Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ NGUYỄN QUỐC HUY NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI KHUẨN ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE GÂY VIÊM PHỔI TRONG HỘI CHỨNG
Trang 1Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
NGUYỄN QUỐC HUY
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI KHUẨN
ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE GÂY VIÊM PHỔI
TRONG HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN
Ở LỢN TẠI BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Trang 2Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chƣa từng sử dụng
Trang 3Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc, Ban quản lý Sau đại học Đại học Thái Nguyên, Ban lãnh đạo trường Đại học Nông Lâm, phòng quản lý sau đại học và khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được theo học chương trình đào tạo thạc sĩ tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; bộ môn Vi trùng, Viện Thú y Quốc gia và Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học là GS.TS Nguyễn Quang Tuyên, phó Viện trưởng Viện Khoa học và Sự sống, Đại học Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo và các thầy cô giáo - Viện Thú y Quốc gia đã giúp đỡ, chia sẻ ý kiến quý báu và hướng dẫn thực hiện thí nghiệm
để tôi hoàn thiện đề tài nghiên cứu
Tôi luôn biết ơn gia đình, bạn bè và các học viên cao học, các em sinh viên đã đóng góp công sức, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Quốc Huy
Trang 4Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 5Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục các biểu đồ, hình vẽ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 SƠ LƯỢC NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN 5
1.1.1 Vài nét cơ bản về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn 5
1.1.2 Các đặc tính của virus gây PRRS ở lợn 9
1.2 MỘT SỐ BỆNH KẾ PHÁT TRONG PRRS Ở LỢN 11
1.2.1 Bệnh viêm phổi- màng phổi ở lợn (VPMP) 12
Chương 2 NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 29
2.2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 29
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.2.3.Thời gian nghiên cứu 29
Trang 6Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.3 NGUYÊN VẬT LIỆU DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU 29
2.3.2 Động vật thí nghiệm 30
2.3.3 Các loại hoá chất, môi trường 30
2.3.4 Giống vi khuẩn 30
2.3.5 Máy móc thiết bị 31
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ 31
2.4.2 Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn 33
2.4.3 Phương pháp kiểm tra các đặc tính sinh hoá và khả năng lên men đường của các chủng vi khuẩn phân lập được 36
2.4.4 Phương pháp xác định A pleuropneumoniae bằng kỹ thuật PCR 36
2.4.5 Phương pháp xác định serotype của vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 38
2.4.6 Phương pháp xác định độc lực của vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 39
2.4.7 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 39
2.4.8 Phương pháp xác định độ dài miễn dịch và hiệu lực của Autovaccine 40
2.4.9 Xây dựng phác đồ điều trị lợn mắc viêm phổi 41
2.4.10 Phương pháp xử lý số liệu 42
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN Ở LỢN TẠI TỈNH BẮC GIANG 43
3.1.1 Kết quả xác định tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS ở một số huyện tại tỉnh Bắc Giang 43
3.1.2 So sánh nguy cơ tương đối ở lợn mắc PRRS giữa các huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 45
Trang 7Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.1.3 Kết quả xác định tỷ lệ mắc và chết do PRRS ở các loại lợn khác nhau 47 3.1.4 So sánh nguy cơ tương đối ở lợn mắc PRRS giữa các loại lợn khác nhau 49
3.2 XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CỦA VI KHUẨN A PLEUROPNEUMONIAE
Ở LỢN MẮC PRRS TẠI TỈNH BẮC GIANG 51
3.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn A pleuropneumoniae từ bệnh
phẩm lợn mắc PRRS ở các lứa tuổi khác nhau 51 3.2.2 Kết quả xác định một số đặc tính sinh học của các chủng vi
khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 53 3.2.3 Kết quả xác định các chủng A pleuropneumoniae phân lập
các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 60
3.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI Ở LỢN BỊ MẮC PRRS TẠI BẮC GIANG 61 3.3.1 Kết quả xác định độ dài miễn dịch của Autovaccine 61 3.3.2 Kết quả xác định hiệu lực của Autovaccine thử nghiệm ở lợn
nuôi tại tỉnh Bắc Giang 68 3.3.3 Kết quả xác định nguy cơ lợn mắc PRRS, viêm phổi do
không tiêm Autovaccine so sánh giữa nhóm lợn được tiêm và nhóm lợn không tiêm 70 3.3.4 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị lợn mắc viêm
phổi tại Bắc Giang 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1 KẾT LUẬN 75
Trang 8Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2 ĐỀ NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 9Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ADN : Acid Deoxyribonucleic
AGID : Agargel Immuno Diffuse
A.pleuropneumoniae : Actinobaccillus pleuropneumoniae
BHI : Brain Heart Infusion
CAMP : Chiristie Atkinson Munch Peterson
CPS : Capsule polysaccharide
EDTA : Ethylene Diamine Tetra Acetic acid
ELISA : Enzyme Linked Immuno Sorbert Assay
H pleuropneumoniae : Haemophilus pleuropneumoniae
IHA : Indirect Haemagglutination test
NAD : Nicotinamide Adenine Dinucleotide
omlA : Outer membrane lipoprotein of A pleuropneumoniae
PBS : Phosphat buffer solution
PCR : Polymerase Chain Reaction
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus
TYE : Tryptone Yeast Extract Broth
TSA : Tryptic Soya Agar
VP : Voges Prokauer
Trang 10Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 11Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Trình tự mồi dùng để xác định gen omlA 37 Bảng 2.2 Thành phần các chất trong PCR để xác định gen omlA 37 Bảng 2.3: Bảng đánh giá mức độ mẫn cảm của vi khuẩn với một số loại
kháng sinh (NCCLS -2002) 40 Bảng 3.1: Kết quả xác định tỷ lệ lợn mắc và chết do PRRS tại một số
huyện thuộc tỉnh Bắc Giang 43 Bảng 3.2: So sánh nguy cơ tương đối ở lợn mắc PRRS giữa các huyện
thuộc tỉnh Bắc Giang 45 Bảng 3.3: Kết quả xác định tỷ lệ mắc và chết do PRRS ở các loại lợn
khác nhau 47 Bảng 3.4: Nguy cơ tương đối ở lợn mắc PRRS giữa các loại lợn khác nhau 49
Bảng 3.5 Kết quả phân lập A pleuropneumoniae từ mẫu bệnh phẩm lợn
mắc PRRS ở các lứa tuổi khác nhau 51 Bảng 3.6 Kết quả xãc định một số đặc tính sinh học của các chủng vi
khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 53 Bảng 3.7: Phản ứng lên men đường của các chủng vi khuẩn A
pleuropneumoniae phân lập được 54
Bảng 3.8: Kết quả xác định A pleuropneumoniae phân lập được bằng
phương pháp PCR 55
Bảng 3.9: Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn A
pleuropneumoniae phân lập được bằng phản ứng AGID 57
Bảng 3.10: Kết quả kiểm tra độc lực của vi khuẩn A pleuropneumoniae
