LỜI NÓI ĐẦU Cách mạng tháng Tám là một sự kiện lịch sử vĩ ñại của dân tộc Việt Nam, nó ñập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế ñộ quân chủ hàng thế kỉ trên ñấ
Trang 1I Sự ra ñời của mặt trận Việt Minh
1.Hoàn c ảnh ra ñời của mặt trận Việt Minh
2 T ổ chức của mặt trận Việt Minh
II Phong trào ñấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam từ tháng
5- 1941 ñến tháng 2- 1945
1 Phong trào ñấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam từ tháng
5- 1941 ñến tháng 2- 1943
2 Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng tháng 2-1943
3 Phong trào ñấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và cuộc
ñấu tranh ñể mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật- Pháp tính
từ 2-1943 ñến 2-1945
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Cách mạng tháng Tám là một sự kiện lịch sử vĩ ñại của dân tộc Việt Nam, nó
ñập tan xiềng xích của thực dân Pháp và phát xít Nhật, lật nhào chế ñộ quân chủ
hàng thế kỉ trên ñất nước ta, mở ra một kỉ nguyên mới trong ñời sống của nhân dân
ta, kỉ nguyuên mà nhân dân lao ñộng ñã ñứmg lên làm chủ vận mệnh của mình,
thiết lập nên một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, một chế ñộ tiên tiến nhất ở
Đông Dương Góp phần vào thành công vĩ ñại ñó là sự lãnh ñạo tài tình, khôn khéo
của Đảng, trong ñó sự ra ñời của Mặt trận Việt Minh và những hoạt ñộng ñấu tranh
giải phóng dân tộc của nhân dân ta từ tháng 5/1941- tháng 2/1945 có ý nghĩa ñặc
biệt quan trọng
Có thể nói, giai ñoạn 1941- 1945 là một giai ñoạn ñánh dấu sự phát triển lớn
trong nhận thức và lí luận của chủ nghĩa Mac- Lênin về mặt trận và sự vận dụng
sáng tạo vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam của Đảng cộng sản Đông Dương Do ñó,
tìm hiểu về Mặt trận Việt Minh, một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chưa từng
thấy từ trước trong lịch sử, một kì công trong sự lãnh ñạo giải phóng dân tộc của
Đảng cộng sản Đông Dương, ñặc biệt thể hiện rõ nét trong cuộc ñấu tranh giải
phóng dân tộc của nhân dân ta từ 1941- 1945 nhằm làm sáng tỏ sự chuyển hướng
ñường lối sách lược và sự sáng tạo về một mặt trận của Đảng ta; tìm hiểu những nét
ñộc ñáo của Mậưt trận Việt Minh so với các mặt trận trước nó trong cách mạng
Việt Nam và cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới trong ñại chiến thế giới lần
thứ hai cũng như vị trí to lớn của nó trong cuộc ñấu tranh giải phóng dân tộc từ
1941- 1945 và ñặc biệt là ñối với sự nghiệp cách mạng tháng Tám vĩ ñại của dân
tộc ta
Đề tài “ Mặt trận Việt Minh và những phong trào ñấu tranh giải phong
dân tộc từ 1941- 1945” là một ñề tài hay song cũng tương ñối phức tạp Hơn nữa,
do trình ñộ nhận thức cá nhân, tài liệu tham khảo còn hạn chế, ñề tài chỉ giới hạn
trong phạm vi bài tiểu luận cho nên, chắc chắn baì viết này của tôi vẫn còn nhiều
Trang 3hạn chế và thiếu xót Vì vậy, tôi rất mong ñược thầy cô giáo trong khoa Lịch sử
giúp ñỡ, bổ sung vào những chỗ thiếu xót ñó ñể bài viết của tôi ñược hoàn thiện
hơn
Trang 41.Hoàn cảnh ra ñời của mặt trận Việt Minh
1930-1975: Với nhiều người, nhiều quốc gia thì mốc thời gian này không
gây cho họ nhiều quan tâm, chú ý Song ở Việt Nam, 45 năm ñã trôi qua và không
bao giờ quay trở lại ñó lại là một mốc son, một giai ñoạn lịch sử có ý nghĩa ñặc biệt
quan trọng với toàn thể dân tộc Nó là thời ñiểm ghi dấu sự ra ñời của Đảng Cộng
Sản Việt Nam (1930)_ “ñội tiền phong của vô sản giai cấp”, là lúc ñặt dấu chấm
hết cho toàn bộ thời kỳ cai trị của thực dân, ñế quốc trên ñất nước ta (1975), mở ra
thời kì ñộc lập, tự chủ, cả nước tiến lên xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong suốt
