1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỆ THỐNG NHÚNG – HƯỚNG đi mới của VIỆT NAM

12 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 349,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỆ THỐNG NHÚNG – HƯỚNG ĐI MỚI CỦA VIỆT NAMXuất hiện từ những năm đầu thập niên 1960, hệ thống nhúng đang dần trở thành một ngành phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ thông tin CNT

Trang 1

HỆ THỐNG NHÚNG – HƯỚNG ĐI MỚI CỦA VIỆT NAM

Xuất hiện từ những năm đầu thập niên 1960, hệ thống nhúng đang dần trở thành một ngành phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT), với những ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp và đời sống Theo các chuyên gia, ước tính đến năm 2010, doanh số của thị trường phần mềm cho hệ thống nhúng toàn cầu sẽ đạt cột mốc 6 tỷ đô-la Mỹ(1) Điều dự báo nói trên, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các đối tác lớn trong lĩnh vực này tại Việt Nam, đã

mở ra một hướng đi mới cho thị trường phần mềm của chúng ta trong tương lai

1 Những đặc trưng của hệ thống nhúng

Hệ thống nhúng (embedded system) được định nghĩa là một hệ thống chuyên dụng, thường có khả năng tự hành và được thiết kế tích hợp vào một hệ thống lớn hơn để thực hiện một chức năng chuyên biệt nào đó Khác với các máy tính đa chức năng (multi-purposes computers),

ví dụ như máy vi tính cá nhân (PC), một hệ thống nhúng thường chỉ thực hiện một hoặc một vài chức năng nhất định Hệ thống nhúng bao gồm cả thiết bị phần cứng và phần mềm, hầu hết đều phải thỏa mãn yêu cầu hoạt động theo thời gian thực (real-time) Tùy theo tính chất và yêu cầu, mức độ đáp ứng của hệ thống có thể phải là rất nhanh (ví dụ như hệ thống thắng trong xe hơi hoặc điều khiển thiết bị trong nhà máy), hoặc có thể chấp nhận một mức độ chậm trễ tương đối (ví dụ như điện thoại di động, máy lạnh, ti-vi) Để có thể dễ hình dung, ta xem ví dụ sau đây: một chiếc xe hơi trung bình có khoảng 70-80 chip vi xử lý (micro controller unit), mỗi bộ vi xử

lý đảm nhiệm một nhiệm vụ, chẳng hạn như đóng mở cửa, điều khiển đèn tín hiệu, đo nhiệt độ trong/ngoài xe, hiển thị giao diện người dùng (dashboard), điều khiển thắng (nếu dùng hệ thống thắng điện)…

\ Mỗi bộ phận như thế là một hệ thống nhúng, tất cả được thiết kế tích hợp vào một hệ thống chung lớn hơn, chính là chiếc xe hơi Một ví dụ khác gần gũi hơn với cuộc sống hằng ngày, đó là những chiếc điện thoại di động Các chức năng như điều khiển màn hình hiển thị, máy nghe nhạc và radio, bộ cảm ứng chụp hình, kết nối với máy tính và thiết bị ngoại vi, hoặc cao cấp hơn là kết nối với hệ thống định vị toàn cầu (GPS), tất cả đều là những hệ thống nhúng được tích hợp chung vào chiếc điện thoại

Do tính chất chuyên biệt của hệ thống nhúng và chúng thường được sản xuất với số lượng lớn nên các nhà sản xuất thường yêu cầu phải tối ưu hóa chúng nhằm giảm thiểu kích thước và chi phí sản xuất Những yêu cầu đó đã đưa đến những khác biệt cơ bản trong lĩnh vực viết phần mềm cho hệ thống nhúng so với các phần mềm thông thường

Thứ nhất, có rất nhiều hãng sản xuất bộ vi xử lý, phần cứng và phần mềm trong thị

trường hệ thống nhúng và ứng với mỗi nhà sản xuất lại có nhiều dòng sản phẩm, phong phú về

Trang 2

chủng loại và giá thành Các nhà thiết kế thường có những sự lựa chọn rất khác nhau về kiến trúc phần cứng và phần mềm cho các hệ thống của mình Vì vậy, khác với những lập trình viên thông thường như lập trình web hay lập trình ứng dụng (application), chỉ cần thông thạo một vài ngôn ngữ lập trình, hệ điều hành và chương trình khung (framework) là có thể làm việc có hiệu quả, một lập trình viên hệ thống nhúng phải có sự năng động và khả năng học hỏi tốt để có thể làm việc tối ưu với:

- Những bộ vi xử lý và phần cứng khác nhau: Texas Instrument, Freescale, ARM, Intel, Motorola, Atmel, AVR, Renesas…

- Những hệ điều hành khác nhau : QNX, uITRON, VxWorks, Windows CE/XP Embedded, Embedded Linux, Osek, Symbian…

- Những ngôn ngữ lập trình khác nhau : C/C++, B#, Ada, Assembly, PMC, LabView, PLC…

