1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan về hoạt động giải mã, hoàn thiện công nghệ; thực trạng hoạt động giải mã, hoàn thiện công nghệ tại việt nam

14 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 801,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đơn đặt hàng.

Trang 1

Tổng quan về hoạt động giải mã, hoàn thiện công nghệ; Thực trạng hoạt động

giải mã, hoàn thiện công nghệ tại Việt Nam.

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng Cục thống kê, chỉ trong 02 tháng đầu năm 2010 Việt Nam đã nhập khẩu tới hơn 1,8 tỷ USD (chiếm tới 16,5% tổng giá trị nhập khẩu) máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng phục vụ sản xuất Cũng theo số liệu chính thức của Tổng Cục thống kê, giá trị nhập khẩu hàng hóa đã tinh chế của Việt Nam luôn cao hơn giá trị nhập khẩu hàng thô hoặc mới sơ chế rất nhiều Cụ thể, năm 2008 tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa tinh chế của Việt Nam là 34,6 tỷ USD gấp 2,26 lần tổng giá trị hàng thô hoặc mới sơ chế (không bao gồm lương thực, thực phẩm , đồ uống, thuốc lá) là 15,3 tỷ, con số này năm 2007 tương ứng là 26,8 tỷ và 12,3 tỷ đồng gấp 2,1 lần Qua các số liệu nêu trên có thể thấy rằng năng lực sản xuất, chế tạo trong nước hiện rất yếu kém, dẫn tới giá trị gia tăng của các sản phẩm sản xuất trong nước thấp

Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng nêu trên là năng lực công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam rất yếu (điều này đã được đề cập rất nhiều qua các nghiên cứu trước đây) Đổi mới công nghệ là con đường duy nhất để khắc phục tình trạng yếu kém về năng lực công nghệ Với hiện trạng của Việt nam, nhập khẩu công nghệ phục vụ đổi mới nhằm giải quyết bài toán trước mắt là cần thiết Tuy nhiên, nếu chỉ trông chờ vào nhập khẩu công nghệ thì giá thành, thậm chí chiến lược về sản phẩm của Việt Nam sẽ bị phụ thuộc rất nhiều vào nước ngoài Giải mã, làm chủ công nghệ nhập khẩu và hoàn thiện nhằm thương mại hóa các công nghệ từ các kết quả nghiên cứu trong nước là hai nội dung trong Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020

Về bản chất quá trình giải mã công nghệ và quá trình hoàn thiện công nghệ là những quá trình trong hoạt động R&D Tuy nhiên quá trình giải mã công nghệ có một số đặc điểm riêng Để làm rõ ta xem xét các định nghĩa về R&D sau :

OECD (Frascati manual OECD 1993) định nghĩa R&D như sau :

Nghiên cứu và phát triển thử nghiệm gồm các hoạt động sáng tạo được thực hiện trên một cơ sở có tính hệ thống nhằm tạo ra những kiến thức mới về con người, văn hóa, xã hội và sử dụng những kiến thức đó để tạo ra những ứng dụng mới.

Ngoài ra còn một số quan điểm về R&D như sau :

Hoạt R&D trong các ngành công nghiệp được doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích duy trì, hỗ trợ và mở rộng hoạt động kinh doanh hiện tại; phát triển hoạt động kinh doanh mới; mở rộng hoặc phát triển theo chiều sâu năng lực công nghệ của doanh nghiệp [1]

Những thử nghiệm và nghiên cứu có tính hệ thống liên quan đến đổi mới hoặc rủi ro công nghệ mà kết quả của nó là kiến thức có thể có hoặc không kèm theo những ứng dụng cụ thể để cải tiến sản phẩm, quy trình, vật liệu, thiết bị hoặc dịch vụ hoặc tạo ra sản phẩm mới

(Theo định nghĩa của Cục thống kê Australia (ABS, 1996, 8104.0, p.24)

