1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng trình độ công nghệ của công nghệ tạo phôi (đúc, hàn, gia công) của ngành cơ khí việt nam

26 484 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 261,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét về hiện trạng, thiết bị và công nghệ đúc gang, thép của Cơ khí Hà Nội: Các thiết bị và công nghệ tại Cơ khí Hà Nội vào loại hiện đại và tốt nhấtViệt Nam hiện nay; cho phép đúc c

Trang 1

Phụ lục số 3

Hiện trạng trình độ công nghệ của công nghệ tạo phôi (đúc, hàn, gia công) của ngành cơ khí Việt Nam

I Công nghệ tạo phôi

Công nghệ tạo phôi trong ngành cơ khí chế tạo không chỉ đơn thuần làcông nghệ đúc mà còn bao gồm cả công nghệ rèn dập và công nghệ hàn Trong

ba loại công nghệ kể trên, công nghệ đúc là một loại công nghệ tạo phôi cóphạm vi sử dụng rộng và quan trọng nhất, nó cho phép đúc phôi các chi tiết cókích thước rất lớn (roto máy phát thủy điện) đến các chi tiết rất nhỏ (xéc măng);

nó cho phép tạo phôi các chi tiết từ kim loại đen (gang và thép) và từ kim loạimàu (hợp kim đồng, hợp kim nhôm…)

Bên cạnh công nghệ đúc, để tạo phôi các chi tiết có kích thước nhỏ và vừabằng thép (phôi bánh răng, các loại trục, các nút xả của động cơ diesel…) người

ta lại dùng công nghệ rèn, dập là chính Trong một số trường hợp, để tạo phôicác chi tiết lớn dạng vỏ hộp số lớn, thân máy rèn ép lớn và cả block xy lanhđộng cơ diesel cực lớn người ta lại dùng công nghệ hàn Tuy nhiên phần dướiđây trình bày kết quả khảo sát hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc là chính:

1 Hiện trạng thiết bị và công nghệ đúc gang và thép tại Việt Nam

Vật liệu gang và thép đúc sử dụng rất rộng rãi để chế tạo các chi tiết quantrọng nhất là thiết bị Vì vậy thiết bị và công nghệ cho đúc gang thép có một vaitrò chủ chốt trong thiết bị và công nghệ đúc nói chung

Như trên đã nói, để tạo phôi chi tiết thì công nghệ đúc đươc sử dụng rộngrãi và có vai trò cực kì quan trọng Vì vậy trong hầu hết các Công ty cơ khí chếtạo đều có xưởng đúc, thậm chí có xưởng đúc gang riêng, xưởng đúc thép riêng

và xưởng đúc kim loại màu riêng

a Hiện trạng các thiết bị nấu gang và thép tại các xưởng đúc ở Việt Nam

Trước những năm 85 khi nền kinh tế của nước ta đang được quản lý theokiểu bao cấp, các nhà máy cơ khí lớn nay gọi là các Công ty cơ khí chế tạo lớnnhư Công ty Cơ khí Hà Nội, Công ty chế tạo Diezel Sông Công, Công ty gangthép Thái Nguyên; Công ty Đúc 89; Công ty Cơ khí 83; Công ty thép MiềnNam… mới được trang bị các lò đúc thép + đúc gang lò điện hồ quang CácCông ty cơ khí vừa và nhỏ khác thường chỉ có đúc gang kiểu lò đứng hoặc lòchõ dùng than coke hoặc than đá vàng danh làm nhiên liệu đốt

Sau năm 1985 nhờ sự đổi mới của Đảng, nền kinh tế của chúng ta chuyểndần sang kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, các ngành kinh tếcủa chúng ta đều phát triển mạnh, trong đó ngành cơ khí cũng có một số lĩnhvực công nghệ có bước chuyển biến đáng kể, trong đó có lĩnh vực công nghệđúc

Dưới đây xin trình bày hiện trạng thiết bị và công nghệ đúc của một số xínghiệp quan trọng

Trang 2

a.1 Hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc gang, thép của Công ty

- Có dây chuyền công nghệ làm khuôn cát tưới tự động (Đức)

- Có dây chuyền công nghệ làm khuôn Furan – đúc gang (Đức)

- Vật liệu làm khuôn được chuẩn bị chu đáo cho từng đợt đúc cát chuyêncho đúc mua từ một doanh nghiệp ở Đà Nẵng; chế độ phân loại, sàngtuyển và tái sinh cát được thực hiện theo quy định

- Có hệ thống thiết bị kiểm tra vật đúc (nhập của Đức) gồm:

+ Kính hiển vi soi tổ chức tế vi kim loại

+ Máy phân tích quang phổ phát xạ trên 3 nền Fe, Cu, Al

Nhận xét về hiện trạng, thiết bị và công nghệ đúc gang, thép của Cơ khí

Hà Nội:

Các thiết bị và công nghệ tại Cơ khí Hà Nội vào loại hiện đại và tốt nhấtViệt Nam hiện nay; cho phép đúc các chi tiết thép và gang với chất lượng tốt.Các công nghệ đúc khuôn tươi và khuôn Furan được nhập của Đức Tuy nhiêndung lượng lò đúc thép còn hơi bé

a.2.Hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc gang, thép Công ty

Coma-7 (Thường Tín)

Công ty Coma-7 là một Công ty cơ khí xây dựng số 7 thuộc Tổng Công ty

cơ khí xây, có một phân xưởng đúc được trang bị một lò thép của Hoa Kỳ dạng

lò Hồ quang với dung lượng 5 tấn/me Ngoài lò thép ra, việc làm khuôn cho đúcđược thực hiện thủ công Mục đích của Công ty nhập lò thép để đúc bi đạn vàtấm lót cho ngành xi măng Tuy nhiên các thiết bị kiểm tra, phân tích nhanh, vànhiệt luyện sau đúc đều không có Do đó rất khó hoàn thành nhiệm vụ

a.3 Hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc gang, thép của Disoco (Thái Nguyên)

Công ty được trang bị phân xưởng đúc thép, gang như sau:

Lò hồ quang 6 tấn/me (Nga) – 2 chiếc

Trang bị 4 máy làm khuôn chuyên đúc blốc xy lanh và mặt quy cát củađộng cơ Diezel 50 và 80; làm khuôn tự động trên máy Các thiết bị còn lại rấttốt

