Nghiên cứu rõ bản chất, cách làm một bài văn nghị luận tư tưởng đạo lí sẽ là một cơ sở để chúng ta phân biệt kiểu bài này với kiểu bài khác và đó cũng là cơ sở để chúng ta có thể phân ch
Trang 1Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Hà Nội - 2011
Trang 2ĐÀM THỊ HÀ
DẠY HỌC BÀI “NGHỊ LUẬN VÈ MỘT T ư TƯỞNG, ĐẠO LÍ” TRONG
SGK NGỮ VĂN 12
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học Th.s PHẠM KIỀU ANH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Th.s Phạm Kiều Anh - cô giáo đã giúp đỡ em tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Đồng thời em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả Quý Thầy Cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội 2 Nhờ có
sự giúp đỡ lớn lao của Quý Thầy Cô em mới có thể hoàn thành luận văn này
Xuân Hoà, ngày tháng 05 năm 2011
Tác giả luận văn
Đàm Thi Hà
Trang 4Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của Thạc sỹ Phạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố.
Tác giả luận văn
Đàm Thỉ Hà
Trang 53CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
DANH MUC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGD - ĐT Bộ Giáo dục và đào tạo
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ Đ Ầ U 6
1 Lí do chọn đề tà i 6
2 Lịch sử vấn đề 11
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứ u 15
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứ u 15
6 Đóng góp của luận v ăn 17
7 Bố cục của luận văn 17
NỘI DUNG 19
Chương 1: Văn bản nghị luận và kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đao lí 19•
1.1 Phương thức biểu đạt và văn bản nghị luận 19
1.1.1 Phương thức biểu đạt 19
1.1.2 Văn nghị luận 21
1.1.2.1 Khái niệm 21
1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của văn bản nghị luận 24
1.1.3 Phân loại văn bản nghị luận 34
1.2 Kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 35
1.2.1 Khái niệm về kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 35
1.2.2 Đặc điểm của kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 36
1.2.3 Cách thức tạo lập kiểu “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 39
1.2.4 Kĩ năng lập dàn ý văn bản nghị luận về một tư tưởng, đạo l í 32
Chương 2: Dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 45
2.1 Nhân xét chung về viêc triển khai nôi dung bài “Nghi luân về môt tư« o • ■ O o « f • tưởng, đạo U” 45
Trang 73CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
2.2 Thưc trang day hoc bài “Nghi luân về môt tư tưởng, đao lí” ở trường• • o • t / • o • • • O / • o
PTTH 47
2.2.1 Thực trạng dạy của giáo viên 47
2.2.2 Thực trạng học của học sinh 49
2.3 Nội dung cơ bản bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 50
2.4 Quy trình dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đao lí” .54•
Chương 3: Thực nghiệm 57
3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 57
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 57
3.3 Kế hoạch thực nghiệm 58
3.4 Nội dung thực nghiệm 58
3.5 Kết quả thực nghiệm 70
KẾT LUẬN 72
Danh mục tài liệu tham khảo 74
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B
7 JChfíu fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 8về đời sống Nghị luận nảy sinh từ nhu cầu giao tiếp của con người và quay trở lại phục vụ đời sống xã hội Văn nghị luận chiếm khối lượng lớn trong kho tàng văn hoá của loài người Trong xã hội hiện tại, nhu cầu bàn luận của con người ngày càng cao nên văn nghị luận ngày càng có vai trò to lớn Có thể nói, hiện nay, văn nghị luận phát triển mạnh và thâm nhập vào mọi mặt của đời sống Hằng ngày, người ta đọc văn nghị luận trên sách báo, nghe văn nghị luận qua đài phát thanh và truyền hình, sử dụng văn nghị luận trong nhà trường và trong các hội nghị Không chỉ vậy, văn nghị luận còn được coi là công cụ khoa học chính xác, là vũ khí tư tưởng sắc bén giúp con người nhận thức đúng vấn đề của cuộc sống Điều này cho thấy, việc nghiên cứu và giảng dạy kiểu văn bản này cho con người là cần thiết, bởi qua đó con người biết sử dụng kiểu văn bản này đúng lúc, đúng chỗ nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất định.
Phát triển đến ngày nay, văn nghị luận ngoài việc làm phong phú và hoàn thiện thì nhận thức của con người đối với nó cũng sâu sắc và đầy đủ Mặc dù vậy, trên thực tế cho đến nay, việc nghiên cứu về kiểu bài này vẫn còn hạn chế Lý thuyết về kiểu văn bản này đến nay mới chỉ đạt ở mức độ cần
Trang 93CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
thiết Hơn thế, việc nghiên cứu về kiểu bài này còn tồn tại nhiều mâu thuẫn Chẳng hạn: sự thiếu nhất quán khi phân chia các kiểu bài văn nghị luận cũng gây ra nhiều vấn đề cần xem xét Có tác giả quan niệm văn nghị luận gồm các kiểu bài như: giải thích, chứng minh, bình luận, tổng hợp quan niệm này tận dụng các thao tác nghị luận được sử dụng khi tạo lập văn bản làm cơ sở để phân loại các kiểu bài văn nghị luận Trước đây, cách phân chia này rất phổ biến Tuy nhiên cho đến nay qua quá trình nghiên cứu, cách phân chia này cần phải xem xét lại Điều này dẫn tới quan niệm thứ hai là chia văn nghị luận theo nội dung vấn đề Theo quan niệm này, người ta chia nghị luận thành văn bản nghị luận văn học và văn bản nghị luận xã hội Mặc dù chia thành hai kiểu nhưng mỗi kiểu lại có các thể loại khác nhau cần tìm hiểu, và mỗi kiểu nhỏ này lại có những đặc trưng riêng bên cạnh các đặc trưng chung Chẳng hạn, trong văn bản nghị luận xã hội lại có nghị luận chính trị (bàn đến các vấn
đề chính trị nghị luận tư tưởng đạo lí (bàn đến sự nhận thức, tâm hồn, đạo đức, quan hệ gia đình, xã hội, ứng xử, hành động của con người trong cuộc sống), và nghị luận về hiên tượng đời sống (đề cập đến các đề tài gần gũi với đời sống như tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường ) Chính vì vậy, việc dạy làm văn nói chung và việc dạy học văn bản nghị luận nói riêng gặp phải nhiều khó khăn
Từ thực tế về tình hình nghiên cứu làm văn tồn tại trong nhiều năm như vậy, khiến cho việc dạy học làm văn ở trường phổ thông gặp nhiều khó khăn Cái khó của phân môn này được thể hiện ở nhiều phương diện như: kiến thức dạy học, tài liệu tham khảo, thời gian, phương pháp dạy học Cũng vì thế, nhiều khi phần làm văn dường như bị bỏ quên trong quá trình dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông Bởi lẽ, khi dạy học làm văn nhiều giáo viên rất lúng túng khi xác định nội dung dạy học, lựa chọn phương pháp dạy học cho phân môn này Còn người học, cái khó là ở chỗ kiến thức thì khô khan, không
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B 9 JChfíu fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 10CÓ sức hấp dẫn, lý thuyết thì xa rời thực hành, việc tổ chức dạy học thì sơ sài, cứng nhắc Chính từ những thực tế đó, đòi hỏi việc cần thiết phải xây dựng được một hệ thống cơ sở lý thuyết về Làm văn đảm bảo tính khoa học Mặt khác, cần thiết phải có sự thống nhất trong quan niệm nhằm giúp cho việc dạy học Làm văn được thuận lợi hơn Nghiên cứu rõ bản chất, cách làm một bài văn nghị luận tư tưởng đạo lí sẽ là một cơ sở để chúng ta phân biệt kiểu bài này với kiểu bài khác và đó cũng là cơ sở để chúng ta có thể phân chia các kiểu bài văn nghị luận được chính xác và khoa học.
Trong quá trình dạy học Ngữ văn, mục đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn ở trường phổ thông là giúp học sinh có thể tạo lập được những văn bản hay, có tính sáng tạo Để đạt được cái đích cuối cùng ấy, việc cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức về các kiểu văn bản là cần thiết Hơn nữa, trong một thời gian dài, chúng ta quan niệm các thao tác lập luận thành các kiểu bài riêng biệt nên khi làm một bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí, học sinh chỉ biết sử dụng một thao tác duy nhất và nhiều khi không phân biệt sự giống
và khác nhau của những thao tác này Và cũng trong một thời gian dài, văn nghị luận xã hội nói chung và văn bản nghị luận về một tư tưởng đạo lí nói riêng chưa đóng vai trò quan trọng trong chương trình học, còn văn bản nghị luận văn học vẫn đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, trước
sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, nền kinh tế phát triển đến chóng mặt thì mục đích dạy học cũng thay đổi.Với mục đích giáo dục không chỉ đào tạo những con người biết những kiến thức trong sách vở mà còn phải đào tạo những con người vừa hồng vừa chuyên, biết vận dụng kiến thức đã học ra ngoài thực tế và nắm rõ về các Yấn đề xã hội nên nghị luận xã hội đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học Bên cạnh đó, việc dạy văn bản nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông sẽ giúp học sinh biết nhìn nhận
và giải quyết vấn đề sâu sắc, triệt để Do đó, dạy văn bản nghị luận chúng ta
Trang 113 d ló a lu ậ n tó/ nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
không thể xem nhẹ văn bản nghị luận xã hội nói chung và văn bản nghị luận
về một tư tưởng đạo lí nói riêng Ở các sách giáo khoa Làm văn trước đây, nội dung này đã được triển khai nhưng vẫn còn qua loa Còn trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện nay, tri thức nghị luận nói chung và nghị luận về một tư tưởng đạo lí nói riêng đã được trình bày cụ thể, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
Thêm vào đó, theo cấu trúc đề thi Đại học từ năm 2010 của BGD-ĐT, môn Văn có câu hỏi về kiểu bài nghị luận xã hội Đó có thể là dạng bài cụ thể
về nghị luận tư tưởng, đạo lí hay nghị luận về một hiện tượng đời sống Qua
đó, chúng ta càng thấy được vai trò quan trọng của dạy và học văn bản nghị
luận xã hội trong nhà trường Và việc nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về
một tư tưởng đạo /í” sẽ giúp giáo viên nắm được bản chất của thể loại này,
đồng thời có thể rèn luyện cho học sinh khả năng tạo lập một văn bản nghị luận đúng, hay, có sức thuyết phục
Tuy nhiên, để dạy học bài này đạt hiệu quả thì đòi hỏi học sinh phải có năng lực xử lí thông tin khéo léo Tù yêu cầu cụ thể đó, sách giáo khoa Ngữ
văn 12, tập 1 đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về “Nghị luận về một tư
tưởng đạo /í” Và việc nghiên cứu nhằm tìm ra một hướng dạy học “Nghị luận về một tư tưởng đạo /í” là cần thiết Bởi qua đó, ta có thể đưa ra những
cách trang bị kiến thức khoa học nhất giúp các em lĩnh hội tốt bài học này
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Dạy học bài:
“Nghị luận một tư tưởng đạo lí” trong SGK Ngữ văn 12.
2 Lịch sử vấn đề
Làm văn hay Tập làm văn từ trước đến nay vẫn được coi là một trong ba phân môn của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Và việc dạy phân môn này vẫn đóng vai trò quan trọng trong môn Văn Nghị luận bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở lại phục vụ đời sống xã hội nên
S^ĩỉ < 'Đàm xJlii 7Ểà X 33 (B
11 JChou fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 12văn nghị luận cũng có vai trò to lớn đối với con người và xã hội Xuất phát từ vai trò to lớn ấy, các nhà nghiên cứu về Làm văn luôn luôn chú trọng nghiên cứu loại văn bản này.
Khi nghiên cứu loại văn bản này, các nhà nghiên cứu dù ít hay nhiều đã chú trọng đến việc phân loại văn bản nghị luận thành các kiểu nhỏ hơn Bởi mỗi một loại có cách tạo lập chung của kiểu bài đó, nhưng bên cạnh công thức chung lại có cách thức riêng phù hợp với đặc trưng của từng kiểu bài đó Việc phân loại van nghị luận có nhiều cách theo các tiêu chí khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều chia văn nghị luận thành hai loại là nghị luận xã hội và nghị luận văn học Việc phân chia các loại văn bản sẽ tạo điều kiện cho người viết nắm được đặc điểm riêng của kiểu bài và sẽ có khả năng tạo lập văn bản nghị luận đúng, hay
Trong cuốn “Làm văn” do Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) các giả đã chỉ rõ
“ Nghị luận chỉnh trị- xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc về một vẩn đề chỉnh
trị, đạo đức, luân lí hay một vấn đề xã hộp [11, 229] Ớ đây, tác giả đã chỉ ra
các phạm trù của nghị luận xã hội đó là: nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức
tư tưởng; nghị luận hiện tượng đời sống xã hội Bên cạnh đó, trong cuốn sách này, tác giả cũng đã lưu ý một số điểm khác nhau khi làm đề văn nghị luận xã hội với nghị luận văn học; giữa nghị luận về một tư tưởng đạo lí với nghị luận một hiện tượng đời sống Mặc dù vậy, những lưu ý đó mới chỉ được tác giả nêu ra một cách khái quát Và khi chỉ ra cách làm bài văn nghị luận, tác giả mới trình bày cách làm của văn bản nghị luận chung chung, chưa quan tâm
đến cách làm cụ thể đối với mỗi kiểu bài Cụ thể: các tác giả có viết “Đề văn
này thuộc loại nào? NLVHhay NLXH? Nếu là NLVH thì đề thuộc nhóm nào? [ ] Nếu là NLXH thì đề thuộc nhóm nào?” [11, 231] Như vậy, ở đây các tác
giả đã bàn đến sự khác nhau giữa các kiểu bài trong đề văn Từ việc chỉ ra sự khác nhau đó, các tác giả cho chúng ta thấy với mỗi kiểu bài này sẽ có cách
Trang 133CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
tiếp cận, cách tạo lập khác nhau Nếu là NLXH thì có hướng tiếp cận của kiểu bài NLXH và nếu đó là NLVH sẽ có hướng tiếp cận của kiểu bài NLVH.Nhóm tác giả Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Giang Khắc Bình trong
cuốn “Văn nghị luận trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở” cũng chỉ
ra cách phân loại văn nghị luận căn cứ vào nội dung vấn đề Theo tiêu chí đó, văn nghị luận gồm các loại sau: nghị luận chính trị (có nội dung là các vấn đề chính trị), nghị luận xã hội (nội dung là các vấn đề xã hội), nghị luận đạo đức (nội dung là các Yấn đề đạo đức, nhân sinh quan), nghị luận văn học (nội dung
là các vấn đề về văn học) Ở đây, tác giả tách nghị luận chính trị, nghị luận đạo đức ra thành kiểu bài riêng, không nằm trong nghị luận xã hội như các tác
giả trong cuốn “Làm văn” Dù phân chia như vậy, nhưng tác giả cũng đã đề
cập đến sự khác nhau về đề tài của các kiểu văn nghị luận xã hội và nêu được đặc trưng cơ bản của nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo đức
Tác giả Nguyễn Quốc Siêu trong cuốn “K ĩ năng làm văn nghị luận phổ
thông” đã đề cập đến những thể loại nghị luận thường dùng gồm có: bình luận
tư tưởng, chính luận, bài nói, tạp văn, bình luận văn học, luận văn học thuật,
cám nghĩ, báo cáo điều tra tổng kết Theo tác giả “Bình luận tư tưởng là bình
luận về tình hình các mặt trạng thái tư tưởng, tác phong, phương pháp và nhận thức .diễn biến của con người” Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Quốc
Siêu còn tổng kết, khái quát, nâng cao và chỉ ra kĩ xảo của việc luyện tập để viết thể loại văn nghị luận Tuy nhiên, bình luận tư tưởng là cách chia đã lâu
và nó chưa bao quát hết các bình diện của nghị luận tư tưởng, đạo lí Ở đây, thể loại bình luận tư tưởng mới đề cập đến tư tưởng bỏ qua phần đạo lí
Hay trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn
Ngữ văn lớp 12” (Vũ Quốc Anh - Nguyễn Hải Châu - Nguyễn Khắc Đàm -
Bùi Minh Đức - Nguyễn Duy Kha - Trần Đăng Nghĩa - Bùi Xuân Tân - Bùi Minh Toán - Nguyễn Thị Hồng Vân) cũng đề cập đến mức độ cần đạt đối với
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B
13 JChfíu fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 14văn bản nghị luận là “Hiểu yêu cầu và cách thức vận dụng tổng hợp các thao
tác và các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận [ ] Biết vận dụng kết hợp các thao tác nghị luận và các phương thức biểu đạt để viết bài văn nghị luận.” [7, 15] Đây cũng là mức độ cần đạt đối với bài viết về một tư
tưởng đạo lí Như vậy, các tác giả đã đề ra những yêu cầu cơ bản nhất cần đạt được khi dạy học về văn bản nghị luận Tuy nhiên, các kiến thức này vẫn còn
sơ lược chưa được cụ thể
Tác giả Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử (Và các tác giả khác) trong
cuốn “Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn” (Tài
liệu dùng trong các lớp bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình và SGK lớp 12” cũng viết “Làm văn trong SGK Ngữ văn 12 tiếp tục rèn luyện cho học sinh các kĩ năng làm văn: thực hành lập luận [ ], viết phần mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luậri” [2, 69], và đối YỚi kiểu
bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí các tác giả cũng chỉ ra những yêu cầu, các nội dung cần đạt, các lưu ý học sinh khi làm kiểu bài này Nhìn chung, đây là tài liệu hướng dẫn giáo viên thực hiện chương trình SGK nói chung và kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí nói riêng Tuy nhiên, tài liệu này chỉ
mang tính chất định hướng cho nên khi dạy học bài “Nghị luận về một tư
tưởng đạo lí” giáo viên cần phải nghiên cứu và tìm hiểu thêm ở nhiều tài liệu
khác để bài dạy đạt được mục tiêu đề ra
Chương trình Làm văn lớp 12 quy định giảng dạy các kỹ năng phân tích, bình luận văn học, bình luận xã hội, đồng thời cũng chú ý hoàn thiện cách mở bài, kết bài, chuyển đoạn Chương trình mới không phân chia tách bạch các kĩ năng phân tích, bình giảng, bình luận mà chú ý đến những thao tác tư duy có tính chất tổng hợp hơn như xây dựng luận điểm, luận cứ và cuối cùng là luyện tập các kiểu bài bình luận xã hội và bình luận văn học Trên đại thể, chương trình mới không rèn luyện các kiểu bài quen thuộc trong nhà trường như phân
Trang 153CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
tích, bình luận mà chỉ chú trọng kiểu bài nghị luận trên cơ sở hình thành các thao tác nghị luận như xây dựng luận điểm, luận cứ Và việc dạy học bài
“Nghị luận về một tư tưởng đạo /í” cũng theo tinh thần đó.
Tuy nhiên, trong chương trình THCS, THPT trước kia, kiểu bài “Nghị
luận về một tư tưởng đạo /í” cũng được đề cập nhưng chỉ chú trọng tới một
thao tác chính Đó là do các tác giả chưa thống nhất cách phân chia các kiểu bài nghị luận mà vẫn coi mỗi thao tác lập luận là một kiểu bài riêng Điều này
dẫn đến thực trạng khi nghiên cứu cụ thể về kiểu bài “Nghị luận về một tư
tưởng đạo IF còn ít và chưa sâu sắc.
Đến chương trình mới, kiểu bài này đã được đưa thành một bài riêng với cách làm cụ thể trong SGK lớp 9, tập 2 và SGK lớp 12, tập 1 các em lại được tiếp cận ở mức cao hơn
Chính sự thay đổi trong quan niệm và mục đích dạy học kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí ở chương trình mới so với chương trình cũ đã gây khó khăn cho giáo viên về nguồn tư liệu, đồng thời người viết còn lúng túng không nắm chắc cách thức tạo lập văn bản này Việc dạy học văn bản nghị
luận nói chung và kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng đạo /í” nói riêng ở
trường THPT đòi hỏi cần phải xây dựng được cơ sở lý thuyết và cách làm kiểu bài này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc trình bày những kiến thức cơ bản về văn bản nghị luận về một tư tưởng đạo lí, chúng tôi muốn vận dụng vào việc tổ chức dạy học nội dung này cho HS THPT, đặc biệt là HS lớp 12 Qua đó, giúp HS nắm được cách thức tạo lập một bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, trước hết là
kỹ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý Bên cạnh đó, giúp HS có ý thức và khả năng tiếp thu những quan niệm đúng đắn và phê phán những quan niệm sai
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B 15 JChfíu fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 16lầm về tư tưởng đạo lí Đồng thời, giúp HS có đủ kiến thức và tự tin tham gia nghị luận về bất kì một tư tưởng đạo lí nào với lập luận chặt chẽ, chính xác, hợp lí, toàn diện và có sức thuyết phục cao.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đe đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khoá luận có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Trình bày hệ thống những kiến thức về văn bản nghị luận và kiểu bài
“Nghi luân về môt tư tưởng đao /í”o • • • o *
- Vận dụng những tri thức đó vào việc thực hiện dạy học bài “Nghị luận
về một tư tưởng đạo i r trong SGK 12, tập 1.
- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học
4 Đổi tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên
cứu quá trình tổ chức dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng đạo l f cho HS
THPT, đặc biệt là HS lớp 12
4.2 Phạm vỉ nghiên cứu
Đề tài này tập trung tìm hiểu những kiến thức chung về nghị luận về một tư tưởng đạo lí trong SGK lớp 12
5 Phương pháp nghiên cứu.
Khi làm khoá luận này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn.
Đây là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học Bản chất của phương pháp này là dựa trên các thông tin đã có bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các kết luận khoa học Phương pháp này được sử dụng để thu thập nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử vấn đề và cơ sở lý thuyết của đề tài
5.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
Trang 173CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
Phương pháp này được thể hiện thông qua một số khía cạnh:
- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội dung dạy học Cơ sở thực nghiệm được xác định dựa vào các tri thức về giáo dục, tâm lý, về trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào hệ thống
tri thức về văn bản “Nghị luận về một tư tưởng đạo /í” trong SGK lớp 12, tập
- