1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các chính sách tài chính hỗ trợ phát triển công nghệ trong doanh nghiệp

24 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 159 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO Các chính sách tài chính hỗ trợ phát triển công nghệ trong doanh nghiệpHoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động NCPT công nghệ Ngay từ những ngày đầu thành lập năm 1959, Ủy ba

Trang 1

BÁO CÁO Các chính sách tài chính hỗ trợ phát triển công nghệ trong doanh nghiệp

Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động NCPT công nghệ

Ngay từ những ngày đầu thành lập (năm 1959), Ủy ban Khoa học Nhànước đã đề nghị Hội đồng Chính phủ ban hành các Chỉ thị về tổ chức và lãnh đạophong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến của quần chúng và Điều lệ về khen thưởngsáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất Sau đó l Nghị quyết 157-NQ/TW và 163-CP về phương hướng, chủ trương công tác khoa học - kỹ thuậtđược Chính phủ ban hành Những văn bản này có tác dụng lớn trong việc lãnhđạo, chỉ đạo hoạt động khoa học-kỹ thuật của các ngành, các cấp trong giai đoạnchiến tranh

Khi hòa bình lập lại, đất nước thống nhất và đi vào đổi mới, để hoàn thiệnhơn cơ chế quản lý, nhiều Pháp lệnh quan trọng tiếp tục ra đời như: Pháp lệnhChuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam (1988), Pháp lệnh bảo hộquyền sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh Đo lường (1990) Những pháplệnh trên đánh dấu sự thay đổi về chất lượng và tạo cơ sở pháp lý cao, điều chỉnhthống nhất và toàn diện nhiều lĩnh vực KH&CN trong giai đoạn sau đổi mới.Tiếp đó là sự ra đời của Luật KH&CN (2000) tạo bước ngoặt quan trọng cho giaiđoạn này bởi tầm ảnh hưởng của nó tới đời sống kinh tế - xã hội của đất nước,góp phần giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo và tạo tiền đề cho việc xã hội hóahoạt động KH&CN

Từ năm 2004 đến 2009 là giai đoạn đánh dấu những bước tiến lớn trongviệc hoàn thiện nền tảng pháp lý cho hoạt động KH&CN nước nhà Hàng loạt Bộluật chuyên ngành KH&CN được xây dựng và ban hành như: Luật Sở hữu trí tuệ(2005), Luật Chuyển giao công nghệ (2006), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹthuật (2006), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (2007), Luật Năng lượngnguyên tử (2008), Luật Công nghệ cao (2008) Đây cũng là nỗ lực rất lớn của BộKH&CN nói riêng cũng như là của hệ thống Nhà nước nói chung Hiện nay,chúng ta đang xây dựng Luật Đo lường và sẽ trình Quốc hội vào năm 2010

Như vậy, Luật KH&CN cùng với 7 Bộ luật chuyên ngành cho thấy hệthống pháp Luật về KH&CN đã tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, tạo ra bước độtphá trong hoạt động KH&CN gắn với thị trường và DN Đây cũng là một trongnhững điều kiện tiên quyết khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 2

Chính sách huy động các nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Nhận thức được tầm quan trọng của khoa học – công nghệ đối với tăngnăng suất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, Hội Nghị TW 6 khóa IX củaĐảng ta đã đề ra chủ trương “thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ khoa học và côngnghệ, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp” Trong thập niên 90 của thế kỷ

XX và nhất là từ năm 2000 trở lại đây, Nhà nước ta đã ban hành và thực hiệnnhiều chính sách huy động các nguồn vốn cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới côngnghệ

Đầu tư cho các hoạt động KHCN còn mang tính bình quân, dàn trải, thiếumột chiến lược rõ ràng Chính sách đầu tư cho KHCN chỉ có thể đạt được mụctiêu phát triển KHCN nói chung và thúc đẩy đổi mới công nghệ nói riêng khi nóđược xây dựng dựa trên một chiến lược dài hạn và tổng hợp Trong nhiều trườnghợp, chính sách đầu tư sẽ không đạt muc tiêu đó nếu thiếu các chính sách bổ trợkhác Ví dụ, đối với các chương trình ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp,các chương trình nghiên cứu ứng dụng tiến bộ vào nông nghiệp phải gắn kết vớiviệc nâng cao trình độ và khả năng tiếp thu của người nông dân và gắn với chínhsách cung cấp nguồn tín dụng cho họ

