Giải pháp khai thông nguồn vốn tín dụng đối với việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp bách của đề tài:
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc cạnh tranh trong nền kinh tếnói chung, lĩnh vực ngân hàng nói riêng ngày càng mạnh mẽ Nếu không bắtnhịp với xu thế đó các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ không tồn tại trênthị trường hiện nay Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các ngân hàng nướcngoài với tiềm lực vốn lớn, trang thiết bị kỹ thuật với công nghệ hiện đại,trình độ quản lý chuyên sâu cũng như phong cách làm việc nhanh chóng vàhiệu quả đã và đang thu hút được không chỉ đối tượng khách hàng là cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổng công ty Nhà nước mà còn
cả các DNVVN Do vậy các ngân hàng thương mại Việt Nam đang đứngtrước thử thách lớn để đứng vững trên thị trường và giữ thị phần tiềm năngtrong nước
DNVVN chiếm số đông trong tổng doanh nghiệp ở Việt Nam Hiệnnay, số lượng DNVVN là 240000, chiếm 96% doanh nghiệp của cả nước Với
sự gia tăng liên tục về số lượng và hoạt động ngày càng hiệu quả, CácDNVVN được đánh giá là một trong những động lực chính thức đẩy nền kinh
tế phát triển, khuyến khích quá trình tư nhân hóa và phát triển kỹ năng kinhdoanh Mặc dù với quy mô không lớn nhưng cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt vàthích nghi nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường DNVVN đã giảiquyết công ăn việc làm cho người lao động, đa dạng hóa các hoạt động kinh
tế và đóng góp lớn vào GDP và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.Chính vì vậy, các DNVVN không chỉ trở thành mối quan tâm hàng đầu củacác nhà lập chính sách mà còn là mối quan tâm chủ đạo đối với các ngân hàngthương mại Việt Nam khi thiết lập đối tượng khách hàng mục tiêu Đây là đốitượng khách hàng tiềm năng của ngân hàng mà nếu có sự quan tâm đầu tưđúng đắn sẽ tạo điều kiện cho DNVVN dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn tíndụng của ngân hàng
Trang 2Vấn đề bất cập hiện nay, các DNVVN đang gặp phải rất nhiều khókhăn về vốn Số DNVVN được vay vốn từ ngân hàng rất hạn chế (đặc biệt làdoanh nghiệp dân doanh) bởi một phần do bản thân doanh nghiệp và mộtphần từ phía ngân hàng Trong 100 hồ sơ vay vốn tại ngân hàng ngẫu nhiêncủa các DNVVN thì chỉ có khoảng từ 35 – 40 hồ sơ có thể được chấp nhậncấp vốn Như vậy, khả năng tiếp cận vốn ngân hàng thương mại của cácDNVVN vẫn còn nhiều hạn chế.Nhu cầu về vốn của DNVVN rất lớn vàkhông ngừng tăng lên mà các ngân hàng thì yêu cầu tài sản thế chấp cao,khiến DNVVN không đáp ứng được Điều này không hề lợi cho cả ngân hànglẫn doanh nghiệp Doanh nghiệp không có vốn để sản xuất kinh doanh vàngân hàng không mở rộng được thị phần, lợi nhuận cũng không cao, từ đókéo theo nền kinh tế kém phát triển Trước tình hình đó, buộc các ngânhàng thương mại Việt Nam phải xây dựng chiến lược kinh doanh để thu hútkhách hàng, xác định cho mình đối tượng khách hàng mục tiêu phù hợp để cónhững giải pháp nhằm không ngừng phát triển mối quan hệ với khách hàng,tạo uy tín trong lòng khách hàng.
Xuất phát từ thực trạng trên, sau một thời gian thực tập tại phòng giaodịch số 5 - Nguyễn Du - MB, và được tìm hiểu những chủ trương chính sách
của MB Bởi vậy, em đã chọn đề tài “Giải pháp khai thông nguồn vốn tín dụng đối với việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội”
làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình
2 Mục đích nghiên cứu:
Chuyên đề nghiên cứu thực trạng từ phía các doanh nghiệp vừa và nhỏcũng như từ phía ngân hàng hiện nay để từ đó thấy được những hạn chế vànguyên nhân trong tín dụng đối với DNVVN
Nghiên cứu những chỉ tiêu chung về khai thông nguồn vốn tín dụng đốivới DNVVN, từ đó đánh giá thực trạng hoạt động khai thông nguồn vốn tíndụng đối với DNVVN tại ngân hàng
Trang 3Cuối cùng, chuyên đề sẽ đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm gópphần khai thông nguồn vốn tín dụng cho các DNVVN tại MB.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng khai thông nguồn vốn tín dụng đốivới DNVVN tại MB
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng đối với DNVVN tại MB trênđịa bàn Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học để phân tích lý luận và thực tiễn như: Phương pháp tưduy biện chứng, suy luận logic và kết hợp phương pháp duy vật lịch sử sửdụng số liệu thực tế để luận giải thông qua các phương pháp : So sánh, thống
Trang 41.2 Các hoạt động chủ yếu của NHTM:
a Huy động vốn:
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộvốn kinh doanh của NHTM Đây là hoạt động đóng một vai trò quan trọngảnh hưởng đến chất lượng hoạt động, đến khả năng mở rộng kinh doanh của
ngân hàng Vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền tệ (nội tệ và ngoại tệ) và bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận là vốn huy động từ
tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá.
- Vốn huy động từ tiền gửi:
Để huy động vốn, các NHTM đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khácnhau cho khách hàng lựa chọn Các NHTM nhận tiền gửi từ các tổ chức kinh
tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác
Trang 5+ Tiền gửi của tổ chức kinh tế gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiềngửi có kỳ hạn.
+ Tiền gửi của dân cư gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanhtoán
+ Tiền gửi khác như: Tiền gửi của tổ chức tín dụng khác, tiền gửicủa Kho bạc Nhà nước, tiền gửi của tổ chức đoàn thể xãhội…
Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán vàtiết kiệm của khách hàng Đây là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng sử dụngcho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác
- Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá:
Đây là nguồn vốn mà NHTM có được thông qua phát hành giấy tờ cógiá như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi… Các
kỳ phiếu và trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền mặt khicần, bằng cách bán chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tạingân hàng Với cách huy động này ngân hàng có thể tập trung được một khốilượng vốn lớn trong thời gian ngắn và chủ động sử dụng Hình thức này được
sử dụng khi ngân hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thờihạn giải ngân nhanh của khách hàng Tuy nhiên, khi cần nóng thì ngân hàng
có thể vay thêm NHTM, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trườngvốn…
b Hoạt động sử dụng vốn:
Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhaucủa ngân hàng, trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quantrọng
- Cho vay: là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả, có lãi
suất và thời hạn nhất định Quan hệ này phải được thỏa thuận dựa theonguyên tắc giữa người đi vay và người cho vay
Trang 6Đây là hoạt động vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và chiếm tỷtrọng lớn nhất trong các loại tài sản của NHTM Mục đích của cho vay nhằmđáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, thông qua đó để tìm kiếm lợinhuận.