Thứ hai, bên cạnh sự đa dạng về kiến thức chuyên môn của lập trình viên, còn có sự đa

dạng về sản phẩm đầu ra như: y tế, công nghiệp ô-tô, tự động hóa, điện tử gia dụng, viễn thông, quốc phòng… Điều này đòi hỏi những người làm việc trong ngành hệ thống nhúng phải có khả năng thích ứng cao với nhiều dạng dự án và lĩnh vực hoạt động khác nhau

Thứ ba, các hệ thống nhúng thường cần có sự kết hợp liền lạc giữa phần cứng và phần

mềm Do đó, lập trình cho hệ thống nhúng cũng đòi hỏi phải có sự giao tiếp và làm việc mật thiết giữa đội ngũ lập trình viên và những người thuộc các lĩnh vực khác như tự động hóa, phần cứng,

cơ điện tử… Tùy vào lĩnh vực, bên cạnh những kiến thức về CNTT thông thường, trong một số trường hợp người lập trình hệ thống nhúng cần phải bổ sung thêm một số kiến thức nhất định về trình biên dịch (compiler), xử lý tín hiệu số, điện tử và sơ đồ mạch (schematics)… để có thể làm việc có hiệu quả với những nhóm khác Tất cả những khác biệt đó vừa là thách thức, khiến cho chỉ có ít người có thể trụ lại lâu dài, vừa là động lực, giữ chân những người thật sự đam mê, thích khám phá và không thích sự nhàm chán

2 Phân khúc thị trường hệ thống nhúng

Hệ thống nhúng vốn rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên có rất ít người biết được tầm quan trọng và sự hiện hữu của chúng trong thế giới quanh ta Từ những hệ thống phức tạp như hàng không vũ trụ, phòng thủ quân sự, máy móc tự động trong công nghiệp, đến những phương tiện di chuyển thông thường như máy bay, xe điện, xe hơi, các trang thiết bị y tế trong bệnh viện,

Trang 3

cho tới những thiết bị truyền hình và điện thoại di động chúng ta sử dụng hằng ngày, đâu đâu cũng có sự hiện diện của hệ thống nhúng

Trong hơn 9 tỷ bộ vi xử lý được sản xuất hằng năm, chỉ có khoảng 150 triệu bộ (1,5%) được sử dụng cho máy vi tính cá nhân, phần còn lại (98,5%) là dành cho hệ thống nhúng (2)

Theo một thống kê khác của BCC Research Group (4) thì đến năm 2009, tổng doanh số của thị trường hệ thống nhúng trên toàn cầu sẽ đạt khoảng 88 tỷ đô-la Mỹ, với phần cứng chiếm

78 tỷ đô-la Mỹ và phần mềm chiếm 3,5 tỷ đô-la Mỹ, phần còn lại là các bo mạch nhúng Tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm (AAGR) của phần mềm nhúng hiện đang đạt mức 16%

3.Hướng phát triển ngành phần mềm hệ thống nhúng tại Việt Nam

Hiện nay, lĩnh vực hệ thống nhúng tại Việt Nam mới chỉ có những bước đi chập chững ban đầu, với rất ít sản phẩm “Made in Vietnam” có thể ứng dụng vào thực tế Công việc chủ yếu vẫn là gia công phần mềm cho nước ngoài, trong đó chiếm tỷ lệ lớn nhất là các thị trường Nhật,

Mỹ và châu Âu Rất nhiều hãng sản xuất phần mềm lớn đã và đang “đổ bộ” vào thị trường Việt Nam để tận dụng lợi thế nguồn nhân lực giá rẻ và khai thác một thị trường tiềm năng mới như IBM, CSC, Altera…

Tuy nhiên, Việt Nam hiện đang đối đầu với một thách thức lớn, đó là “đầu vào” của nguồn nhân lực cho thị trường phần mềm nói chung và phần mềm cho hệ thống nhúng nói riêng

Ở lĩnh vực phần mềm đơn thuần, một nhân viên mới vào nghề chỉ cần từ ba đến sáu tháng huấn luyện là đã có thể làm tốt công việc được giao Còn trong ngành gia công phần mềm cho hệ thống nhúng, một nhân viên mới cần ít nhất sáu tháng đến một năm để có thể bắt đầu làm việc có hiệu quả, và từ hai đến ba năm mới có thể làm việc thành thạo Việc tuyển người và đào tạo đã khó, việc giữ người lại càng khó hơn

Đặc thù của ngành này là đòi hỏi nhân viên phải có sự kiên trì và bền bỉ để nắm bắt những kiến thức cần thiết, đồng thời cần một thời gian khá dài mới có thể thấy được thành quả

Đó là lý do tỷ lệ chuyển và nghỉ việc trong lĩnh vực này là khá cao, trung bình 12-20% Tuy nhiên, những người gắn bó được với ngành cũng có được những phần thưởng tương xứng, tích

Trang 4

lũy được nhiều kiến thức về phần mềm và phần cứng liên quan, cũng như thường xuyên có được

sự đổi mới, tránh nhàm chán trong công việc

Một điểm yếu khác góp phần làm hạn chế sự phát triển của ngành gia công phần mềm tại Việt Nam chính là nhân viên thiếu khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh và các kỹ năng mềm như khả năng thuyết trình, làm việc theo nhóm, quản lý thời gian… Như trên đã nói, các nhân viên trong ngành hệ thống nhúng cần phải có sự giao tiếp chặt chẽ với khách hàng và các nhóm làm việc nước ngoài khác

Tiếng Anh và các kỹ năng mềm chính là tiếng nói chung giúp mọi người có thể hiểu và làm việc với nhau hữu hiệu Tuy nhiên, hiện nay trình độ tiếng Anh của các sinh viên mới ra trường phần lớn không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, còn các kỹ năng mềm thì không được chú trọng Bên cạnh việc đào tạo về kỹ thuật, các công ty còn cần phải huấn luyện thêm khá nhiều về tiếng Anh và các kỹ năng mềm để những nhân viên mới có thể theo kịp và đáp ứng được những yêu cầu cơ bản trong một môi trường làm việc đa văn hóa

Muốn phát triển ngành phần mềm hệ thống nhúng lên một tầm cao mới như có thể sản xuất, ứng dụng thực tế và xuất khẩu phần mềm nhúng của Việt Nam, điều tiên quyết là phải tập trung phát triển lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) Hiện nay chúng ta đã có một số chương trình hợp tác với các hãng lớn ở nước ngoài như Toshiba, Panasonic, STMicroelectronics, Samsung…(5) để phát triển theo hướng này

Tuy nhiên, những chương trình như thế vẫn còn rất hạn chế và không có một định hướng chiến lược chung Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa vấn đề định hướng nghiên cứu và phát triển cho ngành hệ thống nhúng từ trong trường đại học và các trung tâm nghiên cứu, cũng như trang bị được những kiến thức tổng quát về lĩnh vực này cho những sinh viên trẻ, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhà tuyển dụng

Trong tương lai, nếu Việt Nam muốn nâng cao khả năng cạnh tranh với các nước chuyên gia công phần mềm lớn khác như Trung Quốc, Ấn Độ…, cần phải tập trung giải quyết bài toán tăng cường tính hiệu quả của nguồn nhân lực, phát triển tập trung theo chiều sâu thay vì chiều rộng như hiện nay Trình độ chuyên môn của chúng ta trong lĩnh vực phần mềm nhúng hiện nay

là tương đối “chắp vá” theo kiểu chỉ đâu làm đó, thiếu sự đầu tư và chiến lược phát triển hợp lý

Chúng ta cần có thêm nhiều chương trình đào tạo chuyên ngành về hệ thống nhúng từ trong trường đại học và các cơ sở đào tạo chính quy Đồng thời, mở rộng cửa đón các nhà đầu tư

để học hỏi những kỹ thuật mới và chuyển giao công nghệ, nhưng quá trình này phải thực hiện một cách có chọn lọc và kiểm soát, tránh tình trạng biến Việt Nam thành “bãi đáp” tiếp nhận những công nghệ lỗi thời như ở một số ngành công nghiệp khác

Tài liệu tham khảo:

(1) VDC’s report, “Embedded Integrated Computer Systems, 5th Edition”

(2) Michael Barr & Anthony Massa, “Programming Embedded System”

(3) European Commission report, “Study of Worldwide Trends and R&D Programmes in Embedded Systems in View of Maximising the Impact of a Technology Platform in the Area”

(4) BCC Report G-229R, “Future of Embedded Systems Technology”

(5) Celeste dela Torre, “Vietnam: Asia’s next superstar”

(6) Hồ Nguyên Đạt- Trưởng dự án - hệ thống nhúng của Công ty Global CyberSoft Việt Nam

Trang 5

Thị trường dành cho phần mềm nhúng (embeded system) đang ngày càng phát triển

và mở rộng Các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn về phát triển loại hình phần mềm mới mẻ này, khi nhu cầu về phần mềm nhúng ngày càng tăng trên thế giới.

Đó là ý kiến của ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm Công nghệ (FPT Software) đưa ra tại Hội thảo về phần mềm và giải trí điện tử, tổ chức tại Hà Nội ngày 25 và 26/5

Phần mềm không dành cho máy tính

Nói một cách nôm na, phần mềm nhúng là phần mềm dành cho tất cả những thiết bị không liên quan gì đến máy tính, chẳng hạn như thiết bị điều khiển, định hướng cho ô tô, điện thoại di động, ví tiền điện tử, đồ gia dụng (ti vi, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa…) Trên thực tế, số con chip vi xử lý dùng trong các máy tính, mạng nội bộ và Internet chỉ chiếm hơn 1% tổng số chip vi xử lý trên thế giới Số còn lại thuộc về các hệ thống nhúng

Thị trường phần mềm nhúng thế giới hiện nay đang có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng

do nhu cầu mở rộng, thay đổi và nâng cấp liên tục của các mặt hàng có sử dụng hệ thống nhúng

Theo số liệu của Business Communications Company, tổng thị trường phần mềm nhúng thế giới năm 2004 đạt khoảng 46 tỷ USD Dự kiến đến năm 2009, con số này sẽ lên tới 88 tỷ USD

Nhật Bản hiện nay được đánh giá là một trong những thị trường phần mềm nhúng hàng đầu thế giới Theo thống kê của JISA (Hiệp hội Dịch vụ CNTT Nhật Bản), phần mềm nhúng hiện nay chiếm tới 40% thị phần phần mềm Nhật Bản, với các sản phẩm rất đa dạng: lò vi ba, máy photocopy, máy in laser, máy FAX, các bảng quảng cáo sử dụng hệ thống đèn LED, màn hình tinh thể lỏng… Năm 2004, thị trường phần mềm nhúng của Nhật Bản đạt khoảng 20 tỷ USD với 150.000 nhân viên Đây được coi là thị trường đầy hứa hẹn với các đối tác chuyên sản xuất phần mềm nhúng như Trung Quốc, Indonesia, Nga, Ireland, Israel và cả Việt Nam

Cơ hội và thách thức

Với tốc độ tăng trưởng nhanh như vậy, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đối với loại hình phần mềm mới mẻ này đang mở rộng Ông Phan Văn Hòa cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang có một số lợi thế Đó là nguồn nhân lực công nghệ thông tin trẻ và tiếp thu nhanh, có kinh nghiệm làm gia công phần mềm cho nước ngoài, được Chính phủ quan tâm

và hỗ trợ phát triển Tuy nhiên, Việt Nam mới chỉ là một “lính mới” trong sân chơi sôi động này

Ở Việt Nam, hệ thống nhúng mới được quan tâm trong thời gian gần đây Các doanh nghiệp làm phần mềm nhúng cũng chưa nhiều, mới có một số trung tâm thuộc các trường Đại học Quốc gia, Đại học Bách khoa, các đơn vị như Học Viện Kỹ thuật quân sự, Viện nghiên cứu Điện tử - Tin học và Tự động hóa, Tổng công ty Điện tử - Tin học, Công ty thiết bị điện tử y tế, Công ty VTC - Truyền hình số mặt đất và một số công ty phần mềm khác

Các sản phẩm phần mềm nhúng “made in Việt Nam” có lẽ mới chỉ là con số khá khiêm tốn, còn lại là làm gia công cho nước ngoài Có thể điểm ra một vài sản phẩm tiêu biểu do người Việt làm ra như phần mềm nhúng cho đầu thu kỹ thuật số của Công ty điện tử HANEL (giải Sao Khuê 2005), Nhúng cá thể hóa thẻ thông minh của Công ty Liên doanh thẻ thông minh MK (giải Sao Khuê 2005)

Trang 6

Con đường để đến với thành công trong sản xuất và xuất khẩu phần mềm nhúng của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều chông gai Theo ông Phan Văn Hòa, thách thức lớn nhất

mà Việt Nam phải vượt qua hiện nay là chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực mới mẻ này, mới chỉ loanh quanh làm gia công, làm thuê theo đơn đặt hàng của nước ngoài; chưa có các trung tâm đào tạo chuyên sâu về phát triển hệ thống nhúng

Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ của lao động Việt Nam chưa tốt, nhất là trong trường hợp sản xuất phần mềm nhúng cho thị trường Nhật Bản, hoàn toàn dùng tiếng Nhật, mà đặc thù của phần mềm nhúng là khi có lỗi không thể sửa hoặc cài đặt lại được

Tại hội thảo về CNTT-TT tổ chức tại Hải Phòng hồi tháng 9/2005, Hiệp Hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA) cho rằng, xây dựng và phát triển phần mềm nhúng là một trong ba mũi nhọn có thể coi là đột phá cho hướng đi của công nghiệp phần mềm Việt Nam, bên cạnh phát triển game và các giải pháp ERP (giải pháp quản lý nguồn nhân lực cho doanh nghiệp) Trong Chiến lược phát triển CNTT đến năm 2010, phần mềm nhúng cũng được coi là một trong những sản phẩm trọng điểm

Điều quan trọng cần làm hiện nay để tận dụng được cơ hội tham gia vào thị trường mới

mẻ đầy hấp dẫn này là phải có một chiến lược phát triển lâu dài, trong đó chú trọng vào đào tạo nguồn nhân lực cũng như đào tạo ngoại ngữ được coi là chìa khóa để thành công

Chiến lược phát triển công nghiệp phần mềm Đến năm 2010 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 35-40%/năm; doanh thu toàn ngành đạt 1 tỷ USD, trong đó giá trị xuất khẩu chiếm 60% tổng doanh thu; đào tạo 200.000 sinh viên CNTT, trong đó 50% trở thành chuyên gia làm phần mềm chuyên nghiệp; giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm xuống còn 70%; phấn đấu đưa công nghiệp phần mềm Việt Nam phổ biến trên cộng đồng quốc tế và làm chủ công nghệ sản xuất một số sản phẩm trọng điểm như phần mềm nhúng, sản phẩm nội dung thông tin số

Trang 7

Hệ thống nhúng (embedded system) được định nghĩa là một hệ thống máy tính chuyên biệt được thiết kế để thực hiện một chức năng chuyên dụng Hệ thống nhúng được

sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều mặt hàng từ các thiết bị cao cấp như vệ tinh, tên lửa, tàu con thoi đến các thiết bị tiêu dùng như lò vi ba, máy sấy, máy hút bụi…

“Thị trường công nghệ thông tin cho hệ thống nhúng lớn hơn gấp nhiều lần so với

chương trình của những chiếc PC Có thể hình dung nó là phần chìm của tảng băng nổi”, Giám đốc điều hành HanoiTech Đinh Đức Hùng cho biết “Tôi ví dụ trong một chiếc xe hơi đời mới có tới trên 80 chương trình xử lý cho các ứng dụng từ điều khiển, phanh, nạp nhiên liệu, dẫn đường cho tới túi khí…Và số lượng vi xử lý trên các hệ thống hiện đại ngày càng tăng”

Theo thống kê của BCC Research Group thì đến năm 2009, tổng thị trường của các hệ thống nhúng toàn cầu sẽ đoạt khoảng 88 tỷ USD Trong đó phần cứng là 78 tỷ USD và phần mềm chiếm 3,5 tỷ Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của phần mầm nhúng sẽ cao hơn và hiện tại đang ở mức 16%/năm

Nhu cầu Hệ thống nhúng trên thế giới

Trong thế giới công nghệ thông tin, các “ông lớn” như IBM, Microsoft, Intel đã chuyển hướng một số bộ phận nghiên cứu phát triển của mình sang làm hệ thống nhúng từ rất sớm Điển hình là Microsoft với các máy chơi game Xbox, hệ điều hành nhúng Windows CE; Intel với các dòng chip xử lý nhúng như Intel 8008, 8080, 8085, 3000, các thẻ nhớ Nand Flash, các vi điều khiển MCS 51/251, MCS 96/296 …Bên cạnh đó là sự xuất hiện của hàng loạt các nhà sản xuất vi xử lý cho hệ thống nhúng như ARM, Atmel, Renesas…

Thị trường hệ thống nhúng có tiềm năng phát triển vô cùng lớn Theo các nhà thông kê trên thế giới thì số chip xử lý trong các máy PC và các server, các mạng LAN, WAN, Internet chỉ chiếm không đầy 1% tổng số chip vi xử lý có trên thế giới Hơn 99% số vi xử lý còn lại nằm trong các

hệ thống nhúng

Dưới đây là bản đánh giá chi tiết của nhóm nghiên cứu BCC (BCC Research Group) về thị trường hệ thống nhúng toàn cầu đến năm 2009 :

“Thị trường hệ thống nhúng toàn cầu đạt doanh thu 45,9 tỷ USD trong năm 2004, và dự báo sẽ tăng 14% trong vòng năm năm tới, đạt 88 tỷ USD

Trong đó thì thị trường phần mềm nhúng sẽ tăng trưởng từ 1,6 tỷ USD năm 2004 lên 3,5 tỷ USD năm 2009, với mức tăng trung bình hằng năm là 16% Tốc độ tăng trưởng phần cứng nhúng sẽ là 14,2% một năm, đạt 78,7 tỷ USD năm 2009, trong khi lợi nhuận các board mạch nhúng sẽ tăng 10% một năm.”

Tại Châu Á, Nhật Bản đang dẫn đầu về thị trường nhúng và là một trong những thị trường phần mềm nhúng hàng đầu thế giới Theo thống kê của JISA (Hiệp hội Dịch vụ Công nghệ Thông tin Nhật Bản), phần mềm nhúng hiện nay chiếm tới 40% thị phần phần mềm Nhật Bản, với các sản phẩm rất đa dạng : lò vi ba, máy photocopy, máy in laser, máy FAX, các bảng quảng cáo sử dụng hệ thống đèn LED, màn hình tinh thể lỏng…Năm 2004, thị trường phần mềm nhúng của Nhật Bản đạt khoảng 20 tỷ USD với 150.000 nhân viên Đây được coi là thị trường đầy hứa hẹn với các đối tác chuyên sản xuất phần mềm nhúng như Trung Quốc, Indonesia, Nga, Ireland, Israel, và cả Việt Nam

Nhu cầu hệ thống nhúng ở Việt Nam

Với tốc độ tăng trưởng nhanh như vậy, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đối với loại hình phần mềm mới mẻ này đang mở rộng Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) Trương Gia Bình cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam đang có một số lợi thế Đó là nguồn nhân lực công nghệ thông tin rẻ và tiếp thu nhanh, có kinh nghiệm làm gia công phần

Trang 8

mềm cho nước ngoài, được Chính phủ quan tâm và hỗ trợ phát triển…Tuy nhiên, Việt Nam mới chỉ là “lính mới” trong sân chơi sôi động này

Ở Việt Nam, hệ thống nhúng mới được quan tâm trong thời gian gần đây Các doanh nghiệp làm phần mềm nhúng cũng chưa nhiều, mới có một số trung tâm thuộc các trường Đại học Quốc gia, Đại học Bách khoa, các đơn vị như Học viện Kỹ thuật quân sự, Viện nghiên cứu Điện tử - Tin học và Tự động hóa, Tổng công ty Điện tử - Tin học, Công ty thiết bị Điện tử y tế, Công ty VTC – Truyền hình số mặt đất và một số công ty phần mềm khác…

Các sản phẩm phần mềm nhúng “made in Việt Nam” có lẽ mới chỉ là con số khá khiêm tốn, còn lại là làm gia công cho nước ngoài Có thể điểm ra một vài sản phẩm tiêu biểu do người Việt làm

ra như phần mềm nhúng cho đầu thu kỹ thuật số của Công ty Điện tử HANEL (giải Sao Khuê 2005), Nhúng cá thể hóa thẻ thông minh của Công ty Liên doanh thẻ thông minh MK (giải Sao Khuê 2005)…

Con đường để đến với thành công trong sản xuất và xuất khẩu phần mềm nhúng của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều chông gai Theo ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm công nghệ của FPT Software, thách thức lớn nhất Việt Nam phải vượt qua hiện nay là chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực mới mẻ này, mới chỉ loanh quanh làm gia công phần mềm, làm thuê theo đơn đặt hàng của nước ngoài, chưa có nhiều trung tâm đào tạo chuyên sâu về hệ thống nhúng

Tại hội thảo về CNTT tổ chức tại Hải Phòng tháng 9-2005, Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam VINASA cho rằng, xây dựng và phát triển phần mềm nhúng là một trong 3 mũi nhọn

có thể coi là đột phá cho hướng đi của công nghệ phần mềm Việt Nam, bên cạnh việc phát triển game và các giải pháp ERP Trong chiến lược phát triển công nghệ thông tin đến năm 2010, phần mềm nhúng được coi là một trong những sản phẩm trọng điểm

Những dữ liệu tài sản mang tính trí tuệ của con người như sách, ảnh, nhạc, phim…đã trở nên quá phổ biến trên thế giới mạng Bất cứ người nào cũng có thể tìm thấy cho mình một tập tin nhạc hay phim ở một trang nào đó, nằm tại một máy chủ có thể cách xa cả nửa vòng trái đất Những công cụ tìm kiếm thông minh như Google, Yahoo, MSN…càng làm cho chúng ta cảm thấy mọi thứ mình cần đều có sẵn Nhưng tất cả những “tài sản” chúng ta nhận được mà không có sự cho phép của chủ sở hữu là phạm pháp Điều làm đau đầu các nhà sản xuất và phân phối là làm sao ngăn chặn được tình trạng sao chép và trao đổi bất pháp các sản phẩm trí tuệ này trong một thế giới mạng đầy rẫy những kẻ “ăn cắp”?

Người ta đã tìm ra một công cụ hiệu quả, đó là mô hình DRM (Digital Rights Management – Quản lý quyền kỹ thuật số) DRM ra đời năm 1990, và hiện nay đã trở thành một chuẩn phổ biến

để bảo vệ các tập tin số Năm 2002, Bertelsmann (bao gồm BMG, Arista và RCA) là tập đoàn đầu tiên sử dụng DRM trên các đĩa CD nhạc Hệ điều hành Windows Vista của Microsoft cũng

hỗ trợ một hệ thống DRM gọi là Protected Media Path có nhiệm vụ ngăn không cho các nội dụng bảo vệ được thực thi khi một phần mềm “lạ” đang chạy Trong lĩnh vực nhạc và phim trực tuyến, các dịch vụ như iTune Store của Apple, Napster music store, Wal-Mart music Downloads…cũng

sử dụng DRM để bảo vệ các tập tin của mình

Tuy nhiên, sự hạn chế của DRM là nó thiếu một bộ khung công việc (framework) mở và tốn chi phí trong việc bảo vệ nội dung và phân quyền các nội dung nên đã làm trở ngại quy trình đối với người sở hữu tài sản và người sử dụng Người sử dụng cần một giải pháp công nghệ có khả năng bảo vệ được tài sản của họ đồng thời tránh được những yêu cầu hay những giấy phép bản quyền phiền hà và luôn bị “cột chặt” vào một tổ chức hay hệ thống nào đó Người sử dụng muốn có một số lượng lớn các nội dung để chọn lựa, đồng thời có thể chọn lựa phần mềm để xem nội dung, điều này ít (nếu có) giải pháp DRM nào làm được Một vài giải pháp tập trung vào việc cung cấp các công nghệ độc quyền chỉ quan tâm đến bảo vệ tài sản trong quá trình hình thành, nhân bản và phân phối, trong khi những giải pháp khác lại yêu cầu giải pháp của chúng phải được triển khai trên các nền phần cứng khác nhau Những thiếu sót của cách tiếp cận độc quyền

Trang 9

này còn tiếp tục cản trở sự phát triển và không thể ngăn chặn nạn ăn cắp bản quyền ngày càng gia tăng Giải pháp lý tưởng phải đem lại cách dùng “thân thiện” cho người sử dụng và những thành viên liên quan, đồng thời cho phép người sở hữu nội dung có khả năng tự bảo vệ và quản

lý quyền sử dụng nội dung đó từ lúc được tạo ra đến lúc được sử dụng và tại mọi thời điểm

Để thấy được những vấn đề gây ra bởi hệ thống DRM độc quyền, như thiếu tính linh hoạt, chúng

ta hãy xem xét một công nghệ kỹ thuật số khác, đó là email, và làm thế nào nó đóng vai trò quyết định, trở thành ứng dụng rộng rãi trong một thời gian ngắn Tưởng tượng rằng nếu email không phát triển theo hướng chuẩn mở, thay vào đó là được cài đặt bởi một số ít tổ chức và mỗi tổ chức

có tính độc quyền riêng của nó Email được tạo ra bởi phần mềm của nhà tổ chức sẽ không mở được bằng các phần mềm tạo email của những nhà tổ chức khác, và ngược lại Kết quả là gây sự lộn xộn, thiếu hiệu quả và mất tác dụng, và cuối cùng là “dập tắt” sự chấp nhận của giới kinh doanh cũng như người dùng đối với công nghệ này Thật may mắn, sau một thời gian cạnh tranh giữa các giải pháp độc quyền, những chuẩn mở đã chiếm ưu thế, cho phép các nhà kinh doanh cạnh tranh với nhau trên tính năng và giá cả , giúp đẩy mạnh sự phát triển của công nghệ mở và nhanh chóng được chấp nhận

Hãy thử xem khi có được một công cụ rẻ tiền cho phép những người sở hữu bảo vệ được nội dung của họ bằng một số công cụ có cùng chuẩn với nhau Người sở hữu có thể chọn các công cụ/dịch vụ từ một trong số nhiều công cụ sử dụng chung định dạng nội dung linh động cho phép người sử dụng có thể xem nội dung của họ trên phần mềm họ ưu thích Nạn ăn cắp bản quyền kỹ thuật số chắn chắn vẫn còn tồn tại, nhưng có thể thấy rằng lẽ ra nạn ăn cắp này đã không có được

sự phát triển nhanh chóng để ngày nay vẫn đang tiếp tục lấy đi lợi nhuận của nhà sản xuất, người

sở hữu và cả lợi nhuận của các nhà kinh doanh liên quan

Một chuẩn khác đã ra đời : IPMP IPMP là viết tắt của cụm từ Intellectual Property Management and Protection, nghĩa là Quản lý và Bảo vệ Tài sản Trí tuệ IPMP được đề ra bởi tổ chức MPEG (Moving Pictures Experts Group), nhằm giúp các nhà cung cấp nội dung số (Multimedia) có thể quản lý, bảo mật và phân phối đến người dùng một cách an toàn và hiệu quả nhất IPMP là một

mô hình được phát triển dựa trên mô hình DRM (Digital Rights Management); tuy nhiên khác với DRM, IPMP là mô hình mở với các chuẩn mở Điều này cho phép nó có thể được hỗ trợ bởi một cộng đồng các nhà cung cấp và phát triển rộng lớn

IPMP có thể được ứng dụng rộng rãi Hầu như bất cứ một cá nhân hay tổ chức nào cần một công

cụ để hỗ trợ việc quản lý, mã hóa và bảo vệ thông tin gốc, hay phân phối nội dung thông tin đều

có thể áp dụng mô hình IPMP

Có thể kể tên sau đây một số ứng dụng có thể áp dụng mô hình IPMP thành công như dịch vụ Phim theo yêu cầu (Video on Demand - VoD), Truyền hình Internet (IPTV), Đào tạo từ xa (Distance Learning)… Đặc biệt nhu cầu về VoD cũng như Distance Learning đang có những sự phát triển vượt bậc Ta hãy tìm hiểu thử về nhu cầu VoD cùng với Đào tạo từ xa ở dưới đây Phim theo yêu cầu (Video on Demand - VoD)

VoD là dịch vụ xem phim theo yêu cầu, trong đó phim ảnh được lưu trữ trên các máy chủ của nhà cung cấp Tất cả nội dung dịch vụ được lựa chọn ngay trên website hoặc trình điều khiển Set Top Box thể hiện ở màn hình TV, đồng thời cho phép khách hàng điều khiển tới, lui hoặc dừng lại

Sự bùng nổ thuê bao Internet khiến cho các loại hình phục vụ giải trí trên mạng như VoD hứa hẹn là xu hướng tất yếu về một phương thức giải trí trực tuyến mới VoD có ưu điểm vượt trội như khả năng cung cấp lượng phim không hạn chế, có thể sử dụng mọi lúc mọi nơi trong môi trường Internet và chất lượng hình ảnh âm thanh cao Hơn nữa, công nghệ này còn đặc biết chú trọng đến việc tương tác qua lại giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ thông qua thiết bị hỗ trợ và các ứng dụng công nghệ thông tin khác

Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Internet Việt Nam thì đến nay số người sử dụng Internet trong cả nước đã gần 13 triệu và lượng thuê bao ADSL năm 2005 tăng 300% so với năm trước

Dự kiến chỉ số này sẽ còn tăng mạnh trong thời gian tới Hạ tầng Internet và chất lượng dịch vụ

Trang 10

đang dần được cải thiện, nhu cầu giải trí của cư dân mạng cũng ngày càng cao đã khiến các nhà kinh doanh bắt tay vào khai thác tiềm năng của loại hình mới này

Lúc khởi đầu phim theo yêu cầu chỉ cung cấp thông tin giải trí từ đài truyền hình, trên các website như vtc.com.vn, htv.com.vn, vnntelevision.net… Đến nay, một số nhà cung cấp dịch vụ

