trị hiện tại

r

FV PDV

 1

1

2

2 2

) 1

FV PDV

 Sau 2 kỳ,

n

n n

r

FV PDV

) 1 ( 

Tổng giá trị hiện tại của chuỗi tiền tệ sau n năm được xác định

t n

Trong đó: t là kỳ nghiên cứu thứ t

r là lãi suất chiết khấu

24

Trang 7

Hệ số 1/(1+r)t được gọi là hệ số chiết khấu để tính chuyển các khoản tiền từgiá trị ở mặt bằng thời gian hiện tại Như vậy quy luật của lãi suất kép chỉ ra sốtiền tích lũy và giá trị hiện tại của vốn phụ thuộc vào 2 nhân tố: thời gian và lãisuất Do vậy lãi suất và giá trị tương lai của vốn là cơ sở để xác định giá trị củamột tài sản.

1.1.2.4 Giá trị ròng hiện tại và quyết định đầu tư

Một trong những tiêu chuẩn doanh nghiệp phải tính đến khi quyết định cónên đầu tư vốn hay không, là giá trị ròng hiện tại (NPV) Nghĩa là doanh nghiệpquyết định đầu tư, nếu như giá trị hiện tại của luồng tiền tương lai dự kiến từkhoản đầu tư đó lớn hơn chi phí đầu tư (NPV>0)

Trường hợp 1: Đầu tư một lần ngay từ đầu và dự kiến nó sẽ mang lại số thu cuối mỗi kỳ là : ẽ 1 , ẽ 2, ẽ 3, , ẽ n thì giá trị ròng hiện tại của đầu tư được xácđịnh theo công thức:

NPV

1 ( 1 )

Trong đó: r : là lãi suất bình quân hàng năm

ẽ1 : là số thu năm thứ t

C : là khoản đầu tư một lần ban đầu

n : là số năm kỳ nghiên cứu

Trường hợp 2: đầu tư được chia ra ở nhiều năm trong kỳ và thu nhập chỉ có khi tài sản được đưa vào họat động (thu, chi cùng thời điểm đầu kỳ).

Giá trị ròng hiện tại của đầu tư được xác định theo công thức:

C NPV

Trong đó: C1 : toàn bộ chi đầu tư năm thứ t

ẽ1 : là số thu năm thứ t

r : là lãi suất bình quân hàng năm

n : là số năm kỳ nghiên cứu

Trường hợp 3: đầu tư được chia ra ở nhiều năm trong kỳ và thu nhập chỉ có khi tài sản được đưa vào họat động (chi ở đầu kỳ và thu ở cuối kỳ).

24

Trang 8

Giá trị ròng hiện tại của đầu tư được xác định theo công thức:

t

r

C r

NPV

Trong đó: C1 : toàn bộ chi đầu tư năm thứ t

ẽ1 : là toàn bộ chi đầu tư năm thứ t

r : là lãi suất hàng năm

n : là số năm kỳ nghiên cứu

Kết luận:

Nếu NPV >0 tức là giá trị hiện tại của các khoản tiền dự kiến thu đượctrong tương lai từ tài sản lớn hơn chi phí đầu tư Doanh nghiệp sẽ quyết định đầutư

Nếu NPV = 0 tức là lợi tức từ việc đầu tư đúng bằng chi phí cơ hội của việc

sở hữu vốn Doanh nghiệp sẽ trung lập giữa đầu tư và không đầu tư

Nếu NPV<0 doanh nghiệp sẽ không đầu tư

1.1.2.5 Lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa

Trong thực tế, tiền thuê vốn hiện vật trong tương lai còn phức tạp hơn sovới việc cho ngân hàng vay dù đó là lãi suất cố định Việc trả tiền thuê vốn hiệnvật trong tương lai còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế và mức sản xuất do tài sản

Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phátViệc định giá tài sản cần xem xét lãi suất thực tế, trong nền kinh tế người tathường dùng hệ số chiết khấu dựa trên cở sở lãi suất thực tế để tính toán

1.2 Nhu cầu về dịch vụ vốn

1.2.1 Cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp

24

Trang 9

Trong ngắn hạn, cầu về vốn của một doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở cầu

về dịch vụ vốn của doanh nghiệp đó Tài sản tham gia vào quá trình kinh doanhcũng giống như yếu tố lao động, chủ doanh nghiệp phải xem xét một giờ thêm củadịch vụ vốn sẽ mang lại thêm vào giá trị sản lượng của doanh nghiệp là bao nhiêu

Do đó doanh nghiệp phải so sánh giữa chi phí cận biên của dịch vụ vốn và doanhthu cận biên của dịch vụ vốn

Doanh thu cận biên của vốn là mức gia tăng về tổng doanh thu do sự gia tăng của một đơn vị dịch vụ vốn được sử dụng.