Chính sách huy động vốn từ ngân sách nhà nước

Các chính sách huy động vốn từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp đầu

tư đổi mới công nghệ được thực hiện trong thời gian như : Các chương trình Kĩthuật – kinh tế trọng điểm quốc gia, các Chương trình khoa học tọng điểm quốcgia

Nghị định 119/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/9/1999 về: “Một sốchính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt độngKH&CN” theo tinh thần của Nghị quyết TƯ 02 khóa VIII Ngoài các ưu đãi khác(như ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu trang thiết bị để đổimới công nghệ…), Nghị định 119 qui định doanh nghiệp có các hoạt độngKH&CN thuộc các lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích được hỗ trợ từ ngân sách70% tổng kinh phí nghiên cứu khoa học và tới 70% giá trị chuyển giao công nghệ

do Nhà nước sở hữu từ kết quả nghiên cứu triển khai của các đề tài do ngân sáchnhà nước hỗ trợ: Từ năm 2000 đên 2003, Bộ KH&CN và Bộ Tài chính đã banhành các văn bản pháp qui nhằm hướng dẫn thực hiện Nghị định 119 (Thông tưliên tịch 2341/2000/BKHCNMT – BTC, Quyết định số 55/2001/QĐ-BKHCNMT, Thông tư liên tịch số 25/TTLT-BKHCN-BTC)

Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong 5 năm 2002 – 2006,Nhà nước đã tài trợ cho 95 dự án nghiên cứu triển khai của các doanh nghiệptrong khuôn khổ Nghị định nói trên với tổng số tiền là 96.1 tỉ đồng, chiếm 13%

Trang 3

tổng số vốn đã đầu tư vào hoạt động R&D của doanh nghiệp là 723.3 tỷ đồng.Những dự án này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực kĩ thuật, nhằm nghiên cứutạo ra những sản phẩm mới, các giải pháp công nghệ thích hợp Hâu hết cácdoanh nghiệp được hỗ trợ là doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong đó, số doanhnghiệp nhà nước chiếm 61% số dự án và 64% số vốn hỗ trợ Trong số các dự ánđược cấp hỗ trợ, có tới hơn 56% rơi vào các doanh nghiệp nhà nước trung ương,tập trung chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc.

Rõ ràng là, mặc dù Nghị định 119 được thiết kế để áp dụng cho mọi loạihình doanh nghiệp, nhưng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn không đượctiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước Ngoài ra, số doanh nghiệp đượchưởng hỗ trợ nói trên quá nhỏ so với tổng số doanh nghiệp hiện đang hoạt độngtheo Luật Doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam (95 doanh nghiệp so với tổng số

260 ngàn doanh nghiệp) Chính vì vậy, khó có thể xác định tác động chung củaviệc thực hiện Nghị định 119 tới thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới côngnghệ

Chính sách khuyến khích gián tiếp

Ngoài chính sách hỗ trợ vốn trực tiếp cho doanh nghiệp thực hiện các dự

án đổi mới công nghệ như trình bày ở trên, Nhà nước cũng đã ban hành và thựcthi nhiều chính sách gián tiếp khác nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tưđổi mới công nghệ Cụ thể là:

a) Chính sách thuế

Để thúc đẩy đổi mới công nghệ, Nhà nước đã áp dụng các mức ưu đãitương dối cao đối với hoạt động KH&CN với 6 mức thuế, bao gồm thuế thunhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu, thuế đất (bao gồm: tiền sử dụng đất, tiền thuế đất, thuế sử dụngđất) Đối tượng được hưởng ưu đãi tương đối rộng, bao gồm: nguyên vật liệu vàthiết bị nhập khẩu phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ (ưuđãi trong thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng), các hoạt động nghiên cứu triểnkhai và hoạt động dịch vụ KH&CN (ưu đãi trong thuế giá trị gia tăng và thuế thunhập doanh nghiệp) Ngoài ra, Nhà nước còn cho phép doanh nghiệp hạch toánvốn đầu tư phát triển khoa học công nghệ vào giá thành sản phẩm; được lập Quỹphát triển KH&CN trích từ lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp

Theo qui định hiện hành (Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn), cácdoanh nghiệp khi nhập khẩu mấy móc thiết bị vật tư phương tiện trong nước chưasản xuất được thì được miễn thuế GTVT; ngoài ra, doanh nghiệp hay các tổ chứcthực hiện dịch vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ chỉ chịu mức thuế suấtGTGT 5%

Trang 4

Hàng hóa nhập khẩu chuyên dùng để thực hiện hoạt động khoa học côngnghệ (như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, dụng cụ đo lường…) mà trong nướcchưa sản xuất được thì miễn thuế nhập khẩu.