+ Cho vay gồm: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng và tài trợ dựán
+ Cho vay thương mại: Đây là hình thức ngân hàng cho vay đối vớinhững người bán, sau đó chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vaytrực tiếp đối với khác hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mởrộng hoạt động sản xuất
+ Cho vay tiêu dùng: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chitiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là một nguồnchính quan trọng giúp khách hàng trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình
và xe cộ… Bên cạnh đó những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế có thể đượctài trợ bởi cho vay tiêu dùng Lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn sovới lãi suất cho vay thương mại
+ Cho vay dự án: Các ngân hàng tài trợ cho xây dựng những nhà máymới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao
Nhưng hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro Để đảm bảo an toàntrong hiệu quả và cho vay, tránh rủi ro đổ vỡ đối với từng ngân hàng và hệthống các tổ chức tín dụng thì các NHTM đã đưa ra các biện pháp đảm bảotrong cho vay, phòng ngừa rủi ro là cho vay có bảo đảm bằng tài sản và chovay không bảo đảm bằng tài sản Đây là điều kiện rang buộc đối với mỗikhách hàng khi đến vay vốn ngân hàng
- Đầu tư: Ngân hàng thường đầu tư bằng cách nắm giữ chứng khoán và
tham gia góp vốn với các tổ chức khác như: hùn vốn vào các ngân hàng liêndoanh, các công ty Nhưng chứng khoán mà ngân hàng nắm là chứng khoánChính phủ, chứng khoán của các ngân hàng khác, các công ty tài chính và
Trang 7chứng khoán của các công ty khác Ngân hàng giữ chứng khoán vì chúng đemlại thu nhập cao và có thể bán đi để gia tăng ngân quỹ khi cần thiết Chứngkhoán thường chia thành chứng khoán thanh khoản và kém thanh khoản.Chứng khoán có tính thanh khoản cao là chứng khoán an toàn, dễ bán, ít giảmgiá nhưng có sinh lời thấp; còn chứng khoán kém thanh khoản thì có mức độrủi ro cao nhưng đem lại tỷ lệ sinh lời cao Ngân hàng nên nắm giữ hợp lýloại chứng khoán và đầu tư sao cho hiệu quả để vừa sinh lời vừa đảm bảo tínhthanh khoản khi có lượng tiền mặt rút ra.
c Các hoạt động khác:
- Mua bán ngoại tệ:
Đây là một trong những dịch vụ đầu tiên mà ngân hàng thực hiện, tức
là mua một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Trongthị trường tài chính hiện nay mua bán ngoại tệ thường là do các ngân hàng lớnnhất thực hiện Bởi vì những giao dịch này có mức độ rủi ro cao, yêu cầu phải
có trình độ chuyên môm cao
- Bảo quản vật có giá:
Bên cạnh hoạt động nhận tiền gửi và cho vay, các ngân hàng thực hiệnviệc lưu giữ vàng và các vật có giá trị khác cho khách hàng Ngân hàng giữ
vàng và giao cho khách hàng tờ biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành) Giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền gửi để thanh toán các
khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành Lợi ích của việc
sử dụng phương tiện thanh toán bắng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyếnkhích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy chứng nhận củangân hàng Đây là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán:
Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiềnmặt Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rut ngắnthời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân vì tính an toàn
Trang 8, nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm chí phí Điều này đã khuyễn khích cácDoanh nhân gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ Đâyđược coi là một bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng.
- Tài trợ các hoạt động của chính phủ:
Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường xuyên, chính phủ các nước đềumuốn tiếp cận các khoản cho vay của ngân hàng Chính phủ thường dùngmột số đặc quyền trao đổi các khoản vay của những ngân hàng lớn Khi ngânhàng trung ương thành lập, Chính Phủ đều tìm cách tham dự hoặc trực tiếpcan thiệp để có được các khoản tín dụng lớn Ngày nay Chính Phủ dànhquyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng phảithực hiện theo chính sách của Chính Phủ và tài trợ cho Chính Phủ bằng cáchmua trái phiếu Chính Phủ, hoặc cho vay ưu đãi các doanh nghiệp của chínhphủ…
Ngoài ra, ngân hàng còn có các hoạt động khác: Quản lý ngân quỹ,cung cấp dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ ủy thác và tư vấn, dịch vụ môi giới và đầu
tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ đại lý
2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ:
2.1 Khái niệm về DNVVN:
Nói đến DNVVN là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên độlớn hay quy mô của các doanh nghiệp, bởi vì khái niệm doanh nghiệp vừa vànhỏ chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một nước tại một thời điểm nhất định Mộtdoanh nghiệp đặt trong môi trường kinh tế của nước mình được xem làDNVVN nhưng trong môi trường kinh tế của quốc gia khác thì lại là doanhnghiệp lớn, hoặc doanh nghiệp cực nhỏ Song, khái niệm chung nhất vềDNVVN như sau: DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách phápnhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong nhữnggiới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị giatăng thu được theo thời kỳ theo quy định của quốc gia
Trang 9Còn đối với DNVVN ở Việt Nam, Ngày 23/11/2001 Chính Phủ đã banhành nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN Theo quy
định của nghị định này: DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá
10 tỷ đồng và số lao động trung bình hang năm không quá 300 người Căn
cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt
áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên.
Theo khái niệm này, cũng như các nước khác, để phân biệt DNVVNvới doanh nghiệp lớn, Việt Nam quan tâm tới hai tiêu thức chính là vốn và laođộng Như vậy, vốn và lao động là hai tiêu thức cơ bản để đánh giá quy mô vàphân loại doanh nghiệp Tuy nhiên do đặc điểm của các ngành nghề khácnhau dẫn đến nhu cầu lao động , nhu cầu về vốn của mỗi doanh nghiệp rấtkhác nhau và tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế
2.2 Đặc điểm của DNVVN:
DNVVN không chỉ mang nhũng đặc trưng vốn có của một doanhnghiệp mà nó còn có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
- Thứ nhất: DNVVN có vốn đầu tư ban đầu thấp, thu hồi vốn nhanh.
Là loại hình doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ nên việc đầu tư vốn sản suấtkhông yêu cầu quá lớn, hơn nữa chu kỳ sản suất của các doanh nghiệp nàythường vào các DNVVN sẽ tăng khả năng thu hồi vốn, tiếp tục tái cấp tíndụng để đầu tư vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo, đồng thời cũng tăng nhanhtốc độ luân chuyển vốn của ngân hang, tăng khả năng sinh lời Đây được coi
là một lợi thế dối với DNVVN so với doanh nghiệp lớn Khi cho DNVVNvay với số lượng khách hang lớn hơn, ngân hang sẽ phân tán rủi ro hơn đốivới cho vay doanh nghiệp lớn với cùng tổng dư nợ
Trang 10- Thứ hai: DNVVN hoạt động đa dạng ở mọi ngành nghề, năng động,
nhạy bén và dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường
Với quy mô nhỏ, DNVVN có thể hoạt động kinh doanh ở tất cả cáclĩnh vực, với giá cả hợp lý đáp ứng mọi nhu cầu sản xuất , tiêu dung dù là nhỏnhất của mọi tầng lớp xã hội Ngoài ra, với cơ sở vật chất không lớn, bộ máyqản lý gọn nhẹ nên DNVVN dễ dàng thay đổi ngành nghề, lĩnh vực sản phẩmdịch vụ kinh doanh khi có sự biến động trên thị trường Nhờ vậy mà DNVVNphân tán được rủi ro, tiết kiệm chi phí trong hoạt động kinh doanh của mình,đảm bảo hiệu quả công việc Đây là một mặt mạnh mà DNVVN có thể khaithác hết năng lực của mình, để đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu
- Thứ ba: Công nghệ còn lạc hậu, thủ công do quy mô vốn nhỏ Số
lượng DNVVN cả nước hiện nay khoảng 240000, chiếm khoảng 96% sốdoanh nghiệp trong cả nước, số DN có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 41,8%, DN
có 1-5 tỷ đồng tiền vốn chiếm 37,03%, DN co 5-10 tỷ đồng tiền vốn chiếm8,18%, nên hầu hết nguồn tài chính của các DNVVN còn hạn hẹp Mặt khácviệc tiếp cận các nguồn vốn, vấn đề đầu tiên co ý nghĩa quyết định thì cácDNVVN còn gặp phải khó khăn không nhỏ, nhất là những khoản vay trung vàdài hạn Chính vì vậy, các DNVVN ít có khả năng đầu tư đổi mới trang thiết
bị, thay thế công nghệ phù hợp, có hiệu quả Thực tế cho thấy, hầu hết máymóc thiết bị đang dung trong các DNVVN ở Việt Nam là máy móc lạc hậu,
đã khấu hao hết nhưng vẫn được tận dụng, sửa chữa để sử dụng Trình độcông nghệ được đánh giá là lạc hậu so với các nước đang phát triển trong khuvực từ 2-3 thế hệ Do vậy, sản phẩm làm ra thường có giá trị công nghệ thấp,hàm lượng chất xám ít, sức cạnh tranh tranh kém so với sản phẩm cùng loạicủa các quốc gia trong khu vực Để mở rộng sản xuất kinh doanh hay sửachữa, mua sắm các trang thiết bị mới, DN cần có nguồn vốn mang tính chất
ổn định và mang tính dài hạn Hầu hết các doanh nghiệp được thành lập mớitrong những năm gần đây, chưa xây dụng được hình ảnh riêng, chưa có uy tínnên việc vay vốn ngân hang còn gặp nhiều khó khăn Bởi vậy nguồn vốn và
Trang 11công nghệ còn hạn chế, thu nhập thấp Các doanh nghiệp này hoạt động chủyếu dựa vào nguồn vốn tự có và vay trên thị trường tài chính phi chính thức, íttiếp cận với nguồn vay của ngân hang do không đảm bảo được các điều kiệncần thiết đặc biệt là tài sản đảm bảo.
- Thứ tư: Trình độ người quản lý còn yếu kém, tay nghề của người lao
động chưa cao.Các doanh nghiệp được thành lập chủ yếu là các doanh nghiệpgia đình Do vậy trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh thường theothói quen làm việc và dựa vào mối quan hệ tray ỳ trông công việc, không cónguyên tắc làm việc,… kỹ năng chuyên môn Hơn nữa quản lý theo thị trườnghiện đại đang thiếu Các doanh nhân, các nhà quản lý DN chưa được đào tạo,thiếu nhiều về hiểu biết quản lý doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế
Người lao động trong DNVVN có tay nghề kém, ít qua trường lớp đàotạo cơ bản, chủ yếu được chuyền nghề theo kiểu cha truyền con nối, lao độngphổ thong, trình độ tay nghề đơn giản, chưa được đào tạo chiếm 60-70R lựclượng lao động trong các DNVVN Người lao động chưa chưa được đào tạotác phong công nghiệp nên thường phải đào tạo lại
Trang 12Bảng 1: Trình độ học vấn, đào tạo của lao động doanh nghiệp năm 1995.
(Đơn vị:%)
Bởi vậy, DNVVN muốn khắc phục những hạn chế này, bản than doanhnghiệp phải tự vận động kế hợp với hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo,đào tạo lại cán bộ công nhân, thợ lành nghề kỹ thuật cao, đội ngũ cán bộ quản
lý giỏi mới có thể vươn lên, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh, hôi nhập trong thời
kỳ hội nhập kinh tế mới
- Thứ năm: Các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch
vụ, gia công chế biến, thủ công mỹ nghệ là chủ yếu
Các DNVVN thường nhận gia công chi tiết, phụ kiện… của sản phẩmcho xí nghiệp lớn hoặc tổ chức thu mua, thu gom nguyên liệu, phụ kiện làmđại lý bán hang Đặc biệt mô hình DNVVN rất phù hợp với các làng nghề thủcông mỹ nghệ, những mạt hang truyền thống ở Việt Nam Ở khu vực nông
Trang 13thôn hiện nay, phổ biến với mô hình DNVVN tận dụng nguyên vật liệu và laođộng tại chỗ Có tới 80% DNVVN hướng vào khai thác, chế biến nông sảnthực phẩm, gỗ, dệt may, sản xuất gạch ngói, thuộc da, thủ công mỹ nghệ.
- Thứ 6: Mô hình tổ chức kinh doanh gọn nhẹ, quản lý đơn giản Mô
hình quản lý tổ chức trong các DNVVN thường đơn giản, mối quan hệ chủ thợ trực tiếp, thậm chí chủ doanh nghiệp trực tiếp làm thợ Quan hệ giữa laođộng và người quản lý khá thân thiết Nhiều doanh nghiệp không có sự phânchia phòng ban, bộ phận rõ rang, thậm chí một người có thể đảm nhận nhiều
-vị trí Điều kiện mặt bằng cho sản xuất kinh doanh của các DNVVN thườngchật hẹp, nhiều doanh nghiệp còn dung nhà ở làm nơi sản xuất kinh doanh,giao dịch, giới thiệu sản phẩm bán hang Chính điều này tạo sự năng động,linh hoạt trong sản xuất kinh doanh Đây là điểm mạnh, lợi thế lớn củaDNVVN trong cơ chế thị trường hiện nay, góp phần quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặ biệt là khu vực nông thôn
Trên đây là những đánh giá chung về đặc điểm của DNVVN hiện nay,
vì năng lực tài chính nhỏ bé thiếu tài sản đảm bảo, không có phương án sảnxuất kinh doanh hiệu quả nên việc tiệp cận các nguồn vốn vay của các NHTM
và các tổ chức tài chính còn rất khó khăn Đây là vấn đề được các NHTMcũng như Chính phủ quan tâm để khai thác số lượng khách hang tiềm năngnày, mở rộng tín dụng để tăng thu nhập và tồn tại trên thị trường
Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành một số chính sách như: Chínhsách khuyến khích đầu tư, chính sách về mặt bằng sản suất kinh doanh, chínhsách về thị trường và khả năng cạnh tranh, chính sách về xúc tiến xuất khẩu,chính sách về thông tin tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực Điều này nhằmkhuyến khích và tạo thuận lợi cho DNVVN phát huy tính chủ động, sáng tạo,nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực,
mở rộng lien kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tạo việc làm và nângcao đời sống cho người lao động Chính điều này giúp các ngân hang mở rộngtín dụng một cách dễ dàng hơn
Trang 142.3 Nguồn vốn của DNVVN:
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thànhlập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn vốn của doanhnghiệp chia làm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ
a Vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu gồm vốn góp ban đầu, lợi nhuận không không chia vàtăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới
- Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ
doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông- chủ
sở hữu góp Xét về hình thức sở hữu doanh nghiệp thì:
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tưcủa Nhà nước Chủ sở huux của doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước
Đối với các doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệpphải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp
Ví dụ đối với công ty cổ phần vốn do các cổ đông đóng góp, mỗi cổ đông làmột chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổphần mà họ nắm giữ
- Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia:
Nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được
sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia- nguồn vốn nội bộ là một phươngthức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vìdoanh nghiệp giảm được chi phí, bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài Nhiềudoanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư lợi nhuận để lại, nguồn vốn táiđầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã
và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư Nguồn vốn củaDNVVN lâu nay chủ yếu dựa vào nguồn vay phi chính thức Số DN được vay
từ nguồn vốn chính thức (ngân hàng) rất hạn chế bởi một phần do bản than
Trang 15doanh nghiệp và một phần do các định chế từ phía ngân hàn DNVVN ở ViệtNam có lợi nhuận để lại ít ỏi, nên nguồn vốn chủ sở hữu hình thành từ lợinhuận không chia rất hạn chế.
