b Hiện trạng công nghệ của ngành cơ khí: Trình độ công nghệ của ngành cơ khí đã không ngừng được nâng cao đápứng nhu cầu phát triển của ngành, cụ thể như sau: - Về thiết kế và tư vấn thi
Trang 1Vụ KHCNN
Báo cáo hiện trạng công nghệ Việt Nam 2009
(Phục vụ Đề án đổi mới công nghệ)
I Hiện trạng trình độ công nghệ ngành công nghiệp
1 Sơ lược chung về hiện trạng của ngành công nghiệp
cả nước Giai đoạn 2001-2005 tỷ lệ tăng trưởng bình quân đạt trên 17%/năm,giai đoạn 2006-2007 đạt tỷ lệ 16% Nếu như năm 1995 giá trị toàn ngành côngnghiệp tạo ra là 103.374 tỷ đồng thì đến năm 2005 con số này đã là 416.612 tỷđồng tăng gấp hơn 4 lần, năm 2007 đạt 570.770 tỷ đồng tăng 1,37 lần so vớinăm 2005 Tốc độ tăng trưởng nhanh góp phần làm cho cơ cấu kinh tế dịchchuyển tích cực, nếu như năm 1995 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm28,7% thì đến năm 2000 con số này đã là 36,7 % và năm 2006 đạt con số41,5% Tỷ trọng xuất khẩu của ngành công nghiệp ngày càng cao nếu như năm
2005 chiếm 75% thì năm 2007 đạt 79,5%, đến năm 2008 đã chiếm đến 82%.Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao bao gồm dầu thô, dệt may, giày dép,sản phẩm gỗ, hàng điện tử…đặc biệt một số mặt hàng mới có tỷ lệ tăng trưởngnhanh như cơ khí chế tạo, dây cáp điện, sản phẩm nhựa…
Trong thành quả chung của ngành công nghiệp, có sự đóng góp rất xứngđáng của hoạt động KH&CN Khoa học và công nghệ đã góp phần tạo ra nhữngchuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất, nâng caonăng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa của ngành công nghiệp Những đổimới công nghệ trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là sản xuất cơ khí chế tạokết cấu thép chuyên dụng, đóng tàu, điện tử, điện lực, dầu khí, khai thác tàinguyên khoáng sản đã góp phần làm cho sản xuất công nghiệp và toàn bộ nềnkinh tế tăng trưởng cao liên tục những năm qua
b) Một số tồn tại:
Những thành tựu đạt được của ngành công nghiệp trong giai đoạn qua là rấtđáng ghi nhận, tuy nhiên theo đánh giá thì chất lượng tăng trưởng công nghiệpchưa cao, thời kỳ 2001-2005 giá trị tăng thêm sản xuất công nghiệp tăng bìnhquân 10,11%/năm, giai đoạn 2006-2007 đạt 10,27%/năm nhưng năm 2008 chỉ
Trang 2đạt 8,14% và theo số thống kê 8 tháng đầu năm 2009 giảm còn 4,0%/năm.Ngành công nghiệp vẫn chỉ phát triển theo bề rộng, theo hướng gia công, lắp ráp
là chủ yếu Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn luôn cao hơn tốc độtăng giá trị tăng thêm điều này cho thấy hiện quả còn rất thấp của ngành Hiệuquả đầu tư vào công nghiệp ngày càng giảm sút và vốn đầu tư phát triển của nhànước vẫn chiếm từ 38-52% cho ngành công nghiệp làm giảm cơ hội đầu tư củakhu vực tư nhân vốn là khu vực năng động và hiệu quả Công nghiệp phụ trợkém phát triển, sức cạnh tranh của sản phẩm hỗ trợ còn rất thấp do năng suấtthấp, giá thành cao chất lượng không ổn định, không đáp ứng được yêu cầu pháttriển của nền kinh tế Thiếu các cơ sở sản xuất vật liệu cơ bản như sắt,thép,nguyên liệu nhựa, cao su, hóa chất cơ bản,bông, sợi, da… các khâu tạophôi, rèn, nhiệt luyện, sản xuất khuôn mẫu còn yếu, tình trạng ô nhiễm môitrường nước thải ngày càng nghiêm trọng vượt giới hạn cho phép
Khả năng cạnh tranh tổng thể của ngành công nghiệp còn yếu so với cácnước trong khu vực, những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao đều là nhữngngành được nhà nước bảo hộ Lợi thế cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam chođến nay vẫn dựa trên nguồn lao động giá rẻ và tài nguyên sẵn có mà những lợithế này đang có xu thế giảm rất nhanh
2 Hiện trạng công nghệ của các ngành công nghiệp
2.1 Ngành cơ khí
a) Sơ lược chung hiện trạng chung
Ngành cơ khí là một ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quantrọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo độc lập tự chủ về kinh tế,củng cố an ninh, quốc phòng, góp phần nâng cao đời sống nhân dân Đến nayngành 7.225 doanh nghiệp và có 668.720 người, chiếm gần 21,53% tổng số laođộng các ngành công nghiệp chế biến và 4,29% so với tổng số lao động trongcác doanh nghiệp của cả nước Ngành cơ khí bao gồm 08 nhóm chuyên ngànhlà: thiết bị toàn bộ; máy động lực; cơ khí phục vụ nông-lâm-ngư nghiệp và côngnghiệp chế biến; máy công cụ; cơ khí xây dựng; cơ khí đóng tàu thủy; thiết bị kỹthuật điện - điện tử; cơ khí ô tô - cơ khí GTVT Ngành cơ khí hiện chiếm gần11% tổng vốn đầu tư và 8,4% lực lượng lao động toàn ngành công nghiệp, trongnhững năm qua, ngành luôn đạt mức độ tăng trưởng cao Theo số liệu thống kê,giá trị sản xuất toàn ngành cơ khí năm 2007 đã tăng gấp 7,92 lần so với năm
1995, nếu như năm 1995 chỉ đạt giá trị sản lượng 13.839,9 tỷ đồng thì năm 2007
đã tăng lên 109.679,4 tỷ đồng (theo giá cố định 1994) và chiếm khoảng 19,22%giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, đáp ứng được khoảng 31,1% nhu cầu thịtrường trong nước Tốc độ tăng trưởng chung về giá trị sản xuất công nghiệp củatoàn ngành cơ khí trong 6 năm 1995 - 2000 là 40,74%/năm, trong giai đoạn2000-2007 là 18,4%, cao hơn mức tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp.Những năm gần đây, sản phẩm của ngành đã tham gia xuất khẩu, năm 2006 đạt1,9 tỷ USD, năm 2007 đạt 2,3 tỷ USD, năm 2008 đạt 3,0 tỷ USD, dẫn đầu trong
số sản phẩm xuất khẩu là các sản phẩm về dây cáp điện, các sản phẩm chế tạo từgang thép và sản phẩm tàu thủy, có thể khẳng định đây là những bước tiến vượtbậc của ngành
Trang 3Cho đến nay, chúng ta đã có thể chế tạo được các loại tàu có chất lượng,đạt tiêu chuẩn quốc tế như tàu chở hàng tải trọng từ 6.500 tấn đến 53.000 tấn,các loại tàu cao tốc phục vụ cho an ninh, quốc phòng, các loại tàu chở hàngconteiner, tàu chở dầu thô cỡ 115.000 DWT, kho nổi chứa xuất dầu thô 150.000tấn Hiện ngành đóng tàu đã có thể hoàn toàn thoả mãn nhu cầu trong nước và
đã ký được nhiều hợp đồng đóng tàu xuất khẩu cho các nước khu vực Châu Âu,Nhật Bản, Hàn Quốc theo đánh giá xếp loại hiện Việt Nam là nước đứng thứ
5 trên thế giới
Về thiết bị toàn bộ cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể: Tổng công
ty Lắp máy Việt Nam đã trở thành nhà tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khitrúng thầu các gói thầu số 2 và 3 của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, tiếp đến làchế tạo và lắp đặt phần lớn các thiết bị chính của Nhà máy nhiệt điện Na Dương,Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 3, 4; tổng thầu EPC dự án Nhà máy nhiệt điệnUông Bí mở rộng công suất 300MW với tổng vốn đầu tư lên tới 300 triệu USD,Nhà máy điện Cà Mau công suất 750 MW
Ngành cơ khí giao thông đã sản xuất, lắp ráp được các loại xe buýt đến 80chỗ chất lượng cao với tỷ lệ nội địa hoá đến 40%; chế tạo ô tô tải nông dụng, ô
tô tải nặng và xe chuyên dụng tỷ lệ nội địa hóa đạt trên 50%; đã đóng được cáctoa xe lửa cao cấp chở khách với tỷ lệ nội địa hoá có thể đạt tới 70%
Ngành công nghiệp xe gắn máy đã có những tiến bộ vượt bậc trong khoảng
5 năm trở lại đây: không những thoả mãn nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩukhoảng 150.000 xe/năm (chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài) Tỷ lệ nội địa hoá các loại xe gắn máy do trong nước sản xuất đạt khoảng
80 - 90%