Chi phí cận biên của dịch vụ vốn là mức gia tăng về tổng chi phí do sự gia tăng một đơn vị dịch vụ vốn được sử dụng.

MC K = R

Đường MRK cho thấy mức dịch vụ vốn mà doanh nghiệp sẽ thuê tương ứngvới các mức tiền thuê R trên thị trường Vì vậy đường MRK chính là đường cầu vềdịch vụ vốn của doanh nghiệp Đường cầu về dịch vụ vốn dốc xuống về bên phải cũng do tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần

Vì vậy, doanh nghiệp sẽ tăng thuê vốn cho đến khi mà doanh thu cận biêncủa vốn bằng tiền thuê vốn danh nghĩa

Xác định giá thuê vốn v à đường cầu về vốn của doanh nghiệp

Trang 10

* Các nhân tố làm dịch chuyển đường cầu về dịch vụ vốn

- Giá sản phẩm của doanh nghiệp Khi giá tăng làm cho MRK tăng dẫn đến MCKtăng, đường MRK dịch chuyển sang phải, khối lượng vốn tăng

- Mức sử dụng các yếu tố đầu vào khác Giả sử khi lao động tăng, làm cho tổngdoanh thu tăng, dẫn đến MRK tăng, đường MRK dịch chuyển sang phải, khốilượng vốn tăng

-Tiến bộ kĩ thuật , năng suất của vốn hiện vật tăng lên , làm cho tổng doanh thutăng, dẫn đến MRK tăng, MRK dịch sang phải, khối lượng vốn tăng

Đường cầu vốn của doanh nghiệp Đường cầu vốn của ng nhà

Đường cầu về vốn của ng nhà

R

R0

K

2

MRK2

MRK1

Dịch chuyển đường cầu về vốn

Trang 11

MRK1 > MRK2 Đường cầu về dịch vụ vốn của ngành khi giá giảm dốc hơnđường cầu về dịch vụ vốn của ngành khi P không đổi.

Chi phí của việc sở hữu vốn, mỗi khi cho thuê một đơn vị vốn thì doanhnghiệp cho thuê phải chịu 3 loại chi phí:

+ Chi phí lãi suất : tức là khi doanh nghiệp vay tiền để mua vốn thì phải trảlãi cho khoản vay đó

+ Khoản lỗ hay lãi do giá vốn thay đổi: trong khi doanh nghiệp cho thuêvốn thì giá vốn có thể thay đổi, nếu giá vốn giảm doanh nghiệp cho thuê bị lỗ, nếugiá vốn tăng doanh nghiệp cho thuê được lãi

+ Chi phí khấu hao: trong khi cho thuê, vốn bị hao mòn

1.3.2 Cung về dịch vụ vốn của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cung về vốn đồng thời cũng là các doanh nghiệp có nhucầu về hàng tư liệu Đứng trước mỗi nhu cầu nhà cung ứng tiềm tàng về vốn sẽ sosánh giữa giá mua tài sản vốn với giá trị hiện tại của tất cả các khoản tiền dự kiến

có thể thu được trong tương lai từ tài sản đó để quyết định đầu tư Đồng thờidoanh nghiệp phải xác định được giá cho thuê tối thiểu Giá cho thuê tối thiểu làtiền cho thuê cho phép người chủ sở hữu vừa đủ bù đắp chi phí cơ hội cho việc sởhữu vốn hay chi phí cho thuê vốn

Nếu giá cho thuê thực tế cao hơn giá cho thuê tối thiểu, doanh nghiệp sẽtăng khối lượng vốn cho thuê, cung về dịch vụ vốn của doanh nghiệp tăng vàngược lại

1.3.3 Cung về dịch vụ vốn cho một ngành

Trong ngắn hạn, tổng dự trữ các tài sản vốn cho toàn bộ nền kinh tế là cố

định Do đó lượng vốn sẵn sàng cung ứng cho một ngành tương đối ổn định

24

Trang 12

Một số ngành như điện, viễn thông, luyện kim, không thể ngày mộtngày hai có thể xây dựng thêm nhà máy mới Do đó cung về dịch vụ vốn cho cácngành là cố định, đường cung về vốn là thẳng đứng.

Một số ngành khác có thể thu hút thêm lượng cung ứng dịch vụ vốn chomình thông qua việc tăng tiền thuê vốn: ví dụ như ngành thương mại bằng cáchtrả tiền thuê cao hơn nên họ thu hút thêm được một phần vốn tài sản

Như vậy, đường cung về dịch vụ vốn cho một ngành trong ngắn hạn thường

là một đường thẳng đứng hoặc là rất dốc

Trong dài hạn, dự trữ tài sản vốn trong cho từng ngành sẽ thay đổi Các

nhà máy có thể xây dựng thêm, các thiết bị có thể được sản xuất và mua sắmthêm

Dự trữ tài sản vốn lớn hơn sẽ tạo ra (luồng dịch vụ vốn) khả năng cung ứngvốn lớn hơn và ngược lại, Nhưng dự trữ vốn lớn hơn chỉ khi nào giá cho thuê vốncao hơn Do đó trong dài hạn đường cung về vốn cho một ngành là đường dốc lên

và thoải hơn đường cung về vốn ngắn hạn

1.3.4 Cung về vốn đối với toàn bộ nền kinh tế

Trong ngắn hạn, đối với toàn bộ nền kinh tế, tổng cung các tài sản vốn

như máy móc, nhà cửa, xe cộ … mà chúng ta cung cấp là cố định vì không thểtrong thời gian ngắn có thể tạo ra được các máy mới Bởi vậy đường cung của cácdịch vụ vốn trong ngắn hạn là đường thẳng đứng do việc cung ứng các dịch vụvốn trong ngắn hạn là cố định

Trong dài hạn, một lượng dịch vụ vốn nhất định được cung ứng cho nền

kinh tế chỉ khi nào thu được giá cho thuê cần có Nếu nó thu được nhiều hơn, conngười sẽ tạo thêm các hàng tư liệu mới Nếu nó thu được ít hơn, các chủ sở hữuvốn sẽ đồng ý để hàng tư liệu của họ hao mòn mà không tạo thêm các hàng tư liệumới

Lượng cung ứng dịch vụ vốn

Đồ thị cung ứng vốnTiền thuê

1 đơn vị

Trang 13

Trong dài hạn, có thể có luồng dịch vụ vốn lớn hơn chỉ khi nào có dự trữvốn thường xuyên lớn Nhưng vốn bị hao mòn, dự trữ vốn càng cao thì tổnglượng khấu hao càng lớn Do đó nguồn dịch vụ vốn nhiều hơn trong dài hạn đòihỏi có dự trữ vốn thường xuyên nhiều hơn, về phần mình, dự trữ đòi hỏi cácnguồn hàng hóa tư liệu mới nhiều hơn để bù đắp khấu hao và bảo quản dự trữ vốnchưa dùng đến.

Nhưng các nhà sản xuất hàng tư liệu mới sẽ đòi hỏi giá cao hơn cho hàng tưliệu mới nếu họ sản xuất một lượng hàng tư liệu mới lớn hơn Do đó để duy trì tỷsuất lợi tức cần có, chúng ta đòi hỏi giá cho thuê lớn hơn đối với các dịch vụ vốn.Một mức giá thuê cao hơn chia cho giá mua hàng tư liệu cao hơn sẽ làm cho tỷsuất lợi tức không đổi Luồng dịch vụ vốn cao hơn trong dài hạn sẽ được cungứng nếu giá thuê vốn tăng lên cân đối với giá mua đã tăng của hàng tư liệu.Chúng ta thấy đường cung dịch vụ vốn dốc lên trong dài hạn, khi vẽ trong hệ tọa

độ lượng cung ứng dịch vụ vốn và giá cho thuê vốn

Khi mức lãi suất thực tế tăng lên, với một giá mua hàng tư liệu đã cho, giácho thuê cần có phải tăng lên Người cung ứng vốn cần phải có mức lợi tức caohơn để bù đắp chi phí cơ hội cao hơn của số tiền họ bỏ ra để mua hàng tư liệu Tathấy hiệu ứng của sự gia tăng lãi suất thực tế như là sự dịch chuyển đường cungdài hạn đối với các dịch vụ vốn lên phía trên từ SS đến S’S’

1.4 Cân bằng và sự điều chỉnh thị trường vốn

1.4.1 Xác định lãi suất và lợi tức vốn

Khi quyết định có nên đầu tư hay không, các doanh nghiệp muốn có lợinhuận tối đa luôn luôn so sánh giữa chi phí vay vốn và tỷ suất lợi tức thu được.Nếu tỷ suất lợi tức đầu tư cao hơn lãi suất thị trường đối với vốn vay thì doanhnghiệp sẽ tiến hành đầu tư, còn nếu lãi suất vay cao hơn tỷ suất lợi tức đầu tư thidoanh nghiệp sẽ không đầu tư Điểm cân bằng là điểm đạt được khi sự cạnh tranhcủa các doanh nghiệp làm cho tỷ suất lợi tức giảm xuống tới mức bằng lãi suất thịtrường Trong nền kinh tế cạnh tranh không có rủi ro, không lạm phát, tỷ suất lợitức cạnh tranh luôn bằng lãi suất thị trường

1.4.2 Cân bằng trong ngắn hạn

24E

SK

DK

Trang 14

Đồ thị trên cho ta thấy đầu tư trong quá khứ đã tạo ra một lượng vốn nhấtđịnh, biểu diễn bằng đường cung ngắn hạn thằng đứng SK Các hãng sản xuất cónhu cầu vốn hiện vật được phản ánh bằng đường cầu DK dốc xuống Tại điểm cắtnhau của đường cung và đường cầu, số lượng vốn được phân bổ hết cho các hãng

có nhu cầu Tại điểm cân bằng ngắn hạn này, các hãng chấp nhận hàng năm trả r0lãi vay hàng năm để mua các hàng hóa vốn, đồng thời người cho vay bằng lòngthu về đúng r0=i0 lãi mỗi năm trên số vốn mà họ cung cấp Do vậy trong một nềnkinh tế cạnh tranh không có rủi ro và lạm phát, tỷ suất lợi tức bằng lãi suất thịtrường, bất kỳ một mức lãi suất nào cao hơn sẽ không được các hãng chấp nhậnvay để đầu tư, bất kỳ mức lãi suất thấp hơn nào sẽ làm cho vốn trở nên khan hiếm

do cầu của các hãng tăng lên Chỉ có tại điểm cân bằng với mức lãi suất r0=i0 thìcung và cầu mới bằng nhau

1.4.3 Cân bằng trong dài hạn

Nhưng điểm cân bằng E chỉ ổn định trong thời gian ngắn do tại điểm E mọingười thấy rằng mức lãi suất vẫn cao, mang lại một mức thu nhập,khuyến khíchmọi người gia tăng tiết kiệm

Mức cung dài hạn của vốn được thể hiện là đường SKLR có chiều dốc lên,hàm ý mọi người muốn cho vay nhiều hơn khi lãi suất thực tế tăng lên Tại điểm

E với mức lãi suất i0, cung dài hạn về vốn vượt quá cầu về vốn Các tác nhân kinh

tế muốn tích lũy nhiều vốn hơn, gia tăng tiết kiệm Lúc đầu vốn tích lũy ban đầu

24

rLR

SK LR

DK

Cân bằng d i h à ạn

KE’

E

SS’’

S’’’

r

0=i0r,i

Điểm cân bằng d i hà ạn của cung v cà ầu vốn

Trang 15

tại điểm E, sau đó theo thời gian, vốn tích lũy tăng dần Kết quả là sau một thờigian, nền kinh tế sẽ trượt dọc theo đường cầu về vốn sang phải Điểm cân bằngdài hạn đạt được tại điểm E’.