Trang 2

Qua các định nghĩa trên có thể nhận thấy rõ ràng R&D bao gồm hai quá trình nghiên cứu, thử nghiệm để tạo ra kiến thức mới và áp dụng những kiến thức đó để tạo

ra những ứng dụng (có thể là sản phẩm mới, hoặc cải tiến sản phẩm sẵn có) Theo định nghĩa trên hoạt động R&D có thể chỉ đưa ra những kiến thức mới mà không tạo ra ứng dụng cụ thể Tuy nhiên, rõ ràng hoạt động R&D luôn hướng tới mục tiêu là tạo ra ứng dụng cụ thể

Sơ đồ đơn giản của hoạt động R&D như sau:

Hoạt động giải mã công nghệ có thể được xem như quá trình con người (nhân

lực R&D) sử dụng cơ sở vật chất, kiến thức tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm để thu được những kiến thức về một công nghệ cụ thể, những kiến thức này có thể bao gồm cả những kiến thức không mới (do người chủ công nghệ đã nắm được), và những kiến thức hoàn toàn mới Trên thực tế việc tiếp cận những kiến thức công nghệ từ chủ công nghệ là rất khó khăn, kể cả mua bằng tiền

Hoạt động giải mã công nghệ có thể được thực hiện bởi các tổ chức KHCN, ở các doanh nghiệp, các nhóm nghiên cứu và các các cá nhân.Trong R&D nói chung, việc đưa ra được ý tưởng nghiên cứu ban đầu, phù hợp, khả thi là rất quan trọng nó quyết định sự thành công hay thất bại của cả dự án Trong giải mã công nghệ nói riêng, ý tưởng ban đầu chính là chọn lựa công nghệ cần giải mã Trước khi quyết định thực hiện, cần xem xét các khía cạnh như : Lợi ích của dự án, Tính khả thi của dự án Tùy theo qui mô của dự án các khía cạnh trên được xem xét ở các cấp độ khác nhau bởi hội đồng gồm các chuyên gia nhiều lĩnh vực (đối với dự án lớn) hoặc tham vấn chuyên gia, tổ chức tư vấn (đối với các dự án nhỏ)

Ở những dự án cấp nhà nước, cần xem xét những yếu tố tổng thể như công nghệ cần giải mã phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội, phát triển khoa học công nghệ Những kiến thức thu được sau quá trình giải mã sẽ giải quyết được vấn đề gì của kinh tế, xã hội hoặc phát triển của ngành, đem lại lợi thế cạnh tranh nào Ở cấp độ tổ chức KHCN cần xem xét kết quả của dự án liệu có kêu gọi được sự đầu tư để phát triển thành những ứng dụng cụ thể không Ở cấp độ doanh nghiệp cũng vậy cần xác định rõ nếu thực hiện thành công dự án đem lại gì cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiêp nâng cao năng lực công nghệ ra sao (khai thác công nghệ hiệu quả hơn, có khả năng mở rộng qui mô sản xuất, khả năng cải tiến, thiết kế lại công nghệ tốt hơn hay sáng tạo ra công nghệ mới) Tùy theo mục tiêu mà đưa ra những yêu cầu cụ thể cho quá trình giải mã

Con người

Cơ sở vật

chất

Kiến thức

Nghiên cứu, thử nghiệm trên cơ sở nền tảng có

tính hệ thống

Kiến thức mới

Ứng dụng cụ thể

(nếu có)

Trang 3

Sau khi đã xác định được công nghệ cần giải mã với các yêu cầu cụ thể, tổ chức, nhóm nghiên cứu hoặc cá nhân trên cơ sở các kiến thức nền tảng tiến hành các hoạt động đo đạc, thí nghiệm, thử nghiệm để đưa ra các kiến thức về công nghệ được giải mã như bản chất, chuyên lý của các quá trình cơ-lý-hóa, vật liệu chế tạo thiết bị trong quá trình này hoàn toàn có thể có được những kiến thức mới ví dụ sử dụng vật liệu chế tạo khác cho hiệu quả tốt hơn hoạt động giải mã công nghệ không chỉ đơn thuần là xem xét tỉ mỉ (examination) để copy, bắt chước mà cần hiểu được bản chất, nguyên lý, bí quyết của công nghệ để làm chủ, hướng tới mục tiêu mở rộng, cải tiến và cao hơn nữa là tạo ra được những công nghệ tương đương Cần hiểu rằng, kết quả của hoạt động giải mã công nghệ không phải lúc nào cũng là những hiểu biết thấu đáo về toàn bộ công nghệ, có khi đó chỉ là những hiểu biết về một quá trình, bộ phận trong công nghệ từ đó làm chủ, và có khả năng cải tiến quá trình, chế tạo được bộ phận đó tuơng đương hoặc tốt hơn cũng đã là thành công

Hình 1: Sơ đồ hoạt động giải mã công nghệ

Hoạt động hoàn thiện công nghệ: Những kiến thức thu được từ hoạt động R&D

(bao gồm cả hoạt động giải mã công nghệ) có thể được sử dụng để tạo ra những ứng dụng cụ thể, quá trình này trải qua các giai đoạn khác nhau từ tạo mẫu vật trong phòng thí nghiệm, sản xuất thử nghiệm, thương mại hóa Hoàn thiện công nghệ là giai đoạn đưa công nghệ từ mẫu thử trong phòng thí nghiệm tới sản phẩm thương mại hóa Đây là giai đoạn rất quan trọng không thể thiếu để tạo ra giá trị (creat value) trong hoạt động R&D Các tổ chức nghiên cứu có thể chuyển giao kết quả nghiên cứu (chưa phải công nghệ sản xuất hoàn thiện) cho doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ tự tiến hành hoạt động hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa sản phẩm (đối với các doanh nghiệp lớn có bộ phận R&D mạnh sẽ lựa chọn hình thức này) ví dụ: sau khi nghiên cứu thành công công nghệ màn hình dẻo 2010 (flexible display) viện Nghiện cứu công nghệ công nghiệp Đài Loan (ITRI) chuyển giao cho samsung, LG, HTC để các hãng này hoàn thiện công nghệ, ứng dụng vào các sản phẩm cụ thể và thương mại hóa Trong giai

Công nghệ

cần giải mã

- Kiến thức thu được về

công nghệ cần giải mã

- Kiến thức mới

Lựa chọn công nghệ cần giải mã

- Hội đồng, cá nhân

tư vấn

- Tổ chức, doanh

nghiệp, cá nhân thực

hiện

Phân tích, thí

nghiệm, thử nghiệm

- Hội đồng, cá nhân

tư vấn

- Tổ chức, doanh

nghiệp, cá nhân thực

hiện

Trang 4

đoạn này mẫu thử nghiệm có thể được doanh nghiệp hợp tác với nhiều đối tác Ví dụ như một mẫu máy tính mới (chưa phải bản thương mại) của apple là kết quả của rất nhiều kết quả nghiên cứu và các linh kiện được sản xuất bởi nhiều nhà cung cấp khác nhau trên cơ sở các hợp đồng chặt chẽ Sau khi có bản mẫu thử nghiệm, mới tiến hành quảng bá, thu thập các số liệu về thị trường, đồng thời hoàn thiện công nghệ để sản xuất hàng loạt Trong giai đoạn này nếu sản phẩm không gặp thuận lợi về thị trường, hoặc công nghệ, thì có thể sẽ không được tiến hành hoàn thiện để sản xuất hàng loạt Một hình thức khác là tổ chức nghiên cứu phối hợp với doanh nghiệp để hoàn thiện công nghệ và thương mại hóa sản phẩm Ở hình thức này doanh nghiệp sẽ sử dụng một phần nhân lực, cơ sở vật chất của đơn vị nghiên cứu để phục vụ quá trình hoàn thiện công nghệ, thậm chí đối với những cơ sở nghiên cứu mạnh sẽ thực hiện luôn cả công đoạn sản xuất mẫu ứng dụng thử nghiệm (pilot prototyping ≠ experimental prototyping)

Hình 2: Sơ đồ hoạt động hoàn thiện công nghệ

Để tỷ lệ các kết quả nghiên cứu được chuyển thành các ứng dụng cụ thể được thương mại hóa đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu và khối doanh nghiệp, đối với cấp độ quốc gia đòi hỏi cả vai trò của nhà nước Ngay từ khi hình thành ý tưởng nghiên cứu đã phải dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp, hoặc dựa trên những mục tiêu, định hướng phát triển cụ thể của nhà nước, nói cách khác là theo các