- Phát hành cổ phiếu mới:
Một nguồn tài chính rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy độngvốn cho doanh nghiệp Mặc dù phát hành cổ phiếu có nhiều ưu thế so với cácphương thức huy động khác, nhưng cũng có hạn chế mà DNVVN gặp không
ít khó khăn đó là: xuất phát từ cán bộ quản lý, phần đông chưa qua đào tạo,việc lập dự án để chứng minh tính khả thi của cơ hội kinh doanh là điều quásức
Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của DN có thể được bổ xung từ phần chênhlệch đánh giá lại tìa sản cố định, chênh lệch tỷ giá
b Nguồn vay nợ:
Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể
sử dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hang, tín dụng thương mại và vaythông qua phát hành trái phiếu
Vốn tín dụng ngân hàng: Đây là một trong những nguồn vốn quantrọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp màcòn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Ngân hàng đóng vai trò là ngườicung cấp vốn doanh nghiệp từ khi mới thành lập đến khi bước vào hoạt độngkinh doanh, cung cấp vốn lưu động khi doanh nghiệp có nhu cầu
Vốn tín dụng thương mại: Các DNVVN hầu như không đáp ứng đượcđiều kiện vay vốn của ngân hàng như điều kiện về khả năng tài chính, tínhkhả thi của dự án hay điều kiện tài sản bảo đảm Bởi vậy, các DNVVNthường sử dụng phổ biến tín dụng thương mại hay còn được gọi là tín dụng
Trang 16của người cung cấp Nguốn vốn này được hình thành một cách tự nhiên trongquan hệ mua bán chịu hàng hóa, dịch vụ Nguồn này có ảnh hưởng trực tiếp
to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà còn cả đối với nền kinh tế Trongmột số doanh nghiệp, nguồn vốn này dưới dạng các khoản phải trả có thếchiếm tới 20% tổng vốn, thậm chí có thể tới 40% tổng vốn
Ưu điểm của nguồn vốn này là rẻ, tiện dụng và có tính linh hoạt trongkinh doanh Hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinhdoanh một cách một cách lâu bền Tuy vậy, cần nhận thức tính chất rủi ro củaquan hệ tín dụng thương mại khi quy mô tài trợ quá lớn
3 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM ĐỐI VỚI DNVVN:
3.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng đối với DNVVN:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tín dụng, khó có thể đưa ra mộtđịnh nghĩa đầy đủ, rõ ràng về tín dụng Tùy theo góc độ nghiên cứu mà chúng
ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này Nói chng, định nghĩa một cáchđầy đủ về tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
(dưới hình thức tiền tệ hoặc hiên vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để
sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trịban đầu Có rất nhiều loại tín dụng, trong đó có tín dụng ngân hàng Tín dụngngân hàng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, là quan hệ tíndụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các cá nhân tổ chức trong vàngoài nước Ở đây, chúng ta xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản
của ngân hàng, tín dụng đối với DNVVN là một hình thức cấp tín dụng thúc đẩy sự tăng trưởng, phân tán rủi roc ho ngân hàng Vì vậy trên cơ sở tiếp cận
theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng đối với DNVVN được
hiểu như sau: Tín dụng ngân hàng đối với DNVVN là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và các DNVVN, trong đó ngân hàng chuyển quyền sử dụng cho các DNVVN trong một khoang thời gian
Trang 17nhất định theo thỏa thuận, các DNVVN có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng ngân hàng đối với các DNVVN là một giao dịch về tài sảntrên cở sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:
- Quan hệ tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở tín dụng giữa ngân hàng
và các DNVVN Đây là điều kiện tiên quyết giữa người vay và người chovay Ngân hàng tin tưởng sau một thời gian thỏa thuận sẽ được hoàn trả gốc
và lãi Người đi vay là các DNVVN, giá trị tài sản đảm bảo hay sự bảo lãnhcủa bên thứ ba
- Tính hoàn trả: Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp
trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện ( khi đến thời hạn đã thỏa thuận, các DNVVN phải thanh toán cả gốc và lãi cho ngân hàng) Giá trị hoàn trả thông
thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là các DNVVNphải trả them phần lãi ngoài vốn gốc Sự chênh lệch này là giá trả cho sự hysinh quyền sử dụng vốn tạm thời
- Tính thời hạn: Đó là sự thỏa thuận giữa ngân hàng và các DNVVN vềthời gian sử dụng giá trị đó, đảm bảo ho sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi vàthời gian cần sử dụng lượng giá trị đó Vì nguồn vốn huy động có tính chấtnhàn rỗi tạm thời nên tín dụng ngân hàng chủ yếu đáp ứng các nu cầu vốnngắn hạn
- Tính rủi ro: Là một trong những đặc trưng nổi bật của tín dụng ngânhàng nói chung, tín dụng ngân hàng đối với DNVVN nói riêng Rủi ro dothông tin không cân xứng dẫn đến rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch
3.2 Các hình thức tín dụng đối với DNVVN:
a Chiết khấu thương phiếu:
Trang 18Thương phiếu được hình thành từ quá trình mua bán chịu hàng hóa vàdịch vụ giữa các khách hàng với nhau Trong mua bán chịu hàng hóa, bên bángiao hàng và chuyển quyền sở hữu cho bên mua, nhưng chưa nhận được tiền
mà chỉ nhận được một giấy nợ thanh toán Giấy nợ đó có thể là một hóa đơnhàng hóa trả chậm và cũng có thể là một thương phiếu, bao gồm hối phiếu và
lệnh phiếu người bán (hoặc người thụ hưởng) có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả) hoặc mang đến ngân hàng để
xin chiết khấu trước hạn Vậy chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tíndụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáohạn cho ngân hàng để đổi một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi
chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có).
Bên cạnh áp dụng lãi suất chiết khấu (thường chung cho các loại thương phiếu), ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trả thêm phần lệ phí triết
khấu đối với những trương hợp cụ thể có liên quan đến rủi ro và chi phí đòitiền
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữangân hàng và những người kí tên trên thương phiếu Để thuận tiện cho khách
hàng, ngân hàng thương ký vớ khách hàng hợp đồng chiết khấu (cấp cho khách hàng hạn mức chiết khấu trong kỳ) khi cần chiết khấu, khách hàng chỉ
cần gửi thương phiếu lên ngâ hàng xin chiết khấu Ngân hàng sẽ kiểm tra chấtlượng của thương phiếu và thực hiện chiết khấu Ngoài ra, ngân hàng thươngmại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanh
khoản với chi phí thấp (vì vậy thương phiếu còn được coi là loại tài sản có khả năng chuyển nhượng – có tính thanh khoản cao).
b Cho vay:
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho NHTM Để đảmbảo cho NHTM có thể duy trì và phát triển một cách vững chắc, đòi hỏi hoạt
Trang 19động cho vay của NHTM phải an toàn và hiều quả sinh lời cao Cho vay làmột mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thực hiện điều hòa vốn trong nềnkinh teesduowis hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động
được từ trong xã hội (quỹ cho vay) để đáp ứng nhu cầu về vốn Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay (chủ nợ) yêu cầu khách hàng
của mình – người đi vay muốn vay được vốn phải tuân theo quy định, điều
kiện nhất định, đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc+lãi)
sau một thời gian nhất định Theo quyết định 1627/2001/QĐ – NHTM, ngày
31/12/2001 về việc ban hành quy chế cho vay: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Trên cơ sở nhu cầu sử dụng của từng khoản vay của khách hàng và khảnăng kiểm tra, giám sát của ngân hàng mà ngân hàng thỏa thuận với kháchàng vay về việc lựa chọn các phương thức cho vay phù hợp Để quản lý và
sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, cần thiết phải phân loại cho vay Nếu phântheo đặc điểm của nhóm vay các doanh nghiệp thường sử dụng thì có cácphương thức phân loại như sau:
- Cho vay thấu chi:
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội ( vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
nhất định và trong khoảng thời gian nhất định Giới hạn này được gọi là hạnmức thấu chi Hạn mức thấu chi được xác định trên cơ sở dư bình quân tàikhoản tiển gửi thanh toán của khách hàng và tỷ lệ hạn mức thấu chi thỏathuận giữa hai bên
Số lãi mà khách hàng phải trả = lãi suất thấu chi x thời gian thấu chi x
số tiền thấu chi
Trang 20Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ bị lãi suất phạt và bị đình chỉ sửdụng hình thức này Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng khôngphù hợp về thời gian và quy mô Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn, phần lớn
là không có đảm bảo Hình thức này nhìn chung là chỉ sử dụng đối với cáckhách hàng có dộ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn
Hiện nay, dịch vụ cho vay thấu chi được áp dụng khá phổ biến ở cácngân hàng Thông một tài khaonr được thấu chi gấp 3 lần mức lương, đápuwngss kịp thời nhu cầu thanh toán ngắn hạn của cá nhân, doanh nghiệp vớithủ tục rút vốn nhanh chóng, linh hoạt; lãi suất hợp lý, cạnh tranh
- Cho vay trực tiếp từng lần:
Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với nhữngdoanh nghiệp có nhu cầu vay vốn từng lần, không có nhu cầu vay thườngxuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi Mỗi lần có nhu cầuvay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định Mỗi món vay kháchhàng phải làm đơn xin vay và hoàn tất hồ xơ trong bộ hồ sơ tín dụng Ngânhàng phải xem xét và giải quyết căn cứ vào số tiền cho vay đã được giám đốcngân hàng duyệt, tổng dư nọ ngân hàng không được vượt mức cho vay caonhất trong quý Việc thẩm định xét duyệt cho vay, quản lý, giám sát tình hình
sử dụng vốn vay và thu hồi nợ được thực hiện theo từng hợp đồng tín dụng
Khách hàng có thể rút vốn một lần hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ
sử dụng vốn, nhưng tổng số tiền của các lần rút vốn không được vượt quá sốtiền cho vay ghi trong hợp đồng tín dụng Mỗi món vay được quy định thờihạn trả nợ cuối cùng, nhưng kỳ hạn nợ của mỗi món vay không được vượtquá thời hạn trả nợ cuối cùng của món vay Kỳ hạn nợ được ấn định phải trảvào lúc doanh nghiệp xin vay hết chu kỳ chu chuyển Theo từng thời kỳ hạn
nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi Trong quá trình khách hàng
sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả Nếu có thấy
Trang 21dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu trước hạn hoặc chuyển nợ quáhạn Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay tưng lần tương đối đơn giản, áp dụng cho các doanhnghiệp có trình độ quản trị tài chính yếu, và có nhiều rủi ro hoặc không quan
hệ tín dụng thường xuyên với ngân hàng Trên thực tế, hầu hết các doanhnghiệp mới thành lập, các DNVVN thường được áp dụng hình thức cho vaynày
- Cho vay theo hạn mức:
Đây là nghiệp vụ tín dụng mà theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp chokhách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là giới hạn tối đa số tiền chovay mà ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng trong khoảng một thờigian nhất định, có thể tính cho cả kỳ và cuối kỳ Hạn mức được cấp trên cơ sở
kê hoạch sản xuất kinh doanh và nhu cầu vay vốn khách hàng
Hạn mức tín dụng ngắn hạn = Nhu cầu vốn lao động kế hoạch – (vốn kinh doanh ngắn hạn + nguồn vốn coi như tự có + nguồn vốn khác).
Trong đó nguồn vốn kinh doanh ngắn hạn là một phần nguồn vốn kinhdoanh sử dụng cho các nhu cầu về tài sản cố định Nguồn vốn coi như tự có làtất cả các số dư các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối và khoản chênh lẹch tănggiá vật tư theo quyết định của nhà nước Nguồn vốn khác bao gồm vay ngânhàng khác hoặc vay đối tượng khác, vay nội bộ của công ty…
Hạn mức tín dụng trung dài hạn = Tổng dự toán chi phí – nguồn vốnđầu tư tự có Hạn mức tín dụng trung dài hạn thể hiện số vốn tín dụng củangân hàng tham gia vào công trình hay dự án đầu tư, giúp cho đơn vị chủ đầu
tư có đủ vốn để thực hiện công trình, cải tiến kỹ thuật cho doanh nghiệp
Trang 22Đậy là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượnngắn hạn có nhu cầu vay thường xuyên, kinh doanh ổn định và vốn vay thamgia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Khi vay theo han mứcdoanh nghiêp phải cung cấp cho ngân hàng các báo cá tài chính và phương ántài chính về bảng cân đối tài chính và nguồn vốn, lưu chuyển tiền tệ và kếtquả kinh doanh Trong nghiệp vụ này, ngân hàng không xác định trước kỳhạn nợ và thời hạn tín dụng khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ,tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng Tuy nhiên do các lần vaykhông tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệuquả sử dụng lần vay.
- Cho vay luân chuyển:
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa Doanh nghiệpkhi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể vay để mua hàng và thu nợkhi doanh nghiệp bán hàng Đây là một trong số những khoản cho vay linhhoạt nhất, yêu cầu tín dụng luân chuyển thường được ngân hàng chấp nhận
mà không đòi hỏi đảm bảo bằng bất cứ tài sản nào Ngân hàng và doanhnghiệp thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồncung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ Tùy theo tính chất yêu cầu nhiệm vụsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay người vay vốn để luân chuyển vật
tư, hàng háo nhanh và có nhu cầu vay vốn theo phương thức luân chuyển.Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa nên cả ngân hàng và doanhnghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòngngân quỹ trong thời gian tới Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định, tùytheo khối lượng và chất lượng quan hệ nợ nần của người vay Các khoản phảithu và cả hàng hóa trong kho trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay
Cho vay luân chuyển thường áp dụng với các doanh nghiệp thươngnghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
Trang 23vay – trả thường xuyên với ngân hàng Hơn nữa, rất thuận tiện cho các kháchhàng, thủ tục vay chỉ cần thực hiện một lần cho nhiều lần vay.
Theo quyển “ Quản trị HNTM” của Peter S.Rose có viết cam kết cho vay luân chuyển có hai loại Loại phổ biến nhất là cam kết vay vốn chính thức,
đây là cam kết có tính chất hợp đồng, ngân hàng đảm bảo sẽ cho khách hàngvay tới một lượng vốn tối đa xác định trước với lãi suất đã ấn định hoặc vớilãi suất thay đổi trên cơ sở lãi suất cơ bản như LIBOR Ngân hàng có thểkhông thực hiện nghĩa vụ nếu có những thay đổi bất lợi nghiêm trọng hoặckhi vay người không thực hiện các điều khoản trong hợp đồng Loại thứ hai ítchặt chẽ hơn là hạn mức tín dụng đảm bảo, ngân hàng đồng ý cho khách hàngvay trong trường hợp khẩn cấp Ngân hàng chỉ dành những cam kết tín dụngnới lỏng cho các doanh nghiệp có chất lượng tín dụng cao nhất và thườngđịnh giá thấp hơn nhiều so với loại cam kết cho vay chính thức Với loại chovay này, khách hàng được đáp ứng vốn kịp thời, việc thanh toán nhanh ngọn.Tuy nhiên, thời hạn của khoản vay không rõ ràng làm cho ngân hàng gặp khókhăn trong thu hồi vốn khi doanh nghiệp găp trở ngại trong tiêu thụ
Phương thức cho vay luân chuyển lâu nay chỉ áp dụng ở phạm vi hẹp làkhu vực doanh nghiệp nhà nước Do vậy cần mở rộng áp dụng mọi thànhphần kinh tế đơn giản dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, tiến vốn nhàn rỗi trongquá trinh lưu chuyển tiền tệ
- Cho vay trả góp:
Đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng cho phép khách hàng trả gốclàm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận Cho vay trả góp thườngđược áp dụng với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố địnhhoặc hàng lâu bền Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hóa
mà khách hàng đã mua trả góp
Trang 24Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hànghóa mua trả góp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của ngườivay Do rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là cao nhất trong khunglãi suất cho vay của ngân hàng.
- Cho vay theo dự án đầu tư:
Cho vay đầu tư dự án là loại hình cho vay có mức độ rủi ro cao nhất,nhằm hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp thực hiện đầu tư dự án mới, các
dự án nâng cấp, mở rộng sản xuất kinh doanh giúp các doanh nghiệp thuận lợitrong việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc mở rộngquy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình Nếu tính được hiệuquả kinh tế, có tính khả thi mà doanh nghiệp thiếu vốn thì ngân hàng sẽ chovay theo dự án đầu tư giúp doanh nghiệp chủ đầu tư hoàn thành dự án
Khi cho vay theo dự án, ngân hàng cần thẩm định dự án đầu tư đánhgiá chính xác về khả năng hoàn trả của dự án Quá trình thẩm định cần phảikết hợp với các hình thức khác nhau như: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, thựchiện bảo lãnh dự thầu, thông qua đó xác định được số tiền cho vay tối đa, thờihạn cho vay, vấn đề bảo đảm tiền vay, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hànghoạt động hiệu quả Đối với cho vay theo hình thức này, thường là cho vayvới các dựu án đầu tư cần có nguồn vốn lớn, việc cho vay sẽ đòi hỏi sự thamgia của một tổ chức tài chính Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận mức phítrả khi khác hàng trả trước hạn, phí cam kết trả một phần chi phí hoạt độngcủa ngân hàng
- Cho vay hợp vốn:
Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có hai hay nhiều tổchức tín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinhdoanh của một khách hàng vay vốn Nguyên tác tổ chức việc cho vay hợp vốn
Trang 25là các thành viên tự nguyện tham gia và phối hợp với nhau để thực hiện; Cácthành viên thống nhất lựa chọn tổ chức đầu mối thanh toán, các ben thỏathuận thống nhất trong hợp đồng – Cho vay hợp vốn có thể thực hiện vớikhoản cho vay ngắn hạn cũng như các khoản cho vay trung và dài hạn.
Ở Việt Nam, so với các doanh nghiệp lớn thì phương thức vay vốn của DNVN đơn điệu hơn, chủ yếu là phương thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức và cho vay theo dự án.
c Cho thuê tài sản:
Là một hình thức tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuêmáy móc và thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cớ sởhợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê Ngân hàng mua tài sản cho
khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua
lại tài sản đó Khách hàng phải trả cả gốc và lãi sau thời hạn nhất định, dướihình thức tiền thuê hàng kỳ thời gian thuê thường chiếm phần lớn thời gianhoạt động của tài sản, trong thời gian này người đi thuê không được hủyngang hợp đồng
Ngân hàng cũng phải đối đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanhkhông có hiệu quả, không trả được tiền thuê đầy đủ và dúng hạn Cho thuêkhác với cho vay ở chỗ, tài sản cho thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng,ngân hàng có quyền thu hồi nếu thấy người thuê không thực hiện cam kếtđúng hợp đồng Hình thức cho thuê mang tính rủi ro rất cao do nhiều tải sảncho thuê mang tính đặc chủng, khó bán, khi thu hồi chi phí tháo dỡ cao…
d Bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng là một dạng dịch vụ hiện, là cam kết của ngân hàngdưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
Trang 26khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụnhư cam kết Bảo lãnh là mối quan hệ phụ thuộc giữa ba bên: Bên hưởng bảolãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh Ngân hàng là bên bảo lãnh, kháchhàng là người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.
Các loại bảo lãnh theo mục tiêu:
- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn)
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán
Trang 27trong hoạt động tín dụng hằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.Chính sách tín dụng cần xác định được quy mô, thời hạn cho vay, phươngthức cho vay và lĩnh vực cho vay nào đang có xu hướng phát triển? Một chínhsách tín dụng thích hợp sẽ giúp ngân hàng xác định phương hướn sử dụng cácnguồn vốn hiện có, tạo ra một tài sản có chất lượng cao, ít rủi ro và đạt đượcmục tiêu kinh doanh chung.
Chính sách tín dụng là xương sống trong hoạt động tín dụng củaNHTM, với ba mục tiêu là: Lợi nhuận, sự an toàn và sự lành mạnh
Quy mô nguồn vốn của một NHTM quyết định quy mô tín dụng củangân hàng đó Nếu vốn chủ sở hữu lớn, ngân hàng có thể theo đuổi chính sáchtín dụng mạo hiểm, nghiêng về tìm kiếm lợi nhuận Chính sách tín dụngthường nhằm nâng cao tỷ suất sinh lời và rủi ro tiềm năng của khách hàng sẽquyết định tính an toàn và sinh lời của hoạt động tín dụng Nó thể hiện theo
sự phân tán hay tập trung cảu tín dụng Một chính sách tín dụng tập trungthường mang lại lợi nhuận cao, nhưng cũng có rủi ro cao và ngược lại
Chính sác tín dụng quy định tỷ trọng tín dụng trong tài sản có của ngânhàng, thể hiện mức độ mạo hiểm của ban lãnh đạo ngân hàng trong kinhdoanh Nếu một NHTM đầu tư vào trái phiếu hơn là cho vay thì ngân hàng đótheo chính sách tín dụng thận trọng
Đối với các tài sản có vấn đề bao gồm các khoản nợ xấu (đã quá hạn hoặc khó đòi, hoặc không đòi được) và các tài sản có biều hiện đáng ngờ.
Chính sách tín dụng cần hoạch định mức rủi ro có thể chấp nhận được chotừng nhóm khách hàng, từng ngành, từng vùng
Nói tóm lại, để tăng khả năng thu hút khách hàng thì các NHTM cầnxây dựng chính sách tín dụng phù hợp với từng nhóm khách hàng mục tiêucủa mình Truocs kia chính sách tín dụng có phần thiên vị đối với các DNNN,
Trang 28khuôn khổ pháp lý chưa tỏ rõ sự công bằng với các loại hình doanh nghiệpkhác nhau, còn phân biệt hình thức sở hữu Hơn nữa thủ tục trình duyệt xinphép còn khá rườm rà, phức tạp, thời hạn giải quyết chưa nhanh gây ảnh hưởnkhông nhỏ đối với sự phát triển chung.
Đối với các DNVVN thì chính sách tín dụng khắt khe về tài sản đảmbảo đã gây nhiều vướng mắc làm cản trở việc tiếp cận nguồn vốn vay từ ngânhàng của những đối tượng còn hạn chế về tài chính Chính sách tín dụngquyết định quy mô mở rộng tín dụng hay không, được thực hiện như thế nào
để vừa mở rộng à vẫn đảm bảo an toàn tín dụng Đây là một bài toán khó chocác nhà quản lý trong lĩnh vực ngân hàng khi mở rộng hoạt động kinh doanh
3.4 Rủi ro trong hoạt động tín dụng đối với DNVVN:
Rủi ro là vấn đề đáng lo ngại nhất của mỗi ngân hàng khi cho vay.Mục đích của cho vay là để tạo ra lợi nhuận mà muốn tạo ra lợi nhuận thìđánh đổi chi phí
DNVVN là loại hình hoạt động của DNVVN vẫn chưa được Nhà nướcquan tâm thích đáng và chưa được các ngân hàng khai thác triệt để lượngkhách hàng tiềm năng này Hoạt động tín dụng đối với DNVVN luôn tiềm ẩnnhững rủi ro thường gặp khó khăn cho cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp như:
- Rủi ro mất vốn: Rủi ro này xảy ra khi doanh nghiệp không có khảnăng trả ngân hàng các khoản vay khi đáo hạn hoặc hết thời gian hạn nợ
- Rủi ro chậm trả vốn: Là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thu hồiđược vốn đúng thời hạn đã thỏa thuận Rủi ro này có thể làm mất cơ hội kinhdoanh khác làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng
- Rủi ro không thể cho vay được: Rủi ro này có thể xảy ra khi ngânhàng quyết định không cho vay đối với những khaonr vay có chất lượng tốt,dẫn đến mất khách hàng tiềm năng Điều này là do công tác thẩm định của
Trang 29cán bộ tín dụng còn hạn chế hoặc khách hàng không xây dựng được kế hoạch,
dự án hoàn chỉnh có hiểu quả khi là hồ sơ vay vốn
Đó là những rủi ro hay gặp trong hoạt động tín dụng Theo số liệuthống kê, hoạt động tín dụng chiếm tới 60 – 70% tài sản có của các NHTM làphần tài sản sinh lời từ hoạt động cho vay, có nơi tỷ lệ này còn lên tới gần90% Tình trạng độc canh tín dụng là vấn đề sống còn trong quản trị rủi rocủa giới kinh doanh ngân hàng
Rủi ro tín dụng phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụtài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việckhông thực hiện thanh toán nợ, cho dù đó là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợđến hạn Rủi ro tín dụng là không thể tranh khỏi, là khách quan
Lịch sử hoạt động ngành ngân hàng từng chứng kiến trong những năm
1990, đã có không ít ngân hàng thương mại cổ phần bị rút giấy phép hoạtđộng hoặc phải sáp nhập với đơn vị khác vì không chịu nổi tổn thất từ nhữngrủi ro trong hoạt động tín dụng
Các NHTMQD đang đối mặt với nguy cơ rủi ro tín dụng rất lớn do cácNHTMQD áp dụng rất phổ biến hình thức cho vay không bảo đảm bằng tàisản với các DNNN trong ngành mía đường trong thời gian gần đây là rất lớn,ngành này bị lỗ nặng nhưng hiện tại các NHTMQD vẫn chưa thu hồi đượcvốn vay, trong khi dư nợ tín chấp loại này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng
dự nợ của toàn hệ thống ngân hàng Nghị định 178/1999/ NĐ – CP của Chínhphủ ngày 29/12/1999 cho phép các tổ chức tín dụng được quyền tự chủ lụachọn khách hàng để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản Điều này tiềm ẩnrất nhiều rủi ro
Có rất nhiều nguyên nhân gây rủi ro cho hoạt động kinh doanh ngânhàng
Trang 30Thứ nhất, do chủ quan phía khách hàng làm ăn thua lỗ hoặc kém hiệu
quả, cố tình chây ì hoặc lừa đảo… dẫn đến không trả nợ được Nhiều ngườivay đã không tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán kỹ lưỡng nhữngbất trắc có thể xảy ra, không có khả năng thích ứng và khắc phục khó khăntrong kinh doanh
Thứ hai, do trình độ quản lý, điều hành còn yếu kém: như quy trình chế
độ trách nhiệm không rõ ràng, việc xác định đối tượng , cơ cấu khách hàng,
cơ cấu đầu tư chưa phù hợp, xác định quy mô tín dụng năm ngoài khả năngquản lý, việc tuân thủ chế độ quy trình của các cấp ngành chưa triệt để, việcthiếu trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng
Thứ ba, do các thay đổi bất thường trên thị trường vượt quá khả năng
phán đoán của ngân hangfnhuw thay đổi lãi suất và tỷ giá, khủng hoảng nợdây chuyền, những thay đổi do quyết định của chính phủ
Thứ tư, là do phía các DNVVN:
- Các DNVVN không hiểu về quy chế cho vay của ngân hàng: CácDNVVN có tâm lý sợ thủ tục vay vốn ngân hàng rườm rà, phức tạp, việc giảiquyết cho vay của ngân hàng khó khăn Phần lớn các DNVVN thiết lập thủtục vay vốn của ngân hàng không đúng quy định mà ngân hàng yêu cầu
- Phương án sản xuất kinh doanh thiếu khả thi
- Nguồn tài chính của các DNVVN còn nhỏ, không đủ tài sản thế chấp:Nhiều DNVVN, nhất là các DNVVN ngoài quốc doanh có vốn chủ sở hữunhỏ, ở khu vực nông thôn bình quân vốn sản xuất của doanh nghiệp côngnghiệp khoảng 367 triệu đồng trong đó của doanh nghiệp sản xuất ngành nghềnông thôn chỉ có 25-35 triệu đồng Năng lực tài chính nội tại của doanhnghiệp yếu, các hệ số tài chính không bảo đảm theo yêu cầu của ngân hàng,
Trang 31không xác định được tiền lưu chuyển bởi vậy không tính toán được đúng khảnăng trả nợ trong tương lai.
Theo Cục phát triển doanh nghiệp thuộc bộ kế hoạch và đầu tuwvuawfcông bố về điều tra và thực trạng của doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo đó, hiệnchỉ có 32,38% số doanh nghiệp được khảo sát đã tiếp cận được nguồn vốnNhà nước nhưng có tới 35,24% doanh nghiệp khẳng định khó tiếp cận và32,38% doanh nghiệp không tiếp cận được
Đứng trước rủi ro như vậy, các ngân hàng rất ngần ngại khi choDNVVN vay, việc tiếp cận vốn ngân hàng của DNVVN hiện nay đang thực
sự khó khăn
Trang 32Từ năm 1994-2004 Ngân hàng có trụ sở ở 28A Điện Biên Phủ, Quận
Ba Đình Hà Nội Từ năm 2005 đến nay Ngân hàng chuyển Trụ sở chính tới
Số 3 Liễu Giai, Quận Ba Đình, Hà Nội Đồng thời một Sở giao dịch mới đượcthành lập với cùng địa điểm Trụ sở chính
Hơn 15 năm hoạt động, MB đã liên tục kinh doanh có hiệu quả và đượcNgân hàng Nhà nước Việt Nam đánh giá là một trong những ngân hàngTMCP hàng đầu Việt Nam
Sự tăng trưởng về vốn và quy mô hoạt động của Ngân hàng Quân độiluôn ổn định và liên tục trong suốt quá trình hoạt động Vốn chủ sở hữu củaNgân hàng Quân đội tăng liên tục từ 20 tỷ đồng năm 1994 lên đến 3549,8 tỷđồng tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2007.Tổng tài sản tăng trưởng tương ứng
từ 32 tỷ đồng lên đến hơn 42000 tỷ đồng năm 2008 Mức lợi nhuận của ngânhàng tăng từ 0.23 tỷ trong năm tài chính 1994 lên 270 tỷ trong năm 2006 vàđạt mức 608,9 tỷ đồng vào năm 2007 ROE của Ngân hàng luôn được duy trì
Trang 33ở mức trên 20%, và năm 2007 ROE đạt 24,7% Tỉ lệ chia cổ tức hàng nămluôn đạt trên 15%.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển, Ngân hàng Quân đội liên tục mở rộngmạng lưới hoạt động, bên cạnh đó, các công ty trực thuộc cũng là một bộphận không thể tách rời, đóng góp cho sự phát triển đa dạng và ổn định củangân hàng Bao gồm Công ty Chứng khoán Thăng Long (TSC), công ty quản
lí nợ và khai thác tài sản (AMC), và công ty Quản lí Quỹ (HFM)
Nhờ những cố gắng của mình , Ngân hàng Quân đội luôn được NHNNxếp hạng A trong suốt quá trình hoạt động, và là một ngân hàng luôn nằmtrong top những ngân hàng cổ phần làm ăn hiệu quả ở Việt Nam
1.2 Cơ cấu tổ chức và mạng lưới hoạt động.
a Cơ cấu tổ chức:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Quân đội:
Trang 34* Khái quát về chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban:
- Đại hội đồng cổ đông: Ngân hàng Quân đội là một ngân hàng cổ
phần, đứng đầu là Đại hội đồng cổ đông Ngân hàng chỉ có một loại cổ phần
là cổ phần phổ thông, có cổ đông sáng lập và cổ đông phổ thông
Cổ đông sáng lập là cổ đông đứng ra vận động thành lập Ngân hàngtheo quy định của luật các tổ chức tín dụng Các cổ đông sáng lập của Ngânhàng bao gồm: Tổng công ty bay dịch vụ, Công ty GAET, Nhà máy Z113,
Ban kiểm soát
Công ty quản lý quỹ đầu tư Hà Nội Công ty chứng khoán Thăng Long
Công ty AMC Phòng đầu tư và dự án Khối Treasury Khối khách hàng cá nhân Khối khách hàng doanh nghiệp Khối quản lý tín dụng Phòng KHTH & Pháp chế Trung tâm công nghệ thông tin Khối tổ chức-Nhân sự-Hành chính Phòng tài chính kế toán Phòng nghiên cứu & XD chính sách
Sở giao dịch& các chi nhánh
Trang 35Công ty Pesco, Công ty may 28, Công ty cơ điện vật liệu mổ 31, Công ty Tây
hồ, Tổng công ty Thành An, ông Lê Văn Bé, với tổng số vống cổ phần là16.479 triệu đồng, chiếm 82% vốn điều lệ khi thành lập Ngân hàng
- Ban Kiểm soát: là cơ quan kiểm tra hoạt động tài chính của Ngân
hàng, giám sát việc châp hành chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểmtra và kiểm toán nội bộ của Ngân hàng, Ban kiểm soát có 4 thành viên , gồm
1 trưởng ban và 3 thành viên
- Hội đồng quản trị: là cơ quan thực hiện chức năng quản trị Ngân
hàng, với mục tiêu là bảo toàn và phát triển vốn, có toàn quyền nhân danhngân hàng để quyết định các vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi củaNgân hàng, Hội đồng quản trị có 7 thành viên, gồm 1 chủ tịch HĐQT, 2 phóchủ tịch và 4 thành viên
- Ban giám đốc : có 5 thành viên, gồm 1 Tổng giám đốc và 4 Phó tổng
giám đốc
Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, là người chịu tráchnhiệm truớc hội đồng quản trị, trước pháp luật về việc điều hành hoạt độnghàng ngày của Ngân hàng Giúp việc cho Tổng giám đốc có Phó Tổng giámđốc, Kế toán trưỏng, và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ
Phó Tổng giám đốc là người giúp Tổng giám đốc điều hành một hoặcmột số lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng theo sự phân công của Tổng Giámđốc
Kế toán trưởng giúp Tổng giám đốc chỉ đạo công tác kế toán, thống kêcủa Ngân hàng
*Các phòng ban chức năng của Ngân hàng:
- Nhóm Kinh doanh thuộc Hội sở chính, gồm :
Khối khách hàng cá nhân, gồm các phòng ban sau:
Trang 36Phòng khách hàng cá nhân: là cơ quan chuyên môn cho vay cá nhânvới mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh, xử lí yêu cầu về đơn từ, tín dụng cánhân, trực tiếp quan hệ với khách hàng.
Phòng phát triển khách hàng cá nhân: là cơ quan giúp việc cho Tổnggiám đốc trong việc phát triển khách hàng cá nhân và sản phẩm cho kháchhàng cá nhân
Khối khách hàng doanh nghiệp, gồm:
Phòng khách hàng doanh nghiệp: là cơ quan chuyên môn cho vaydoanh nghiệp, xử lí yêu cầu về đơn từ, thực hiện thẩm định tín dụng, theo dõitình hình khoản vay
Phòng phát triển khách hàng doanh nghiệp: là cơ quan giúp việc choTổng giám đốc trong việc phát triển khách hàng doanh nghiệp, phát triển sảnphẩm cho khách hàng và quan hệ khách hàng
Phòng thanh toán quốc tế: chịu trách nhiệm quẩn lí và thực hiên nhiệp
vụ thanh toán với nước ngoài, liên quan đến thủ tục hải quan, xuất nhập khẩu
Khối quản lý tín dụng, gồm :
Phòng quản lí tín dụng : có chức năng thẩm định, tái thẩm đinh các dự
án, phương án đầu tư, các hồ sơ vượt hạn mức, phán quyết, soạn thảo các quytrình, quy chế về tín dụng, quản rủi ro tín dụng
Khối Treasury có phòng nguồn vốn và kinh doanh ngoại tệ, có chứcnăng quản lí tài sản nợ - có, quản lí nguồn vốn, cân đối và điều hoà vốn củatoàn hệ thống và hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Khối mạng lưới bán hàng: có Phòng Marketing thực hiện quảng báhình ảnh, sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, xây dựng và triển khai các chươngtrình chăm sóc khách hàng
- Nhóm hành chính, gồm:
Phong kế hoạch tổng hợp và Pháp chế : có chức năng lập kế hoạch hoạtđộng cho toàn hệ thống và cho ban lãnh đạo, hoạch định chính sách và chiếnlược kinh doanh cho Ngân hàng, Phòng này không trực tiếp kinh doanh