Đối với các nhà máy thuỷ điện có công suất đến 300MW, trước đâychúng ta vẫn phải nhập khẩu cả các thiết bị cơ khí thuỷ công thì nay toàn bộphần này có thể do các doanh nghiệp cơ khí trong nước đảm nhận Các Liêndanh cơ khí trong nước đã chế tạo và cung cấp các thiết bị cơ khí thuỷ công chocác nhà máy thuỷ điện: A Vương, Plêykrông, Bản Vẽ, Quảng Trị, Sesan 3,Sesan 4, Đồng Nai, Huội Quảng, Bản Chát v.v với tổng trọng lượng thiết bịlên tới hàng chục ngàn tấn
Các ngành sản xuất cơ khí khác như sản xuất động cơ Diesel các loại, sảnxuất xe đạp, máy bơm nước, các loại cần trục, cầu trục, cơ khí xây dựng v.v đều đạt được những thành tích đáng kể Ngành xe đạp với năng lực sản xuấttrong nước khoảng trên 3 triệu xe/năm đã xuất khẩu sang thị trường Châu Âutrong giai đoạn 2001 - 2005 các sản phẩm với giá trị khoảng 760 triệu USD.Ngành sản xuất động cơ Diesel với năng lực hiện tại đến 30.000 chiếc/năm, đápứng được khoảng 30% nhu cầu thị trường trong nước Chúng ta đã có sản phẩmđộng cơ Diesel nhỏ xuất khẩu sang các nước Trung Đông, ASEAN v.v Xínghiệp cơ khí Quang Trung (Ninh Bình) là một doanh nghiệp dân doanh nhưng
đã tích cực đầu tư, đi sâu vào nghiên cứu thiết kế các loại cầu trục, cổng trục,thiết bị nâng chuyển và đã chế tạo thành công cầu trục có sức nâng đến 750 tấntrước đây vẫn phải nhập ngoại v.v
Trang 4b) Hiện trạng công nghệ của ngành cơ khí:
Trình độ công nghệ của ngành cơ khí đã không ngừng được nâng cao đápứng nhu cầu phát triển của ngành, cụ thể như sau:
- Về thiết kế và tư vấn thiết kế: Lực lượng cán bộ KHCN của ngành đãtiếp cận và có khả năng khai thác được các phần mềm trợ giúp thiết kế hiện đại.Theo đánh giá hiện đã ở mức tiên tiến so với các nước trong khu vực và ở mứctrung bình so với các nước tiên tiến trên thế giới Đến nay Viện Nghiên cứu cơkhí, các Tập đoàn cơ khí lớn như Tổng công ty máy và Thiết bị Công nghiệp,Tổng công ty cơ khí xây dựng… đã hoàn toàn làm chủ thiết kế thiết bị cơ khíthủy công cho các nhà máy thủy điện công suất lớn đem lại doanh thu, việc làmcho lao động của ngành của ngành Tập đoàn tàu thủy đã có khả năng thiết kế
kỹ thuật được tàu chở hàng đến 54.000T, thiết kế công nghệ được tàu chở dầuthô đến 100.000T; nghiên cứu, thiết kế công nghệ và giải pháp thi công một sốloại tàu khác như tàu chở 4.900 ô tô, tàu LASH 10.000T, tàu xử lý sự cố tràndầu Viện IMI, Tổng công ty cơ khí giao thông đã làm chủ thiết kế dây chuyềnsản xuất bê tông, Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp, Viện cơđiện nông nghiệp (dây chuyền chế biến thức ăn gia súc, sản phẩm nôngnghiệp…)…
- Công nghệ đúc: đã có những bước tiến cơ bản trong giai đoạn qua, hầuhết các công nghệ đúc hiện đại như đúc furan, đúc litâm, đúc áp lực, đúc mẫu tựthiêu…đã được một số doanh nghiệp ứng dụng Chất lượng sản phẩm đúc đượcnâng cao và ổn định nhờ các thiết bị phân tích, kiểm tra tiên tiến như phân tíchthành phần bằng quang phổ phát xạ, phân tích cấu trúc kim loại và đánh giá cơtính, kiểm tra khuyết tật đúc bằng siêu âm, một số đã sử dụng các phần mềm và
mô phỏng quá trình đúc Theo đánh giá chung mặc dù công nghệ đúc vẫn còntình trạng nhỏ lẻ, công suất nhỏ, đa số các xưởng đúc còn lạc hậu, nhiều nơi cònđầu tư thiếu hoàn chỉnh tuy nhiên so với khu vực vẫn được đánh giá ở mức tiêntiến Một số các Công ty như Bơm Hải Dương, Công ty Cơ khí Hà Nội, Xínghiệp cơ khí Quang Trung Ninh Bình đã đầu tư dây chuyền đúc hiện đại, trong
đó Công ty Bơm Hải Dương được đánh giá ở tốp đầu trong khu vực về côngnghệ đúc phục vụ sản xuất bơm
- Công nghệ hàn: đã có sự đầu tư và đổi mới rất mạnh về thiết bị, đến naycác doanh nghiệp cơ khí đã sử dụng rộng rãi các thiết bị và công nghệ hàn bán
tự động với khí bảo vệ và tự động dưới lớp xỉ bảo vệ Một số ngành như sảnxuất ôtô, xe máy đã sử dụng rô bốt hàn, một số công nghệ hàn đặc biệt như hànđiện xỉ, hàn bán tự động dây lõi thuốc có khí bảo vệ đã được một số công tynhận chuyển giao công nghệ Điều đặc biệt là các nhà khoa học trong nước đãnghiên cứu làm chủ được các công nghệ hàn nối các trục lớn, các tấm dầy đảmbảo chất lượng tốt nhờ đó hiện nay ngành cơ khí hoàn toàn có khả năng chế tạocác bánh răng, hộp giảm tốc cỡ lớn thay thế nhập khẩu
Do làm chủ được công nghệ hàn hiện đại, cho đến nay Việt Nam đã cóthể chế tạo được các nồi hơi có áp suất cao, các tàu thuỷ có trọng tải đến hàngtrăm nghìn tấn, các thùng tháp lớn, kết cấu thép và hệ thống dây chuyền thiết bị,theo đánh giá trcình độ công nghệ hàn đạt mức tiên tiến trong khu vực
Trang 5- Công nghệ gò, rèn: còn rất lạc hậu so với khu vực hầu như chưa có thayđổi, ngoại trừ chỉ có một số đầu tư của các công ty thuộc Tổng công ty máyđộng lực và máy nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của các công ty liên doanhsản xuất phụ tùng.
- Công nghệ gia công: Công nghệ gia công không phoi, là công nghệ giacông hiện đại cho phép giảm thiểu vật liệu gia công cũng như thời gian, nănglượng sử dụng cho gia công chi tiết, tuy nhiên công nghệ này vẫn chưa pháttriển ở Việt Nam do chi phí đầu tư thiết bị lớn
Công nghệ gia công có phoi đã có một số các doanh nghiệp mạnh dạn đầu
tư các máy tự động điều khiển số (CNC) trong gia công cắt gọt, nhờ đó tăng độchính xác, ổn định chất lượng và năng suất lao động Xí nghiệp Cơ khí QuangTrung Ninh Bình đã mạnh dạn đầu tư các Trung tâm gia công hiện đại vào loạibậc nhất trong khu vực, tuy vậy hiện vẫn có đến 70% máy công cụ vẫn là máyvạn năng, nhiều máy có tuổi đời 25-30 năm khó đảm bảo độ chính xác khi giacông Đánh giá chung về trình độ công nghệ gia công các thiết bị tĩnh (Thùng,tháp, kết cấu thép…) hiện đạt mức độ tiên tiến trong khu vực các sản phẩm đãđạt tiêu chuẩn xuất khẩu, đối với công nghệ gia công máy công cụ hiện ở mứcyếu so với khu vực
- Công nghệ xử lý bề mặt (nhiệt luyện, phun phủ, mạ…): do không đượcđầu tư đổi mới do vậy hiện ở mức lạc hậu so với khu vực Đây cũng là một trongnguyên nhân dẫn đến chất lượng sản phẩm cơ khí không ổn định và khó cạnhtranh được với hàng ngoại nhập
- Công nghệ kiểm tra, lắp ráp, hiệu chỉnh sản phẩm: Công nghệ này hiệnvẫn còn rất lạc hậu, hầu hết vẫn thực hiện thủ công, dựa vào công nhân có trình
độ cao ít được đổi mới thiết bị (trừ khâu đúc và hàn và ở một số doanh nghiệplớn)
c) Định hướng phát triển công nghệ trong ngành cơ khí
Nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong công nghiệp cơkhí-chế tạo máy, phát triển ngành cơ khí-chế tạo máy đủ sức trang bị một sốthiết bị, máy móc đáp ứng nhu cầu trong nước, tiến tới xuất khẩu:
- Về thiết kế kỹ thuật, thiết kế công nghệ: Tiếp tục nâng cao khả năngkhai thác tính năng các phần mềm trợ giúp thiết kế tiên tiến hiện có để có thểlàm chủ hoàn toàn thiết kế kỹ thuật, thiết kế công nghệ các sản phẩm của ngành
cơ khí trên cơ sở nhận chuyền giao công nghệ từ các chuyên gia nước ngoàithông qua các dự án đầu tư của ngành công nghiệp như hóa chất, nhiệt điện, khaikhoáng…
- Công nghệ ngành đúc: Triển khai nhân rộng các công nghệ đúc tiên tiến,tiêu chuẩn hóa vật liệu làm khuôn và công nghệ đúc chính xác kết hợp việc tăngcường khâu cơ giới hóa, tự động hóa, đầu tư thiết bị nấu luyện và thiết bị phântích kiểm tra nhanh nâng cao chất lượng vật đúc và giảm tối đa tỷ lệ sai hỏngtrong quá trình đúc Nghiên cứu và nắm vững các dây chuyền công nghệ đúc áplực cao để vận dụng có hiệu quả chúng cho đúc các chi tiết từ hợp kim nhômchất lượng cao Chú trọng nâng cao trình độ công nghệ rèn khuôn dập, cán tạophôi, ép chảy, ép và dập sau thiêu kết để tạo sự đồng bộ trong quá trình tạo phôi,
Trang 6đây vẫn là một trong các khâu được đánh giá là yếu nhất hiện nay của ngành cơkhí.
- Công nghệ hàn: Song song với việc ứng dụng rộng rãi các loại côngnghệ hàn mới cần tập trung nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhưcông nghệ hàn điện hồ quang tự động hoặc bán tự động và một số công nghệnhư hàn plasma, hàn chùm tia điện tử v.v phát triển ứng dụng công nghệ hànđiện xỉ cho việc tạo phôi, các chi tiết có chiều dày lớn và kích thước lớn (cáctrục lớn có bậc cho ngành năng lượng, ngành công nghiệp tàu thủy…) Tiếp tụcnghiên cứu để chế tạo các loại thiết bị và vật liệu hàn chất lượng cao, trong đó tựchế tạo que hàn thép không gỉ, que hàn gang và các loại que hàn cường độ cao…
- Công nghệ gia công: Tiếp tục đổi mới các máy cắt gọt thế hệ cũ có tuổiđời đến 30 - 40 năm sang các máy cắt gọt thế hệ mới có điều khiển NC và CNCcác trung tâm gia công, đây là một xu thế tất yếu Cùng với việc nâng cấp, hiệnđại hóa thiết bị, máy móc hiện có, cần áp dụng rộng rãi công nghệCAD/CAM/CNC tại các trung tâm gia công nhằm nâng cao chất lượng sảnphẩm và tính linh hoạt thay đổi mẫu sản phẩm; kết hợp cơ khí - điện tử phục vụ
tự động hóa thiết kế và các quá trình điều khiển, kiểm tra, đo lường nâng caochất lượng sản phẩm
- Công nghệ xử lý bề mặt: Tập trung đầu tư vào các khâu nhiệt luyện, sơn
mạ, phun phủ, thấm tôi liên hoàn tăng bền bề mặt đạt trình độ tiên tiến, chỉ cónhư vậy mới có thể nâng cao chất lượng sản phẩm
Có thể thấy rằng với sự phát triển của công nghệ trong các ngành đã nêucũng đã đáp ứng được phần nào yêu cầu đặt ra trong chiến lược phát triển ngành
cơ khí đến năm 2010 và đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của ngành
cơ khí Tuy nhiên có thể thấy rằng sự phát triển công nghệ trong các ngành nghềthuộc lĩnh vực cơ khí chưa đồng bộ và chưa thực sự tạo được sự phát triển độtbiến để có thể bắt kịp nhanh với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thếgiới
d) Đánh giá và Kết luận:
Trong những năm qua, đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ củangành cơ khí đã nhận được quan tâm đặc biệt Ngoài các nhiệm vụ khoa học vàcông nghệ thuộc các chương trình cấp nhà nước, ngành cơ khí đã có tới 05 dự ánkhoa học và công nghệ thuộc các lĩnh vực đóng tàu, thiết bị điện, thiết bị thủyđiện, thiết bị nhiệt điện, xi măng với kinh phí đầu tư từ ngân sách SNKH lên đếnhàng trăm tỷ đồng Chính vì vậy trình độ công nghệ của ngành cơ khí đã đượcnâng cao rõ rệt, hầu hết các công nghệ tiên tiên trên thế giới về thiết kế, tạophôi, gia công đã được các cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp tiếp cận và ứngdụng Một số các công nghệ tiến tiến đã được các cơ sở nghiên cứu nắm vững vàtiến hành chuyển giao trong ngành như công nghệ CNC hóa các máy công cụ,công nghệ hàn, công nghệ đúc tiên tiến …, các doanh nghiệp cơ khí đã đầu tưtrang bị các máy gia công CNC hiện đại, trang thiết bị đo kiểm, phân tích đặcbiệt là các phần mềm thiết kế, gia công, quản lý tiên tiến đã được các đơn vịkhai thác ứng dụng, nhờ đó chất lượng các sản phẩm cơ khí đã đảm bảo đượctiêu chuẩn xuất khẩu
Trang 7Trình độ công nghệ của 08 nhóm chuyên ngành là: thiết bị toàn bộ; máyđộng lực; cơ khí phục vụ nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp chế biến; máycông cụ; cơ khí xây dựng; cơ khí đóng tàu thủy; thiết bị kỹ thuật điện - điện tử;
cơ khí ô tô - cơ khí GTVT đều đã có những tiến bộ vượt bậc: Ngành đóng tàunếu như năm 1996 về công nghệ còn xếp ở bậc thứ 1, lạc hậu so với thế giớikhoảng 70 -100 năm thì sau 15 năm hiện đang được xếp ở bậc thứ 3, một phần ởbậc 4 đã rút ngắn khoảng cách lạc hậu còn 20 - 30 năm, ngành đang được đánhgiá xếp thứ 5 thế giới về năng lực đóng mới Ngành cơ khí đã hoàn toàn làm chủđược thiết kế và công nghệ chế tạo cơ khí thủy công đem lại doanh thu, việc làmcho hàng ngàn lao động của ngành Về thiết bị điện Việt Nam đã có khả năngthiết kế và chế tạo máy biến áp công suất đến 125 MVA, điện áp 220 kV với tỷ
lệ nội địa hóa cao chất lượng đạt tiêu chuẩn châu âu, ngành thiết bị kỹ thuật điện
có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong các nhóm ngành cơ khí Cho đến nayngành cơ khí đã có khả năng đảm nhận thiết kế chi tiết và chế tạo thiết bị của cácnhà máy xi măng công suất trên 1,4 triệu tấn/ năm với tỷ lệ nội địa hóa đạt trên
70 %, hầu hết các phụ tùng cung cấp cho nhà máy xi măng chúng ta đã chủ độngđược thông qua các công nghệ nghiên cứu trong nước Xí nghiệp cơ khí QuangTrung Ninh Bình đã có khả năng thiết kế và chế tạo các thiết bị nâng hạ cỡ lớnnhư cổng trục cầu trục, cầu trục gian máy… với tỷ lệ nội địa hóa đạt 90% giáthành chỉ bằng 70% so với nhập khẩu Đối với ôtô tải, xe chuyên dụng đã đạt tỷ
lệ nội địa hóa trên 50%, thời điểm hai tháng gần đây Công ty ôtô Trường Hải đãvượt qua Công ty Toyota về doanh thu bán hàng là một sự kiện chưa từng sảy ra
ở thị trường Việt Nam Việc các Tập đoàn cơ khí lớn đã có khả năng làm tổngthầu EPC đối với một số các dây chuyền nhiệt điện, xi măng, hóa chất đã chothấy năng lực của đội ngũ ngành cơ khí đã không ngừng được nâng cao
Tuy nhiên những thách thức đối với ngành là rất lớn, chúng ta vấn còn tồntại những công nghệ rất lạc hậu, trong gia công, máy công cụ vạn năng vẫn cònphổ biến, công nghệ nhiệt luyện, kiểm tra còn rất lạc hậu điều này dẫn đến tìnhtrạng sản phẩm có chất lượng không ốn định và khả năng cạnh tranh của sảnphẩm còn rất yếu vẫn cơ bản là các ngành tạo ra giá trị gia tăng thấp, ngành chếtạo máy công cụ không theo kịp được nhu cầu, hiện nay đang rất khó khăn,chúng ta vẫn chỉ sản xuất được các máy công cụ vạn năng, sản phẩm máy công
cụ CNC mới chỉ là sản phẩm đơn lẻ của một số cơ sở nghiên cứu, phần lớn cácvật tư nguyên liệu là nhập khẩu, ngành cơ khí hiện vẫn đang trong tình trạngthiếu đồng bộ, hàng năm chúng ta vấn phải bỏ ra hàng chục tỷ USD nhập khẩutrang thiết bị máy móc (con số này của năm 2008 đã lên đến hơn 18 tỷ USD).Lực lượng cán bộ khoa học có trình độ cao đã hầu hết nằm ở độ tuổi cao, lựclượng công nhân chủ yếu làm việc bằng kinh nghiệm, khả năng tiếp nhận cáckiến thức công nghệ hiện đại là rất hạn chế, năng suất lao động bình quân củangành còn rất thấp thua kém hàng chục lần so với các nước khác Theo đánh giátrình độ công nghệ gần đây nhất của Bộ Công Thương đối với ngành cơ khí nếulấy chuẩn so sánh là các nước trong khu vực như Trung quốc, Thái Lan thì cácthành tố về kỹ thuật đạt ở mức 0,42 – 0,58; Thành tố về con người đạt 0,61-0,67; Thành tố về thông tin đạt 0,59 – 0,66 và Thành tố về tổ chức đạt 0,56 - 0,62
Trang 8như vậy mức xếp chung so với trong khu vực là ở mức trung bình Theo số liệuthống kê về đầu tư nước ngoài thì ngành nhưng chưa có một dự án nào đầu tưtrực tiếp vào lĩnh vực chế tạo máy do lợi nhuận không hấp dẫn nhà đầu tư, đây sẽ
là những khó khăn rất lớn mà ngành cơ khí trong nước muốn vươn lên để cảithiện vị trí trong khu vực và đáp ưng nhu cầu trong nước ngày một tăng (năm
2008 nhập khẩu trang thiết bị, phụ tùng lên đến 18,8 tỷ USD)
2.2 Hiện trạng công nghệ ngành hóa chất
a) Sơ lược hiện trạng chung
Ngành hoá chất nước ta mặc dù manh nha từ những ngày kháng chiếnchống thực dân Pháp nhưng thực sự được hình thành và phát triển qua 2 giaiđoạn chính, từ 1960 đến 1975 và từ 1975 đến nay:
- Giai đoạn 1960-1975: Công nghiệp hoá chất chủ yếu phát triển ở miềnBắc với 15 nhà máy thực hiện nhiệm vụ sản xuất tư liệu sản xuất như phân lân,xút, axít và sản xuất một số hàng hoá tiêu dùng như săm lốp xe đạp, pin, xàphòng, ắc quy
- Giai đoạn từ 1975 đến nay có 2 thời kỳ, thời kỳ duy trì và phục hồi sảnxuất (1975-1986) và thời kỳ phát triển (từ 1986 đến nay) Thời kỳ 1975-1986thực hiện tiếp quản một số cơ sở hoá chất hầu hết là những Công ty có quy mônhỏ, chủ yếu gia công chế biến hàng tiêu dùng như bột giặt, sơn, săm lốp xe đạp,pin, ắc quy của Chính quyền cũ Thời kỳ từ 1986 đến nay, ngành Công nghiệphoá chất đã có những thay đổi cơ bản về lượng và chất; đã hình thành 9 chuyênngành cơ bản là : phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất vô cơ cơ bản, sảnphẩm từ cao su, chất tẩy rửa, sản phẩm điện hoá (pin, ắc quy), sơn và nguyênliệu mỏ hoá chất và đã và đang hình thành thêm hai ngành công nghiệp hoá dầu
và hoá dược Đã hình thành trên cả nước một số cụm công nghiệp hoá chấttập trung có quy mô lớn, như: ở miền Bắc là Hà Nội, Hải Phòng, Lào Cai, PhúThọ, Bắc Giang; ở miền Nam là thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hoà, tỉnh ĐồngNai, Bà Rịa - Vũng Tàu; Riêng ở miền Trung hiện có khu công nghiệp lọc hoádầu Dung Quất, ngoài lọc dấu dự kiến sẽ sản xuất nhựa PP, than đen Nhiều nhàmáy đã được cải tạo, mở rộng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và nguyênliệu sử dụng nhằm hạ giá thành, tăng năng suất lao động, giảm thiểu tác độngmôi trường Nhiều dự án đầu tư mới, do ta tự thiết kế, xây dựng hoặc liên doanhvới nước ngoài có quy mô tương đối lớn và công nghệ tiên tiến đã được xâydựng và đi vào sản xuất Danh mục sản phẩm hoá chất ngày càng phong phú, đadạng về chủng loại và chất lượng ngày càng hoàn thiện Nhiều loại đã đáp ứng
cơ bản nhu cầu tiêu dùng trong nước như các sản phẩm: phân lân chế biến, phânNPK, thuốc bảo vệ thực vật, chất tẩy rửa, các mặt hàng chế biến từ cao su (sămlốp xe đạp, săm lốp xe máy, săm lốp ô tô đến cỡ 900-20 ), pin đèn, ắc quy chìaxit các loại, một số hoá chất cơ bản Nhiều loại đã tham gia vào thị trường xuấtkhẩu tuy số lượng chưa lớn như săm lốp xe đạp, các sản phẩm điện hoá, săm lốp
xe đẩy, chất tẩy rửa, clo lỏng, phân lân nung chảy…
Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm
Trang 9định số 207/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2005 với quan điểm phát triểncoi công nghiệp hóa chất là một trong các ngành công nghiệp trọng điểm được
ưu tiên phát triển phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nướctrong từng thời kỳ Tại Quyết định số 343/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 12 Thủtướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hóa chấtViệt Nam đến năm 2010 (có tính đến năm 2020), với mục tiêu phát triển đếnnăm 2010 đạt tốc độ phát triển 16-17%/năm Tỷ trọng của công nghiệp hóa chấttrong cơ cấu công nghiệp toàn quốc đạt 10-11% vào năm 2010 và 13-14% vàonăm 2020
Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu dự kiến cho giai đoạn 2006-2010:
Phân supe lân 4,8 triệu tấn; phân lân nung chảy 2,6 triệu tấn; phân đạmure khoảng gần 5 triệu tấn; lốp ô tô 10 triệu bộ; nhựa PVC 600.000 tấn; axitsunphuric 3,5 triệu tấn,…… Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2009 củaTổng công ty Hoá chất Việt Nam năm 2009 dự kiến 260 triệu đô, kim ngạchxuất nhập khẩu năm 2010 dự kiến gần 330 triệu USD
b) Hiện trạng trình độ công nghệ của ngành hoá chất
1Trình độ công nghệ trong ngành Hoá chất không đồng đều, nếu xét theotừng nhóm sản phẩm Điều này thể hiện một đặc trưng dễ thấy, ngành hoá chấtnước ta được đầu tư khá sớm trên các công nghệ nhập khẩu của các nước xã hộichủ nghĩa, chủ yếu công nghệ từ Liên Xô, Trung Quốc và một số nước XHCN(cũ) khác
2- Sản xuất phân bón: Hiện nay nước ta sản xuất và sử dụng nhiều loại
phân bón khác nhau nên trình độ công nghệ cũng khác nhau, nhà máy sản xuấturea từ khí tại Phú Mỹ sử dụng công nghệ hiện đại, nhà máy đạm tại Bắc Giang
sử dụng công nghệ cũ đã được cải tạo về công nghệ, các nhà máy sản xuất phânlân kể cả supe lân và lân nung chảy vẫn sử dụng công nghệ cũ, mức độ tự độnghoá thấp, chi phí sản xuất còn cao và tiêu hao năng lượng nhiều Nhà máy DAPtại Hải Phòng sử dụng công nghệ tương đối tiên tiến
- Sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật: Các cơ sở sản xuất chủ yếu là gia
công, phối trộn, đóng gói, ngoại trừ hai liên doanh Kosvida và Viguato có sảnxuất hoạt chất gốc
- Sản xuất hoá chất cơ bản: Ngành hoá chất cơ bản qui mô sản xuất mức
độ còn tương đối nhỏ bé, phân tán, công suất thấp Ngành hoá chất hữu cơ cơbản ở nước ta hầu như không phát triển, ngoại trừ một số dự án sản xuấtformalin
- Sản xuất các sản phẩm cao su: Do liên tục đổi mới công nghệ nên chất
lượng các loại săm lốp xe đạp có chất lượng tương đương sản phẩm cùng loạitrên thế giới Đã có bước đột phá trong sản phẩm săm lốp ô tô, chất lượng lốp ô
tô loại bias tương đương các nước có trình độ cao Hiện nay một vài doanhnghiệp đã sản xuất lốp ô to radial, lốp đặc chủng dành cho ngành than
Trang 10- Sản xuất sản phẩm điện hoá: Các sản phẩm pin, ắc qui thông dụng có
tốc độ tăng trưởng lớn và đạt trình độ khá cả về công nghệ, thiết bị và chấtlượng sản phẩm
- Sản xuất sản phẩm sơn, chất dẻo: Công nghệ ở mức trung bình khá.
Phần lớn sản xuất sơn công nghiệp trên cơ sở alkyd, sơn dầu Một số liên doanhsản xuất sơn xây dựng, sơn tường Hiện các loại sơn đặc chủng trong nước chưasản xuất được như sơn bền hoá chất, sơn tĩnh điện
- Sản xuất sản phẩm hoá dầu: Hiện nay nước ta mới sản xuất được nhựa
PVC tại liên doanh với TPC, Thailand và dự án của Petronas, Malaysia và chấthoá dẻo DOP (liên doanh giữa Vinachem và Công ty LG)
- Khai thác quặng cho công nghiệp hoá chất: Chủ yếu là quặng apatit và
secpentin Công nghệ khai thác lộ thiên là chủ yếu, thiết bị khai thác mỏ lạc hậu.Hiện nay đã hình thành thêm các nhà máy tuyển quặng mới (Cam Đường, BắcNhạc Sơn) cung cấp quặng tuyển cho nhà máy DAP tại Hải Phòng, thuốc tuyểnquặng đã được sản xuất trong nước thay thế quặng nhập từ nước ngoài
c) Định hướng phát triển CN của ngành hoá chất
Nhìn chung, so với các nước trong khu vực ngành hoá chất Việt Nam cònthua kém về qui mô, trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng Tuy nhiên ởchừng mực nhất định và xét theo từng nhóm ngành cụ thể có thể rút ra một sốđánh giá như sau:
- Nhóm sản phẩm phân bón có khả năng cạnh tranh nhưng dưới dạng
cạnh tranh có điều kiện Cần phải cải tiến trong việc áp dụng tự động hoá vàoquá trình sản xuất, giảm tiêu hao năng lượng trong quá trình sản xuất Tăng tỷtrọng của các loại phân NPK hàm lượng dinh dưỡng cao, giảm tỷ lệ phân trộn cơhọc đơn thuần, tăng cường sản xuất phân giàu lân
- Nhóm sản phẩm hoá chất bảo vệ thực vật có khả năng cạnh tranh vững,
cần tăng cường sản xuất hoạt chất gốc hoặc các loại thuốc BVTV thân thiện vớimôi trường
- Nhóm sản phẩm hoá dầu sẽ bị cạnh tranh gay gắt do có tình trạng dư
cung ở hầu hết các loại sản phẩm trên thị trường thế giới và khu vực
- Nhóm sản phẩm hoá chất cơ bản do qui mô nhỏ bé, thiết bị lạc hậu, chi
phí sản xuất cao nên khả năng cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài còn hạnchế, thay thế các công nghệ cũ bằng công nghệ tiên tiến
- Nhóm sản phẩm hoá dược có điều kiện phát triển, nhưng công nghệ sản
xuất còn thấp, nên tập trung vào một số sản phẩm chính thiết yếu, có thể muacông nghệ của nước ngoài
- Nhóm sản phẩm điện hoá, sơn, chất tẩy rửa và khí công nghiệp: Tập
trung đầu tư vào các sản phẩm có giá trị cao, thân thiện với môi trường
- Nhóm các sản phẩm cao su: Cải tiến công nghệ sản xuất sản phẩm cao
su để đạt mức hiện đại hơn, đồng thời đầu tư sản xuất một số loại nguyên liệu
Trang 11phụ liệu khác hiện nay đang phải nhập khẩu, nhập khẩu công nghệ sản xuât cácsản phẩm cao su kỹ thuật.
d) Kết luận và kiến nghị
Tuy đã đạt được những bước phát triển và thành tựu đáng kể, nhưngngành công nghiệp hoá chất còn một số mặt tồn tại Năng lực sản xuất của toànngành còn nhỏ bé, chỉ chiếm 9,4% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Qui
mô các doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Hoá chất ViệtNam, thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và một số liên doanh) còn nhỏ, có tới56,6% số doanh nghiệp có qui mô vốn dưới 10 tỉ đồng Chủng loại sản phẩmcủa ngành hoá chất còn nghèo nàn, cơ cấu sản phẩm chưa hợp lý, còn thiếu hẳnnhững ngành quan trọng như hữu cơ cơ bản, hoá dầu, hoá dược, Công tác đầu
tư trong mấy thập kỷ vừa qua chưa tạo được cho ngành có cơ cấu đồng bộ, hiệnđại và cân đối Trình độ công nghệ nhìn chung còn thấp so với khu vực, dẫn đếntiêu hao vật chất lớn, chất lượng sản phẩm chưa cao, hiệu quả kinh tế chưanhiều, sản phẩm xuất khẩu còn ít
Cần có những biện pháp phù hợp để ngành hoá chất phát triển bền vững,trong các biện pháp nêu trên thì biện pháp về KHCN là vô cùng quan trọng,Hoạt động KHCN là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năngcạnh tranh, vì thế cần thực hiện các chương trình trọng điểm về KHCN songsong với việc tạo lập và phát triển thị trường KHCN, đồng thời nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực phát triển KHCN Trong việc thực hiện các Chương trìnhtrọng điểm về KHCN nên tập trung đầu tư theo hướng từ các kết quả nghiên cứu
đi đến áp dung vào sản xuất Trong một số trường hợp cần thiết có thể nhậpKHCN đồng thời với các bước nghiên cứu để có khả năng tiếp thu công nghệnhập Tăng cường áp dụng công nghệ thông tin như áp dụng các phần mềmtrong các đơn pha chế trong thiết kế mẫu mã, áp dụng công nghệ tự động hoátrong sản xuất Ngoài ra có thể kể ra đây một số biện pháp khác xét về cơ chế,chính sách như đổi mới cơ chế hoạt động KHCN, tăng cường kinh phí nghiêncứu ở cấp cơ sở (Công ty và Tổng công ty), bản thân các cơ sở sản xuất cũngcần phải tăng cường kinh phí nghiên cứu, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực
KHCN, khuyến khích việc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất
2.3 Hiện trạng công nghệ ngành luyện kim
a) Sơ lược hiện trạng chung
Ngành công nghiệp thép Việt Nam được bắt đầu từ năm 1959 bằng việcxây dựng Khu gang thép Thái Nguyên với công suất thiết kế 100.000 tấn/năm.Tiếp đó, nhà máy Luyện cán thép Gia Sàng cũng được khởi công xây dựng vàonăm 1972 với sự giúp đỡ của CHDC Đức có công suất thiết kế 50.000 tấn/năm.Sau năm 1975, chúng ta tiếp quản các cơ sở luyện kim mini của chế độ cũ để lạivới công suất khoảng 80.000 tấn/năm Từ năm 1994, một loạt các nhà máy liêndoanh với nước ngoài được xây dựng và đi vào sản xuất như Công ty liên doanhNatsteelvina (liên doanh với Singapore), VietNam-Posco Steel Co - VPS (liên
Trang 12doanh với Hàn Quốc), Công ty ống thép Việt Nam Vinapipe (liên doanh vớiHàn Quốc), Vinausteel (liên doanh với Australia), Vinakyoei (liên doanh vớiNhật Bản), Công ty Thép Tây Đô (liên doanh với Đài Loan), Posvina (liêndoanh với Hàn Quốc), Nipovina (liên doanh với Nhật Bản), Công ty TônPhương Nam (liên doanh với Malaysia), Vingal (liên doanh với Australia)… Vàsau đó nhiều nhà máy của các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh ra đời.
Đó là các Công ty Thép Hoà Phát, Công ty Thép Việt- Ý, Công ty ThépPomihoa, Công ty Thép Pomina (Thép Việt), Công ty Thép Sunsteel, Công tyThép Vinakansai, Công ty TNHH Thép Nam Đô, Công ty Cổ phần Thép HảiPhòng, Công ty Thép Vinafco… Gần đây, nhiều nhà máy luyện kim đã đượcxây dựng như nhà máy thép Phú Mỹ, nhà máy cán nguội Phú Mỹ, nhà máy thépVạn Lợi, nhà máy thép Đình Vũ, nhà máy thép Lương Tài và nhiều nhà máyđang khởi công xây dựng như Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 của Công tygang thép Thái Nguyên, Công ty liên doanh khoáng sản-luyện kim Việt Trung,nhà máy sản xuất phôi thép Việt- Ý, nhà máy sản xuất phôi thép Pomina, nhàmáy sản xuất phôi thép Hưng Thịnh Phát và một số nhà máy gang của các công
ty Cửu Long, Vạn Lợi (ở Hải Phòng, Hà Tĩnh, Bắc Cạn), Đình Vũ … Đến nay,ngành công nghiệp thép Việt Nam đã có thể đáp ứng được về cơ bản thép tròndài, thép hình nhỏ, thép ống hàn và bắt đầu sản xuất thép tấm cán nguội Năm
2007 chúng ta đã sản xuất được khoảng 260.000 tấn gang, 2.000.000 tấn phôithép và 5.112.000 tấn thép bao gồm thép thanh, thép dây, thép hình nhỏ, théptấm lá cán nguội, thép ống hàn và thép tấm mạ các loại, đáp ứng được khoảng50% nhu cầu thép của đất nước (năm 2007 cả nước tiêu thụ khoảng 10.400.000tấn thép các loại) Năm 2008 ngành thép nước ta vẫn đạt được kết quả khảquan : sản xuất được 2.400.000 tấn thép phôi, 5.253.000 tấn thép thành phẩm.Tổng lượng thép tiêu thụ trong nước đạt khoảng 9.000.000 tấn Sau đây là tìnhhình cụ thể của các khâu trong ngành công nghiệp thép nước ta
b) Hiện trạng công nghệ sản xuất gang thép của nước ta.
Gang thép giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển củanền văn minh nhân loại trong nhiều thiên niên kỷ qua do chúng được sử dụngrất rộng rãi trong các ngành chế tạo máy, xây dựng, giao thông vận tải, nôngnghiệp, năng lượng, sản xuất hàng gia dụng, y tế, an ninh quốc phòng Cùngvới than và giấy, thép là vật liệu cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp Sảnlượng thép trên thế giới đã tăng trưởng rất nhanh chóng, đặc biệt là từ nửa saucủa thế kỷ 20 trở lại đây
Hiện nay, trên thế giới, thép được sản xuất bằng hai công nghệ chính:Công nghệ lò cao – lò chuyển thổi ôxy – đúc liên tục và công nghệ lò điện hồquang – đúc liên tục Ngoài hai công nghệ chính nêu trên còn có hai công nghệ
Trang 13mới phát triển là: Công nghệ hoàn nguyên nấu chảy – lò chuyển thổi ôxy – đúcliên tục và công nghệ hoàn nguyên trực tiếp – lò điện hồ quang – đúc liên tục.
Trong những năm gần đây đã có sự phân bố lại trong sản xuất và tiêu thụthép trên thế giới Châu Á đẫ dẫn đầu các châu lục về sản xuất và tiêu thụ thép.Những nước có tăng trưởng thép mạnh nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ
Công nghệ sản xuất gang
Sản xuất gang là khâu đầu tiên trong chu trình sản xuất thép Hiện naychúng mới chỉ đạt sản lượng xấp xỉ 300.000 t ấn/năm, chưa đáp ứng được nhucầu của khâu luyện thép Các thông số kinh tế-kỹ của nhà máy luyện gang thuộcCông ty gang thép Thái Nguyên ở mức độ lạc hậu so với thế giới Đối với các lòcao cực nhỏ khác, tình hình còn tồi tệ hơn nhiều Trình độ công nghệ của ngànhgang nước ta chỉ tương đương những năm 1960 của thế giới Nguyên nhân chủyếu là quy mô của các lò cao quá nhỏ; khâu chuẩn bị liệu chưa tốt; nhiệt độ gióthấp; chưa làm giầu ô xy cho gió để cường hoá quá trình luyện gang; chưa ápdụng công nghệ phun than cám để giảm suất tiêu hao than cốc…
Trong thời gian tới, nhiều dự án về sản xuất gang sẽ được đưa vào sảnxuất sẽ đem lại sức sống mới cho lĩnh vực quan trọng này, sản lượng gang nước
ta sẽ được nâng lên trên dưới 3.000.000 tấn/năm
Ngoài công nghệ lò cao, gần đây một số cơ sở tư nhân đang xây dựng nhà máysản xuất sắt hoàn nguyên, công nghệ MIREX với quy mô từ 50.000 đến200.000 tấn/năm
Công nghệ sản xuất phôi thép
Sản xuất phôi thép của chúng ta bắt đầu bằng 2 lò mactanh 50 tấn/mẻ và 2
lò BOF 5 tấn/mẻ Hiện tại, ngành thép đang sử dụng 100% công nghệ lò điện
hồ quang
Các lò điện sản xuất thép của ta đều rất nhỏ Sản lượng phôi thép năm
2007 đạt khoảng 2.000.000 tấn và năm 2008 đạt 2.400.000 tấn, đáp ứng đượckhoảng 40 – 50% nhu cầu phôi của cả nước So sánh các chỉ tiêu kinh tế-kỹthuật của các nhà máy luyện thép nước ta với các nước trên thế giới còn lạc hậu
cả về quy mô lẫn chất lượng
Ngành thép sẽ có những lò chuyển thổi ô xy 25 T, 50 T và đặc biệt khixây dựng các nhà máy luyện kim liên hợp sẽ có lò chuyển thổi ô xy 200 T Lúc
đó, trình độ công nghệ ngành luyện thép sẽ đươc năng lên một tầm cao mới Trong những năm tới, nước ta có thể sản xuất được khoảng 4.500.000 tấn phôithép/năm
Công nghệ cán thép
Cán thép của nước ta bắt đầu là nhà máy cán thép Gia Sàng với công suấtthiết kế 50.000 tấn/năm, nhà máy cán thép Lưu Xá do Trung Quốc giúp xâydựng với công suất thiết kế 100.000 tấn/năm và các nhà máy cán thép ở Miền
Trang 14Nam như Biên Hoà, Thủ Đức, Nhà Bè và Tân Thuận với công suất thiết kếkhoảng 80.000 tấn/năm
Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các nhà máy thép của nước ta rất khácnhau., Công nghệ hiện đại là các nhà máy liên doang, công nghệ mức trung bình
là các nhà máy trong nước nhập công nghệ của Trung Quốc
Trong tương lai, các nhà máy cán tấm nóng, cán tấm nguội công suất lớn từ2.000.000 đến 3.000.000 tấn/năm và đặc biệt các nhà máy cán của nhà máyluyện kim liên hợp được xây dựng sẽ cải thiện trình độ công nghệ của ngành sảnxuất cán nước ta
c) Định hướng phát triển công nghệ ngành thép Việt Nam
Mục tiêu phát triển tổng thể của ngành Thép Việt Nam là đáp ứng tối đanhu cầu về các sản phẩm thép của nền kinh tế, tăng cường xuất khẩu
Để đảm bảo được các mục tiêu cơ bản nêu trên, trên cơ sở phân bổ nguồnnguyên liệu quặng sắt, vị trí địa lý và điều kiện cơ sở hạ tầng cũng như phân bốnhu cầu tiêu thụ thép, cần thực hiện đầu tư các dự án quy mô lớn chủ yếu sau :Thạch Khê; công suất dự kiến 4,5 triệu tấn/năm, Liên hợp thép Dung Quất(Quảng Ngãi) : công suất 5 triệu tấn/năm, Nhà máy thép cuộn cán nóng của Tậpđoàn POSCO (Hàn Quốc) công suất 2 triệu tấn/năm, Liên hợp thép Lào Cai,…
Sự phát triển của các khâu trong ngành thép còn ở tình trạng mất cân đối.Hiện tại, ngành thép nước ta có khả năng sản xuất khoảng 260.000 tấn gang,2.400.000 tấn phôi thép và 6.500.000 tấn thép cán một năm Đến năm 2010 ta cóthể sản xuất 3.000.000 tấn gang, 4.500.000 tấn phôi thép và 8.000.000 tấn thépcán/năm
Ngoài công nghệ lò cao công suất trên 500 m3, cần xây dựng công nghệ sản xuất sắt hoàn nguyên, công ghệ MIREX với quy mô từ 50.000 đến 200.000 tấn/năm
Trong luyện thép sử dụng công nghệ lò điện hồ quang kiểu DANARC 70tấn/mẻ và lò điện hồ quang kiểu CONSTEEL 40 tấn/mẻ, áp dụng một số tiến bộ
kỹ thuật như phun ô xy và than vào tạo xỉ bọt, dùng biến thế siêu cao công suất,
sử dụng các loại vật liệu chịu lửa siêu bền, ra thép đáy lệch tâm, tận dụng nhiếtcủa khí thải để sấy thép phế trước khi nạp vào lò …
Ngành thép sẽ có những lò chuyển thổi ô xy 25 T, 50 T và đặc biệt khixây dựng các nhà máy luyện kim liên hợp sẽ có lò chuyển thổi ô xy 200 T
Công nghệ sản xuất thép lò điện từ sản phẩm hoàn nguyên trực tiếp (côngnghệ MIDREX hay HYL sử dụng khí thiên nhiên) với công nghệ và thiết bị đạttrình độ tiên tiến trên thế giới Công nghệ sản xuất thép tấm lá cán nguội côngnghệ luyện cán thép hình lớn và thép ống không hàn với công nghệ tiên tiến,quy mô công suất khoảng 1 triệu tấn thép thành phẩm/năm phục vụ các ngànhđóng tầu, dầu khí, cơ khí chế tạo thiết bị siêu trường siêu trọng công nghệ thépđặc biệt quy mô công suất khoảng 0,3 – 0,5 triệu tấn/năm phục vụ ngành chế tạomáy và công nghiệp quốc phòng
2.4 Hiện trạng công nghệ ngành khai khoáng
Trang 152.4.1 Hiện trạng ngành khai thác than
a) Sơ lược hiện trạng chung
Tổng trữ lượng (cấp A+B+C+P) các loại than trên toàn quốc đã tìm kiếmthăm dò còn lại đến 01/01/2006 là 6.164.848 ngàn tấn Trữ lượng triển vọngthan ở các vùng còn rất lớn, riêng bể than Quảng Ninh mức dưới -300m dự báo
có khoảng 7 tỷ tấn Bể than Đồng Bằng Sông Hồng có khoảng 210 tỷ tấn, các bểthan thềm lục địa Việt Nam có khỏang 4.700 tỷ tấn, than bùn có hơn 7 tỷ m3
Sản lượng than khai thác trong toàn ngành tăng trưởng đạt trung bình14% năm Số liệu thống kê về sản lượng than nguyên khai trong các năm gầnđây như sau: 27,324 tr tấn năm 2004; 34,3 tr tấn năm 2005; 40,7 tr tấn năm2006; 45,5 tr tấn năm 2007; 42,9 tr tấn năm 2008
b) Hiện trạng công nghệ
- Công nghệ khai thác là khai thác lộ thiên và khai thác hầm lò, cụ thểnhư sau:
+ Công nghệ khai thác lộ thiên: phổ biến là sử dụng công nghệ: khoan –
nổ mìn – bóc đất đá (đổ thải) – bốc xúc than – sàng tuyển sơ bộ tại mỏ - vậnchuyển tới nhà sàng (hoặc bãi tập kết) Các thiết bị sử dụng có công suất nhỏ vàtrung bình, không đồng bộ Hiện nay khai thác lộ thiên đang phải xuống sâu:chiều cao bờ mỏ lớn, số tầng khai thác nhiều, khối lượng đất đá bóc lớn, côngtác vận tải, đổ thải, thoát nước đang gặp nhiều khó khăn
+ Công nghệ khai thác hầm lò: Phổ cập là sử dụng vì chống thuỷ lực (cộtthuỷ lực đơn và giá thuỷ lực di động) và áp dụng cơ giới hoá công tác khấu than
lò chợ bằng máy combai kết hợp với giá thuỷ lực di động và máy combai kếthợp với dàn chống tự hành Trình độ công nghệ khai thác than hầm lò của ViệtNam còn đang ở mức độ thấp so với các nước trên thế giới
- Công nghệ sàng tuyển - chế biến: Sàng tuyển than tại các nhà máy tuyểntrung tâm có công nghệ tương đối hiện đại ở mức thế giới (nhập công nghệ từÚc) đáp ứng được yêu cầu của các hộ tiêu thụ trong ngoài nước về chủng loại vàchất lượng than
2.4.2 Hiện trạng công nghệ khai thác các khoáng sản khác
a) Hiện trạng chung
Tiềm năng tài nguyên khoáng sản chưa được đánh giá đầy đủ; công tácđiều tra nghiên cứu chủ yếu mới tìm kiếm trên mặt (khoảng 100- 200 mét so vớimặt địa hình), chưa điều tra, thăm dò được phần dưới sâu
Khai thác tài nguyên khoáng sản tràn lan Quy mô khai thác phần lớn lànhỏ bé, công nghệ lạc hậu và thủ công là chính Tình hình khai thác khoáng sảntràn lan đã gây tổn thất lớn cho trữ lượng tài nguyên khoáng sản, làm suy thoáicảnh quan môi trường, thường xảy ra tai nạn lao động, làm chết nhiều người
Mức độ chế biến khoáng sản thấp, phổ biến là không chế biến hoặc chỉ sơchế Trong số hơn 45 loại khoáng sản được khai thác, mới chỉ có chưa đến 10loại (chủ yếu là kim loại màu) sử dụng công nghệ tuyển khoáng để chế biến làmgiàu
b) Hiện trạng công nghệ
Trang 16- Công nghệ khai thác, chế biến thiếc- vônfram: Mô hình sản xuất chính làtập trung cơ khí hoá và phân tán, bán cơ khí Công nghệ khai thác và tuyển thôhiện chỉ ở quy mô bán cơ giới nhỏ hoặc thủ công.