Kết quả nghiên cứu trong

phòng thí nghiệm

Doanh nghiệp

- Tổ chức, cá nhân sở

hữu công nghệ

-Tư vấn sở hữu trí tuệ

- Doanh nghiệp nhận chuyển giao

CGCN

Ứng dụng, thử nghiệm, sản xuất thử nghiệm

- Tổ chức, cá nhân nghiên cứu, giải mã

công nghệ

Sản phẩm mẫu

Thương mại hóa, sản xuất hàng loạt

- Doanh nghiệp

- Các đối tác hợp tác

phát triển sản phẩm

- Chủ sở hữu kết quả

nghiên cứu (nếu có)

Sản phẩm hoàn thiện đến tay người dùng

- Doanh nghiệp

- Các đối tác hợp tác

phát triển sản phẩm

Trang 5

đơn đặt hàng Trong giai đoạn hoàn thiện công nghệ, vai trò của các bộ phận hỗ trợ trong trong các tổ chức nghiên cứu rất quan trọng Bộ phận phụ trách chuyển giao công nghệ, bộ phận tư vấn về sở hữu trí tuệ chính là những cây cầu nối giữa tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp Năng lực quảng bá, tư vấn tiếp thị công nghệ đến doanh nghiệp của các bộ phận này sẽ quyết định có hợp đồng chuyển giao kết quả nghiên cứu sau đó mới là hoạt động hoàn thiện công nghệ

2 Những yếu kém trong hoạt động giải mã và hoàn thiện công nghệ ở Việt Nam.

Sự yếu kém của hoạt động giải mã và hoàn thiện công nghệ ở Việt Nam thể hiện rõ nhất qua năng lực công nghệ của các doanh nghiệp nội Trong ngành - cơ khí chế tạo mặc dù đã đạt được một số tiến bộ như chế tạo được một số thiết bị, dây chuyền trong các ngành công nghiệp như : vỏ tàu chở hàng đến 54.000 Tấn, Lò nung nhà máy

xi măng 2.500 T clanke/ngày, dây chuyền sản xuất bê tông thương phẩm Tuy nhiên, những yếu kém là không thể phủ nhận, đa số máy móc, thiết bị chính phục vụ cho các ngành công nghiệp đều phải nhập ngoại vì chưa sản xuất được hoặc hàng nội địa cạnh tranh rất yếu so với hàng nhập ngoại như động cơ điện, các loại máy gia công cơ khí Trong những gói thầu ở những công trình lớn, những nhà thầu Việt Nam chủ yếu thực hiện các công việc lắp đặt hoặc sản xuất các kết cấu, mặc dù khối lượng lớn nhưng giá trị không cao Ngành công nghiệp ôtô thì đang trong tình trạng báo động về năng lực nội địa hóa, các doanh nghiệp đều có ý kiến là không thể tìm được một nhà cung cấp các phụ tùng đơn giản như ốc vít, khung ghế ngồi đảm bảo yêu cầu ở Việt Nam Trong ngành luyện kim, Việt Nam chủ yếu thực hiện công đoạn cán thép, một lượng lớn phôi thép vẫn phải nhập ngoại Các loại thép hợp kim sử dụng cho chế tạo máy vẫn phải nhập ngoại toàn bộ Đối với ngành điện tử, các liên doanh điện tử một thời là hy vọng thì nay hoạt động không hiệu quả, hoặc ngừng sản xuất (Sony Việt Nam đã ngừng nhà máy sản xuất) như : công ty điện tử Hanel, Viettronics Tân Bình Các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và là điểm sáng của ngành này đều là các doanh nghiệp FDI như samsung, Intel Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng ghi nhận tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém Năng suất cây trồng kém rất nhiều so với các nước như Thái Lan, Trung Quốc 1, công nghệ sau thu hoạch chưa đáp ứng yêu cầu, dẫn đến giảm chất lượng nông sản

Những nguyên nhân dẫn đến yếu kém:

- Đầu tư cho hoạt động giải mã công nghệ và hoàn thiện công nghệ còn thấp

Trong bối cảnh đầu tư cho KH&CN ở Việt Nam còn thấp2 thì rõ ràng đầu tư cho hoạt động giải mã và hoàn thiện công nghệ cũng sẽ thấp Đầu tư của nhà nước hiện nay vẫn chiếm phần chủ đạo chiếm khoảng 70% đầu tư của cả nước cho KHCN, tuy nhiên một phần lớn nguồn chi này không chi trực tiếp cho hoạt động R&D mà dùng để chi cho nhiều khoản khác3 Tại các Trường đại học và các Viện nghiên cứu chi cho hoạt động hoàn thiện kết quả nghiên cứu thành những ứng dụng cụ thể (những đề án

1 Năm 2009 năng suất trái cây bình quân đạt 10T/ha vào loại thấp so với khu vực và trên thế giới Năng suất cam bưởi chỉ bằng 50-60% so với Thái Lan, Ấn độ, Dứa chỉ bằng 66% so với Trung Quốc, 35% so với Phillinpin (Nguồn: Báo nông nghiệp Việt Nam)

2 Chi ngân sách cho KH&CN của Việt Nam giai đoạn 2006-2010 vào khoảng 0,5-0,6 GDP, trong khi đó theo số liệu thống kê 2007 chi ngân sách cho KH&CN của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc làn lượt là 3,4%, 3,5% và 1,5%.

3 Trong 2% tổng chi ngân sách hàng năm cho KHCN, hơn 40% được dành cho đầu tư phát triển, phân bổ cho các bộ/ngành, địa phương (chủ yếu là cho xây dựng cơ bản và hạ tầng KH&CN); 40-45% do các bộ/ngành, địa phương trực tiếp quản lý để chi thường xuyên và chi sự nghiệp cho bộ máy quản lý và nghiên cứu.

Trang 6

sản xuất thử nghiệm) còn thấp Ví dụ như theo thống kê của Trường đại học Bách Khoa Hà Nội, trong giai đoạn 2002-2006, tổng kinh phí cho nghiên cứu khoa học là 99,228 tỷ đồng (con số rất thấp) trong đó chủ yếu dành cho các đề tài với 292 đề tài NCKH cấp Nhà nước, 499 đề tài cấp Bộ, 480 đề tài cấp Trường và chỉ có 31 dự án sản xuất thử nghiệm một tỷ lệ rất thấp4

Ở khu vực doanh nghiệp đầu tư cho R&D nói chung và cho giải mã, hoàn thiện công nghệ lại càng thấp Nguyên nhân là do qui mô các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhỏ và do năng lực công nghệ yếu5 Ở một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn cũng đã có bộ phận nghiên cứu R&D nhưng những kết quả đem lại chưa cao do chỉ mới được chú trọng đầu tư trong thời gian ngắn (Tập đoàn Viettel mới chỉ thành lập phòng nghiên cứu và phát triển năm 2010, Viện nghiên cứu và phát triển thì mới đang trong giai đoạn hình thành, tuyển dụng nhân sự) Với sự đầu tư thấp rõ ràng kết quả nghiên cứu khó có thể chuyển thành những công nghệ được thương mại hóa

- Nguồn nhân lực làm giải mã và hoàn thiện công nghệ còn thiếu và yếu :

Theo thống kê chưa đầy đủ Việt Nam hiện có khoảng 40.000 người làm công tác nghiên cứu, trong số này có khoảng 21.000 người làm công tác R&D Tuy nhiên đội ngũ này dành thời gian cho hoạt động giải mã, hoàn thiện công nghệ không nhiều, nhất là ở các trường đại học, thời gian dành cho giảng dạy và các hoạt động khác chiếm rất nhiều thời gian, hơn nữa các hoạt động R&D ở Việt Nam hiện nay lại chưa chú trọng đến hoàn thiện các công nghệ từ các kết quả nghiên cứu Mặt khác lực lượng nhân lực trên chưa được tạo một môi trường làm việc tốt như: chế độ đãi ngộ còn thấp, ít có cơ hội học hỏi, tiếp túc với những kiến thức mới, trang thiết bị cơ sở vật chất cho nghiên cứu, thử nghiệm còn yếu do đó mặc dù lực lượng nhân sự đó chưa phát huy được tiềm năng

- Thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa tổ chức KHCN và doanh nghiệp.

Hiện nay, những tổ chức hỗ trợ, tư vấn chuyển giao kết quả nghiên cứu, tư vấn về sở hữu trí tuệ vẫn còn thiếu và yếu về chất lượng Trong khu vực các tổ chức nghiên cứu như các trường đại học và các Viện nghiên cứu, mặc dù nhiều trường và viện đã có những trung tâm chuyên giao công nghệ, nhưng những trung tâm này chưa thể hiện được vai trò là cầu nối giữa đơn vị và doanh nghiệp do nhiều yếu tố khác nhau như kinh phí, nhân lực Nhiều trung tâm thiên về hoạt động bán một vài công nghệ cụ thể đã hoàn thiện cho khách hàng, thậm chí là hoạt động thương mại về máy móc, thiết bị đơn lẻ, chưa chú trọng đến quảng bá các kết quả nghiên cúu đến doanh nghiệp (Ở những Viện nghiên cứu ứng dụng lớn của nước ngoài, thường có hẳn một bộ phận chuyên trách về quan hệ đối tác với các doanh nghiệp) Mặt khác các doanh nghiệp của Việt Nam cũng chưa chủ động trong việc liên kết với các tổ chức nghiên cứu để thực hiện các hoạt động giải mã và hoàn thiện công nghệ, nhăm nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp

3 Bài học kinh nghiệm trong hoạt động giải mã và hoàn thiện công nghệ ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ:

Trung Quốc:

4 Theo thống kê từ bộ KHCN Trung Quốc năm 2005 chi cho phát triển thử nghiệm ở các trường đại học Trung Quốc chiếm tới 25% ngân sách R&D, Viện nghiên cứu là 54% nguồn:

http://www.most.gov.cn/eng/statistics/2006/200703/t20070309_42000.htm

5 Năng lực công nghệ Việt Nam hiện nay theo đánh giá chỉ mới dừng ở mức mua bán, vận hành công nghệ, mức thấp nhất trong 4 mức về năng lực công nghệ.

Trang 7

Hiện nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội (hiện Trung Quốc có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới), khoa học và công nghệ Trung Quốc cũng đang phát triển rất nhanh có uy tín ngày càng lớn Chính phủ Trung Quốc đề ra mục tiêu trở thành một quốc gia đổi mới (an innovative nation) vào năm 2020 và thành cường quốc về khoa học (a global scientific power) năm 2050 Để đạt được điều này Trung Quốc (cũng như các nước phát triển sau) đều coi trọng hai vấn đề: thứ nhất là học hỏi, kế thừa những thành tựu của những nước phát triển hơn ; thứ hai là chú trọng đẩy mạnh các kết quả nghiên cứu thành những ứng dụng cụ thể để phát triển kinh tế xã hội

Trong vấn đề thứ nhất, ngoài việc có những chính sách đưa du học sinh đi đào tạo và thu hút nhân lực khoa học công nghệ ở những nước tiên tiến6, Trung Quốc rất chú trọng từng bước làm chủ các công nghệ nhập khẩu từ các nước tiên tiến, nâng cao dần năng lực từ khai thác hiệu quả công nghệ sẵn có cho đến khả năng sáng tạo ra các công nghệ mới Có một số ý kiến cho rằng Trung Quốc chỉ thường copy, ăn cắp công nghệ từ các nước phát triển mà không sáng tạo Tuy nhiên sự đứng vững và phát triển của một loạt những công ty lớn của Trung Quốc trước sự cạnh tranh toàn cầu đã chứng tỏ, bên cạnh sao chép công nghệ, Trung Quốc đã, luôn và đang nỗ lực làm giải mã làm chủ các công nghệ tiên tiến và dần tiến tới mức có thể sáng tạo ra những công nghệ của riêng mình Một số ví dụ điển hình như : hãng Lenovo của Trung Quốc, Lenovo ban đầu đã mua toàn bộ công nghệ sản xuất máy tính xách tay của IBM Trong giai đoạn đầu Lenovo dựa hoàn toàn trên công nghệ của IBM và vẫn phải dựa vào thương hiệu của IBM để có chỗ đứng trên thị trường Tuy nhiên, hiện nay Lenovo đã hoàn toàn làm chủ được công nghệ sản xuất máy tính xách tay, đưa ra rất nhiều dòng sản phẩm với thương hiệu độc lập và được thị trường chấp nhận, thậm chí Lenovo đã có thể tự thiết kế, sản xuất được siêu máy tính mang thương hiệu riêng (Deep Comp Lenovo) Một ví dụ nữa là ngành công nghiệp xe hơi của Trung Quốc Ban đầu các công ty của Trung Quốc cũng chỉ là các công ty lắp ráp đơn thuần cho các tên tuổi lớn

Tiêu biểu là công ty Geely, ban đầu cũng chỉ là lắp ráp, tiếp sau là nhái các mẫu xe của

các hãng lớn như Daihatsu, Toyota Đến nay Geely đã có thể làm chủ công nghệ để đưa ra những mẫu xe của riêng mình chiếm lĩnh thị trường trong nước và đang có tham vọng mở rông ra thị trường nước ngoài bằng thương vụ mua lại thương hiệu Volvo của Thụy Điển

Vấn đề thứ hai là Trung Quốc rất chú trọng đến hoạt động hoàn thiện công nghệ, nói theo cách khác là biến các kết quả nghiên cứu thành những sản phẩm thương

mại hóa để tạo ra giá trị Để tạo được điều này chính phủ Trung Quốc bên cạnh đầu

tư cho nghiên cứu cơ bản đã đầu tư rất mạnh cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng.

Theo số liệu thống kê, từ năm 1995 đến năm 2009 đầu tư cho R&D của Trung Quốc vào doanh nghiệp và các Viện nghiên cứu ứng dụng cao hơn hẳn so với đầu tư vào các Trường đại học

66 Theo số liệu thống kê của Bộ GD Trung Quốc năm 2010 Trung Quốc có 1,27 triệu du học sinh đứng đầu thế giới trong đó top 10 nước đông du học sinh nhất là Mỹ, Úc, Nhật, Anh, Hàn Quốc, Canada, Singapore, Pháp, Đức và Nga

Trang 8

Bảng 1: Đầu tư cho R&D của Trung Quốc từ 1995 đến 2009

Trung Quốc cũng đã huy động được nguồn đầu tư rất lớn từ doanh nghiệp cho hoạt động R&D.Theo số liệu thống kê năm 2007 khối doanh nghiệp đầu tư cho

hoạt động R&D là 261,1 tỷ NDT chiếm tới 70% chi cho R&D (Chính phủ chi 91,35 tỷ NDT chiếm 25% còn lại là các nguồn khác)

Hình 3 : Dòng tiền đầu tư cho hoạt động R&D của Trung Quốc năm 2007

Tỷ lệ các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển thử nghiệm rất cao ở doanh nghiệp lên tới 91,7% và Viện nghiên cứu là 53,5%

Trang 9

Hình 4 : Tỷ lệ các hoạt động trong lĩnh vực R&D của Trung Quốc 2006

Trung Quốc cũng rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực làm R&D Theo số

liệu thống kê chính thức từ Bộ KH%CN Trung Quốc năm 2006 Trung Quốc có 1.502.000 người tham gia vào hoạt động R&D (Hiện nay, Việt Nam khoảng 21.000) Đặc biệt tỷ lệ nhân lực tham gia hoạt động R&D ở doanh nghiệp là rất cao chiếm tới 65,7%, Viện nghiên cứu là 15,4% Một đặc điểm nữa chứng tỏ Trung Quốc rất ưu tiên phát triển hoạt động hoàn thiện công nghệ là tỷ lệ phần trăm nhân lực tham gia vào hoạt động phát triển thử nghiệm (experimental development) rất cao đến 73,1%, tỷ lệ này ở nghiên cứu ứng dụng là 19,9% và nghiên cứu cơ bản là 8,7%

Bảng 2 : Số liệu thống kê nhân lực S&T và nhân lực R&D của Trung Quốc

Hình 5 : Tỷ lệ nhân lực tham gia vào lĩnh vực R&D theo hoạt động

Trang 10

Nhật Bản

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã có những chính sách rất cụ thể để thúc đẩy hoạt động nhập khẩu công nghệ, máy móc tiên tiến từ nước ngoài

Trước hết, Nhật Bản có chính sách ưu đãi thuế quan, miễn thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc quan trọng, tiên tiến, mới (mà trong nước không sản xuất được) khi đã xác định rõ ngành, lĩnh vực, thời gian dành cho nó phát triển ; Có chính sách ưu đãi hoặc miễn thuế đối với các sản phẩm của những ngành mới ra đời như cơ khí cơ bản, phụ tùng cơ khí, hoá dầu, cơ khí điện tử…; Từ năm 1950 – 1974, Nhật Bản có hơn 15.000 vụ nhập khẩu kỹ thuật với gần 70% nhập từ Mỹ, tiết kiệm được hàng trăm tỷ USD, nâng ngành công nghiệp chế tạo lên tầm cỡ thế giới Trong giai đoạn này các

công nghệ được Nhật Bản nhập khẩu đều là những công nghệ mang tính đột phá

như bán dẫn, vô tuyến truyền hình, công nghệ sản xuất kháng sinh, năng lượng nguyên

tử, sản xuất thép lò quay, sản xuất ôtô hàng loạt Đồng thời, Nhật Bản cho phép ưu đãi

thuế đối với tập thể liên doanh các xí nghiệp bỏ vốn nghiên cứu, thí nghiệm để cải

tiến hoặc phát triển sản phẩm Hoạt động nghiên cứu ứng dụng công nghệ không chỉ ở các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản cũng rất chú trọng Kết quả là trong thời kỳ này chỉ số sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng của Nhật Bản tăng rất mạnh từ 160 năm 1955 lên 1345 năm 1970 Trong giai đoạn năm 1971 đến năm 1980, Nhật Bản đã học hỏi được rất nhiều từ Mỹ và đã làm chủ được nhiều công nghệ mũi nhọn ví dụ như Nhật Bản đã chế tạo được máy tính cá nhân chỉ sau Mỹ vài năm

Trong giai đoạn hiện nay, Nhật Bản cũng đầu tư rất mạnh cho nghiên cứu phát triển 7 Nhật Bản cũng liên tục cải cách hệ thống giám sát, đánh giá để đảm bảo các hoạt động R&D được trơn tru và các kết quả được ứng dụng để đem lại lợi ích cho xã hội Nhật Bản đã có những thành công rực rỡ như tạo ra đĩa CD đầu tiên năm 1982, thử nghiệm thành công dịch vụ điện thoại di động năm 1987, ứng dụng ống carbon vào trong ngành vật liệu năm 1991 Nhật Bản cũng có đội ngũ làm R&D rất đông đảo theo số liệu thống kê chính thức năm 2006 là 820.000 người

Bảng 3 : so sánh chi cho R&D và số lượng người nghiên cứu năm 2006

Một đặc điểm nữa là Nhật Bản huy động được khu vực tư nhân tham gia vao R&D rất lớn hơn cả Mỹ và Châu Âu Theo số liệu thống kê chính thức năm 2005 số tiền khu vực tư nhân chi cho R&D chiếm tới 80,7% Mối liên kết giữa các công ty tư nhân và các đối tác nghiên cứu phát triển rất cao, theo số liệu thống kê số tiền các công

ty này trả cho các đối tác nghiên cứu (các Viện nghiên cứu, trường đại học hàng năm đều tăng từ 11.295 triệu Yên năm 1998 lên 21.400 triệu Yên năm 2007 chiếm tới 16% số tiền chi cho nghiên cứu phát triển của khu vực này

7 Trong giai đoạn năm 2006-2010 Nhật Bản chi xấp xỉ 25 nghìn tỷ Yên cho hoạt động R&D (Nguồn: Sách trắng khoa học và công nghệ Nhật Bản)

Ngày đăng: 03/12/2015, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w