Về thu nhập doanh nghiệp, ngoài các ưu đãi theo Nghị định 119 nói trên,hiện tại có rất nhiều ưu đãi đối với doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động nghiêncứu triển khai và đổi mới công nghệ như:

• Được khấu hao nhanh đối với tài sản, máy móc thiết bị;

• Cho phép doanh nghiệp tính cào chi phí hợp lí toàn bộ các chiphí thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ do doanh nghiệp bỏ vốn;

• Doanh nghiệp có dự án hợp đồng nghiên cứu khoa học vàphát triển công nghệ, dịch vụ thông tin KHCN được miễn thuế TNDN từhoạt động này;

• Khi có dự án đầu tư mới về nghiên cứu khoa học, dịch vụKHCN, chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp được hưởng thuế suất thunhập mức ưu đãi hoặc được miễn thuế tối đa 4 năm kể từ khi có thu nhậpchịu thuế, giảm tối đa 50% số thuế phải nộp tối đa 9 năm tiếp theo tùythuộc vào địa bàn hoạt động

Ngoài các ưu đãi về thuế nêu trên, các khoản lãi cổ phần được đầu tư vàocác tổ chức cổ phần thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ, tiền thưởng cải tiếncông nghệ, sáng chế, phát minh đều được miễn thuế thu nhập Đồng thời, doanhnghiệp có dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi theo Luật Khuyến khích đầu tư trongnước (trước đây) được giảm 50% tiền sử dụng đất, nếu thuê đất thì được miễntiền thuê trong 6 năm

Đầu năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiệnthuế thu nhập trong năm 2007 (Nghị định 24/2007/NĐ-CP) đối với doanh nghiệp.Theo đó, các chính sách khuyến khích về thuế đối với hoạt động đổi mới côngnghệ của doanh nghiệp được hưởng ưu đãi tối đa về thuế thu nhập doanh nghiệp

Tuy nhiên, cho đến nay, công cụ khuyến khích về thuế chưa có tác động rõrệt trong việc thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ do các nguyên nhân sau:

• Nhà nước đã ban hành tương đối nhiều loại ưu đãi nhưngchưa phổ biến đầy đủ và kịp thời đến các đối tượng được hưởng ưu đãi nêntác động của các, chính sách này còn hạn chế Nhiều doanh nghiệp nhỏ vàvừa chưa nắm được đầy đủ thông tin về chính sách, công cụ khuyến khích

hỗ trợ của Nhà nước

• Phạm vi ưu đãi về thuế là tương đối rộng và các mức thuế ưuđãi cũng tương đối cao Tuy nhiên, những thủ tục để doanh nghiệp được

Trang 5

hưởng những ưu đãi đó lại phức tạp và ruờm rà do đó không phát huy đượctác dụng Mặt khác, đối tuợng ưu đãi rộng cũng sẽ làm giảm tác dụng củachính sách ưu đãi.

• Đối tượng miễn giảm thuế tuơng đối nhiều trong khi chưa cóquy mô địng hướng cụ thể huớng dẫn cách thức để xác định các đối tuợng

đó, dẫn đến tình trạng các cơ quan thuế vừa gây khó dễ cho các đối tuợng

ưu đãi Mặt khác, những qui định không rõ ràng này còn tạo điều kiện chocác trường hợp tiêu cực, lợi dụng chính sách ưu đãi của Nhà nuớc xảy ra.Ngoài ra, chế độ hạch toán chi phí trong các tổ chức nghiên cứu và triểnkhai của Nhà nuớc hiện nay chưa theo chuẩn mực hạch toán kinh doanhlàm cho các cơ quan thuế cũng gặp khó khăn khi xác định miễn giảm thuế

• Các chính sách ưu đãi về thuế không có tác dụng đối với đốitượng không có tiềm lực tài chính (vốn) để thực hiện dự án đầu tư đổi mớicông nghệ

• Văn bản chính sách chậm được huớng dẫn và thi hành Vănbản qui địng về khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ đuợc ban hànhnăm 1999 (Nghị định 119/CP) nhưng mãi đến năm 2002 mới có thông tưhuớng dẫn và triển khai thực hiện

• Những ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu sẽ không còn sử dụngđược trong thời gian tới, khi Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết quốc

tế, trước hết là cam kết thực hiện đầy đủ CEPT - ẦT vào năm 2006

• Đổi mới công nghệ nhanh đòi hỏi doanh nghiệp phải đượcphép khấu hao nhanh Tuy nhiên, hiện nay, Nhà nước vẫn chưa qui địnhcác truờng hợp được phép áp dụng phương thức khấu hao nhanh

b) Chính sách tín dụng ưu đãi

Hiện tại, Nhà nước lập ra một số quĩ hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp đầu

tư đổi mới công nghệ như Quĩ hỗ trợ phát triển (nay đổi tên là Ngân hàng pháttriển Việt Nam), Quĩ hỗ trợ phát triển KH-CN, Quĩ hỗ trợ chuyển giao côngnghệ… Trong đó, đối với kênh ngân hàng, theo quyết định số 270/QĐ-NH1 (năm1995) của Thống đốc Ngân hàng Nhà nuớc Việt Nam, các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có chương trình ứng dụng kết quả khoahọc và công nghệ vào sản xuất hoặc nghiên cứu các đề tài khoa học cũng như các

tổ chức khoa học và công nghệ vào sản xuất hoặc nghiên cứu các đề tài khoa họccũng như các tổ chức khoa học công nghệ thành lập và hoạt động theo pháp luậtđược vay vốn ưu đãi từ ngân hàng Tuy nhiên, đến năm 1998, Quyết định này đãhết hiệu lực

Trang 6

Quĩ hỗ trợ phát triển được Nhà nước thành lập theo Luật Khuyến khíchđầu tư trong nước Mục tiêu của Quĩ là hỗ trợ các tổ chức kinh tế có các dự ánđầu tư thuộc lĩnh vực trọng điểm, các ngành nghề then chốt và địa bàn khó khănvới lãi xuất ưu đãi Trong số các lĩnh vực ưu đãi được hưởng hỗ trợ của Quĩ này

có các hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới trang thiết bị mà trong nướcchưa sản xuất được Các dự án khi được chấp nhận vay ưu đãi chỉ được cấp 70%tổng vốn đầu tư, số còn lại phải do doanh nghiệp tự lo Ngoài ra, các tổ chức,doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D) được hưởng từQuĩ hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc được bảo lãnh tín dụng Theo Luật Khoa học

và Công nghệ, Quỹ hỗ trợ KH&CN sẽ dành một phần ngân sách để cho vay vớilãi suất thấp hoặc không lấy lãi đối với các hoạt động thực hiện ứng dụng kết quảnghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất và đời sống Quỹ nàymới được thành lập tháng 10 năm 2003 song hiện nay vẫn chưa bắt đầu thực hiệnchức năng của mình Tuy nhiên, kể từ khi Quĩ này hoạt động đến nay, số doanhnghiệp được hưởng hỗ trợ từ Quĩ hỗ trợ phát triển theo tiêu chí đổi mới côngnghệ là rất ít Trên thực tế, các dự án được nhận ưu đãi tín dụng của Quĩ theo cáctiêu chí khác về ngành nghề then chốt cà địa bàn khó khăn Đáng chú ý là kể từkhi có Luật đầu tư mới (năm 2005) và theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày20/12/2006 về Danh mục ưu đãi đầu tư thì đầu tư đổi mới công nghệ không còn

là lĩnh vực được hưởng ưu đãi tín dụng của Ngân hàng phát triển nữa

Quĩ Phát triển Khoa hoc công nghệ được thành lập tháng 10/2003 theoQuyết định của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Luật Khoa học và Công nghệ(năm 2000) Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số117/2005/QĐ-TTg về Điều lệ mẫu hoạt động của Quĩ hỗ trợ Khoa học và Côngnghệ quản lí, được ngân sách cấp vốn ban đầu 200 tỷ đồng được bổ sung ngânsách hàng năm Về nguyên tác, quĩ được sử dụng để cấp kinh phí hỗ trợ thực hiệncác dự án, đề tài nghiên cứu thuộc cả lĩnh vực khoa học và công nghệ cơ bản,khoa học xã hội Quĩ này cũng sẽ dành 200% vốn để cho các dự án nghiên cứuđổi mới công nghệ vay không lãi Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau màcho tới nay, Quĩ này vẫn chưa đi vào hoạt động Hiện tại, các bộ ngành có liênquan đang phối hợp xây dựng cơ chế tài chính của Quĩ hỗ trợ khoa học côngnghệ quốc gia này

Bên cạnh Quĩ Phát triển khoa học công nghệ cấp quốc gia nói trên, một sốtỉnh, thành phố đã chủ động thành lập và soạn thảo điều lệ của Quĩ hỗ trợ KHCNcấp địa phương Đến nay, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên của cảnước đã thành lập Quỹ phát triển KHCN trên cơ sở nguồn vốn cấp ban đầu từngân sách địa phương là 50 tỷ đồng (Quyết định số 76/2007/QĐ-UBND, ngày 16tháng 5 năm 2007 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh) Quĩ nàyđược sử dụng để thực hiện các dự án thử nghiệm nhằm triển khai kết quả nghiên

Trang 7

cứu R&D; hoàn thiện công nghệ hiện đại thay thế nhập khẩu và chuyển giaocông nghệ để đổi mới công nghệ, tạo ra sản phẩm mới có chất lượng cao hơn.

Quĩ hỗ trợ chuyển giao công nghệ được qui định trong luật chuyển giaocông nghệ (năm 2006) nhưng hiện chưa được thành lập chính thức Bộ Khoa học

và Công nghệ đang phối hợp với các bộ ngành có liên quan soạn thảo qui chếhoạt động của Quĩ này

Quĩ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được phép thành lậptheo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 Tuy nhiên, do một sốqui định của Quyết định này chưa phù hợp với thực tế và khó thực thi nên Thủtướng đã ban hành Quyết định 115/QĐ-TTg ngày 25/6/2004 để điều chỉnh Theo

đó, các Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được quyền chủ động, tự xem xétkhả năng tài chính của địa phương để thành lập quĩ bảo lãnh tín dụng của địaphương hỗ trợ doanh nghiệp vay đầu tư phát triển, trong đó có cho vay đầu tưphát triển, trong đó có cho vay đầu tư đổi mới trang thiết bị Tuy vậy, do khókhăn hạn hẹp về ngân sách địa phương nên cho tới nay, mới có một số địaphương như Tp Hồ Chí Minh, Tây Ninh…thành lập được Quĩ này, các tỉnh kháchoặc chưa triển khai hoặc có Ban trù bị để thành lập

Ngoài các loại quĩ nói trên, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đang soạnthảo và trình Chính phủ về việc thành lập Quĩ đầu tư mạo hiểm quốc gia Tuynhiên, việc thành lập Quĩ này còn chưa được các cơ quan có liên quan thống nhất

về quan điểm và cách thức hoạt động

Tuy nhiên, các chính sách ưu đãi tín dụng cho đổi mới công nghệ mới chỉđược quy định trong các văn bản (trên “giấy tờ”), trên thực tế, các nhà khoa học

và doanh nghiệp hầu như chưa được tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi Cụ thểnhư sau:

Chế độ ưu đãi tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển chưa góp phần vào việcthúc đẩy đổi mới công nghệ Trong tổng số các dự án được ưu đãi này, số dự ánliên quan đến các hoạt động KHCN, đổi mới công nghệ rất ít Nguyên nhân mộtphần là do: Những khoản ưu đãi này chỉ dành cho những dự án đầu tư đổi mớicông nghệ lớn trong khi doanh nghiệp, nhất là tư nhân với tiềm lực có hạn chỉ cóthể đầu tư từng phần và dần dần trong tổng thể dự án đầu tư lớn; thủ tục xin ưuđãi rườm rà và mất nhiều thời gian; các viện nghiên cứu không phải là đối tuợngđược nhận ưu đãi

Hiện tại, chưa có một kênh tín dụng riêng cho đổi mới công nghệ (đặc biệt

là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa) Thiếu cơ chế chính sách phát triển vốnđầu tư mạo hiểm và đầu tư mạo hiểm (Quĩ đầu tư mạo hiểm, vườn ươm côngnghệ) để tạo điều kiện thuận lợi cho việc biến những kết quả nghiên cứu thànhsản phẩm công nghệ

Trang 8

BÁO CÁO Các chính sách đầu tư hạ tầng hỗ trợ hoạt động đổi mới công nghệ

của doanh nghiệp

Nhằm tạo điều kiện để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới côngnghệ, trong những năm qua Nhà nước đã bỏ ra nguồn vốn đáng kể đầu tư xâydựng nhiều khu công nghiệp, khu công nghệ cao, hình thành cơ sở hạ tầng thuậntiện để thu hút các doanh nghiệp đến đầu tư Cụ thể: Nhà nước qui hoạch pháttriển cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ đổi mới công nghệ Nhà nước bỏ vốn đầu tư xâydựng mới, cải tạo mở rộng, đầu tư trang thiết bị cho các phòng thi nghiệm, cơ sởsản xuất thử nghiệm, xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm phục vụ chonghiên cứu và thử nghiệm của các cơ quan KH&CN Thủ tướng Chính phủ đã kýquyết định thành lập hai khu công nghệ cao là Khu công nghệ cao Hoà Lạc(1998) và khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2003) Ngoài ra,trong chuơng trình phát triển công nghệ thông tin, Nhà nuớc chủ trương hìnhthành 9 khu công nghệ phần mềm tại các tỉnh thành phố lớn trên cả nước, baogồm thành phố Hồ Chí Minh: 3; Hà Nội: 3: Đà Nẵng: 1; Cần Thơ: 1; Hải Phòng:

1 Hiện nay, 5 trong số các khu công nghệ đó đã bắt đầu đi vào hoạt động Giaiđoạn 2000-2010, hệ thống 19 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia với thiết bịhiện đại ngang tầm khu vực cũng được đưa vào kế hoạch xây dựng và triển khai

Tuy nhiên, cho đến nay, chủ trương hình thành và phát triển hệ thống hạtầng để phát triển các ngành CNC và ứng dụng CNC chậm được triển khai Khucông nghệ cao Hoà Lạc mặc dù có quyết định thành lập từ năm 1998 nhưng từ đóđến nay vẫn chưa hoàn thành Hiện tại, ngoài những định huớng đã được thể chếhoá về phát triển CNTT, chúng ta vẫn chưa có định hướng rõ ràng, có tính chiếnlược và khả thi để phát triển những ngành CNC khác đã được xác định là ưu tiênphát triển

Nhà nước đã đầu tư từ nguồn ngân sách 17/19 dự án phòng thí nghiệmtrọng điểm quốc gia với tổng số vốn đã đầu tư hàng trăm triệu đô la (trung bình 4– 5 triệu đô la/phòng thí nghiệm) và khoảng 70% số vốn của dự án được giảingân Hầu hết các phòng thí nghiệm đều được đặt tại các trường đại học, việnnghiên cứu đầu ngành của Nhà nước Tuy nhiên, Các phòng thí nghiệm trọngđiểm vẫn chưa được hoàn thành đầu tư hoàn chỉnh để đi vào hoạt động do việcđầu tư dàn trải và giải ngân kéo dài, Nhà nước cũng chưa xây dựng cơ chế hợp lý

để sử dụng các phòng thí nghiệm đó sao cho đảm bảo tính hiệu quả và khả năng

dễ dàng tiếp cận cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng, máy móc nhập về chưakịp sử dụng đã trở nên lạc hậu so với thế giới Việc đầu tư cho tới nay mới tập

Trang 9

trung chính ở khâu vận hành, đào tạo nguồn nhân lực và sử dụng các phòng thínghiệm như thế nào cho hiệu quả Bên cạnh đó, do chưa có Qui chế chung đểquản lí chung để quản lí và vận hành phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia nêncác máy móc thiết bị nhập khẩu về nhưng chỉ để đó vì thiếu đồng bộ, mới chủyếu được sử dụng phạm vi hẹp trong khi đó vì thiếu đồng bộ, mới chủ yếu được

sử dụng ở phạm vi hẹp trong khi đó các doanh nghiệp, tổ chức bên ngoài chưatiếp cận để sử dụng các phòng thí nghiệm này Nhìn chung, chương trình đầu tưcủa Nhà nước vào các phòng thí nghiệm trọng điểm hiện đang có nguy cơ dẫnđến lãng phí lớn nếu không có cơ chế sử dụng hiệu quả

Trên phạm vi cả nước hiện có 139 khu công nghiệp, khu chế suất, tạo điềukiện về hạ tầng và mặt bằng thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và nướcngoài đầu tư sản xuất kinh doanh với công nghệ hiện đại, tăng năng suất tạo racác sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường Tính đến hết năm 2006, tổngvốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng của các khu công nghiệp, khu chế suất là gần 1 tỷ

đô la, đã thu hút được hơn 5000 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký lên tới 30.32

tỷ đô la, trong đó 72% là vốn nước ngoài

Hiện tại, một số địa phương đã chủ động trích tiền ngân sách địa phương

để hỗ trợ thành lập các cụm công nghiệp, trung tâm thông tin và chuyển giaocông nghệ điển hình như Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm hỗ trợ doanh nghiệpvừa và nhỏ, hình thành một vài vườn ươm công nghệ (chủ yếu trong lĩnh vựccông nghệ thông tin) để khuyến khích các doanh nghiệp triển khai các ý tưởngkinh doanh, chuyển các ý tưởng đổi mới công nghệ vào sản xuất kinh doan Tạitỉnh Đồng Nai đã tích cực triển khai chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệpnhỏ và vừa của Chính phủ Tại Đồng Nai hiện đã thành lập 2 Trung tâm thựchiện hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ

• Trung tâm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Đồng Nai(SMEDAC Đồng Nai): SMEDAC Đồng Nai được thành lập theo thỏa thuận củaUBND tỉnh Đồng Nai - Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam và tổ chứcZDH (Cộng hòa Liên Bang Đức) Có chức năng tư vấn hỗ trợ nhằm giải quyếtkhó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ

và vừa theo Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ:

• Trung Tâm Khuyến công Đồng Nai - thuộc Sở Công nghiệp ĐồngNai: Có chức năng tham mưu giúp Sở Công nghiệp và UBND tỉnh thực hiệncông tác khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh ĐồngNai

Cho tới nay, cả nước có khoảng gần 250 cụm công nghiệp, khu côngnghiệp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ được thành lập tại các địa phương Xuhướng xây dựng các cụm công nghiệp đang ngày càng được phát triển nhưng tiến

Trang 10

độ triển khai còn chậm, mới đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu về mặt bằng củadoanh nghiệp địa phương khi muốn triển khai các dự án đầu tư

Chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.

Kể từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài (năm 1987) tới nay, Việt Nam

đã thu hút được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá lớn, góp phần bù đắpthiếu hụt vốn trong nước.FDI khi đầu tư vào Việt Nam luôn đi kèm việc đầu tưđổi mới công nghệ của doanh nghiệp Tuy hiện nay chưa có thống kê chính thứcphần đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp FDI nhưng có thể thấy rõ lànguồn đầu tư này đã góp phần nâng cao rõ rệt trình độcông nghệ của nhiều ngànhsản xuất trong nước, giúp các doanh nghiệp tiếp cận với trình đọ công nghệ hiệnđại của quốc tế và khu vực Năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định 06 vềchính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các lĩnh vực giáo dục, y

tế, khoa học và công nghệ, theo đó, các dự án đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vựcnày được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo qui định hiện hành và được ưu tiênthuê mặt bằng để thực hiện dự án Nhiều doanh nghiệp nước ngoài không chỉnhập khẩu công nghệ và gia công tại Việt Nam mà đã bước đầu hình thành các bộphận, cơ sở nghiên cứu triển khai của mình để thực hiện các dự án nghiên cứu cảitiến công nghệ và đổi mới sản phẩm phù hợp với thị hiếu trong nước và thế giới

Chính sách huy động vốn tự có của doanh nghiệp cho thấy đầu tư đổi mới công nghệ.

Cho tới nay, chính sách mà Nhà nước ban hành nhằm huy động nguồn vốncủa doanh nghiệp để đầu tư đổi mới công nghệ khá phong phú Chẳng hạn, theoLuật Khoa học và công nghệ (năm 2000), Luật Chuyển giao công nghệ (năm2006), Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2005), các doanh nghiệp được phép trích từ lợinhuận sau thuế nguồn kinh phí để lập quĩ phát triển khoa học công nghệ và quĩ

hỗ trợ chuyển giao công nghệ Nhằm cụ thể hóa việc thành lập quĩ này, ngày16/5/2007, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 36/2007/QĐ-BTC

về Qui chế tổ chức và hoạt độngcủa Quĩ phát triển khoa học và công nghệ củadoanh nghiệp Theo đó, nguồn hình thành của quĩ được trích từ lợi nhuận trướcthuế của doanh nghiệp và nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước

Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài trước đâycũng đã khuyến khích các doanh nghiệp liên kết, hợp tác với nhau cùng góp vốn

để đầu tư sản xuất kinh doanh, hình thành doanh nghiệp mới Với sự ra đời củaLuật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (năm 2005), Việt Nam hiện đã có môi trườngđầu tư về cơ bản hoàn toàn bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Các doanhnghiệp được tự do thành lập, lựa chọn công nghệ và huy động vốn trong và ngoài

Trang 11

nước dưới nhiều hình thức để đầu tư vào những lĩnh vực hoạt động mà nhà nướckhông cấm, trong đó có đầu tư đổi mới công nghệ.

Chính sách khác nhằm huy động các nguồn vốn xã hội và chính sách cho đào tạo nguồn nhân lực

Bên cạnh các chính sách kể trên, một số văn bản chính sách do Chính phủban hành gần đây đã tạo cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp huy động vốn của

xã hội cho đổi mới công nghệ, Chẳng hạn, Quyết định số 171 ngày 28/9/2004 củaThủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề tài đổi mới cơ chế quản lí khoa học vàcông nghệ và Nghị định 115 (tháng 8/2005) của Chính phủ về quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ của nhànước đã cho phép chuyển các tổ chức R&D về công nghiệp và dịch vụ công nghệsang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp

Ngày 19/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2007/NĐ-CP vềdoanh nghiệp khoa học công nghệ nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân triểnkhai ứng dụng các kết quả nghiên cứu R&D vào sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnhthương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ

Bên cạnh nguồn vốn tín dụng vay từ ngân hành thương mại, trong vài nămgần đây các doanh nghiệp Việt Nam đã có thể thực hiện các dự án đổi mới trangthiết bị và công nghệ của mình thông qua các công ty cho thuê tài chính trựcthuộc các ngân hành này Những công ty này có thể cho doanh nghiệp quy môvừa và nhỏ, doanh nghiệp chưa có điều kiện bỏ vốn đầu tư đổi mới công nghệđược vay vốn mua trang thiết bị và dung chính các thiết bị, công nghệ mới mua

đó để thế chấp

Hiện ở Việt Nam đang tồn tại vô số quĩ đầu tư khác nhau, tạo nên kênhhuy động vốn đổi mới với các doanh nghiệp bên cạnh nguồn vốn vay tín dụngngân hàng Phần lớn các quĩ đầu tư đang hoạt động đều là quĩ đầu tư chứngkhoán, chỉ có một số ít thuộc loại quĩ đầu tư mạo hiểm (IDG và Vina Capital) vàđều là các quĩ có vốn nước ngoài Những quĩ loại này hoạt động theo Luật Đầu tưnước ngoài (trước đây) dưới hình thức “Cơ quan đại diện nước ngoài tại ViệtNam” Sở dĩ như vậy vì cho tới nay, hoạt động đầu tư mạo hiểm chưa có tiền lệ ởViệt Nam và hiện tại chưa có cơ sở pháp lý để các quĩ như vậy hoạt động

Từ năm 1993 trở lại đây, Việt Nam đã thu hút được nguồn vốn ODA đáng

kể Bên cạnh việc chú trọng thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển hạtầng kinh tế xã hội của đất nước, cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực,Chính phủ luôn coi trọng lĩnh vực hợp tác khoa học và công nghệ là một trongnhững danh mục ưu tiên huy động vốn ODA (thể hiện trong các nghị định 131của Chính phủ) Bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng, Việt Nam đã tiếp nhậnnguồn vốn hỗ trợ chuyển giao công nghệ qua các dự án ODA dưới dạng hỗ trợ kỹ

Trang 12

thuật, hợp tác nghiên cứu, đào tạo nâng cao năng lực…Phần lớn các dự án liênquan tới chuyến giao công nghệ đều là các dự án tài trợ không hoàn lại Bên cạnh

đó, các dự án vay ODA để đầu tư cơ sở hạ tầng thuộc các lĩnh vực nông nghiệp,công nghiệp, giao thông, CNTT đều có một phần TA để nâng cao năng lực côngnghệ và quản lí của các đơn vị thụ hưởng Một số dự án ODA đã được huy động

để hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ về bảo lãnh tín dụng, về đàotạo, tư vấn kĩ thuật và thông tin công nghệ

Từ năm 2001, Nhà nước đã dành nguồn ngân sách hàng năm cho việc đàotạo cán bộ khoa học và công nghệ nước ngoài Ngoài ra, trong các chương trìnhcấp Nhà nước về khoa học và công nghệ cũng dung khoản kinh phí đáng kể chođào tạo lấy bằng tiến sĩ và thạc sĩ cho cán bộ nghiên cứu Trong 11 chương trìnhKH&CN trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 1996-2000, 177 cán bộ đã được đàotạo lấy bằng tiến sĩ và 278 đã được đào tạo lấy bằng thạc sĩ Mặc dù vậy, nhữngchính sách phát triển nguồn nhân lực đó vẫn chưa đủ để đáp ứng yêu cầu đổi mớicông nghệ Việc nâng cao trình độ của nguồn nhân lực phải đi kèm với cơ chế sửdụng nguồn nhân lực đó một cách hiệu quả Cán bộ khoa học hiện nay vẫn đượcquản lý như quản lý một viên chức Nhà nước, bó buộc và thụ động, khôngkhuyến khích tính sang tạo Cán bộ có trình độ trong nhiều ngành công nghệ caonhư công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới…hiện nayvẫn còn thiếu trầm trọng

Ngày đăng: 03/12/2015, 13:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w