thời gian kể từ khi mới thành lập cho ñến ñại thắng mùa xuân năm 1975 ñó, Đảng
ta ñã chủ trương chú trong việc chỉ ñạo quần chúng nhân dân xây dựng các mặt trận
dân tộc, dân chủ nhằm gây dựng các cơ sở Đảng, thành lập các lực lượng chính trị,
lực lượng vũ trang… chuẩn bị chu ñáo cho các cuộc ñấu tranh giải phóng dân tộc
Trong ñó, thắng lợi lớn nhất của công cuộc xây dựng cách mạng dân tộc dân chủ
trong toàn dân ñó là sự ra ñời của mặt trận Việt Minh Có thể nói, mặt trận Việt
Minh ra ñời là kết quả, là ñỉnh cao của quá trình tích luỹ kinh nghiệm cách mạng từ
nhiều năm hoạt ñộng của Đảng.Do ñó mặt trận ñã ñáp ứng ñược phần nào những
yêu cầu khách quan trong và ngoài nước, ñáp ứng ñược những ñòi hỏi cấp thiết của
cách mạng:
Lúc này, tình hình thế giới diễn ra vô cùng căng thẳng Cuộc ñại chiến thế
giới lần thứ hai bùng nổ vào tháng 9-1939 và nhanh chóng lan rộng khắp trên thế
giới Bọn ñế quốc và phát xít ñã tấn công mạnh vào phong trào cách mạng, tăng
cường khủng bố áp bức và bóc lột nhân dân lao ñộng trong nước cũng như nhân
dân các nước thuộc ñịa và phụ thuộc ở Pháp do sự ñầu hàng và phản bội của Đảng
Xã Hội và Xã Hội Cấp Tiến, mặt trận nhân dân Pháp tan rã; chính phủ Đa-la-diê
lên cầm quyền Chúng ñã thi hành chính sách ñối nội phát xít, ra sức khủng bố
Đảng Cộng Sản và nhân dân Pháp, chúng thẳng tay bóc lột nhân dân lao ñộng Pháp
Trang 5cũng như nhân dân các thuộc ñịa của chúng Trong thời gian ñó, chính phủ phản
ñộng Pháp ñã tham gia chiến tranh ñế quốc chủ nghĩa Nhưng chỉ ñến tháng
6-1940, ñế quốc Pháp ñã bị phát xít Đức ñánh bại.Chính sự thất bại của Pháp ở Châu
Âu là một dịp tốt cho phát xít Nhật ñánh chiếm Đông Dương rồi dùng Đông Dương
làm bàn ñạp ñể tấn công vào các thuộc ñịa của Anh và Pháp ở Thái Bình Dương
Trước sức mạnh của mũi súng, ngày 23/9/1940 Đờ-cu_tên toàn quyền ở Đông
Dương ñã quỳ gối ñầu hàng, dâng nước ta cho Nhật
Tình hình chính trị trong nước ta thời gian này cũng diễn ra tương ñối phức
tạp Ngày Pháp ñầu hàng Nhật, dựa vào Nhật ñể ñàn áp cách mạng Việt Nam thì
cũng là lúc bắt ñầu cuộc sống “một cổ hai tròng” của nhân dân ta, bắt ñầu thời kì cả
hai lũ quỷ Nhật-Pháp thi nhau róc xương, hút tuỷ dân ta Về phía Pháp, ngay khi
tình hình chính trị không có lợi cho chúng, chúng ñã bắt tay ngay vào công cuộc vơ
vét, hút máu dân ta ñến cùng Chúng tung ra chiêu bài “chính sách chỉ huy” rêu rao
là làm cho nền kinh tế Đông dương ñược ổn ñịnh, ñời sống nhân dân ñược bảo
ñảm Nhưng thực chất cái gọi là nền kinh tế chỉ huy ñó cốt ñể tăng cường ñầu
cơ,ñộc quyền kinh tế, bóc lột dân ta thậm tệ hơn Mặt khác, chúng lại tăng thuế
không ngừng,lạm phát giấy bạc trầm trọng,làm cho ñồng bạc mất giá, nền tài chính
Đông Dương khủng hoảng chưa từng thấy Đồng thời, chúng ra pháp lệnh thu mua
lương thực của dân ta một cách cưỡng bức Chính những thủ ñoạn tàn bạo ñó của
Pháp-Nhật ñã gây nên một thảm hoạ vô cùng khủng khiếp, mỗi khi nhớ lại chúng ta
càng bầm gan tím ruột Đó chính là thảm trạng 2 triệu ñồng bào ta chết ñói trong
mấy tháng ñầu năm 1945 Đó là một trong những tội ác mà quân cướp nước ñã ghi
vào lịch sử dân tộc ta những nét ñẫm máu không bao giờ phai nhạt ñược
Không ñơn thuần chỉ là những vơ vét cạn kiệt về nhân tài và vật lực Bọn
thực dân Pháp còn ra sức khủng bbó các lực lượng yêu nước; xoá bỏ hết thảy mọi
quyền dân chủ mà nhân dân Việt Nam ñã dành ñược trong thời kì
1936-1939.Chúng khủng bố Đảng Cộng Sản Đông Dương, giả tán các hội ái hữu, thủ
tiêu quyền tự do hội họp, tự do báo chí; tịch thu báo chí tiến bộ, bắt bớ hàng loạt
Trang 6những người yêu nước Về mặt chính quyền, chúng ñã “quân nhân hoá” và “phát