- Công nghệ khai, chế biến thiếc-Antimon: Ngành khai thác, chế biếnkhoáng sản Antimon của Việt Nam hiện nay gần như không đáng kể Hiện chỉcòn có tỉnh Hà Giang đang khai thác quặng antimon nghèo ở mỏ Mậu Duệ (liêndoanh giữa Việt Nam và Trung Quốc), sản lượng khoảng 500 tấn/năm, toàn bộcông nghệ là của Trung Quốc
- Công nghệ khai thác, chế biến chì kẽm: Quặng chì kẽm hiện nay khaithác bằng cả 2 phương pháp: lộ thiên và hầm lò Công nghệ khai thác được cơgiới hoá với mức độ rất thấp, chủ yếu là bán cơ giới và thủ công
- Công nghệ khai thác, chế biến đồng: Chỉ có duy nhất tại mỏ đồng SinQuyền Lao Cai là có khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp Thiết bị sửdụng: Máy xúc 4 m3, máy khoan xoạy đập KQG 150, xoay cầu YZ - 35B, ôtôvận chuyển 32 tấn
- Công nghệ khai thác, chế biến vàng: Hiện có 02 cơ sở sản xuất chính làCông ty TNHH Khai thác vàng Phước Sơn liên doanh của Công ty Công nghiệpmiền Trung với Công ty New Vietnam Mining và Công ty Cổ phần Đá quí vàVàng Lâm Đồng đang khai thác và chế biến vàng tại vùng mỏ vàng Trà Năng -Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng Cả hai Công ty này khai thác quặng vàng gốc và thuhồi bằng công nghệ hoá chất xyanua có giải pháp hiện đại xử lý môi trường đạttiêu chuẩn Quốc tế Ngoài ra còn có một số tổ chức khai thác vàng theo giấyphép khai thác tận thu do các địa phương cấp và khai thác bất hợp pháp, các tổchức này đang gây tổn thất tài nguyên, huỷ hoại môi trường, tác động xấu đến
an ninh trật tự xã hội
- Công nghệ khai thác, chế biến đá quý và bán quý: Các mỏ đá quý ở ViệtNam được khai thác theo phương pháp lộ thiên và sử dụng Công nghệ khai thácbằng sức nước và Công nghệ khai thác bằng ôtô + máy xúc Công nghệ tuyển sửdụng phương pháp tuyển trọng lực
c) Định hướng phát triển công nghệ và thiết bị
- Công nghệ khai thác lộ thiên: đến năm 2015 đạt trình độ cơ giới hoá cáccông đoạn sản xuất ngang tầm của khu vực và đến năm 2025 đạt trình độ thế giới;công nghệ thông tin được áp dụng phổ biến trong quản lý sản xuất kinh doanh,quản trị tài nguyên ở những mỏ lớn Đối với các mỏ vừa và nhỏ, phấn đấu áp dụngrộng rãi cơ giới hóa ở mức độ phù hợp, giảm tối đa lao động thủ công, chú trọngcông tác bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng triệt để tài nguyên
- Công nghệ khai thác hầm lò: áp dụng cơ giới hóa đồng bộ ở các mỏ cóđiều kiện thuận lợi và cơ giới hóa ở mức cao nhất trong điều kiện cho phép ở các
mỏ có điều kiện không thuận lợi Chấm dứt hoạt động khai thác thủ công
- Công nghệ tuyển khoáng: áp dụng các công nghệ tiên tiến của thế giới ởcác nhà máy tuyển lớn; cơ giới hóa ở mức cao nhất trong điều kiện cho phép, tiếntới xoá bỏ lao động thủ công ở các ở các xưởng tuyển quy mô nhỏ; thu hồi tối đa
Trang 17các khoáng vật có ích, giảm mất mát tài nguyên; hạn chế sử dụng các loại thuốctuyển độc hại, gây ô nhiễm môi trường.
- Tăng cường phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, phấn đấu xâydựng lực lượng cán bộ, công nhân ngành công nghiệp khai khoáng đạt trình độtiên tiến của khu vực vào năm 2015 và của thế giới vào năm 2025
- Nhóm khoáng sản ít tiềm năng: bao gồm các loại khoáng sản có trữ lượngkhông lớn, phân bố không tập trung, không thuận lợi cho việc đầu tư khai thác quy môlớn như quặng thiếc, vonfram, chì-kẽm, vàng, đá quý, đôlômit, fenspat, cao lanh v.v
Về mức độ đầu tư và trình độ công nghệ, có thể phân thành các loại hình: loạiquy mô lớn, mới đầu tư với công nghệ khá tiên tiến, thiết bị đồng bộ, trình độ cơ giớihoá và tự động hoá cao; loại quy mô lớn nhưng đầu tư từ lâu, hiện các thiết bị công nghệ
đã cũ, lạc hậu cần được nâng cấp và loại quy mô vừa và nhỏ với mức độ đầu tư khiêmtốn, công nghệ có trình độ cơ giới hoá và tự động hoá thấp, thiết bị thiếu tính đồng bộ,chủ yếu tự chế tạo trong nước hoặc nhập khẩu từ Trung Quốc Loại hình này thường cócác chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật thấp, mức độ tổn thất tài nguyên và ô nhiễm môi trường lớnnhưng mức độ đầu tư cho đổi mới công nghệ và thiết bị thường hạn chế
* Nguyên nhân chủ yếu của việc đầu tư cho đổi mới công nghệ và thiết bị ở các
mỏ vừa và nhỏ là do quy mô sản xuất nhỏ, năng lực tài chính yếu
2.5 Hiện trạng ngành năng lượng (điện)
a) Sơ lược chung hiện trạng chung
Để đánh giá chung về ngành Điện lực tức là ta đánh giá toàn bộ quá trìnhsản xuất, truyền tải và kinh doanh điện năng (liên quan đến tiêu thụ);
- Công nghệ sản xuất điện năng: Bao gồm nhiệt điện, thủy điện và năng
lượng tái tạo
+ Nhiệt điện: Công nghệ nhiệt điện chủ yếu là công nghệ đốt than phun và
tuôc bin khí Công nghệ đốt than phun là công nghệ cũ, truyền thống, hiệu suấtthấp, không đảm bảo vệ sinh môi trường bao gồm các nhà máy nhiệt điện củanhư Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình…Công nghệ tuốc bin khí là công nghệ mới,hiện đại đảm bảo được hiệu suất cao và đảm bảo vệ sinh môi trường bao gồmcác nhà máy nhiệt điện mới do Tập đoàn dầu khí Việt Nam đầu tư
+ Thủy điện: Công nghệ thuỷ điện không có những thay đổi đáng kể về
mặt hiệu suất Hiệu suất của các nhà máy thuỷ điện phụ thuộc nhiều vào điềukiện tự nhiên;
Trang 18+Năng lượng tái tạo: Chỉ có một phần rất nhỏ sử dụng năng lượng mặt trời
cho đun nóng hiện chưa thực sự phổ biến, phần lớn công nghệ và thiết bị trên thịtrường nhận chuyển giao từ Trung Quốc Năng lượng gió vvà các dạng nănglượng khác hiện đang trong quá trình nghiên cứu
- Công nghệ truyền tải và phân phối điện năng: Từ 10 năm nay các giải
pháp công nghệ sử dụng thiết bị tiên tiến đã được sử dụng ngày càng nhiều tronglưới điện, tạo ra bước chuyển lớn trên lưới so với 1995 về trước, đóng góp phầnquan trọng hàng đầu trong việc nâng cao độ tin cậy của lưới điện Tuy nhiên cònmột số những nhược điểm vì đến nay ngành điện vẫn còn phải đang đối mặt vớinhiều khó khăn trong yêu cầu nâng cao mức độ tin cậy của các thiết bị điện, gópphần quan trọng vào việc nâng cao độ tin cậy an toàn của lưới truyền tải;
Phần tiêu thụ điện năng: Mặc dù năm 2004 các Công ty điện lực đã triển
khai thí điểm hàng loạt các ứng dụng đọc chỉ số công tơ nêu trên nhưng đến naycông tác ứng dụng công nghệ vào đo đếm chỉ số công tơ không nhân rộng được donhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân côngtác tổ chức quản lý;
b) Hiện trạng công nghệ của ngành Điện
- Công nghệ sản xuất điện năng:
Nhiệt điện
Hai loại công nghệ nhiệt điện đang phổ biến tại Việt Nam là công nghệ đốtthan phun và công nghệ tuốc bin khí Công nghệ đốt than nằm trong dạng côngnghệ truyền thống, nhiều nhà máy cũ và hiệu suất thấp