đã mạnh dạn hợp tác với nhà phát hành phim trình chiếu những tác phẩm điện ảnh có bản quyền trong nước và quốc tế như một động thái thể hiện sự nghiêm túc đầu tư vào lĩnh vực VoD Dù lượng phim cung cấp trong giai đoạn thử nghiệm còn hạn chế nhưng thể loại khá đa dạng từ kinh điển, tâm lý tình cảm, hành động, kiếm hiệp, hài…cho đến hoạt hình

Đi đầu trong việc triển khai thử nghiệm cung cấp phim có bản quyền trên Internet là phim24g.net

do công ty Cổ phần dịch vụ Bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT) hợp tác cùng công ty truyền thông Gia Việt thực hiện Theo ông Nguyễn Văn Thông, Trưởng phòng dịch vụ mạng công ty SPT, thì việc triển khai thử nghiệm trong giai đoạn này là nhằm thăm dò mức độ chấp nhận của khách hàng cũng như triển khai kỷ thuật trước khi chính thức kinh doanh

Hiện nay, công ty cổ phần viễn thông FPT (FPT Telecom) đang tiến hành triển khai cung cấp hàng ngàn phim có bản quyền trên http://tv.fpt.vn cùng các đối tác là BHD, Galaxy Thiên Ngân

và FaFilm, song song với việc phát sóng đại trà trên hạ tầng ADSL 35 kênh truyền hình trực tuyến IPTV như : VTV, HTV, Fashion TV, Movie Star, HBO, Disney Channel…Ông Phạm Quốc Thắng, Giám đốc trung tâm truyền hình trực tuyến của FPT Telecom, cho biết : “Ưu thế về lượng khách hàng có sẵn với gần 200.000 thuê bao ADSL, khả năng về công nghệ cộng với nhu cầu giải trí ngày càng cao của khách hàng đam mê Internet và tiềm năng từ dịch vụ này là lý do chúng tôi nhảy vào thị trường kinh doanh phim ảnh qua mạng” 3

Để xem thử nghiệm phim có bản quyền này, khách hàng bắt buộc phải vào website và đăng ký một tài khoản Ngoài ra, chương trình chỉ hỗ trợ trình duyệt Internet Explorer, yêu cầu máy tính cấu hình tối thiểu là Pentium III, có cài đặt sản Windows Media Player 9 hoặc 10 (dịch vụ của FPT yêu cầu khách hàng cài đặt phần mềm VideoLan được tải trực tiếp từ website) và kiểu kết nối Internet phải là ADSL hoặc Leased-line với băng thông tối thiểu là 1Mb/giây Tùy vào tốc độ đường truyền, khách hàng có thể chọn xem phim với chất lượng cao hoặc bình thường

Tại sao thị trường VoD lại có sức hấp dẫn đến như vậy? Chúng ta hãy xem thống kê của nhóm nghiên cứu MRG về thị trường giải trí trực tuyến IPTV và VoD

“Số lượng thuê bao DSL toàn cầu sẽ tăng từ 97 triệu thuê bao năm 2005 lên con số 227 triệu thuê bao vào năm 2009 Theo đó, số thuê bao IPTV và VoD sẽ tăng từ 3,7 triệu (2005) lên 36,9 triệu (2009), với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 78% Lợi nhuận của dịch vụ IPTV và VoD toàn cầu

sẽ là 9,9 tỷ USD (2009) so với 880 triệu USD (2005) Và lợi nhuận từ các hệ thống IPTV và VoD sẽ tăng 44%/năm, từ con số 774 triệu USD (2005) lên thành 3,3 tỷ USD Trong đó số lượng các set-top box sẽ tăng 68% ; những thiết bị khác như VoD Server, Thiết bị đầu cuối Video, Thiết bị truy cập, Thiết bị bảo vệ nội dung…sẽ tăng 32% mỗi năm.” 4

Như vậy lợi nhuận từ thị trường giải trí trực tuyến ở Việt Nam cũng sẽ không nằm ngoài xu thế chung ấy

Tuy nhiên, khi tình hình sử dụng băng đĩa lậu vẫn còn rất phổ biến và việc xem, tải phim ảnh miễn phí trên Internet không phải là điều khó khăn thì quyết định đầu tư vào lĩnh vực phim ảnh trên mạng sẽ có khá nhiều rủi ro “Rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp là vấn đề bản quyền Ngoài ra giải pháp đường truyền cũng như cơ chế bảo mật cũng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến kinh doanh phim trên Internet”, ông Huỳnh Quang Việt, trưởng phòng Marketing công ty SPT, cho biết Trong tương lai các nhà cung cấp VoD sẽ thu phí loại hình dịch vụ này và giá cả xem một bộ phim trên Internet sẽ không vượt quá giá một đĩa phim “lậu” trôi nổi ngoài thị trường

Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin có những tác động lớn tới hệ thống giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia Trong thời đại thông tin, khối lượng tri thức

mà con người phải tiếp nhận là rất lớn, và những tri thức đó con người phải tiếp nhận từ nhiều nguồn (nhà trường, trong gia đình, ngoài xã hội) Việc hỗ trợ và định hướng cho học sinh tiếp

Ngày đăng: 03/12/2015, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w