Cân bằng ngắn hạn trượt dọc từ điểm E xuống theo đường cầu DK vì tạimức tỷ suất lợi tức r0 đầu tư là có lợi, xã hội ngày càng gia tăng tích lũy vốn Theothời gian cung ngắn hạn về vốn bị đẩy dần sang phải từ đường S sang S’, S’’ Đồng thời theo quy luật lợi tức giảm dần, tỷ suất lợi tức và lãi suất cùng giảm.Khi vốn tăng lên, các yếu tố khác không đổi, thì tỷ suất lợi tức (r0) đối với trữlượng vốn hàng hóa sẽ giảm xuống đến rLR

Tại điểm E’ cung dài hạn về vốn (SKLR) cắt đường cầu về vốn (DK) Điểmcân bằng dài hạn đạt được khi lãi suất giảm tới mức rLR, trữ lượng vốn mà các tácnhân sử dụng đúng bằng số tiền mọi người muốn cung cấp Tại điểm này, tiếtkiệm ròng bằng 0, trữ lượng vốn không còn tăng lên nữa Lãi suất và tỷ suất lợitức cân bằng dài hạn bằng nhau (r0=i0), giá trị tài sản tài chính mọi người muốngiữ trong dài hạn đúng bằng lượng vốn mà các hãng kinh doanh muốn sử dụng tạilãi suất đó

24

Trang 16

CHƯƠNG IITHỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN VIỆT NAM

2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.1.Tình hình chung

Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 150 nước, quan hệ đầu tưvới gần 70 nước trên thế giới Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã có vai tròquan trọng phát triển năng động, chiếm 1/4 vốn đầu tư toàn xã hội, trên 35% tổnggiá trị năng lượng công nghiệp, hơn 25% giá trị xuất khẩu cả nước, thu hút trên400.000 lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp

Từ năm 1988 đến 1990 là 3 năm khởi đầu FDI chưa có tác dụng rõ rệt đến

tình hình kinh tế, xã hội ở Việt Nam Cả 3 năm cộng lại có hơn 1,5 tỷ USD vốnđăng ký, còn vốn thực hiện thì không đáng kể, bởi vì các doanh nghiệp FDI saukhi được cấp giấp phép phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới đưa được vốn vàoViệt Nam

Từ năm 1991 đến 1997 là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh và góp phần ngày

càng quan trọng vào mục tiêu kinh tế xã hội Trong kế hoạch 5 năm 1991- 1995,

đã thu hút 16 tỷ USD vốn đăng ký, tốc độ tăng trưởng hàng năm rất cao, vốn đăng

ký năm 1991 là 1,275 tỷ USD thì năm 1995 là 6,6 tỷ USD, gấp 5,3 lần Vốn thựchiện trong cả 5 năm là 7,153 tỷ USD, bằng 32% tổng vón đầu tư cả nước Hainăm tiếp theo 1996- 1997 FDI tiếp tục tăng trưởng nhanh: thêm 15 tỷ USD vốnđăng ký và 6,06 tỷ USD vốn thực hiện

Từ năm 1998 đến năm 2000 là thời kỳ suy thoái của FDI Vốn đăng ký bắt

đầu giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong 2 năm tiếp theo Năm 1998 và giảmmạnh trong 2 năm tiếp theo Năm 1998, vốn đăng ký là 3,897 tỷ USD thì năm

1999 chỉ bằng 40,2%, còn 1,568 tỷ USD; năm 2000 là 1,973 tỷ USD Sau khi đạt

kỷ lục về vốn thực hiện vào năm 1997 với gần 3,2 tỷ USD, thì 3 năm tiếp theo đãgiảm rõ rệt, năm 1998 là 2,4 tỷ USD, năm 1999 và năm 2000 mỗi năm 2,2 tỷUSD

24

Ngày đăng: 23/04/2013, 16:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trên cho ta thấy việc vay 1 USD ngày hôm nay sẽ tích lũy ở các mức lãi kép 5% và 10% như thế nào - Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn
Hình tr ên cho ta thấy việc vay 1 USD ngày hôm nay sẽ tích lũy ở các mức lãi kép 5% và 10% như thế nào (Trang 5)
Đồ thị cung ứng vốnTiền thuê - Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn
th ị cung ứng vốnTiền thuê (Trang 12)
Đồ thị trên cho ta thấy đầu tư trong quá khứ đã tạo ra một lượng vốn nhất định, biểu diễn bằng đường cung ngắn hạn thằng đứng S K - Thị trường vốn Việt Nam- Lý luận và thực tiễn
th ị trên cho ta thấy đầu tư trong quá khứ đã tạo ra một lượng vốn nhất định, biểu diễn bằng đường cung ngắn hạn thằng đứng S K (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w