Các công nghệ cũ trước đây vẫn vận hành tuy nhiên hiệu suất thấp, bảodưỡng sửa chữa nhiều Các thiết bị điều khiển tự động theo công nghệ cũ đã lạchậu, không đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn hiện nay hoặc không còn được sảnxuất nữa, đang được thay thế dần
Các tổ máy tuốc bin khí đa số đều mới được trang bị hiện đại, các thiết bịđiều khiển tự động hoạt động tốt
Công nghệ thiết bị xử lý môi trường chưa được quan tâm đầy đủ trong cácnhà máy đốt than cũ Các dự án mới đang được xem xét để đưa các thiết bị xử lýmôi trường vào, nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn và yêu cầu về môi trường Thiết
bị môi trường sẽ làm chi phí đầu tư tăng cao hơn;
Thủy điện
Các thiết bị chính trong các nhà máy thuỷ điện đa số là công nghệ mới,điều này phản ánh thực tế: trong những năm qua số lượng các nhà máy thuỷ điệnmới được đưa vào nhiều Tuy nhiên, các thiết bị thuộc công nghệ cũ vẫn chiếm
tỷ trọng đáng kể: 21% đối với các tua bin thuỷ lực, 23% đối với các máy phát,
và 19 % đối với các máy biến áp chính
Nhìn chung trong những năm qua, công nghệ thuỷ điện không có nhữngthay đổi đáng kể về mặt hiệu suất Hiệu suất của các nhà máy thuỷ điện phụthuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
Năng lượng tái tạo
Công nghệ năng lượng mặt trời: Mảng pin mặt trời chủ yếu nhập khẩu, bộđiều khiển chủ yếu do trong nước tự chế tạo Bộ biến đổi điện DC/AC: chất
Trang 19lượng bộ đổi điện trong nước chế tạo chưa thích hợp khí hậu biển, hiệu suất thấp
để cấp điện cho những vùng không có khả năng đưa điện lưới quốc gia đếnđược
Công nghệ đồng phát Năng lượng sử dụng sinh khối ở Việt Nam: Hiệnnay, những kết quả ứng dụng về công nghệ này vẫn còn rất hạn chế do nhữngtrở ngại về nguồn vốn, năng lực kỹ thuật và thiếu những chính sách ưu tiên thích
đáng
Năng lượng địa nhiệt ở Việt Nam: Cho đến nay chưa có nhà máy điện địanhiệt nào được xây dựng và vận hành ở Việt Nam
- Công nghệ truyền tải và phân phối điện năng điện năng
+ Công nghệ truyền tải
Đánh giá các giải pháp công nghệ để bảo đảm an toàn liên tục cung cấpđiện, giảm thiểu sự cố trên lưới bảo đảm độ tin cậy và chất lượng điện năng Thiết bị 500-220kV: Hầu hết thiết bị, vật liệu của hệ thống 500kV đềuđược nhập từ các nước phát triển Các máy biến áp 1 pha 500/220kV nhìn chungchất lượng tốt, tuy nhiên qua một thời gian dài vận hành cũng đã xảy ra một số
sự cố đáng kể làm ảnh hưởng đến cung cấp điện Hệ thống tụ bù dọc vận hànhbình thường Kháng điện hoạt động bình thường
Đến nay Việt nam bắt đầu chế tạo được máy biến áp 250 kVA-220 kV vàđang nghiên cứu triển khai sản xuất máy biến áp 500 kV tại Công ty cổ phẩn sảnxuất thiết bị điện Đông Anh;
Hệ thống thiết bị 500kV hiện đại vào bậc nhất trong lưới điện truyền tải vàbảo đảm được vận hành bình thường của mạch truyền tải xương sống Bắc Nam.Tuy vậy có thể nhận định: độ tin cậy của thiết bị 500kV cần được nâng cao hơnnữa
Hệ thống điều độ và thiết bị điều khiển: Tại EVN đã hoàn thành lắp đặt hệthống SCADA tại TT điều độ quốc gia (A0) và các điều độ miền , nâng cấpđường trục viễn thông, nâng cao tốc độ truyền dẫn cáp quang Tín hiệuSCADA/EMS tại A0 bao gồm các tín hiệu đo lường của đường dây, máy biến
áp, tổ máy phát, thánh cái; tín hiệu về trạng thái của máy cắt, dao cách ly, daotiếp địa và cảnh báo của các nhà máy điện, các trạm 500kV và 220kV Hệ thốngnhìn chung hoạt động tương đối ổn định phục vụ công tác thu thập và xử lý cácthông số, tín hiệu, dữ liệu giúp cho việc đánh giá, xử lý sự cố đáp ứng yêu cầuvận hành hệ thống điện Tuy nhiên hệ thống này vận hành còn những hạn chếnhất định, một số chức năng chưa được phát huy trong quá trình vận hành, điềukhiển
Trang 20+ Đánh giá chung: Từ 10 năm nay các giải pháp công nghệ sử dụng thiết
bị tiên tiến đã được sử dụng ngày càng nhiều trong lưới điện, tạo ra bước chuyểnlớn trên lưới so với 1995 về trước, đóng góp phần quan trọng hàng đầu trongviệc nâng cao độ tin cậy của lưới điện Tuy nhiên còn một số những nhược điểm
vì đến nay ngành điện vẫn còn phải đang đối mặt với nhiều khó khăn trong yêucầu nâng cao mức độ tin cậy của các thiết bị điện, góp phần quan trọng vào việcnâng cao độ tin cậy an toàn của lưới truyền tải
Các giải pháp công nghệ đã triển khai nhằm giảm tổn thất điện năng, giảmgiá thành xây dựng, giảm giá thành truyền tải
Áp dụng các giải pháp công nghệ mới trong thiết kế xây dựng lưới điệnMột số sơ đồ cột ĐDK nhiều mạch đã được áp dụng
Các loại dây dẫn mới như dây chịu nhiệt (tăng khả năng tải); dây dẫn hợpkim kết hợp với các loại cách điện composite, khi sử dụng sẽ có thể giảm bớtkích thước, khối lượng cột, giảm khối lượng cột, giảm hành lang tuyến đangđược áp dụng thí điểm ở Việt Nam
Công nghệ trạm GIS đã có trên thế giới từ cách đây 50 năm và ngày càngđược hoàn thiện Hiện tại, một số trạm áp dụng công nghệ GIS đã được đưa vàovận hành tại Hà Nội và T/p Hồ Chí Minh đã và đang phát huy hiệu quả cao cùngvới việc giảm diện tích mặt bằng trạm
Giảm thiểu tác động môi trường, bảo vệ cảnh quan, sinh thái
Vấn đề giảm thiểu tác động môi trường của các tuyến đường dây tải điệnliên quan chặt chẽ tới tác động của điện từ trường đường dây lên sinh vật, môitrường sống dưới tuyến và gần đường dây tải điện Nhận thức được tầm quantrọng của vấn đề, EVN và một số cơ quan liên quan đã tiến hành những nghiêncứu, khảo sát, đo đạc về ảnh hưởng của điện từ trường tuyến đường dây 500kVlên môi trường, môi sinh Hiện tại các nghiên cứu vẫn đang được tiếp tục triểnkhai
- Công nghệ phân phối điện năng
+ Đánh giá công nghệ & thiết bị lưới trung áp:
Lưới trung áp từ 22kV trở xuống ở các thành phố, thị xã dùng các loại dâycáp bọc, cáp ngầm, các khu vực còn lại dùng dây trần Hiện tại tỷ lệ cáp ngầmtrên toàn lưới đạt 3%, trong đó khu vực TP.Hà Nội đạt tỷ lệ 46% (khu vực nộithành đạt tỷ lệ 80-90%), TP.Hồ Chí Minh đạt tỷ lệ 23% (khu vực các quận nộithành đạt tỷ lệ 50-70%), các thành phố, thị xã khác tỷ lệ ngầm hóa đạt từ 20-30%
Trạm biến áp phân phối: Ngoài các loại trạm truyền thống như trạm treo,trạm nền, trạm phòng (xây), trong thời gian qua đã đưa vào sử dụng các loạitrạm mới như trạm kiosk, trạm 1 cột (đơn thân) và đang nghiên cứu triển khaixây dựng trạm ngầm
Trong thời gian qua, các điện lực đã đẩy mạnh việc chuẩn hóa các tiết diệnchuẩn, gam chuẩn máy biến áp, kiện toàn lưới điện trung áp như lắp đặt thêmcác Recloser, máy cắt phân đoạn do vậy độ tin cậy lưới điện được nângcao
+ Tổng quan về lưới điện hạ áp:
Lưới hạ áp của nước ta đã được lựa chọn theo kết cấu 3 pha 4 dây, hoặc 1