xít hoá” Chúng chọn và ñưa những tên khát máu lên nắm chính quyền, do ñó
chúng ñã thi hành những chính sách ñàn áp dã man, ñã tắm nhân dân ta trong bể
máu
Về phía Nhật, bọn tư bản dồn vốn vào Đông Dương ngày càng nhiều, hòng
long ñoạn nền kinh tế của ta Chúng dùng sức mạnh của lưỡi lê, máy chémñể bắt
dân ta nhổ lúa trồng ñay, thầu dầu, bông, gai… ñể phục vụ cho chúng Chúng ñẩy
nhân dân ta vào cảnh khốn cùng, tạo nên bao cảnh bi ai, thống thiết :
“khóc ngô rồi lại khóc chồng khóc ngô bị nhổ, khóc chồng ñi phu”
Mục ñích cướp bóc cho thật nhiều nguyên liệu, thực phẩm ñể cung ứng cho
chiến tranh xâm lựoc của chúng không chỉ dừng lại ở ñó Phát xít Nhật còn cho bọn
tay chân ñi tuyên truyền bịp bợm thuyết “khối thịnh vượng chung ñại Đông á”
hòng lừa gạt dân ta, hướng dân ta ñi theo tư tưởng “võ sĩ ñạo” ñể ngoan ngoãn
phụng sự cho ñế quốc Tệ hại hơn nữa là bọn tay sai của phát xít Nhật còn ru ngủ
tinh thần ñấu tranh của quần chúng bằng giọng lưỡi: mượn Nhật ñuổi Pháp rồi sẽ
ñuổi Nhật.Nhưng thực chất bọn chúng chỉ muốn biến nhân dân ta trở thành những
“công cụ lao ñộng” vô tri, vô giác; muốn biến những thành quả lao ñộng vất vả của
người dân một nắng hai sương thành của cải riêng, phục vụ cho sự giàu có của ñế
quốc
Dưới hai tầng áp bức Nhật- Pháp, khắp nơi trên ñất nước ta không nơi nào
không bị bao trùm cảnh khủng bố, ñè nén, cướp ñoạt Không chỗ nào mà chỉ riêng
công nhân, nông dân, tiểu tư sản phải lâm vào tình trạng ñiêu ñứng, cực khổ mà
ngay cả giai cấp tư sản, ñịa chủ cũng ñã phải trải qua những ngày tháng khốn ñốn,
nguy ngập
Trong những ngày cả nước rơi vào tình trạng “ñói ăn, ñói mặc…” thì trừ một
số ñịa chủ ñược Nhật- Pháp che chở ñã cướp thêm ñược nhiều ruộng ñất ñể kinh
doanh trong nông nghiệp, công thương nghiệp với thực dân mà ngày càng trở nên
Trang 7giàu có, còn ñại bộ phận ñịa chủ ñều rơi vào tình trạng sa sút chung của cả nước
Nguyên nhân là do ñịa chủ phải bán thóc lúa cho bọn thống trị với giá rẻ mạt, tiền
bán thóc không ñủ tiền vốn làm ra; kinh doanh bị thua lỗ; nhất là tầng lớp trung,
tiểu ñịa chủ bị chèn ép nặng nề, bị ngân khố cắm ruộng ñi ñến phá sản Ngay lúc
này, nội bộ giai cấp ñịa chủ ñã bị phân hoá một cách cao ñộ, hạng ñịa chủ nhỏ và
ñịa chủ vừa bị khinh rẻ Vì thế, lòng uất hận của trung và tiểu ñịa chủ ñối với Pháp-
Nhật tăng lên, tạo ñiều kiện cho họ có một tinh thần dân tộc,họ muốn ñánh Pháp
ñuổi Nhật ñể bảo vệ quyền lợi của họ.Từ ñó giúp cho giai cấp vô sản lôi kéo họ
ñứng về hàng ngũ cách mạng
Trước tình trạng hai “ông chủ’ ñang tranh nhau một miếng mồi thì bọn tay
sai cũng lục ñục gầm ghè nhau Tay sai Pháp muốn triệt hạ tay sai Nhật, tay sai
Nhật muốn tiêu diệt tay sai Pháp Điều ñó cũng rất có lợi cho cách mạng
Giai cấp ñịa chủ bị phân hoá, giai cấp tư sản cũng chảng thịnh vượng gì hơn
Theo thống kê của Pháp vào tháng 10-1940, bên cạnh 53.714 người Âu thì số
người tư sản Đông Dương có mức sống tương ñương chỉ có 3.511 người.Vốn của
họ bỏ vào kinh doanh trong các ngành: than, vận tải, chế tạo máy móc, ngân hàng
chỉ bằng 1% của thực dân Pháp Giai cấp tư sản nước ta sau ñại chiến thế giới lần
thứ nhất có vươn lên chút ít nhưng cũng chỉ ñóng vai trò rất phụ vì họ bị tư sản
Pháp chèn ép không sao ngóc ñầu lên ñược Thời gian trước kia ta ñã thấy những
sự chèn ép ra mặt ñến mức Bạch Thái Bưởi_ 1 người ñược phong là chúa sông Bắc
Kì cung ñã phải bỏ nghề kinh doanh vận tải ñường thuỷ; ñến giai ñoạn chiến tranh
thế giới lần thứ hai những trường hợp bị chèn ép tương tự cũng không phải là ít Và
cũng vì thế mà tư sản hạng nhỏ và hạng vừa họ có tinh thần dân tộc, họ cũng muốn
ñánh Pháp, ñuổi Nhật Nhưng khổ nỗi tư sản nước ta không có vai trò lãnh ñạo
ñánh ñuổi ñế quốc, họ chỉ có thể ñi theo công nhân và nông dân mới làm ñược ñiều
ñó Vì thực chất, mục ñích ñấu tranh của họ ñơn thuần chỉ vì quyền lợi cá nhân, vì
lợi ích kinh tế mà trước kia họ có ñược nay bị Nhật- Pháp tước ñoạt Còn tinh thần
dân tộc, tinh thần ñộc lập, tự chủ trong họ vẫn chưa cao, họ không muốn ñi ñến
Trang 8cùng cuộc ñáu tranh mà chỉ muồn dừng lại khi lợi ích kinh tế cá nhân ñã ñược trao
trả, trong ñó chủ yếu vẫn là lợi ích kinh tế
Đối với tầng lớp tiểu tư sản, nhất là tầng lớp công chức, ñến lúc này , ñời
sống của họ ñã trở nên thiếu thốn ñặc biệt Cái ñích cuộc sống mà bọn thực dân, ñế
quốc ñã gieo rắc vào ñầu họ “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” thực chất chỉ là cái
bề ngoài hư ảo Còn bên trong lại là một sự thật bất công, sức lao ñộng và trí óc họ
bỏ ra trong công việc chẳng kém gì, thậm chí còn hơn rất nhiều người Pháp nhưng
thành quả lao ñộng_ở ñây chính là lương mà họ nhân ñược lại không bằng 1/10 so
với người Pháp Và ngay cả những trí thức làm ngề tự do như nhà văn, nhà báo…
cũng bị bạc ñãi nặng nề, hoạt ñộng tinh thần của họ không những bị bóp nghẹt mà
ñời sống vật chất của họ cũng thật nguy khốn: “Thần chết với lưỡi liềm ác nghiệt
ñang chờ sẵn trước ngưỡng cửa của nhà báo hàng ngày, hàng tuần Và các nhà xuất
bản, nhà văn ñã bị gieo rắc vào ñó sự khủng bố và ñe doạ cuộc sống của họ trong
từng giây, từng phút”
ở thành thị, những người tiểu thương, tiểu chủ dưới sự thống trị của bọn thực
dân Nhật- Pháp lại có cuộc sống kém hơn cả tầng lớp trên.Để chống ñỡ với nạn
khủng hoảng kinh tế, một bộ phận tiểu thương ñã chạy
sang sản xuất các ngành thủ công nhỏ ñể kiếm kế sinh nhai cho qua ngày
ñoạn tháng Nhưng tình trạng thiếu nguyên liệu, cung cấp nguyên liệu bấp bênh;
nguồn nguyên liệu ñược cung cấp từ nông dân bị phân hoá nặng trong ñó chế ñộ
thuế khoá lại quá khắc nghiệt mà người tiểu thương phải gánh chịu ñã ñẩy họ vào
tình cảnh ñóng cửa, không còn chỗ ñứng trong xã hội
Đó là một số lớp người ở thành thị, còn ở nông thôn thì giai cấp phú nông là
những người mà ai cũng cho là “gia hữu vật lực” nhưng trong chiến tranh thế giới
lần thứ hai này thì biến ñổi hẳn Riêng việc bán thóc cho Nhật- Pháp là ñã làm cho
họ phá sản một cách nhanh chóng Bọn Nhật thi hành chính sách ñộc quyền và
Trang 9cưỡng bức thu mua sản phẩm lương thực làm cho phú nông ở nông thôn mới mọc
lên bị ngắt ngọn, thậm chí nhiều người làm nhiều nhưng không ñủ nộp cho Nhật-
Pháp phải chạy vạy chợ ñen ñể mua thóc nộp cho Nhật Năm 1943, bọn phát xít thu
mua 1450 ñồng/1tạ thóc mà giá thành sản xuất nơi ruộng xấu ñã phải mất từ 16 ñến
19 ñồng/1tạ, nơi ruộng tót cũng phải mất từ 12 ñến 15 ñồng/1tạ Như vậy người
phú nông lấy ñâu ra ñể tái sản xuất giản ñơn, chưa nói ñến ñể làm giàu; chưa nói
ñến họ còn phải chịu thiên tai hạn hán, sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch ñủ
ñiều…Vì thế mà người phú nông ở nông thôn không còn là người ñủ ăn, ñủ mặc
nữa, phần nhiều họ bị phá sản nghiêm trọng, thậm chí có một số ít tụt xuống trung,
bần nông và trở thành lực lượng cách mạng
Những giai cấp có ñịa vị về chính trị, có ưu thế về kinh tế trong xã hội,
những tầng lớp có “máu mặt” còn phải sa sút phá sản vì chính sách của thực dân thì
giai cấp công nhân, nông dân phải chịu bao nhiêu sự khổ sở cùng cực dưới chế ñộ
thống trị của Nhật-Pháp
Giai cấp nông dân_ có thể nói là khốn khổ vô cùng Cuộc ñại chiến thế giới
thứ hai xảy ra, mặc dù Việt Nam không ở trong phạm vi tác chiến trực tiếp, nhưng
ñã phải chịu những hậu quả ghê gớm, kinh khủng Một trong những hậu quả tàn
nhẫn, bất hạnh ñó ñối với nông dân là vấn ñề lương thực; vấn ñề thóc gạo; lũ ñế
quốc khát máu dùng lưỡi lê và roi vọt chẳng những ñã bắt dân ta nhổ lúa trồng ñay
mà ngay cả số thóc còn thu ñựơc cũng buộc phải nộp cho nhà nứơc ñến 3/4, có khi
tất cả hoặc còn hơn thế nữa, nghĩa là người nông dân phải ngậm ñắng nuốt cay bán
cửa, bán nhà lấy tiền ñong thêm lúa ở ngoài với giá cắt cổ ñể nộp ñủ cho “nhà
nước” Riêng ở Bắc Bộ năm 1941, Nhật- Pháp ñã ăn cướp của nhân dân ta là
90.000 tấn thóc và lượng thóc mất vì bỏ lúa trồng cây công nghiệp là 64.000 tấn
thóc
Một cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử là người nông dân chính tay mình
sản xuất ra lúa gạo mà phải nằm chết ñói bên cạnh những kho thóc ñầy ắp Cảnh
tượng bi thảm ñó, ñời sống trâu ngựa của nông dân trong thời ñó ñã ñược 1 ký giả
Trang 10nêu lên một cách chua xót: “Trải hơn nửa thế kỉ Pháp thuộc, nhất là từ 4 năm gần
ñây, dân quê ñã bị hy sinh, bị bóc lột quá nhiều Hột gạo năm nắng, mười sương
mới kiếm ñược sắp ñể kề miệng ăn lại phải bấm bụng nhịn ñói ñem dâng cho kẻ
khác Lụa, vải họ dệt ñược mà vợ con họ phải mình trần chịu rét Dầu muối họ làm
ñược mà ngày ngày họ húp cháo cám nhạt và ñêm ñêm họ sống tối tăm trong
những túp lều không có một tia sáng Có lẽ trải qua các giai ñoạn trong lịch sử,
chưa có hồi nào nông dân hy sinh bằng hồi này”
Đối với công nhân và cả thợ thủ công, ñời sống của họ ñã bị ñẩy ñến những
giờ phút ñiêu linh, khốn quẫn nhất Những tháng ñầu năm chiến tranh thế giới thứ
hai nổ ra ñã có 6.000 công nhân mỏ bị sa thải vì xuất cảng bị ñình trệ Theo sự ñiều
tra của thực dân năm 1941, trong số 150.000 thợ dệt ở nông thôn Việt Nam thì chỉ
có 45.000 người ñược cung cấp vải sợi Nhà máythuỷ tinh Hà Nội năm 1940 sản
xuất ñược 5.900 tấn ñến năm 1941 chỉ sản xuất ñược có 3.000 tấn
Những số liệu trên ñã làm cho người ñọc ñáng giật mình vì một tình cảnh
thiếu việc làm của những người công nhân Việt Nam Tuy nhiên, những người có
việc làm trong các công xưởng của bọn ñế quốc, thực dân thì cũng không phải ñã
hoàn toàn ñược sung sướng Họ không chỉ bị áp lực nặng nề từ công việc mà còn
phải chịu những roi ñòn tàn bạo của bọn thống trị Vì thế “mỗi khi còi tầm, nếu ai
ñể ý nhìn người ở nnhà máy ñi ra thì thấy cả một cảnh thương tâm, những thân hình
tiều tuỵ, mặt mũi ñen nhọ nhưng vẫn không giấu nổi nước da vàng vàng, xám xám
và bì bì như sũng nước, biểu hiện sự ñói cơm Quần áo không những ñụp vá nhiều
chỗ, nhiều màu mà còn ñể lộ cả da thịt là khác Lũ người ấy bước ñi một cách uể
oải, hầu như mất hết sinh lực và buồn thui thủi”
Người sản xuất ra của cải vật chất, người nắm yết hầu của nền kinh tế mà
bây giờ lại bị ñói cực ñộ và không còn ñường sinh sống Vì thế, khắp nơi nơi trên
ñất Việt ñã ñồng thanh thét vang lên những tiếng oán hờn lũ giặc cướp nước:
“ác chi Nhật, Pháp bay ơi Của thời cướp mất, người thời lôi ñâu
Trang 11Nhìn tổng quát lại ta thấy xã hội Việt Nam trong những năm chiến tranh thế
giới làn thứ hai, trừ bọn địa chủ lớn, bọn tư sản mại bản, tay sai phản động được đế
quơc che chở đã vươn lên giàu thêm Cịn giai cấp cơng nhân, nơng dân và đại đa
số các tầng lớp nhân dân khác trong xã hội đều vơ cùng khổ hạnh, khơng những thế
mà họ cịn phải chịu bao nhiêu tai bay hoạ gửi: máy bay ném bom bắn phá, bọn
phát xít Nhật giết chĩc tù đày họ mất nhà, mất cửa… Quyền lợi của các giai cấp
đều bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong khơng lúc nào bằng
Trong lúc tình hình dân- nước Việt Nam đang rơi vào cảnh nước sơi lửa
bỏng như thế thì may thay lúc này thái độ của các giai cấp trong xã hội cũng đã bắt
đầu thay đổi, khả năng đồn kết các giai cấp một cách rộng rãi đang mở ra một
triển vọng mới:
Giai cấp cơng nhân và nơng dân lúc này đã hồn tồn đối đầu với bọn cướp
nước và nghiêng hẳn về phía cách mạng Họ đã thể hiện tinh thần yêu nước bằng ý
chí quyết tâm chiến đấu, quyết tâm chiến thắng và hy sinh cho cách mạng đặc biệt
rõ nét nhất trong 2 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kì
Binh lính thuộc địa_ lực lượng chủ yếu của đế quốc dùng để đàn áp cách
mạng, đàn áp phong trào yêu nước Việt Nam thì nay một số cũng đã ngã theo cách
mạng Tinh thần đĩ được biểu hiện rõ rệt trong cuộc khởi nghĩa Nam Kì và đặc biệt
là cuộc binh biến Đơ Lương(Nghệ An) do đội trưởng Nguyễn Văn Cung chỉ huy
Cĩ thể nĩi, 3 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì và binh biến Đơ Lương diễn
ra trong vịng hơn 3 tháng ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam đều thất bại nhưng “đĩ là
những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa tồn quốc, là bước đầu đấu tranh
bằng vũ lực của các dân tộc Đơng Dương”[1]
Trang 12Bên cạnh ñó còn có giai cấp tư sản ñặc biệt là viên chức, tiểu chủ vì nạn bóc
lột của ñế quốc quá nặng nề, nên họ cũng hăng hái tham gia cách mạng hoặc tỏ cảm
tình với cách mạng Giai cấp ñịa chủ, phú nông, tư bản bản xứ trước kia có thái ñộ
ác cảm với cách mạng, tìm cách phá hoại hoặc thờ ơ với cách mạng thì nay chỉ trừ
một số ít làm tay sai cho Nhật- Pháp còn phần ñông ñã có cảm tình với cách mạng
hoặc giữ thái ñộ trung lập
Thái ñộ chính trị của các giai cấp thay ñổi, tất nhiên sẽ làm cho thái ñộ và lực
lượng của các ñảng phái cũng thay ñổi Lực lượng Đảng Cộng Sản ñược quần
chúng cách mạng tiếp sức nên càng vững mạnh thêm Các ñảng phái phản ñộng
cũng chuyển biến, trong số thân Pháp nay ñã ghét Pháp Từ khi bại trận, Pháp ñã
làm bại luôn cả lòng tin của bọn tay sai ñối với chúng Một số ảo tưởng tin ở Nhật,
sau khi “người chủ” của họ ñang tâm lúng túng cho thực dân Pháp vung gươm tàn
sát “Việt Nam phục quốc ñồng minh” trên ñất Lạng Sơn và nhiều nơi khác nữa ñã
làm cho họ chán ngán và phân hoá.Chỉ trừ những kẻ ñầu xỏ phản ñộng, ôm chân ñế
quốc Pháp hay phát xít Nhật Còn tất cả quần chúng lớp dưới của các ñảng phái ñó
ñều chán ghét ñế quốc, phát xít, họ có thể ngã theo cách mạng hoặc trung lập với
cách mạng Ngay cả những tổ chức tôn giáo trước có khuynh hướng thân Nhật như:
Cao Đài thì nay phần ñông quần chúng tín ñồ cũng ghét Pháp, chống Nhật
Trong tình hình ñó, Nguyễn ái Quốc quyết ñịnh về nước (28-1-1941), trực
tiếp lãnh ñạo phong trào cách mạng Việt Nam Ngày 8-2-1941, Người ñặt cơ quan
tại Pắc Bó (Cao Bằng) Sau một thời gian nắm tình hình và chuẩn bị, Nguyễn ái
Quốc ñã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung Ương Đảng ở
Pắc Bó từ ngày 10 ñến ngày 19-5-1941 Tham gia Hội nghị có các ñồng chí trong
Ban chấp hành Trung ưong, một số ñại biểu của xứ uỷ Bắc Kì, Trung Kì và một số
ñại biểu hoạt ñộng ở nước ngoài
Hội nghị ñã phân tích nguồn gốc, ñặc ñiểm tính chất của cuộc Chiến tranh
thế giới thứ hai Từ ñó nhận ñịnh phe phát xít nhất ñịnh sẽ thất bại, phe ñồng minh
Trang 13chống phát xít chắc chắn sẽ giành được thắng lợi Chủ nghĩa đế quốc sẽ suy yếu và
phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ
Về tình hình Đơng Dương, Hội nghị nhận định từ khi bùng nổ chiến tranh,
các tầng lớp nhân dân Đơng Dương đều bị điêu đứng, quyền lợi tất cả các giai cấp
đều bị cướp giật Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật khơng phải là nhiệm vụ riêng của
giai cấp cơng nhân và nơng dân mà là nhiệm vụ chung của tồn thể nhân dân Đơng
Dương
Về tính chất của cuộc cách mạng, “Cuộc cách mạng Đơng Dương hiện tại
khơng phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết
hai vấn đề phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ giải quyết một vấn
đề cần kíp: “dân tộc giải phĩng”; vậy thì “cuộc cách mạng” Đơng Dương trong giai
đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phĩng[2] Hội nghị tiếp tục chủ
trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng
khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày
nghèo”; chia lại ruộng đất cơng cho cơng bằng; giảm địa tơ, giảm tức
Hội nghị chủ trương thành lập mặt trận dân tộc riêng cho mỗi nước Việt
Nam, Lào, Campuchia chứ Đảng khơng chủ trương lập mặt trận chung cho cả
Đơng Dương như hồi 30- 31; 36- 39 do tình hình chính trị lúc này đã co phần khác
trước
Như vậy, chấp hành nghị quyết Trung ương lần thứ 8 của Đảng, dưới sự chỉ
đạo của cụ Nguyễn ái Quốc, ngày 19-5-1941, Việt Nam độc lập đồng minh tức là
mặt trận Việt Minh ra đời Từ đây dân tộc Việt Nam đã cĩ 1 tổ chức thống nhất,
đồn kết được tất cả mọi lực lượng, mọi tầng lớp yêu nước dưới ngọn cờ đỏ sao
vàng, đã động viên được hết thảy mọi người dân hiến dâng mình đấu tranh cho nền
độc lập và tự do Mặt trận Việt Minh ra đời đã đáp ứng được nhu cầu của cách
mạng, phù hợp với nguyện vọng bức thiêt của nhân dân, nên chỉ trong một thời
gian ngắn, khắp tồn cõi Việt Nam từ nơng thơn đến thành thị, từ miền ngược đến
miền xuơi, khắp chốn chốn, nơi nơi tổ chức của Việt Minh bí mật mọc lên như
Trang 14nấm_ uy phong của Việt Minh mạnh như vũ bão Cả một bầu khơng khí Việt Minh
rộn ràng, tràn ngập trong lịng mỗi người dân Việt Nam, dưới hình thức văn nghệ,
bằng câu đối hay thơ ca, nhân dân ta đã phản ánh lên được điều đĩ:
“Cái gì cĩ khắp Đơng Dương (Cách mạng) Cái gì nghe thấy dạ càng nơn nao (Chính quyền) Cái gì ta rủ nhau vào (Việt Minh) Cái gì trừ diệt, mưu cầu ấm no” (Nhật, Pháp) Hay như lời kêu gọi của Việt Minh:
“Sao cho từ Bắc chí Nam Việt Minh hội cĩ muơn vàn hội viên
…………
Chúng ta cĩ hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh”
2 Tổ chức của mặt trận Việt Minh
Đúng lúc cả dân tộc Việt Nam là “ 1 đống cỏ khơ”, chỉ cần 1 tia lửa cách
mạng châm vào là rực lên đốt cháy cả lũ giặc tham tan thì mặt trận Việt Minh trực
tiếp do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã ra đời vào tháng 5/1941 Nhưng phải hơn 5 tháng
sau kể từ ngày thành lập (25-10-1941), Việt Minh mới cơng bố tuyên ngơn, chương
trình và điều lệ của mình Tuy nhiên sự chậm chễ này cũng khơng gây ảnh hương
tiêu cực đối với phong trào cách mạng lúc đĩ vì phương châm, đường lối tổ chức,
vận động xây dựng mặt trận Việt Minh đã đươc hướng dẫn cụ thể trong nghị quyết
của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng
Tháng 10/1941, Tổng bộ Việt Minh cơng bố Tuyên ngơn, Chương trình và
điều lệ, nĩi rõ tơn chỉ, mục đich của mình: “Liên hiệp tất cả các tàng lớp nhân dân,
các đảng phái cách mạng, các đồn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh
đuổi Nhật- Pháp, làm cho Việt Nam hồn tồn độc lập, dựng lên một nước Việt
Nam dân chủ cộng hồ”[3].Tơn chỉ đĩ đã quy định điều kiện gia nhập Việt Minh:
“Việt Minh kết nạp từng đồn thể, khơng cứ đảng phái, đồn thể nào của người
Trang 15Việt Nam hay các dân tộc thiểu số trong nước Việt Nam, khơng phân biệt giai cấp,
tơn giáovà xu hướng chính trị, hễ thừa nhận mục đích, tơn chỉ và chương trình của
Việt Minh thơng qua, thời được gia nhập Việt Minh”[4] Về hệ thống tổ chức, trong
bản điều lệ của Việt Minh cĩ ghi rõ “Tổng, huyện (hay phủ, châu, quận) tỉnh,
thành, kì cấp nào cĩ ban chấp hành của Việt Minh cấp ấy Việt Minh tồn quốc cĩ
tổng bộ”[5] Như vậy, theo bản điều lệ thì tổng bộ là cơ quan lãnh đạo tồn quốc
cao nhất của mặt trận Việt Minh và cũng theo bản điều lệ này thì tổng bộ cĩ quyền
hạn thơng qua kết nạp các đồn thể hội viên của Việt Minh, thu nguyệt phí và “tổng
bộ cứ 8 tháng cử lại một lần”
Phương pháp tổ chức các hội quần chúng trong mặt trận rất mềm dẻo, thích
hợp từng lúc, từng nơi Ngồi những đồn thể cứu quốc cĩ tính chất chính trị, cách
mạng rõ rệt (như Hội nơng dân cứu quốc, Hội cơng nhân cứu quốc, Hội thanh niên
cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc…), cịn cĩ những đồn thể khơng cĩ điều lệ, hoạt
động cơng khai, bán cơng khai như Hội cứu tế thất nghiệp, Hội tương tế, Hội hiếu
hỉ, phường ban, nhĩm học quốc ngữ, nhĩm đọc sách, xem báo v.v
Cùng với việc tuyên bố Tuyên ngơn, Điều lệ Việt Minh xác định cụ thể
chương trình cứu nước Chương trình cứu nước của Việt Minh “cốt thực hiện hai
điều mà tồn thể đồng bào mong ước:
4 Làm cho nước Việt Nam được hồn tồn độc lập;
5 Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”[6]
Chương trình gồm 44 điểm, là một hệ thống các chính sách về chính trị, kinh
tế, văn hố và những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp cơng nhân, nơng dân,
binh lính, cơng chức, học sinh, phụ nữ, thiếu nhi, người già và kẻ tàn tật, tư sản, địa
chủ, nhà buơn Chương trình này sau được đúc kết lại thành 10 chính sách lớn đem
thực hiện ở khu giải phĩng Việt Bắc và được Đại hội quốc dân thơng qua tháng
8-1945 tại Tân Trào, trở thành chính sách cơ bản của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hồ sau cách mạng tháng 8-1945
Trang 16Cĩ thể nĩi, mặt trận Việt Minh ra đời và phát triển, đảm đương sứ mệnh lịch
sử của mình trong giai đoạn cĩ tính chất bước ngoặt quyết định của lịch sử dân tộc
từ 1941 đến 1845 là nhờ nĩ được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và chặt chẽ của
Đảng Cộng Sản Đơng Dương Chính Ban chấp hành Trung ương Đảng đã đĩng vai
trị là cơ quan lãnh đạo tối cao của mặt ttrận Việt Minh thay cho cơ quan Tổng bộ
mà do tình hình thực tiễn khách quan đã khơng lập được Chính Trung ương Đảng,
dưới danh nghĩa Tổng bộ Việt Minh đã ra các chỉ thị, như “chỉ thị về sửa soạn khởi
nghĩa ngày 7-5-1941, lời hiệu triệu của Việt Nam độc lập Đồng minh ngày
8-6-1944 và lời kêu gọi của Việt Nam độc lập Đồng minh: Sắm sửa vũ khí! Đuổi thù
chung! vào ngày 10-8-1944 Và cĩ lẽ cũng chính Trung ương Đảng cộng sản Đơng
Dương đã soạn ra Tuyên ngơn, chương trình và điều lệ của mặt trận Việt
Minh, cơng bố vào tháng 10-1941 Điều này cho thấy vai trị của Đảng cộng sản
Đơng Dương nĩi chung và Đảng cộng sản Việt Nam nĩi riêng cĩ ý nghĩa vơ cùng
to lớn trong bộ máy tổ chức của mặt trận Việt Minh
II Phong trào đấu tranh giải phĩng dân tộc của nhân dân Việt Nam từ
tháng 5- 1941 đến tháng 2- 1945
1 Phong trào đấu tranh giải phĩng dân tộc của nhân dân Việt Nam từ
tháng 5- 1941 đến tháng 2- 1943
1.1 Chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh
Sau khi mặt trận Việt Minh được thành lập, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã viết
thư kêu gọi đồng bào đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, hãy nêu cao truyền thống
cách mạng lên trên hết, hãy nêu cao truyền thống cách mạng của dân tộc, noi
gương các liệt sĩ tiền bối, cùng nhau đứng lên diệt giặc cứu nước Người viết:
“Trong lúc này, quyền lợi dân tộc giải phĩng cao hơn hết thảy Chúng ta phải đồn
kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian, đặng cứu giống nịi ra khỏi nước sơi
lửu bỏng… Việc cứu nước là việc chung, ai là người Việt Nam đều phải kề vai
gánh vác một phần trách nhiệm, người cĩ tiền gĩp tiền, người cĩ sức gĩp sức
Người cĩ tài năng gĩp tài năng Riêng về phần tơi xin đem hết tâm lực để cùng các