Tuy nhiên, do yêu cầu về sản xuất động cơ D-50 và D-80 không có nênCông ty đã dùng cặp lò hồ quang này cùng với máy đúc tự động để đúc phôithép cán cho một số Công ty cán thép ở miền Bắc

Để điều chỉnh thành phần kim loại khi nấu luyện nhà máy có thiết bị phântích quang phổ phát xạ

Trang 3

a.4 Hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc gang của Công ty phu tùng nổ số I (Gò Đầm – Thái Nguyên)

Để đảm bảo cho sản lượng đúc cho 1 triệu sản phẩm ống lót động cơ xeHon đa; Công ty phụ tùng nổ số I đã trang bị một phân xưởng đúc gang baogồm:

- Lò trung tần 400kg/me (Nhật) – 1 chiếc

- Lò trung tần 750kg/me (Nhật) – 1 chiếc

- Máy làm khuôn khí nén bán tự động – 10 chiếc

Bộ phận chuẩn bị làm khuôn từ cát mới, cát tái sinh và các chất phụ giađều được chuẩn bị chu đáo

Toàn bộ gang hợp kim do Nhật cung cấp

Có thiết bị phân tích quang phổ phát xạ để kiểm tra

Dây chuyền đúc này được chuyên môn hóa cao, tất nhiên cho năng suấtcao và chất lượng ổn định

a.5 Hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc của Nhà máy cơ khí gang thép.

Nhà máy cơ khí gang thép thuộc Công ty Gang thép Thái Nguyên Nhàmáy có phân xưởng đúc thép + gang được trang bị các thiết bị sau:

- Lò điện hồ quang nấu thép 1,5 tấn/me - 2 chiếc

- Lò điện hồ quang nấu thép 12 tấn/me - 1 chiếc

- Lò điện hồ quang nấu thép 3 tấn/me - 2 chiếc

- Lò cảm ứng nấu gang 200kg/me -2 chiếc

Công nghệ làm khuôn cát vẫn còn nửa cơ khí, nửa thủ công; chủ yếu làmkhuôn khô Có trang bị hai lò xấy khuôn

- Có thiết bị phân tích bằng quang phổ phát xạ

a.6 Hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc gang, thép của Công ty cơ khí 27 – Tổng cuc Công nghiệp Quốc phòng

Công ty cơ khí 27 gần như một Công ty chuyên đúc của Tổng cục Côngnghiệp Quốc phòng; nó được trang bị các thiết bị rất tốt như sau:

- Lò đúc trung tần có dung lượng 1,5 tấn/me - số lượng 1 (TQ)

- Lò đúc trung tần có dung lượng 1 tấn/me - số lượng 1 (TQ)

- Lò đúc trung tần 0,5 tấn/me - 1 cái

- Lò hồ quang 1,5 tấn/me – số lượng 2 cái Trong đó 1 cái được bảo vệbằng plasma

Về công nghệ làm khuôn:

- Áp dụng công nghệ làm khuôn cát thủy tinh

- Áp dụng thành công công nghệ làm khuôn tươi

- Áp dụng công nghệ làm khuôn mẫu hóa khí (rất tiên tiến)

Đây là Công ty có sản phẩm chính là vật đúc, được trang bị các thiết bịđúc khá tiên tiến và nhiều chủng loại; Công ty đã và đang áp dụng nhiều côngnghệ đúc tiên tiến (thiết bị và công nghệ do Ucraina trang bị)

Công ty có nhiều thiết bị làm khuôn, có máy phân tích nhanh bằng quangphổ phát xạ

Đây là Công ty có đầy đủ điều kiện để đúc ra các sản phẩm có chất lượngcao phục vụ quốc phòng và kinh tế

Trang 4

a.7 Tình trạng thiết bị và công nghệ đúc gang + thép của Cơ khí trung tâm Cẩm Phả (TKV)

Công ty cơ khí Trung tâm Cẩm Phả có xưởng đúc lớn do Liên Xô trang bịđồng bộ Các thiết bị đúc gồm có:

- Lò nấu thép hồ quang 3 tấn/me – số lượng 2 (Nga)

- Lò nấu thép hồ qunag 1,5 tấn/me – số lượng 2 (Nga)

- Lò nấu gang trung tấn 700kg/me – số lượng 1

Xưởng đúc được trang bị thiết bị làm khuôn

Có lò sấy khuôn

Ủ vật đúc có thể tích lớn được nung bằng điện trở

Xưởng đúc được trang bị máy phân tích nhanh để điều chỉnh thành phầnhóa học của thép khi đúc

Có thiết bị kiểm tra bằng siêu âm để phát hiện khuyết tật vật đúc

Nhận xét: Đây là một xưởng đúc gang thép được trang bị khá, cho phépđúc được các sản phẩm với chất lượng đảm bảo, về mặt công nghệ còn chậmđược áp dụng những công nghệ làm khuôn tiên tiến

a.8, Hiện trạng về thiết bị và công nghệ đúc gang, thép của Công ty TNHH Đúc Minh Bạch

Công ty TNHH Đúc Minh Bạch là Công ty tư nhân chuyên về đúc thép vàgang, có 4 cơ sở đúc: Một tại khu công nghiệp Sông Công – Công ty TrườngSơn; một tại thị trấn Đông Anh – Công ty Việt Mỹ; một ở Từ sơn và một ởThanh Hóa

- Lò đúc thép hồ quang với dung lượng 18 tấn/me của Nga – 1 chiếc

- Lò đúc thép gang tần số với dung lượng 0,5 tấn/me – 1 chiếc

- Lò đúc thép hồ quang với dung lượng 5 tấn/me của Nga – 2 chiếc

- Lò nấu thép trung tần 700kg/me (Trung Quốc) – 1 chiếc

- Dây chuyền đúc bi đạn tự động của Mỹ – 1 chiếc

- Cần trục chạy dọc xưởng đúc với sức nâng 30 tấn – 2 chiếc

- Lò ủ điện trở nhiệt độ nung đến 900*C với thể tích 120 m2 – 2 cái.Công ty ứng dụng công nghệ làm khuôn trên hòm khuôn đối với từng sảnphẩm, đặc biệt là các chi tiết có trọng lượng lớn, Công ty đều tiến hành chuẩn bịvật liệu làm khuôn chu đáo Lớp mặt trong của khuôn, nơi tiếp xúc trực tiếp vớinước thép thường được sử dụng hỗn hợp cát mới, lớp ngoài có thể sử dụng vậtliệu làm khuôn đã qua sử dụng Việc tính toán đậu rót và đậu ngót hết sức tỉ mỉ