phân lập được 59 Bảng 3.11: Kết quả xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của
các chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được 60
Trang 12Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.12: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể có trong máu lợn đƣợc
tiêm Autovaccine sau một tháng 63 Bảng 3.13: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể có trong máu lợn đƣợc
tiêm Autovaccine sau hai tháng 65 Bảng 3.14: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm
đƣợc tiêm Autovaccine sau ba tháng 66 Bảng 3.15: Kết quả xác định hiệu giá kháng thể trong máu lợn thí nghiệm
đƣợc tiêm Autovaccine sau bốn tháng 67 Bảng 3.16: Kết quả xác định tỷ lệ lợn nghi mắc viêm phổi ở vùng tiêm và
vùng không tiêm Autovaccine 69 Bảng 3.17: Kết quả xác định nguy cơ lợn mắc PRRS, viêm phổi do không
tiêm Autovaccine so sánh giữa nhóm lợn đƣợc tiêm và nhóm lợn
không tiêm 70 Bảng 3.18: Kết quả điều trị thử nghiệm lợn mắc viêm phổi 72
Trang 13Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 14Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngành chăn lợn ở Bắc Giang đã liên tục phát triển, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân và xóa đói giảm nghèo Theo thống kê, tính đến ngày 01/4/2012 tỉnh Bắc Giang có tổng đàn lợn khoảng 1.168.182 con Trong đó, đàn lợn nái khoảng 182.780 con, lợn thịt khoảng 983.862 con và có trên 550 trại chăn nuôi lợn tập trung (Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, 2012) [5]
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp nói chung, chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp ngày càng phát triển Tuy nhiên, cũng như nhiều nước đang phát triển khác, chăn nuôi lợn cũng đã và đang gặp nhiều khó khăn, trong đó dịch bệnh làm ảnh hưởng lớn tới chăn nuôi Một trong những bệnh đáng quan tâm trong giai đoạn hiện nay của ngành chăn nuôi lợn là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine respiratory and reproductive syndrome – PRRS) Đây là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus gây ra, bệnh lây lan nhanh, và có tỷ lệ chết cao Lợn ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus và bệnh càng trầm trọng hơn khi có các chủng loại vi khuẩn khác gây bệnh kế phát Chính vì vậy, việc xác định nguyên nhân và các tác nhân tiềm ẩn gây bệnh kế phát cho lợn nuôi là rất cần thiết
Tại Bắc Giang chỉ tính riêng năm 2010 toàn tỉnh đã có 101.371 con mắc bệnh, chết và tiêu hủy 24.171 con Dịch xảy ra trên 956 thôn của 151/230 xã, phường, thị trấn (Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang, 2010) [4] Do vậy, bệnh Tai xanh đã trở thành một hiểm họa đe dọa thường trực với ngành chăn nuôi của tỉnh Là một bệnh mới xuất hiện, nên việc nghiên cứu về bệnh và các vi khuẩn bội nhiễm chưa được nghiên cứu đầy đủ Theo Nguyễn Hữu Nam và Nguyễn Thị Lan Hương (2007) [12]; Bùi Quang Anh và cs (2008) [2] và Cù Hữu Phú
Trang 15Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(2011) [16] khi lợn mắc PRRS thường gặp các loại vi khuẩn gây bệnh kế phát trong
đường hô hấp như Actinobacillus pleuropneumoniae, Mycoplasma hyopneumoniae,
Pasteurella multocida, Bordetella bronchiseptica, Streptococcus suis và việc
nghiên cứu về các vi khuẩn này chưa có hệ thống Vì vậy, nghiên cứu một cách toàn diện về PRRS và các vi khuẩn kế phát gây viêm phổi là rất cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tiễn, nhằm đáp ứng cơ sở khoa học cho việc phòng chống bệnh PRRS nói chung và bệnh viêm phổi ở lợn nói riêng, tạo tiền đề cho ngành chăn nuôi lợn trong nước ngày càng đứng vững và phát triển, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây viêm phổi trong Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn tại Bắc Giang và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại một số huyện thuộc tỉnh Bắc Giang
- Phân lập, xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học của vi khuẩn A
pleuropneumoniae
- Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn
A pleuropneumoniae phân lập được
- Thử nghiệm Autovaccine phòng bệnh viêm phổi do vi khuẩn A
pleuropneumoniae trong Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại
địa phương
- Xây dựng phác đồ điều trị viêm phổi trong Hội chứng rối loạn hô hấp
và sinh sản ở lợn đạt hiểu quả cao
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 16Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với thực
tiễn sản xuất, xác định được một số đặc tính của vi khuẩn A pleuropneumoniae
gây viên phổi trong Hội chứng PRRS ở lợn nuôi tại Bắc Giang
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo như phục vụ cho công tác bào chế các chế phẩm sinh học phòng bệnh ( vaccine, kháng thể .) đồng thời đóng góp thêm tư liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng
- Kết quả nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh viêm đường hô hấp, viêm phổi ở lợn có hiệu quả cao sẽ giúp cho cán bộ thú y cơ sở, người chăn nuôi trong phòng trị bệnh, góp phần giảm thiệt hại và tăng thu nhập cho người chăn nuôi lợn
Trang 17Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 18Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP
VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN
1.1.1 Vài nét cơ bản về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn
1.1.1.1 Nguyên nhân gây bệnh
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn do virus thuộc họ
Arteriviridae, giống Nidovirales có cấu trúc dạng chuỗi đơn ARN Dựa vào
phân tích cấu trúc gen người ta đã xác định được hai nhóm virus Nhóm I gồm
các virus thuộc chủng Châu Âu (gọi là virus Lelystad) gồm nhiều phân nhóm
đã được xác định Nhóm virus này được Wensvoort và cs (1991) [70] thuộc Viện Thú y Trung ương - Lelystad - Hà Lan phân lập được trên tế bào đại
thực bào phế nang của lợn và đặt tên là virus Lelystad-LV Nhóm II gồm các
virus thuộc dòng Bắc Mỹ với tên gọi là VR-2332; nhóm này được Collins và
cs (1992) [32] phân lập được ở lợn tại Mỹ vào năm 1992 Về mặt di truyền và tính kháng nguyên, hai nhóm virus này hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau về cấu trúc chuỗi nucleotide của virus thuộc hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ là khoảng 40% (Han và cs, 2006) [40], do đó có ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bảo hộ chéo giữa 2 chủng này
Qua nghiên cứu giải mã gen của virus tại Mỹ và Trung Quốc cho thấy các chủng PRRS tại Việt Nam có mức tương đồng về amino acid từ 99 đến 99,7% so với chủng virus gây bệnh thể độc lực cao ở Trung Quốc và đều bị mất 30 axít amin Điều này cho thấy các chủng PRRSV ở nước ta hiện nay thuộc dòng Bắc Mỹ, có độc lực cao giống Trung Quốc (Cục Thú y, 2008) [6] Nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước từ năm 2009 đến nay đã nhận định PRRSV tại Việt Nam hiện nay được xác định thuộc chủng Bắc Mỹ dòng Trung Quốc (Lê Thanh Hoà và cs 2009 [9]; Lý Thị Liên Khai và Võ Thị Cẩm
Trang 19Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Giàng, 2012 [10])
1.1.1.2 Triệu chứng
Theo nghiên cứu của Nguyễn Như Thanh (2007) [18] lợn đực giống: sốt
cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (chiếm 85%), giảm hưng phấn Lượng tinh ít, chất lượng kém, biểu hiện qua các chỉ số như nồng độ tinh trùng C< 80.106, hoạt lực của tinh trùng A< 0,6, sức kháng của tinh trùng R< 3000, tỷ lệ kỳ hình K >10%, tỷ lệ sống của tinh trùng < 70%, độ nhiễm khuẩn cao 20.103 Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản của mình
Lợn nái: triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai
gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai như thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch, 2007) [17]
Theo Bùi Quang Anh và cs (2008) [2] khi nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc PRRS cho thấy lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy, tốc độ lây lan nhanh, đặc biệt ở một số con lợn bệnh chóp tai bị ứ huyết có màu xanh tím và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn
Lợn choai, lợn thịt: lợn mắc bệnh sốt cao 40oC đến 42oC, bỏ ăn, ủ rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt
Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi
Lợn con theo mẹ: hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ; số còn sống
sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh Lợn con có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Hoàng Văn Năm
Trang 20Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
và cs, 2012) [13]
1.1.1.3 Bệnh tích
Bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy
bị bệnh có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
Một số bệnh tích khác thường thấy như thận có thể có xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu, amidan sưng hoặc sung
huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng; phổi tụ huyết, xuất huyết, cuống phổi chứa đầy dịch nhớt, sùi bọt (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2]
1.1.1.4 Các biện pháp phòng bệnh
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu lợn mắc PRRS, do vậy việc phòng bệnh bằng vaccine và vệ sinh phòng bệnh hiện đang là hai phương pháp hữu hiệu ở nhiều cơ sở chăn nuôi
1.1.1.4.1.Phòng bệnh bằng vaccine
Cũng như các bệnh truyền nhiễm khác, đối với PRRS ở lợn, việc phòng bệnh bằng vaccine là một trong những biện pháp quan trọng nhằm hạn chế dịch bệnh xảy ra Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, việc lựa chọn loại vaccine phù hợp và sử dụng đúng quy trình kỹ thuật là mấu chốt hàng đầu quyết định đến hiệu quả biện pháp phòng ngừa Hiện nay, trên thị trường đã có một số loại vaccine phòng chống PRRS của nhiều nhà sản xuất khác nhau và sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất
Theo nghiên cứu của Cù Hữu Phú (2011) [16] để chủ động phòng PRRS ở lợn đạt hiệu quả cần sử dụng vaccine được chế tạo từ chủng virus có nguồn gốc
Trang 21Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bắc Mỹ, Trung Quốc để tiêm phòng cho lợn các lứa tuổi ở Việt Nam
Vaccine BSL-PS 100: là vaccine PRRS nhược độc đông khô thế hệ mới có nguồn gốc từ chủng JKL-100 thuộc dòng châu Mỹ Một liều chứa ít nhất
105.0TCID50 Có độ an toàn rất cao, vaccine an toàn dù chủng cao gấp 20 liều
Hiệu quả: Thực nghiệm chứng minh hiệu quả trên lợn con theo mẹ tỷ lệ
tử vong 0% so với lô đối chứng không sử dụng vaccine là 7% Một tuần sau khi tiêm phòng hàm lượng kháng thể trong máu đạt được mức bảo hộ và thời gian miễn dịch kéo dài 16 tuần
Vaccine vô hoạt có bổ trợ nhũ dầu chủng virus NVDC-JXA1: là vaccine PRRS vô hoạt bằng Formaldehyde và sử dụng chất bổ trợ dầu khoáng do Trung Quốc sản xuất, vaccine được chế tạo từ chủng virus NVDC-JXA1, 1ml vaccine chứa không thấp hơn 106
TCID50 Vaccine này được Viện Thú y Quốc gia thử nghiệm năm 2011 và được lựa chọn sử dụng tiêm phòng cho lợn ở nước ta có hiệu quả phòng bệnh, an toàn
Vaccine nhược độc PRRS (type JXA1-R): là vaccine được Nguyễn Thị Mến và cs (2012) [14] sử dụng tiêm thẳng vào ổ dịch Sau khi tiêm phòng chỉ
có 0,5% số lợn phát bệnh ở hộ không có lợn bệnh và 14,91% số lượng lợn
phát bệnh ở hộ có lợn bệnh trong đợt dịch
1.1.1.4.2 Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc và quản lý
Trong tình hình dịch bệnh như hiện nay, việc sử dụng vaccine phòng PRRS nhằm tạo miễn dịch chủ động cho lợn chống lại dịch bệnh là một việc làm cần thiết và cấp bách Tuy nhiên, bên cạnh đó cần chú ý thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh và tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức phòng bệnh cho người chăn nuôi cũng như các biện pháp kiểm dịch nhằm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh bùng phát, lây lan, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế mạnh mẽ như hiện nay Chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, thường xuyên quét
Trang 22Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dọn, tiêu độc chuồng trại bằng một số hoá chất như vôi bột, Han-Iodine 10%, chloramin B; chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng cho lợn Lợn mới mua về cần nuôi cách ly ít nhất 3 tuần
Tổ chức tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Trung ương đến địa phương để người dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ về mức độ nguy hiểm của dịch PRRS ở lợn từ đó thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch, đặc biệt cần phải khai báo kịp thời khi lợn có biểu hiện mắc PRRS
Để chủ động phòng chống dịch, cần thực hiện đồng bộ và kiên quyết các giải pháp phòng chống dịch như phát hiện sớm, bao vây xử lý kịp thời các ổ dịch; công tác tuyên truyền thực hiện sâu rộng tới các ngành, các cấp và người dân tham gia chăn nuôi; đặc biệt có sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp từ Trung ương tới các địa phương Thực hiện nghiêm việc tiêm phòng vaccine phòng các bệnh nguy hiểm ở lợn theo Quyết định số 63/2005/QĐ-BNN ngày 13/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
1.1.2 Các đặc tính của virus gây PRRS ở lợn
1.1.2.1 Cấu trúc của virus
Dưới kính hiển vi điện tử PRRS ở lợn là loại có vỏ bọc, hình cầu, có kích thước từ 45-80 nm, chứa nhân nucleocapsid 25-35 nm, trên bề mặt có gai nhô ra rõ, có vỏ là lipit
Virus gây PRRS ở lợn là ARN virus với bộ gen là một phân tử ARN sợi đơn dương, có những đặc điểm chung của nhóm Arteriviruses Sợi ARN này
có kích thước khoảng 15 kilobase, có chín ORF (open reading frame) mã hoá cho chín protein cấu trúc Tuy nhiên, có sáu phân tử protein chính có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm bốn phân tử glycoprotein, một phân tử protein xuyên màng (M) và một protein nucleocapsid (N)
Hạt virus có đường kính 50-70 nm, chứa nucleocapsid cùng kích thước
có cấu trúc đối xứng 20 mặt, đường kính 35 nm, được bao bọc bên ngoài bởi
Trang 23Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
một lớp vỏ bọc dính chặt với cấu trúc bề mặt giống như tổ ong Bộ gen bao gồm một phân tử đơn chuỗi dương là một ARN kích thước từ 13-15 kb Sợi ARN virus có một cổng 5’ và một dải cổng đầu 3’ Gen ARN polymeraza chiếm khoảng 75% đầu 5’ của bộ gen, gen mã hoá cho các protein cấu trúc của virus nằm ở đầu 3’ Hạt virus bao gồm một protein nucleocapsid N với khối lượng phân tử 1.200, một protein màng nonglycosylate hình cầu M với khối lượng phân tử 16.000, hai protein peplomer N - glycosylate là GS có khối lượng phân tử 25.000 và GL có khối lượng phân tử 42.000 (Tô Long Thành, 2007) [20]
1.1.2.2 Đặc tính sinh học của virus
Virus gây PRRS ở lợn rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi Virus nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau
đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị diệt nên sức
đề kháng của lợn mắc bệnh bị suy giảm nghiêm trọng Do vậy, lợn bị bệnh thường dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát Virus không gây ngưng kết với các loại hồng cầu gà, dê, thỏ, chuột, hồng cầu type O của người Virus phát triển tốt trên môi trường tế bào đại thực bào phế nang lợn, trên tế bào dòng CL 2621,
tế bào MA 140 với bệnh tích phá huỷ tế bào, sau 2- 6 ngày tế bào co tròn, tập trung thành cụm dày lên, nhân co lại cuối cùng bong ra Tuy có một số khác biệt về di truyền và kiểu hình nhưng các chủng virus Bắc Mỹ và các chủng virus Châu Âu lại cùng gây ra các triệu chứng lâm sàng về hô hấp và sinh sản ở lợn rất giống nhau Dựa vào những kết quả nghiên cứu tổn thương đại thể và vi thể của tổ chức phổi lợn mắc bệnh, người ta chia ra hai nhóm virus: nhóm virus có độc lực cao và nhóm virus có độc lực thấp Nhóm virus có độc lực cao thường gây ra các tổn thương ở tổ chức phổi lợn bệnh nặng hơn nhóm virus có độc lực thấp Năm
2007, Kegong Tian và Yu [45] khi nghiên cứu về sự biến đổi về độc lực của PRRS ở lợn tại Trung Quốc cho rằng virus đã có sự biến đổi về độc lực và hậu
Trang 24Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quả lợn nhiễm virus này có tỷ lệ chết rất cao, trên 20% trong tổng số nhiễm bệnh
1.1.2.3 Sức đề kháng của virus
Virus gây PRRS có thể tồn tại một năm ở nhiệt độ lạnh từ -20 đến -70o
C; trong điều kiện 4oC, virus có thể sống một tháng; ở nhiệt độ cao virus đề kháng kém: ở 37oC chịu được 48 giờ, 56oC bị giết sau một giờ, virus thích hợp ở PH 5-7 Với các chất sát trùng thông thường và môi trường có PH axit, virus dễ dàng bị tiêu diệt Ánh nắng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng (Tô Long Thành, 2007) [20]
1.1.2.4 Khả năng gây bệnh của virus
Người và các động vật khác không mắc PRRS, tuy nhiên trong các loài thuỷ cầm chân màng, vịt trời (Mallard duck) lại mẫn cảm Virus có thể nhân lên ở loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng rất khó khống chế Virus gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh, đây có thể coi là nguồn dịch thiên nhiên (Tô Long Thành, 2007) [20]
Về mặt độc lực, người ta thấy virus gây PRRS tồn tại dưới 2 dạng đó là dạng
cổ điển và dạng biến thể độc lực cao Dạng cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn Dạng biến thể độc lực cao: lợn nhiễm bệnh lây lan nhanh, trầm trọng và chết nhiều (Kegong Tian và Yu, 2007 [45]; Tô Long Thành và Nguyễn Văn Long, 2008 [21])
1.2 MỘT SỐ BỆNH KẾ PHÁT TRONG PRRS Ở LỢN
Các vi khuẩn kế phát gây viêm phổi ở lợn bị mắc PRRS là một trong những nguyên nhân làm chết hàng loạt lợn tại địa phương Vì PRRS với đích tấn công phá huỷ đại thực bào, làm suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho đàn lợn Theo Cù Hữu Phú (2001) [16], khi lợn mắc PRRS thường gặp các loại vi khuẩn gây bệnh
kế phát trong đường hô hấp như: Actinobacillus pleuropneumoniae,
Trang 25Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mycoplasma hyopneumoniae, Pasteurella multocida, Bordetella bronchiseptica, Streptococcus suis Trong đó, vi khuẩn A pleuropneumoniae là một trong
những tác nhân làm cho bệnh trầm trọng hơn
1.2.1 Bệnh viêm phổi- màng phổi ở lợn (VPMP)
Bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn lây lan rộng và được ghi nhận ở nhiều
nước trên thế giới, những nơi có ngành chăn nuôi lợn phát triển Bệnh có mặt và lây lan mạnh ở hầu hết các nước Châu Âu và một phần ở Mỹ, Canada, Mexico, Nam Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia Ở Việt Nam, trong những năm gần
đây vi khuẩn A pleuropneumoniae đã được phân lập và đánh giá là một trong
những nguyên nhân gây bệnh viêm đường hô hấp khá quan trọng ở tất cả các trại lợn trên toàn quốc
1.2.1.1 Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh có nhiều mức, phụ thuộc vào tuổi của lợn, tình trạng miễn dịch, điều kiện môi trường và mức độ cảm nhiễm với tác nhân gây bệnh Tiến triển lâm sàng có thể là quá cấp tính, cấp tính hoặc mạn tính
Thể quá cấp tính: lợn mắc bệnh sốt cao (41,0 - 41,5oC), mệt mỏi, bỏ ăn Lợn bệnh có thể nôn mửa và tiêu chảy Thời gian ngắn trước khi chết, thường
có những biểu hiện khó thở dữ dội, thở bằng mồm, lợn ở tư thế ngồi thở, nhiệt
độ ở hậu môn giảm nhanh Ngay trước khi chết, có chảy nhiều dịch bọt lẫn máu ở miệng và lỗ mũi, nhịp tim tăng Tiếp theo những triệu chứng này là rối loạn tuần hoàn, da trên mũi, tai, chân và sau cùng là toàn bộ cơ thể trở nên tím tái, lợn chết sau 24-36 giờ Một số trường hợp lợn mắc bệnh chết đột ngột mà không có dấu hiệu lâm sàng nào
Thể cấp tính: ở thể này thường có nhiều lợn cùng mắc bệnh trong một chuồng hoặc ở những chuồng khác nhau Con vật sốt từ 40,5oC - 41oC, da đỏ,
Trang 26Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
con vật buồn bã, mệt, nằm không muốn dậy, không muốn uống, bỏ ăn Các dấu hiệu hô hấp nặng với khó thở, ho và đôi khi thở bằng miệng rất rõ Bệnh diễn biến khác nhau ở từng con vật, phụ thuộc vào mức độ tổn thương ở phổi và thời điểm bắt đầu điều trị Lợn thường sống sót nếu qua được 4 ngày đầu của bệnh Tuy nhiên, lợn bị bệnh cũng có thể khỏi và trở thành mang bệnh thể mạn tính Thể bán cấp tính và mạn tính: xuất hiện sau khi các dấu hiệu cấp tính mất đi Con vật không sốt hoặc sốt nhẹ, xuất hiện ho tự phát, với các cường
độ khác nhau, con vật kém ăn, giảm tăng trọng (Nielsen, 1985) [60]
Kume và cs 1986) [47] ở thể mạn tính, lợn thường không có biểu hiện rõ ràng trên lâm sàng Những dấu hiệu viêm phổi sẽ biểu hiện rõ hơn nếu có
nhiễm trùng kế phát các vi sinh vật đường hô hấp khác (Mycoplasma,
Pasteurella, PRRS) hay các nhân tố stress Những con vật mắc bệnh thể mạn
tính là nhân tố truyền bệnh cho những lợn khác
1.2.1.2 Bệnh tích
Lợn bị bệnh do A pleuropneumoniae cho thấy có những tổn thương chủ
yếu ở đường hô hấp Đa số các trường hợp lợn bị viêm phổi hai bên với tổn thương ở các thùy đỉnh, thùy tim và một phần các thùy trên vòm hoành Ở các trường hợp tử vong nhanh chóng (thể cấp tính) khí quản và các phế quản bị lấp đầy bởi các chất tiết nhày, bọt nhuốm máu, phổi trở nên sẫm màu, có rất nhiều máu ở lồng ngực và nhiều tơ huyết gắn giữa phổi, thành ngực, cơ hoành và màng ngoài tim Viêm màng phổi tơ huyết và fibrin thường rất rõ ở những lợn chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh Hầu hết những nghiên cứu đều kết luận
rằng những tổn thương trên là do độc tố của vi khuẩn A pleuropneumoniae gây
ra (Bertram, 1986) [25]
1.2.1.3 Các biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh nên được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
Trang 27Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Lợn ở các trại không bị mắc bệnh và nhiễm vi khuẩn A pleuropneumoniae
phải duy trì việc cách ly, đi đôi với việc sử dụng tinh dịch an toàn Khi nhập lợn mới vào đàn, phải đảm bảo chắc chắn rằng lợn có nguồn gốc từ một đàn không
bị bệnh, không bị nhiễm khuẩn, nên nuôi cách ly chúng trong một thời gian trước khi cho vào đàn
Có thể dùng thuốc kháng sinh liên tục hoặc ngắt quãng, nhưng không được dùng kéo dài và cần thường xuyên kiểm tra sự mẫn cảm của vi khuẩn với kháng sinh Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không loại bỏ được mầm
bệnh hoàn toàn và vi khuẩn A pleuropneumoniae vẫn có thể được thải ra môi
trường Tiêu hủy toàn đàn khi mắc bệnh là phương pháp tối ưu để thanh toán dịch bệnh, sau đó tiêu độc chuồng trại, tạo đàn mới từ những con giống sạch bệnh Trong trường hợp có tỷ lệ lợn trong đàn kiểm tra huyết thanh dương tính cao thì tiêu hủy là phương pháp hiệu quả Tuy nhiên, phương pháp tiêu hủy rất tốn kém và có thể dẫn đến mất đi những giống thuần quý (Leman, 1992) [50] Điều này cho thấy trong chăn nuôi lợn việc chẩn đoán sớm những con lợn mang trùng mà chưa có dấu hiệu lâm sàng là rất cần thiết và cấp bách Các biện pháp quản lý không được kết hợp để cải thiện điều kiện chăn nuôi thì nguy cơ dịch viêm phổi vẫn sẽ tồn tại
Hiện đã có nhiều loại vaccine được sản xuất để phòng viêm phổi ở lợn, gồm 2 nhóm chính: các vaccine vô hoạt và các vaccine có chứa một số thành phần cấu tạo của vi khuẩn Vaccine vô hoạt toàn khuẩn đặc hiệu theo chủng huyết thanh, có thể có miễn dịch chéo với các chủng huyết thanh khác Các vaccine thử nghiệm gồm các vi khuẩn bị làm yếu, giảm độc lực, hoặc các vi khuẩn đã chết hoặc các thành phần cấu tạo của chúng dùng theo đường khí dung hoặc đường uống đã cho thấy có tác dụng bảo vệ nhất định Vaccine dùng tiêm cho lợn con khi kháng thể thụ động nhận được từ lợn mẹ đã giảm
đi giúp đàn lợn giảm tỷ lệ tử vong, giảm thuốc điều trị và cải thiện hiệu quả
Trang 28Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chuyển hoá thức ăn, chất lượng thịt cũng được nâng cao, lợn ít bị viêm phổi
Trong chương trình kiểm soát dịch bệnh do A pleuropneumoniae gây ra
ở lợn phải thực hiện triệt để biện pháp tiêu độc khử trùng Vi khuẩn nhạy cảm với nhiều chất sát trùng thông thường như Han-Iodine 10%, Benkocid,
Chloramin B Các đàn lợn đã bị nhiễm vi khuẩn A pleuropneumoniae cần có
biện pháp can thiệp kịp thời và loại trừ mầm bệnh Tuy nhiên phải có sự đánh giá kỹ về hiệu quả kinh tế trước khi tiến hành Giết thịt toàn bộ và thiết lập lại
đàn lợn có nguồn gốc từ các đàn chắc chắn không bị nhiễm vi khuẩn A
pleuropneumoniae là một trong các biện pháp tối ưu
1.2.1.4 Điều trị bệnh
Vi khuẩn A pleuropneumoniae có MIC cao với streptomycin,
kanamycin, spectinomycin, spiramycin và lincomycine Sự xuất hiện tình
trạng vi khuẩn A pleuropneumoniae kháng lại ampicilin, cephalosporin,
colistin, tetracyclin, streptromycin, sulfonamide là vấn đề đáng lo ngại và thường gặp ở các serotype 1, 3, 5, 7; nhưng hiếm gặp ở các chủng khác, nhất
là serotype 2 Đặc tính kháng kháng sinh có khả năng truyền bằng plasmid (Wilson và cs, 1989 [73]; Prescott và Baggot, 1993 [64])
Kháng sinh được chọn lựa trong điều trị phải là kháng sinh có nồng độ ức chế tối thiểu thấp và có khả năng diệt khuẩn tốt nhất Một số kháng sinh mới có gần đây như các dẫn xuất quinolone (enrofloxacin) hoặc cephalosporin bán tổng hợp (ceftiofur sodium) đã được chứng minh trên thử nghiệm rất có kết quả Moore và cs (1996) [58], đã xác định được tilmicosin có hiệu quả cao trong điều
trị bệnh do vi khuẩn A pleuropneumoniae gây ra ở lợn Điều trị bằng kháng
sinh chỉ có hiệu quả ở giai đoạn mới phát bệnh, có tác dụng làm giảm tỷ lệ tử vong Nếu điều trị muộn khi cơ thể đã xuất hiện nhồi máu hoặc tổn thương mạn tính làm cho lợn bị rối loạn hô hấp thì kết quả rất kém Cần làm kháng
Trang 29Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sinh đồ khi thí nghiệm điều trị bằng kháng sinh Sự thành công của điều trị phụ thuộc chủ yếu vào việc phát hiện sớm các dấu hiệu lâm sàng và can thiệp điều trị kịp thời
1.2.2 Một số nghiên cứu về vi khuẩn A pleuropneumoniae
Trong PRRS thì vai trò của vi khuẩn kế phát là một trong những nguyên nhân quan trọng gây chết hàng loạt lợn tại các địa phương xảy ra dịch hiện nay Do PRRS có khả năng làm suy giảm miễn dịch, dẫn đến các mầm bệnh nhiễm trùng thứ phát có cơ hội trỗi dậy gây bệnh cho lợn, trong đó có vi
khuẩn A pleuropneumoniae
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là tác nhân gây bệnh viêm phổi – màng
phổi ở lợn Bệnh có phân bố rộng rãi và ngày càng trở nên quan trọng do việc chăn nuôi lợn ngày một phát triển theo hướng chăn nuôi công nghiệp
Năm 1957, Pattison và cs [61] là những người đầu tiên phát hiện bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn, tiếp theo (Mattews và Pattison, 1961) [53] cũng
đã lần lượt công bố về bệnh White và cs (1964) [72] đã phân lập được vi
khuẩn gây bệnh và đặt tên là Haemophilus pleuropneumoniae (H
pleuropneumoniae) Chủng vi khuẩn gần giống với Pasteurella heamolytica
được Bertschinger và Seifert (1978) [24] mô tả là nguyên nhân gây bệnh viêm
phổi - màng phổi hoại tử được với là một biến thể của A pleuropneumoniae không phụ thuộc vào NDA, hiện nay được gọi là A pleuropneumoniae thuộc biotype 2 Năm 1978, Kilian và cs [46] khẳng định vi khuẩn H
pleuropneumoniae là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi màng phổi ở lợn
Năm 1983, Pohl và cs [63] đã phân loại vi khuẩn H pleuropneumoniae vào giống Actinobacillus (A), đặt tên là A pleuropneumoniae do có sự tương đồng về DNA giữa H pleuropneumoniae và A lignieressi
Viêm phổi - màng phổi là một bệnh nhiễm trùng quan trọng ở đường hô hấp của lợn và xảy ra ở hầu hết các nước có nền công nghiệp chăn nuôi lợn phát
Trang 30Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
triển Nhiều vụ dịch do A pleuropneumoniae gây ra đã được thông báo ở Mỹ,
Mexico, Canada, Châu Âu, Nhật Bản, Úc và Nam Mỹ (Straw và cs, 1999) [66] Các kỹ thuật chẩn đoán bệnh viêm phổi - màng phổi đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu Frey và cs (1995) [36] phát triển phương pháp
PCR có hiệu quả trong việc định loại độc tố của các chủng A
pleuropneumoniae Gram và cs (1998) [38] đã áp dụng kỹ thuật PCR để chẩn
đoán A pleuropneumoniae dựa trên việc xác định trình tự nucleotide của
lipoprotein màng ngoài hoặc dùng huyết thanh với kháng thể hấp phụ hoặc
kháng thể đơn dòng để xác định A pleuropneumoniae Lairini và cs (1995)
[48] đã dùng kháng thể đơn dòng để xác định độc tố của từng serotype Gram
và cs (2000) [39] đã sử dụng phương pháp PCR để xác định serotype của A
pleuropneumoniae dựa trên các gen apx và amolA
Theo Min và Chae (1999) [54] tại Hàn Quốc, các serotype của vi khuẩn
A pleuropneumoniae thường gặp là 2, 5, 6, 7 Trong khi đó ở Đài Loan theo
nghiên cứu của Chang và cs (2002) [29] thường xuất hiện các vi khuẩn A
pleuropneumoniae thuộc serotype 1, 2, 5
Sự phân bố các serotyoe của A pleuropneumoniae có tính chất địa lý
nhất định, ví dụ serotype 2 chủ yếu có mặt ở Châu Âu như ở Thuỵ Điển, Đức
và Thụy Sĩ, còn serotype 1 và 5 ở Mỹ và Canada (Taylor DJ, 1999) [67] Theo Bongtae Kim và cs (2001) [27] từ năm 1995 đến năm 1998, tại
Hàn Quốc đã phân lập được 76 chủng A pleuropneumoniae và từ lợn mắc
bệnh viêm phổi - màng phổi Trong số đó, tỷ lệ các chủng thuộc serotype 2 chiếm 60,53%; serotype 5 chiếm 26,32%; serotype 6 chiếm 13,16%
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, A pleuropneumoniae đã được
phân lập và xác định là một tác nhân gây bệnh nhiễm trùng hô hấp khá quan trọng cho lợn nuôi ở tất cả các trại lợn quy mô lớn
Cù Hữu Phú và cs (2005) [14] đã xác định tỷ lệ nhiễm, các đặc tính sinh
Trang 31Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vật hóa học, độc lực trên chuột, mức độ mẫn cảm với kháng sinh của 5 loại vi
khuẩn được xem là nguyên nhân chính gây bệnh hô hấp của lợn Kết quả cho
thấy có nhiều vi khuẩn gây bệnh cư trú tại đường hô hấp của lợn, trong đó
A pleuropneumoniae cư trú chủ yếu ở niêm mạc đường hô hấp trên
A pleuropneumoniae tồn tại thường xuyên ở niêm dịch và chỉ gây bệnh khi
có đủ các điều kiện cần thiết như: độc lực của vi khuẩn cao, sức đề kháng của
con vật giảm sút hay yếu tố môi trường khắc nghiệt Kiểm tra các mẫu bệnh
của lợn khỏe và lợn bệnh cho thấy trong số 542 mẫu dịch ngoáy mũi của lợn
dưới 3 tháng tuổi, số mẫu phân lập được A pleuropneumoniae là 43 (7,93%) và
chỉ có 1/53 (0,19%) mẫu phổi, hạch phổi của lợn dương tính với A
pleuropneumoniae Kết quả xác định serotype của 44 chủng vi khuẩn A
pleuropneumoniae phân lập được cho thấy chúng thuộc serotype 1, 2, 5 (có 19
chủng thuộc serotype 2 chiếm 43,18%, 22 chủng thuộc serotype 5 chiếm 50%)
1.2.2.1 Hình thái và đặc tính nuôi cấy
Trên môi trường thạch chocolate: sau 24 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo
thành khuẩn lạc nhầy, màu trắng xám Vi khuẩn A pleuropneumoniae thuộc
biotype 1 có thể phân biệt được với H parasuis bởi khả năng gây dung huyết
trên thạch máu khi có Sta aureus cấy kèm (Kilian và cs, 1978) [46]
Moller và Kilian (1990) [57] cho biết A pleuropneumoniae là một loại vi
khuẩn khó phân lập trên các môi trường thông thường và thường phụ thuộc
vào yếu tố V Do vậy, khi nuôi cấy A pleuropneumoniae cần các môi trường
giàu dinh dưỡng Trên môi trường thạch máu, vi khuẩn không phát triển trên
môi trường thạch máu thông thường, mà chỉ có thể mọc trên thạch máu đã
được bổ sung NAD hoặc có cấy kèm vi khuẩn Sta aureus Sau 24 giờ nuôi cấy,
vi khuẩn phát triển thành khuẩn lạc mọc xung quanh đường cấy Sta aureus với
kích thước 0,5-1 mm và hình thành nên một vùng dung huyết β Vùng dung
huyết này thường được quan sát rõ hơn trên môi trường thạch có bổ sung 5-7 %
Trang 32Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
máu cừu Ngoài ra, A pleuropneumoniae còn gây nên một vùng dung huyết tăng cường trong vùng dung huyết bán phần, xung quanh đường cấy Sta aureus có
độc tố dung huyết β gọi là hiện tượng CAMP Hiện tượng CAMP này liên quan tới sự có mặt của 3 chất làm tan tế bào bao gồm: ApxI, ApxII, ApxIII
Trên môi trường TSA: trong thành phần của môi trường này được bổ sung Yearst Extract (YE) và huyết thanh ngựa Sau 24-48 giờ nuôi cấy, vi khuẩn tạo thành khuẩn lạc nhỏ, màu trắng trong, dưới ánh sáng đèn điện có màu xám xanh
Vi khuẩn A pleuropneumoniae là loại cầu trực khuẩn nhỏ, gram (-), kích
thước 0,3-0,5 x 0,6-1,4 μm, không di động, không sinh nha bào và có hình thành giáp mô Dưới kính hiển vi điện tử quan sát thấy vi khuẩn có lông hay còn gọi là pili có kích thước 0,5-2 x 60-450 nm Loại có vỏ (capsule) và polysaccharide được tìm thấy ở hầu hết các serotype, còn loại không có vỏ thì
ít tìm thấy hơn (Perry và cs, 1990) [62]
1.2.2.2 Đặc tính sinh hóa
Vi khuẩn A pleuropneumoniae lên men các loại đường: glucose, xylose,
mannitol, mannose và không lên men với đường: arabinose, lactose, raffinose, sorbitol Dương tính với phản ứng urease, oxidase, CAMP, O.N.P.G; âm tính với phản ứng sinh Indol và không mọc trên thạch Mac Conkey (Moller và cs, 1996 [56]; Đặng Xuân Bình và cs, 2007 [3]; Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010 [7])
1.2.2.3 Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn A pleuropneumoniae từ lâu đã được nhiều nghiên cứu xác
định là nguyên nhân chính gây nên bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn và được
chia thành 2 biotype chính dựa trên nhu cầu cần sử dụng NAD (Nicotinamide
Adenine Dinucleotide) hay còn gọi là yếu tố V cho quá trình sinh trưởng của
vi khuẩn Biotype 1 cần có NAD, còn biotype 2 thì không đòi hỏi có NAD trong quá trình nuôi cấy, song vẫn cần có các pyridine nucleotid đặc hiệu
Trang 33Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hoặc các chất tiền thân của pyridine nucleotid cho quá trình tổng hợp NAD Biotype 1 có độc lực cao hơn biotype 2 Biotype 1 có 12 serotype khác nhau dựa trên sự khác nhau của capsule polysaccharide (CPS) và của lipopolysaccharide (LPS) thành tế bào (Perry và cs, 1990) [62] Ở biotype 2
có serotype 2, 4, 7 và 9 có chung nhóm quyết định kháng nguyên nhƣ biotype
1 Trong những năm gần đây, serotype 13 và 14 thuộc biotype 2 đƣợc phát hiện và đƣợc mô tả có kháng nguyên khác với biotype 1 Blackall và cs (2002) [26] đã phát hiện ra serotype 15 thuộc biotype 1 ở 9 chủng vi khuẩn phân lập đƣợc tại Australia
1.2.2.4 Các yếu tố độc lực của vi khuẩn
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độc lực ở các serotype khác nhau của vi
khuẩn A pleuropneumoniae phần lớn đƣợc quyết định bởi các ngoại độc tố
mà chúng sản sinh ra Polysaccharide vỏ, lipopolysaccharide, protein màng, protein thu nhận sắt, yếu tố bám dính, ngoại độc tố và một vài loại enzym có
liên quan cũng đóng vai trò quan trọng đối với độc lực của vi khuẩn A
Pleuropneumoniae
Hiểu biết về thành phần và cấu trúc kháng nguyên chủ yếu liên quan đến độc tính, độc lực của vi khuẩn sẽ cung cấp các thông tin quan trọng, là cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh đặc hiệu cũng nhƣ chế tạo vaccine phòng bệnh
Vai trò của ngoại độc tố (Exotoxin): nhiều nghiên cứu đã cho thấy mức
độ độc lực khác nhau của các serotype vi khuẩn A pleuropneumoniae phần
lớn có liên quan đến ngoại độc tố (Apx) sản sinh từ vi khuẩn và đƣợc cho là đóng vai trò chính trong quá trình gây bệnh cho lợn Qua nghiên cứu các nhà
khoa học đã chứng minh độc lực của vi khuẩn A pleuropneumoniae có liên quan
đến bốn loại protein độc tố, các độc tố này đƣợc xếp vào nhóm RTX-toxin và
đƣợc đặt tên là độc tố Apx, bao gồm ApxI, ApxII, Apx III và Apx IV Tính độc
Trang 34Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của mỗi loại độc tố này có thể thay đổi và phụ thuộc vào các serotype khác nhau
của A pleuropneumoniae (Frey, 1995) [37]
ApxI là một protein có trọng lượng phân tử từ 105-110 kDa, có độc lực cao, gây dung huyết và có hoạt tính gây độc tế bào mạnh hướng đại thực bào phế nang và bạch cầu trung tính Trước kia, ApxI được đặt tên là haemolysin I (HlyI)
hay cytolysin I (ClyI) ApxI được tiết ra bởi A pleuropneumoniae, serotype 1, 5,
9, 10, và 11 thuộc biotype 1 và serotype 14 của biotype 2 Operon mã hóa cho
ApxI được xác định là gen apxI và gồm 4 gen được sắp sếp theo thứ tự là apxIC,
apxIA, apxIB, và apxID, trong đó C là gen hoạt hóa, A là gen quy định cấu trúc
độc tố và B cùng D là hai gen mã hóa cho các protein kết hợp với màng liên quan đến sự tiết độc tố qua cả hai màng Calcium 2+
(Ca2+) cần thiết cho các hoạt
động sinh học của độc tố dung huyết A pleuropneumoniae (Devenish và
Rosendal, 1991 [33]; (Rayamajhi và cs, 2005 [65])
Phân tích protein của độc tố cho thấy 56% tương đồng với HlyA- độc tố
làm dung huyết của vi khuẩn E coli Các chủng sản sinh ra ApxI thường có độc lực cao, điều này cho thấy độc tố có liên quan đến độc lực của A
pleuropneumoniae (Kamp và cs, 1991 [44]
ApxII là độc tố làm tan huyết, gây dung giải tế bào ở mức độ trung bình
và có trọng lượng phân tử khoảng 103-105 kDa Trước đây ApxII được gọi là
HlyII, ClyII hay CytII Tất cả các serotype của A pleuropneumoniae đều tiết
ApxII, ngoại trừ serotype 10 và 14 (Kamp và cs, 1991 [44]; Rayamajhi và cs,
2005 [65]) Operon mã hóa ApxII chỉ chứa các gen apxIICA và thiếu các gen
bài tiết tương ứng Sự tiết ApxII phụ thuộc vào gen apxIBD và gen này được tìm thấy ở tất cả các serotype của A pleuropneumoniae, ngoại trừ serotype 3
ApxIII là độc tố không làm tan huyết, nhưng lại là độc tố dung giải tế bào mạnh với trọng lượng phân tử 120 kDa Trước kia ApxIII được đặt tên là cytolysin III (ClyIII), độc tố viêm màng phổi - pleurotoxin (Ptx), hay độc tố
Trang 35Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chống đại thực bào - macrophage toxin (Mat) ApxIII đƣợc phân biệt với 2 độc tố ApxI và ApxII do không gây dung huyết, nhƣng lại gây dung giải mạnh các tế bào khác (Kamp và cs, 1991 [44])
Protein độc tố ApxIII đƣợc tiết ra bởi serotype 2, 3, 4, 6, 8 và 15 của A
pleuropneumoniae ApxIII giống 50% với ApxI và HlyI của vi khuẩn E Coli Vùng gen điều hòa (operon) mã hóa cho ApxIII chứa các gen
apxIIICABD và giống với vùng gen điều hòa (operon) cho apxI (Chang và cs,
1993 [28]; Rayamajhi và cs, 2005 [65])
ApxIV (ApxIVA) là độc tố RTX thứ 4 của A pleuropneumoniae đã
đƣợc phát hiện và đề xuất đặt tên là ApxIVA Gen ApxIVA đƣợc phát hiện
thấy ở tất cả các serotype của A pleuropneumoniae và điều đó chứng tỏ nó có
tính chất đặc trƣng cho loài Vai trò của độc tố ApxIV với vật chủ nhƣ thế nào trong quá trình gây bệnh hiện chƣa đƣợc nghiên cứu kỹ, song đã có một số công trình nghiên cứu chứng minh sự tồn tại của ApxIVA trong cơ thể sống và đƣợc
tạo ra từ gen độc tố của vi khuẩn A pleuropneumoniae (Liu J và cs, 2009) 51
Nghiên cứu của Inzana (1991) [43] cho thấy serotype 5 thể đột biến không sản sinh ra ApxI hoặc ApxII đã không còn độc lực đối với lợn hoặc chuột thí nghiệm Điều này cho thấy độc tố là yếu tố quan trọng xác định độc lực của vi
khuẩn A pleuropneumoniae serotype 5 Đồng thời tác giả đã làm thí nghiệm gây đột biến các chủng A pleuropneumoniae serotype 5 để không sản sinh ra
ApxI hoặc ApxII và sau đó dùng các chủng đã đột biến làm giống gốc sản xuất vaccine cũng cho thấy động vật thí nghiệm không có khả năng bảo hộ đối với các chủng tự nhiên Kết quả nghiên cứu chứng minh các độc tố là cần thiết để
kích thích đáp ứng miễn dịch chống lại khả năng gây bệnh của các chủng A
pleuropneumoniae serotype 5
Không có serotype nào của A pleuropneumoniae có khả năng sản sinh ra
cả ba loại độc tố Apx, chủ yếu là có khả năng tạo ra 2 độc tố: các serotype 1,
Trang 36Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5, 9, 11 và 13 sản sinh ra ApxI và ApxII; serotype 2, 3, 4, 6, 8 và 15 sản sinh
ra ApxII và ApxIII Một số lượng nhỏ các serotype chỉ sản sinh một độc tố Apx (ApxI: serotype 10, ApxII: serotype 7 và serotype 12) Độc lực của các
serotype A pleuropneumoniae thay đổi từ mức độ mạnh đến yếu Sự thay đổi
này tùy thuộc vào loại độc tố mà mỗi serotype tiết ra Những serotype sản sinh
ra một hoặc hai độc tố thường có độc lực mạnh hơn những serotype không sản sinh ra độc tố (Kamp và cs, 1991) [44]
Lipopolysaccharide (LPS): Lipopolysaccharide là thành phần chính của màng ngoài vi khuẩn A pleuropneumoniae, có liên quan nhiều tới quá trình gây độc và có khả năng gây thương tổn đối với mô Udeze và cs (1987) [68]
đã xác định các trường hợp khi bị nhiễm bệnh điển hình do A
pleuropneumoniae thấy LPS có khả năng gây tổn thương mô phổi với những
mức độ khác nhau từ xuất huyết đến hoại tử Belanger và cs (1990) [23] cho thấy 83% các serotype với LPS mịn (smooth LPS) bám dính phần lớn vào vành khí quản, trong khi 80% các serotype với LPS bán mịn (semi-smooth LPS) bám dính yếu Điều này cho thấy LPS có thể là một nhân tố quan trọng
đối với sự tồn tại của vi khuẩn A pleuropneumoniae ở đường hô hấp trên của lợn LPS và ngoại độc tố có khả năng tương tác làm tăng độc lực của A
pleuropneumoniae (Inzana, 1991) [43] Ngoài ra, LPS có vai trò quan trọng
trong quá trình bám dính của vi khuẩn lên tế bào biểu mô và lớp màng nhầy khí quản của lợn Bám dính là hoạt động ban đầu giúp cho sự xâm nhập của
vi khuẩn, rồi từ đó gây ra bệnh
Thành phần heptose và glucose trong LPS của A pleuropneumoniae cao hơn so với ở một vài loài vi khuẩn Gram âm khác như E coli và H influenza LPS từ vi khuẩn A pleuropneumoniae có độc lực cao thuộc serotype 5 có
nhiều galactose hơn thể phân lập không độc cùng serotype 5 LPS thành tế bào có ý nghĩa quan trọng trong việc gây ra đáp ứng miễn dịch của vật chủ
Trang 37Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sau khi A pleuropneumoniae xâm nhiễm
Polysaccharide vỏ vi khuẩn là yếu tố xác định đặc trưng của hiện tượng phát ánh ngũ sắc trên bề mặt khuẩn lạc trong môi trường nuôi cấy Lớp vỏ của
A pleuropneumoniae có độ dầy từ 80-230 nm tùy thuộc vào các serotype
khác nhau Đã có những ý kiến cho rằng sự khác biệt về độ dầy lớp vỏ dẫn
đến sự khác nhau về độc lực Các chủng A pleuropneumoniae độc lực cao có
lớp vỏ dầy, trong khi một số chủng không độc có lớp vỏ mỏng hoặc dễ dàng
bị phá vỡ Quan sát dưới kính hiển vi điện tử cho thấy những chủng có độc lực có kích thước lớn hơn và có lớp vỏ bám dính dầy hơn so với những chủng
ít độc (Inzana, 1991) [43]
Polysaccharide vỏ vi khuẩn (Capsule polysaccharide - CPS): vi khuẩn A
pleuropneumoniae được bao bọc bên ngoài bởi một lớp vỏ có bản chất là các
polysaccharide Lớp vỏ polysaccharide này tích điện âm và được cấu tạo bởi các đơn vị Oligosaccharide, các polymer của axit teichoic gắn kết với nhau bởi các cầu nối phosphate diester, hoặc các polymer Oligosaccharide gắn kết với nhau bởi các cầu nối phosphate Polysaccharide vỏ vi khuẩn là một trong những thành phần quyết định độc lực của vi khuẩn và cũng là một nhân tố quyết định tính đặc hiệu serotype của vi khuẩn (Ward và Inzawa, 1997) [69] Các serotype có lớp vỏ dầy có độc lực mạnh hơn so với các serotype có lớp vỏ mỏng Điều này cho thấy lớp vỏ vi khuẩn có thể là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến độc lực của các serotype khác nhau
Lớp vỏ của A pleuropneumoniae không chỉ có ý nghĩa trong quá trình
gây bệnh mà còn có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và dịch tễ (Inzana,
1991) [43] Lớp vỏ của A pleuropneumoniae có đặc tính chống lại thực bào
và được coi là lá chắn chủ yếu của vi khuẩn chống lại hệ thống bảo vệ của vật
chủ Những chủng A pleuropneumoniae có vỏ bình thường có khả năng
kháng lại với hiện tượng tiêu diệt vi khuẩn qua trung gian bổ thể của huyết
Trang 38Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thanh lợn khi có kháng thể đặc hiệu Ngược lại, với các chủng A
pleuropneumoniae đột biến thiếu hụt vỏ thì bị tiêu diệt bởi huyết thanh bình
thường Cơ chế mà lớp vỏ vi khuẩn tạo nên sự kháng lại các hoạt tính diệt khuẩn đã được phát hiện, cho thấy thành phần cấu thành lớp vỏ vi khuẩn không ngăn cản hoạt hóa bổ thể hay sự kết dính của C3 (một thành phần của
bổ thể) lên vi khuẩn, nhưng lại hạn chế lượng kháng thể và sự lắng đọng bổ thể C9 lên bề mặt vi khuẩn trong huyết thanh bình thường
Các protein màng ngoài (Outer membrane proteins - OMPs): Protein màng ngoài của A pleuropneumoniae có trọng lượng phân tử 43kDa và có thể
thay đổi tùy theo hàm lượng NAD cung cấp trong môi trường nuôi cấy
D'Silva và cs (1995) [35] đã nghiên cứu xác định các protein mang sắt nằm trên màng ngoài Sau đó các đặc tính cùng chuỗi gen của chúng cũng
được Chung và cs (2007) 31 nghiên cứu xác định vi khuẩn A
pleuropneumoniae sản sinh một vài loại protein màng ngoài (OMPs) và các
protein này được cho là có vai trò trong đáp ứng miễn dịch Hơn nữa, các
kháng thể kháng OMPs của A pleuropneumoniae được chứng minh tác động
như một chất opsonin quan trọng chống đại thực bào và bạch cầu đơn nhân
A pleuropneumoniae có khả năng tổng hợp hai protein mới khi được nuôi
trong môi trường thiếu sắt và có các kháng thể chống lại chúng Hiện tượng xuất hiện các polypeptid này chỉ có được ở trong cơ thể sống Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy có một số receptor transferrin đặc hiệu ở lợn và khả năng
phát triển của A pleuropneumoniae với transferrin vận chuyển sắt Các phân
tích về mặt di truyền các yếu tố mã hóa cho receptor các protein transferrin
được nhận dạng bởi hai gen nằm trên một operon Theo quy định gen tbpB
(mã hóa cho protein Tbp2 có khối lượng phân tử dao động từ 59,8 đến 65,5
kDa) và gen tbpA (mã hóa cho protein Tbp1 với trọng lượng chính xác 102,2 kDa) Theo các chứng minh ngược dòng trên operon tbp gợi ý rằng các ion sắt
Trang 39Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ở môi trường điều khiển gen tbp qua protein Fur
Các protein thu nhận sắt: khả năng cạnh tranh và hấp thụ sắt được xem là một trong những yếu tố độc lực quan trọng của A pleuropneumoniae giúp vi
khuẩn tồn tại trong cơ thể vật chủ Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vi khuẩn
A pleuropneumoniae có thể sử dụng transferrin của vật chủ và hemoglobin, cũng
như sử dụng các loại siderophore khác nhau của nhiều vi sinh vật khác làm nguồn cung cấp sắt cho sinh trưởng (Diarra và cs, 1996 [34]; Wilke và cs, 1997 [71]) Các nghiên cứu cũng đã xác định chắc chắn có sự tồn tại của các thụ thể
trên bề mặt màng tế bào A pleuropneumoniae đặc hiệu cho các nguồn thu nhận sắt Nghiên cứu của Jacques (2004) [42] cho biết A pleuropneumoniae
có protein gắn kết hemoglobin và các receptor ferric hydroxamate Chính protein gắn transferrin đã giúp cho A pleuropneumoniae được cung cấp đầy
đủ sắt trong một thời gian ngắn sau quá trình xâm nhập gây nhiễm trùng Các yếu tố độc lực khác: Ngoài các yếu tố độc lực chính như trên vi khuẩn A pleuropneumoniae còn có một số thành phần khác cũng có vai trò
quan trọng trong sinh bệnh học, bao gồm:
Ngưng kết tố: hiện tượng ngưng kết hồng cầu đã được chứng minh ở một
số chủng vi khuẩn A pleuropneumoniae phân lập được, tuy nhiên cũng có một số chủng A pleuropneumoniae không có đặc tính ngưng kết cũng đã được xác định (Jacques và cs 1988) [41]
Fimbriae: được cho là yếu tố bám dính chính lên tế bào niêm mạc đường
hô hấp của vật chủ của A pleuropneumoniae trong quá trình xâm nhập Dưới kính hiển vi điện tử, fimbriae có đường kính 0,5-2 nm, dài 60- 450 nm
(Inzana, 1991) [43]
HlyX protein: A pleuropneumoniae có chứa gen hlyX (cfp) quy định khả
năng dung giải hồng cầu, biểu hiện phản ứng CAMP có mặt ở hầu hết các chủng
A pleuropneumoniae phân lập được (Macdonald và Rycroft, 1993) [52]
Trang 40Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Men protease: A pleuropneumoniae tiết ra men protease có khả năng
phân giải gelatin, IgA, IgG và hemoglobin (Negrete-Abascal và cs, 1994) [59] Enzym superoxide dismutase (SOD) là một trong những yếu tố độc lực
vì nó giúp cho vi khuẩn tồn tại trong suốt quá trình gây nhiễm Trình tự cấu trúc của enzym này đã được xác định bởi (Langford và cs, 1996) [49] Urease: Hoạt động của urease góp phần vào khả năng tạo lập nhiễm
trùng của vi khuẩn A pleuropneumoniae trên đường hô hấp của lợn và sau đó
làm phát sinh bệnh Hoạt động urease cũng góp phần gây bệnh do quá trình này cung cấp cho vi khuẩn nguồn nitrogen, từ đó trực tiếp hoặc gián tiếp gây tổn thương tế bào thực bào và tế bào nội mạc của vật chủ
1.2.2.5 Khả năng kháng kháng sinh
Việc sử dụng kháng sinh không cần thiết làm cho A pleuropneumoniae
kháng lại nhiều loại kháng sinh Một nghiên cứu tại Quebec đã cho thấy khả
năng kháng kháng sinh của vi khuẩn A pleuropneumoniae được quyết định bởi
thành phần plasmid có trong tế bào vi khuẩn và plasmid này có trọng lượng phân
tử thấp (2,3-3,6) x106 dalton Cơ sở của hiện tượng kháng này với Ampicillin là
do vi khuẩn tiết ra men β-lactamase Những plasmid này không có vật liệu gen
để thúc đẩy sự dẫn truyền tới vi khuẩn khác và sự xuất hiện của plasmid này gợi
ý về kết quả của một quá trình chọn lọc của vi khuẩn A pleuropneumoniae
Ở Việt Nam, Trịnh Quang Hiệp và cs (2004) [8] kiểm tra kháng sinh đồ
29 chủng Actinobacillus phân lập từ trại chăn nuôi lợn tập trung thuộc công ty
giống Thái Bình, Hải Phòng đã xác định các loại kháng sinh tác dụng tốt là amikacin (94,95%), amoxicilin (88,89%), rifampicin (83,33%) rồi đến
oxacillin và ceftazidine (77,78%) Sự mẫn cảm với kháng sinh của A
pleuropneumoniae cũng được tác giả Cù Hữu Phú và cs (2005) [15] thông
báo ít mẫn cảm nhất là kanamycin (45,45%), neomycin (50%), lincomycin (63,64%) Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) [7] khi nghiên cứu khả năng kháng