Trong tương lai không xa, Công ty TNHH Đúc Minh Bạch sẽ tăng thêmmột lò điện hồ quang với dung lượng 20 tấn/me tại cơ sở Đúc Trường Sơn (khucông nghiệp Sông Công), đưa khả năng đúc chi tiết lớn của Công ty đến 35 tấn

Trang 5

a.9 Tình trạng về thiết bị và công nghệ đúc gang, thép của Công ty Đúc Việt Nhật – Hải Phòng

Công ty trang bị hai lò trung tần của Nhật với dung lượng 1 tấn/me

Công ty áp dụng các công nghệ làm khuôn tiên tiến trong đó:

- Có đúc khuôn tươi

- Công nghệ làm khuôn Furan cho đúc gang

Là một trong một số không nhiều Công ty có thể đúc gang cầu với chấtlưởng đảm bảo (đối với chi tiết nhỏ và vừa) và là một trong những cơ sở đúc cácchi tiết gang có chất lượng tốt

a.10 Tình trạng thiết bị và công nghệ đúc thép của các Công ty nấu

và đúc liên tuc các phôi thép thỏi có các tiết diện 120 x 120 x 6000mm, 100 x

100 x 6000mm.

Song song với các Công ty cơ khí chế tạo và các Công ty chuyên đúc thépnhư đã nêu trên, để đảm bảo cho việc cung cấp thép cán cho nhu cầu trong nước,một số Công ty nấu thép và đúc liên tục ra một lượng thép thỏi khá lớn đáp ứngmột phần quan trọng số lượng phôi cho các dây truyền cán ở trong nước CácCông ty đó là Công ty TNHH Thép Đình Vũ, Công ty Thép Vạn Lợi – QuánToan – Hải Phòng; Công ty TNHH Thép Lương Tài thuộc Công ty Kim Khí –Hưng Yên…

Thiết bị nấu thép của Công ty này là các thiết bị nấu thép hồ quang códung tích lò rất lớn như sau:

- Công ty TNHH Thép Đình Vũ trang bị các lò sau:

+ Lò điện hồ quang với dung lượng 50 tấn/me – số lượng 2

+ Lò giữ nhiệt với dung lượng 60 tấn – số lượng 1

+ Máy đúc liên tục – số lượng 1

+ Thiết bị cắt thép thỏi – số lượng 1

- Công ty TNHH Vạn Lợi – Quán Toan – Hải Phòng

+ Lò điện hồ quang với dung lượng 50 tấn/me – số lượng 2

+ Lò giữ nhiệt với thể tích chứa 60 tấn/me – số lượng 1

+ Máy đúc liên tục – số lượng 1

+ Thiết bị cắt thép thỏi – số lượng 1

Ngoài các Công ty cơ khí chế tạo và các Công ty chuyên đúc thép thỏi đãnêu ở trên, rất nhiều các Công ty cơ khí có quy mô vừa cũng đều có phân xưởngđúc gang và đúc thép, họ thường trang bị một cặp lò trung tần với hai nồi nấu,hoặc hai lò trung tần với 4 nồi nấu, các lò trung tần này có dung lượng từ 0,5đến 0,75 tấn/me với tần số dòng điện thường là 500 héc hoặc 1000 héc; đềunhập từ Trung Quốc Cá biệt có một số doanh nghiệp nhỏ hoặc một số hợp tácxã còn dùng lò đứng đốt bằng than để nấu gang (Công ty cổ phần cơ khí MạoKhê còn dùng lò đứng để nấu gang, hoặc một số hợp tác xã với quy mô nhỏ ởlàng nghề Văn Chương – Hà Nội cũng còn dùng lò chõ để đúc các sản phẩmbằng gang dân dụng không yêu cầu kỹ thuật cao)

Những làng nghề ở miền bắc như làng Đa Hội (Bắc Ninh) và Ý Yên –Nam Định, các hộ công nghiệp gia đình đã trang bị không dưới 100 lò cảm ứngvới dung lượng 500kg/me đến 1000kg/me để đúc các sản phẩm bi đạn cho xi

Trang 6

măng và nhiều sản phẩm cơ khí khác trong đó có phôi cho cán thép và thép cánxây dựng.

Các thiết bị nấu thép vẫn còn đảm bảo hoạt động bình thường

b Đối với đúc kim loại màu

Trong ngành chế tạo máy thường có các bạc trượt được chế tạo từ hợpkim đồng và hợp kim nhôm

Để nấu luyện hợp kim đồng những năm trước đây người ta thường dùng

lò đốt than hoặc lò đốt bằng dầu Tuy nhiên, trong những năm gần đây các nhàmáy đã không còn dùng lò đốt than nữa, thay vào đó người đã dùng lò tần số đểnấu hợp kim đồng Các lò tần số được dùng đa số có dung lượng từ 100kg/međến 1000kg/me Các lò này thường nhập từ Trung Quốc và một số nước khác.Tần số làm việc của các lò nấu hợp kim đồng thường từ 500 – 2.500 héc, cá biệt

có lò làm việc ở tần số 8000 héc (lò Đức) Các chi tiết từ hợp kim đồng thườngđược đúc trong khuôn cắt, khuôn kim loại hoặc đúc ly tâm Cũng giống như tìnhtrạng đúc kim loại đen, đa số các nhà máy và các xưởng đúc đồng khác không

có thiết bị phân tích nhanh (trừ Công ty cơ khí Hòn Gai) do đó việc đúc ra cácloại hợp kim đồng đều phải dựa vào việc chuẩn bị nguyên liệu đầu vào, và từ đótính toán phối liệu trước khi đúc, không thể điều chỉnh thành phần hợp kimtrong quá trình nấu, do đó khó đạt thành phần chính xác của hợp kim Các chitiết đúc bằng khuôn kim loại và đúc ly tâm đều cho chất lượng vật đúc tốt, ít phếphẩm do rổ khí

Để nấu luyện hợp kim nhôm ở các xí nghiệp, có đúc các chi tiết bằngnhôm, thường sử dụng các lò điện trở (những năm trước đây đa số dùng lò đốtthan)

Các chi tiết đúc dạng pít tông của động cơ diezel thường đúc tĩnh bằngkhuôn kim loại (nhà máy phụ tùng động cơ ô tô số I gò đầm Thái Nguyên, nhàmáy phụ tùng Tân Bình) Trong những năm gần đây, để nâng cao tỉ lệ nội địahóa trong việc lắp ráp xe máy, một số nhà máy thuộc khu vực Hải Phòng và HàNội, Thái Nguyên và Tuyên Quang đã nhập của Đài Loan một số dây truyền nấu

và đúc áp lực cao bán tự động, điều khiển PLC để đúc các chi tiết từ hợp kimnhôm cho xe máy: Công ty TNHH cơ khí phụ tùng xe máy Hải Phòng có lò nấunhôm bằng điện trở dung lượng 300kg/me, có máy đúc áp lực cao mà lực ghìkhuôn 250 tấn; Công ty TNHH Hùng Hưng khu công nghệ cao Hòa Lạc có haimáy đúc áp lực cao hợp kim nhôm với lực ép thủy lực từ 250 tấn đến 400 tấn,(máy móc thiết bị còn khá mới, mới chỉ dùng để chứng minh cho việc có nội địahóa) Công ty cơ khí chính xác 29 Tuyên Quang cũng có nhập hai máy đúc áplực cao dùng để đúc hợp kim nhôm và ăng ti moan, một máy kiểu đứng có lựcghì khuôn 160 tấn và một máy kiểu nằm ngang với lực ghì khuôn 250 tấn Xínghiệp cơ khí 59 Thái Nguyên cũng được trang bị máy đúc áp lực cao hợp kimnhôm với lực ép 250 tấn của Đài Loan điều khiển PLC Tất cả các thiết bị đúc

áp lực cao đều ít nhất được sử dụng hoặc chưa sử dụng Ngoài ra, trong nhữngnăm gần đây các doanh nghiệp sản xuất dây điện từ ở Việt Nam như Công tyCADIVI ở thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Dây và Cáp điện Trần Phú – HàNội, Xí nghiệp cơ khí 59 thuộc Tổng cục công nghiệp Quốc phòng… đã nhậpcác dây chuyền đúc rút liên tục đồng Nguyên liệu đúc nấu chẩy bằng lò tần số,

Trang 7

nước kim loại đồng sau khi nấu chảy được tự động chẩy sang ngăn thứ hai củanồi nấu được dàng lén các lỗ khuôn Φ 8mm có ống dẫn hướng (có thể có 3,5hoặc 6 lỗ khuôn, kim loại đồng lỏng dâng lên) kết tinh và đông đặc sẽ được hànnối nhờ nhiệt tiếp xúc với các dây đồng Φ 8mm nằm sẵn và hệ thống kéo rút sẽrút dây Φ 8mm ra ngoài.

Công nghệ nấu đúc rút liên tục cho phép tạo ra phôi dây đồng Φ 8mm vớichất lượng cao, năng suất rất cao, đảm bảo môi trường trong sạch tiết kiệm diệntích nhà xưởng so với công nghệ cán từ thỏi trước đây

c Về đội ngũ cán bộ và công nhân ngành đúc

Qua khảo sát của nhiều xưởng đúc, của các Công ty lớn cũng như ở cácCông ty chuyên đúc, đội ngũ cán bộ kỹ thuật đúc tương đối lớn tuổi, đội ngũcông nhân tuy có tay nghề cao và khá, song cũng có tuổi đời cao Cán bộ kỹthuật tre làm việc trong ngành đúc rất ít Đây là điều rất đáng lo lắng cho côngtác phát triển của ngành đúc trong tương lai

Lý giải cho hiện tượng này là ở chỗ: cán bộ kỹ thuật và công nhân ngànhđúc làm việc trong điều kiện rất khắc nghiệt, nhiệt độ cao, nặng nhọc và môitrường kém Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ và công nhân làm việc trong ngànhđúc lại chưa được quan tâm thích đáng do đó sinh viên thi vào các trường đạihọc không muốn đăng ký vào ngành đúc ngay cả công nhân cũng ít ai muốn trởthành công nhân ngành đúc Tôi nghĩ rằng, các cơ quan chức năng sớm phải cónhững giải pháp đồng bộ gồm cả tuyên truyền giáo dục đến các cơ chế tiềnlương hợp lý cho cán bộ và công nhân ngành đúc Các trường đại học, cao đẳng

và trường đào tạo nghề cần tăng các chỉ tiêu đào tạo cán bộ và công nhân chongành đúc

d Kết luận chung:

Trong những năm gần đây, mặc dù ngành cơ khí luôn có những khó khănchồng chất vì chưa có sự quan tâm đúng mức của Đảng và Chính phủ, songchúng ta vẫn luôn cố gắng bươn trải để tồn tại và cố gắng đổi mới thiết bị vàcông nghệ nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của ngành trong đó có đổi mớicông nghệ và thiết bị ngành đúc: các lò đúc thép và đúc gang tùy theo khốilượng lớn nhỏ đều được dùng các lò hồ quang và lò tần số với tần số biến đổi từ

400 héc đến 1000 héc, các lò đúc đồng cũng chủ yếu dùng lò tần số, còn đúcnhôm dùng lò điện trở Tuy nhiên, các lò này đa số chưa có thiết bị kiểm tranhiệt độ, quá trình vận hành lò còn thủ công Vấn đề vật liệu làm khuôn cho đúcgang và đúc thép đã được quan tâm hơn nhiều, công nghệ đúc khuôn tươi, đúckhuôn phu ran đã đang dần được thực hiện ở một số nhà máy (Công ty cơ khí

Hà Nội, Công ty Disoco, Viện nghiên cứu công nghệ…) Việc cơ giới hóa từngkhâu trong làm khuôn đã dần được áp dụng (trộn vật liệu làm khuôn bằng máy;đầm khuôn bằng máy; phá khuôn bằng máy…) làm giảm nhẹ sức lao động chongười công nhân Một số xưởng đúc của các Công ty cơ khí lớn đã có trang bịphân tích nhanh để điều chỉnh việc hợp kim hóa trong quá trình đúc, đã có thiết

bị siêu âm và kiểm tra rơn ghen để kiểm tra khuyết tật vật đúc Tuy nhiên, nhiềuxưởng đúc còn chưa có các thiết bị này Trong các xưởng đúc chưa được trang

bị các lò thép có dung lượng lớn; khả năng đúc lớn nhất đối với chi tiết thép mới

có thể đến 15 tấn, vì vậy chưa thể tạo phôi đúc cho các chi tiết lớn Một số Công

Trang 8

ty có lò đúc thép lớn có dung lượng đến 50 tấn song chỉ dùng cho đúc liên tụcthép thỏi; không có phân xưởng đúc chi tiết thép đi kèm nên không tận dụngđược khả năng của lò Theo tôi cần có giải pháp để tận dụng các lò thép lớn đểđúc các chi tiết lớn.

Việc đào tạo cán bộ kỹ thuật và công nhân cho ngành đúc còn chưa đượcquan tâm đúng mức Điều này dẫn đến tuổi đời trung bình của cán bộ kỹ thuậtngành đúc đã vượt 45 tuổi ở nhiều Công ty lớn

II Nghiên cứu khảo sát về hiện trạng và xu hướng phát triển của công nghệ hàn tại Việt Nam

Như trên đã trình bày, công nghệ hàn cũng là một trong những công nghệtạo phôi đối với các chi tiết dạng khung và hộp có kích thước lớn: vỏ hộp giảmtốc lớn, thân máy động cơ diezel thủy với công suất đến hàng nghìn mã lực, cácthân máy ép thủy lực… Đối với ngành chế tạo tàu thủy, công nghệ hàn còn đóngvai trò quyết định để chế tạo vỏ tàu Ngoài ra, công nghệ hàn còn phối hợp vớicác công nghệ khác như đúc và gia công áp lực để tạo phôi các chi tiết lớn vớichất lượng tốt, để hàn đắp lên bề mặt các chi tiết một lớp kim loại nhằm phụchồi các chi tiết mòn hoặc tạo cho chi tiết có tính năng đặc biệt hơn Dưới đây xinnêu một số nét về các loại công nghệ hàn đang được sử dụng rộng rãi trên thếgiới, hiện trạng và xu hướng phát triển các công nghệ hàn tại Việt Nam

a Các phương pháp công nghệ hàn hiện đang được sử dung rộng rãi trên thế giới

Cần lưu ý rằng khi giới thiệu công nghệ hàn, ở đât chỉ quan tâm đến côngnghệ hàn điện (công nghệ hàn hơi chỉ có một loại và phạm vi sử dụng hẹp nênkhông giới thiệu)

a.1 Công nghệ hàn điện hồ quang thủ công với các loại que hàn bọc thuốc khác nhau

Với các loại que hàn khác nhau người ta có thể hàn đắp và hàn liên kétcác loại thép khác nhau kể cả hàn các chi tiết gang và các hợp kim màu

Thiết bị hàn: Có thể là biến thế hàn (dùng điên xoay chiều) có thể máyhàn một chiều (thường là chỉnh lưu) Đây là công nghệ hàn được sử dụng rộngrãi nhất

Ưu điểm: thiết bị đơn giản, dễ sử dụng, đầu tư thấp

Nhược điểm: năng suất thấp, không liên tục, lãng phí nhiều nguyên liệu,chất lượng mối hàn phụ thuộc nhiều vào công nhân; gây khói nhiều, ảnh hưởngsức khỏe công nhân

Hàn hồ quang thủ công cũng có thể dùng điện cực để gây hỗ quang, kimloại hàn có thể đưa vào từ bên ngoài Trong trường hợp này cần khí bảo vệ làargon (Tig), thường dùng để hàn nhôm, hàn thép không gỉ dạng tấm mỏng

a.2 Hàn bán tự động trong lớp khí bảo vệ:

Thiết bị hàn chủ yếu là nguồn một chiều, có điện áp từ 24-40 vôn, dòngđiện có thể điều chỉnh từ thấp đến cao, phù hợp với đường kính của dây hàn.Dây hàn thường là loại dây thép các bon thấp có thành phần hợp kim Mn vàSilic (08IC, 10IC… ) với Φ= 0,8 – 1,6mm Khí bảo vệ thường dùng CO2 hoặc

Trang 9

Ar hoặc hỗn hợp Ar + H2 Việc cấp dây hàn vào vùng hàn được cơ giới hóa vớitốc độ cấp dây được điều chỉnh vô cấp.

Ưu điểm: Hàn liên tục, năng suất cao hơn hàn thủ công, tiết kiệm vật liệuhàn, có thể hàn đắp hoặc liên kết, dễ sử dụng, không có khói

Nhược điểm: Hồ quang không được che kín (giống hàn hồ quang tay),kim loại bị bắn tóe, dây hàn có kích thước nhỏ nên năng suất bị hạn chế, thườngphải hàn rất nhiều lớp khi hàn đắp với chiều dày lớn

Loại hàn bán tự động này được dùng khá rộng rãi sau hàn thủ công

a.3 Hàn hồ quang chìm dưới lớp thuốc bảo vệ

Dây hàn để trần không bọc song đường kính dây hàn tùy theo chiều dàycủa vật hàn có thể chọn kích thước dây có thể từ thấp (1,2mm) đến cao (có thểđến 8mm) phụ thuộc vào cường độ của thiết bị

Thuốc bảo vệ dạng hạt nhỏ phủ lên dây hàn và bể hàn, có tác dụng bảo vệkim loại nóng chảy của bể hàn không tiếp xúc với không khí và duy trì cho hồquang luôn ổn định

Ưu điểm: hàn liên tục, có thể thực hiện hoàn toàn tự động, chất lượng cao

và năng suất cao, có thể thực hiện việc hợp kim hóa trong quá trình hàn; khi hàn

hồ quang hoàn toàn được lớp thuốc che phủ, không gây tiếng ồn, ít phụ thuộcvào công nhân

Nhược điểm: quá trình hàn phức tạp hơn, quá trình cấp thuốc phủ phảiliên tục, khói do cháy thuốc gây ô nhiễm và nóng hơn

Ngoài ba loại hàn điện phổ biến nêu trên, tùy từng mục đích ở các nướctiên tiến người ta còn dùng các loại công nghệ hàn điện bán tự động bằng dâyhàn lõi thuốc có khí bảo vệ

a.4 Hàn điện xi là loại hàn hồ quang mà vai trò của hồ quang chỉ là nguồn tạo nhiệt để làm nóng chảy lớp xỉ lỏng, dẫn điện.

Sau khi lớp xỉ lỏng đã đủ lớn thì hồ quang sẽ chấm dứt và quá trình hàn,

do điện năng của nguồn hàn cấp vào bể hàn thông qua một dây điện cực hoặc 3dây điện cực qua lớp xỉ lỏng và hòa tan kim loại điện cực và liên kết với kimloại được hàn

Hàn điện xỉ thường được sử dụng để hàn nối các tấm kim loại có chiềudày lớn đến hàng trăm mm; dùng để chế tạo các phôi trục có bậc ở đầu, đườngkính bậc lớn hơn đường kính trục đến hàng trăm mm: trục bơm và trục tuyến bincông suất đến hàng nghìn mã lực

Ngoài bốn loại hàn điện nêu trên, ở các nước có nền công nghiệp tiên tiến,tùy từng mục đích của sản phẩm người ta còn dùng phương pháp hàn bán tựđộng hoặc tự động bằng dây có lõi thuốc được bảo vệ bằng khí trơ (Flux coredarc welding), hàn plasma dạng thanh hoặc bột, hàn micro plasma, hàn Laze, hànsiêu âm, hàn chùm tia điện tử, hàn rô bot Hiện nay trên thế giới quá trình hàn đãđược tự động hóa rất cao

b Hiện trạng về thiết bị và công nghệ hàn ở Việt Nam

Có thể nói trước những năm 90 của thế kỷ trước công nghệ hàn của nước

ta còn rất lạc hậu, đại bộ phận các nhà máy cơ khí, kể cả các nhà máy đóng tàubiển, các phân xưởng kết cấu thép chỉ được trang bị các thiết bị hàn thủ cônggồm nguồn điện là các biến thế hàn xoay chiều hoặc các máy hàn một chiều kiểu

Trang 10

con lợn Các vật liệu hàn thường là các loại que hàn nhập từ Liên Xô cũ hoặcTrung Quốc Trong nước cũng có nhà máy chế tạo que hàn Việt Đức song chỉchế tạo được một số que hàn dùng cho hàn thép các bon thông thường Côngsuất của nhà máy que hàn Việt Đức là 10.000 tấn que hàn một năm Song thựcchất ở thời điểm đó, do chất lượng que hàn thấp nên nhà máy chỉ sản xuất hàngnăm khoảng 4000 – 5000 tấn Trong nước chưa sản xuất các loại que hàn đặcbiệt như que hàn chất lượng cao (tương đương 7016, 7018, 7024) chưa sản xuấtcác loại que hàn gang, que hàn thép không gỉ và que hàn thép mangan cao… tất

cả các loại que hàn này đều phải nhập

Cá biệt ở một vài nhà máy mới được xây dựng trong thời gian từ 1975 –

1980 hoặc một số Viện có được trang bị một vài máy hàn bán tự động dưới lớp

xỉ, kiểu trắc tơ, song ít được sử dụng vì không có xỉ hàn, trong nước lại không

có cơ sở nào sản xuất xỉ hàn, chưa có nhà máy nào được trang bị các thiết bị hànbán tự động với lớp khí bảo vệ CO2 hoặc ác gông

Vào những năm 90 của thế kỷ XX, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ xóa bỏ lệnhcấm vận đối với nền kinh tế nước ta, nhiều nước bắt đầu đẩy mạnh việc đầu tưcác nhà máy vào Việt Nam, họ mang theo nhiều thiết bị thi công vào Việt Namtrong đó có các thiết bị hàn mới và tiên tiến Ngoài ra, thông qua các cuộc triểnlãm công nghiệp quốc tế được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,các Công ty công nghiệp chế tạo máy đã mang các thiết bị của họ đến giới thiệutại Việt Nam Nhờ đó các doanh nghiệp cơ khí tại Việt Nam đặc biệt là cácdoanh nghiệp cơ khí thuộc Tổng Công ty lắp máy Việt Nam, các doanh nghiệpthuộc Tổng Công ty máy xây dựng, các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty cầuThăng Long, Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam… đã thấy ngayđược các ưu điểm của các loại thiết bị hàn và công nghệ hàn tiên tiến mà các tậpđoàn Thụy Điển ESAB, Pháp SAF Nhật Bản, Mỹ giới thiệu, so với các thiết bịhàn cũ kỹ và lạc hậu mà mình đang dùng Mặt khác về giá nhập của các loạithiết bị hàn tiên tiến này cũng không quá cao (giá nhập một thiết bị hàn bán tựđộng với khí bảo vệ CO2 với dòng điện cao nhất IA = 350ampe của các nướctrên chỉ dao động từ 2500 USD – 3200 USD Một thiết bị hàn tự động dưới lớpthuộc trợ dung, có đầu hàn chảy dọc trên xà, chi tiết có thể đặt trên giá đỡ có thể

có chuyển động quay, nghĩa là máy có thể hàn tự động theo đường thẳng hoặc

có thể hàn tự động theo đường tròn với dòng điện tối đa 1000A, với giá nhập chỉkhoảng 25.000 USD – 40.000 USD Như vậy để đổi mới thiết bị và công nghệtrong lĩnh vực hàn và cắt kim loại không đòi hỏi nguồn vốn lớn như đổi mớithiết bị của ngành gia công cắt gọt hoặc gia công áp lực Vì vậy hiện tại cácdoanh nghiệp cơ khí nói chung và đặc biệt ở các ngành chế tạo tàu biển, ngànhlắp máy, ngành máy xây dựng, ngành chế tạo các dầm cầu và các xưởng thép kếtcấu, của các nhà máy cơ khí đều đã trang bị các thiết bị hàn, cắt hiện đại Dướiđây xin giới thiệu kết quả khảo sát về hiện trạng thiết bị và công nghệ hàn ở một

số doanh nghiệp Hiện trạng thiết bị và công nghệ hàn ở một số xí nghiệp điểnhình

b.1 Xưởng gia công kết cấu của Công ty cơ khí Hà Nội

Công ty cơ khí Hà Nội đã trang bị 20 máy hàn thủ công của hãng ESABThụy Điển với dòng điện hàn một chiều từ 630A, 400A và 300A; 18 máy hàn

Trang 11

bán tự động với khí bảo vệ CO2 cũng của hãng ESAB Thụy Điển; một máy hàn

tự động dưới lớp thuốc bảo vệ có thể hàn đường thẳng dài 6000mm, hàn vòngtròn với đường kính Φ 4000mm Tất cả các thiết bị hàn còn rất tốt

b.2 Nhà máy chế tạo nồi hơi Đông Anh

Nhà máy chế tạo nồi hơi Đông Anh đã trang bị các máy hàn hiện đại như:máy hàn tự động dưới lớp thuốc có dòng điện I = 1000 A (một chiều) hãng chếtạo Lincold (Mỹ), máy hàn tự động với dòng một chiều 350A (hãng chế tạoLincold Mỹ), máy hàn Tig-AP (điện cực volfram ) I = 400A với số lượng 3chiếc (Nhật), máy hàn MAG bán tự động có khí bảo vệ CO2 số lượng 3 chiếcnhập của Nhật; máy hàn thủ công các loại 40 chiếc của Nhật, Đức, Ấn Độ Tất

cả các thiết bị hàn còn rất tốt Tất cả các máy hàn cũ đã bị loại bỏ

b.3 Công ty chế tạo dầm thép cho xây dựng cầu thuộc Tổng Công ty cầu Thăng Long

Ở Công ty này hàng chục máy hàn tự động dưới lớp thuốc trợ dung cókhả năng di trượt dọc hàng chục mét với dòng điện một chiều Imax = 1000A củahãng ESAB (Thụy Điển) chuyên dùng để chế tạo các dầm thép I với tiết diệnlớn; trang bị rất nhiều máy hàn bán tự động MIG và MAG có dòng điện hàn từ630A; 400A và 300A, máy hàn thủ công kiểu mới (Inventor) Hầu như khôngcòn tồn tại máy hàn kiểu biến thế cũ nữa Ngoài ra Công ty chế tạo dầm thép còntrang bị nhiều máy cắt tự động CNC bằng C2H2 và bằng plasma

b.4 Các Tổng Công ty công nghiệp tàu thủy thuộc Tập Đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

Những doanh nghiệp cơ khí dùng nhiều thiết bị hàn và cắt so với cácdoanh nghiệp cơ khí khác Thật vậy để chế tạo một con tàu biển, vỏ tàu chiếmmột tỉ trọng lớn so với toàn bộ con tàu Chúng ta cũng biết, để chế tạo một vỏtàu khi đã có thiết kế nhất thiết phải dùng đến công nghệ hàn và cắt

Để đưa công nghiệp tàu thủy Việt Nam từ lúc rất yếu kém trở thành mộtnền công nghiệp quan trọng và hùng mạnh như hiện nay trước hết là được sựquan tâm và chỉ đạo chặt chẽ của Đảng và Chính phủ và sự quyết tâm của banlãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên ngành công nghiệp tàu thủy ViệtNam Hiện tại doanh thu hàng năm của tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Namlên gần 2 tỉ USD mỗi năm Có được thành tích to lớn đó ngoài các yếu tố kểtrên, tập đoàn đã đổi mới toàn diện công nghệ và thiết bị của ngành đóng tàu, tạođiều kiện cho tập đoàn từ chỗ chỉ đóng được các tàu biển với trọng tải 3000 tấnđến nay đã đóng thành công nhiều tàu vận tải có trọng tải 53.000 tấn, xuất khẩusang Anh, tàu chở dầu 100.000 tấn cho dầu khí… Trong việc đổi mới công nghệ

và thiết bị đó, ngành đóng tàu đã đổi mới toàn bộ thiết bị và công nghệ hàn vàcắt trong việc chế tạo vỏ tàu

Hàng loạt các thiết bị hàn tự động dưới lớp trợ dung, thiết bị hàn bán tựđộng có bảo vệ bằng khí CO2, hàng loạt máy cắt tôn điều khiển CNC được trang

bị mới Hiện nay không còn tồn tại các thiết bị hàn theo kiểu biến thế hàn, trongcác Công ty đóng tàu của tập đoàn Với việc ứng dụng các thiết bị mới này chophép ngành đóng tàu thực hiện chính xác các tuyến hình cho từng công đoạn của

vỏ tàu Ngành công nghiệp tàu thủy nhận thức một cách dúng đắn tầm quantrọng của công nghệ hàn đối với ngành đóng tàu nên ngoài việc đầu tư hàng

Trang 12

trăm thiết bị và công nghệ mới trong lĩnh vực hàn, tập đoàn còn đầu tư nhà máylắp ráp và chế tạo máy hàn bán tự động Hàn Quốc đặt tại khu công nghiệp PhốNối – Hưng Yên, đầu tư xây dựng Công ty làm vật liệu hàn trong đó có dâytruyền chế tạo dây hàn lõi thuốc; dây chuyền chế tạo que hàn chất lượng cao,chắc chắn trong thời gian tới tập đoàn sẽ tổ chức sản xuất xỉ hàn dùng cho hàn

tự động

b.5 Một vài xí nghiệp tại Tổng Công ty lắp máy Việt Nam

* Công ty lắp máy Lilama 45-1 tại thành phố Hồ Chí Minh: Riêng Công

ty 45-1 đã trang bị đến 80 máy hàn các loại của hầu hết các nước tư bản nhưThụy Điển, Mỹ, Ý, Nhật; 5 máy cắt plasma gồm một máy của Ý, hai máy củaNhật và hai máy của Thụy Điển

* Các công ty lắp máy khác của Tổng Công ty lắp máy Việt Nam

Có thể nói, số lượng các Công ty lắp máy thuộc Tổng Công ty lắp máyViệt Nam rất lớn, bất cứ chỗ nào, tỉnh nào có các nhà máy lớn, có khu côngnghiệp là nơi đó có Công ty lắp máy Mỗi Công ty lắp máy đều trang bị rấtnhiều các thiết bị hàn và thiết bị cắt Hầu như các loại thiết bị này đều đượcnhập từ các nước tư bản, đa số là loại máy hàn và cắt tiên tiến Tôi chỉ xin nêuthêm ở một Công ty nữa: Công ty chế tạo thiết bị của Lilama tại phường HùngVương quận Hồng Bàng – Hải Phòng Công ty này được trang bị đến 105 máyhàn các loại, trong đó có máy hàn dầm Megasaf của Pháp với công suất263KVA; một máy hàn dầm dạng cổng của Mỹ công suất 200kw; máy hàn bồnchứa MKR300 của Pháp; máy hàn TIG của Nhật (23 chiếc), máy hàn MIG(Thụy Điển và Nhật) 13 chiếc…

Lướt qua các trang thiết bị hàn và thiết bị cắt của các Công ty thuộc TổngCông ty lắp máy Việt Nam, chúng tôi thấy các thiết bị này đều được nhập củacác hãng có tiếng của các nước tư bản phát triển, nó thuộc loại máy tiên tiến;cho phép hàn và cắt với chất lượng cao Cũng giống như tập đoàn công nghiệptàu thủy Việt Nam, Tổng Công ty lắp máy Việt Nam coi công nghệ hàn và cắt

có một vai trò rất quan trọng đối với họ, do đó họ trang bị các máy hàn và cắtđều rất hiện đại của các hãng danh tiếng của các nước tư bản phát triển Ngoài raTổng Công ty lắp máy còn thành lập một Viện nghiên cứu áp dụng các côngnghệ hàn tiên tiến vào sản xuất trong chính Tổng Công ty của mình

b.6 Công tác nghiên cứu và đào tạo cán bộ và công nhân hàn

Song song với việc đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ hàn ở hầu khắpcác doanh nghiệp cơ khí có liên quan đến hàn như đã nêu, Nhà nước ta cũng rấtquan tâm đến việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển công nghệ hàn và xử lý bềmặt Thể hiện sự quan tâm đó ở chỗ, năm 2001 Nhà nước ta đã có quyết địnhngay trong đợt đầu,đầu tư một phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về côngnghệ hàn và xử lý bề mặt tại Viện Nghiên cứu cơ khí Số vốn đầu tư cho phòngthí nghiệm này lên tới 45 tỉ đồng Việt Nam (3 triệu USD) Phòng thí nghiệmđược trang bị rất nhiều thiết bị vào loại hiện đại: hai rô bốt hàn cộng một rô bốtnâng hạ, cho phép hàn hoàn toàn tự động được bảo vệ bằng khí CO2 hoặc argon,được lập trình cho các đường hàn rất phức tạp mà không cần đến tác động củacon người trong quá trình hàn; có máy hàn Lazer; có máy hàn plasma vàmicroplasma; có thiết bị hàn ống tự động khi ống đứng yên đầu hàn bò xung

Trang 13

quanh ống, các chế độ hàn được lập trình và tự động thay đổi ứng với từng vị trícủa đầu hàn, có hàng chục máy hàn chìm, hàn bán tự động, hàn siêu âm, hàn tiếpxúc, hàn lăn, hàn điện xỉ… Có thể nói hầu hết các loại máy hàn tiên tiến nhấtcủa thế giới đều có mặt ở đây trừ một vài loại như máy hàn dùng chùm tia điện

tử và máy hàn plasma dạng bột Với những thiết bị về hàn hiện có tại phòng thínghiệm trọng điểm quốc gia, nếu ta có một đội ngũ cán bộ chuyên môn đủ mạnhchắc chắn ta có thể khai thác có hiệu quả hơn rất nhiều để đầy nhanh việc nghiêncứu ứng dụng các phương pháp hàn tiên tiến vào sản xuất tốt hơn, làm tốt hơnviệc kết hợp nghiên cứu + đào tạo và sản xuất

c Kết luận chung

Sau khi khảo sát và đánh giá hàng loạt Công ty tiêu biểu, chúng tôi có thểđưa ra các nhận xét sau:

- Các nhà máy, công ty cơ khí đã có sự đầu tư và đổi mới rất mạnh cácthiết bị và công nghệ hàn Các thiết bị hàn thủ công cũng không còn là các biếnthế hàn cũ kỹ và lạc hậu, thay vào đó là các thiết bị chỉnh lưu co thể cho dòngđiện một chiều với sự thay đổi dòng điện vô cấp Các vật liệu và nguyên lý mớitrong việc chế tạo máy hàn, máy hàn Inventor đã được áp dụng, làm cho máyhàn thủ công có khối lượng và kích thước nhỏ gọn và nhẹ hơn ba bốn lần so vớicác máy hàn cùng cỡ trước đây; các thiết bị và công nghệ hàn bán tự động vớikhí bảo vệ và tự động dưới lớp xỉ bảo vệ đã được trang bị khá đầy đủ và được ápdụng rất phổ biến tại các Công ty cơ khí, đặc biệt ở các Công ty đóng mới vàsửa chữa tàu biển, các Công ty chế tạo cầu, các Công ty chế tạo dầm thép, cácCông ty lắp máy thuộc Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam: các Công ty chế tạo

cơ khí lớn… Các thiết bị thường được nhập từ các hãng rất nổi tiếng của ThụyĐiển, Pháp, Mỹ, Nhật và Cộng hòa liên bang Đức Tuyệt đại đa số các thiết bịhàn đang còn rất tốt và được khai thác rất có hiệu quả

- Tuyệt đại đa số các Công ty có sử dụng công nghệ hàn nhiều đều có cácthiết bị kiểm tra bằng siêu âm, bằng tia X như Công ty cơ khí Hà Nội, Công tychế tạo nồi hơi Đông Anh, Công ty chế tạo dầm thép cho cầu Đông Anh, Công

ty cơ khí trung tâm Cẩm Phả, các Công ty của Tập đoàn công nghiệp tàu thủyViệt Nam, Tổng Công ty lắp máy Việt Nam… Công tác nghiên cứu và đào tạothuộc lĩnh vực công nghệ hàn cũng được quan tâm ở các trường và các viện

- Tuy nhiên việc đầu tư và đổi mới thiết bị và công nghệ hàn còn tập trungở hàn thủ công với thiết bị nhỏ gọn và nhẹ hơn, ở hàn bán tự động với khí bảo

vệ (hàn MIG, MAG), hàn tự động dưới lớp xỉ bảo vệ (SAW), hàn điểm (trongcông nghiệp ô tô) Các phương pháp hàn khác, tuy cũng đã nhập thiết bị, songcũng chưa sử dụng hoặc sử dụng rất ít như hàn điện xỉ, hàn bán tự động dây lõithuốc cơ khí bảo vệ…

III Nghiên cứu khảo sát về hiện trạng và xu hướng phát triển của công nghệ gia công có phôi ở Việt Nam

Để chế tạo một chi tiết cơ khí sau khi đã có phôi (thường là phôi đúc, phôithông qua công nghệ gia công không phoi, có thể phôi tạo ra do công nghệ hàn)cần thiết phải thông qua nguyên công gia công có phoi đe tạo ra các chi tiết cókích thước gần đúng với chi tiết thực với lượng dư tối thiểu để gia công tinh vàchính xác sau khi nhiệt luyện

Ngày đăng: 03/12/2015, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w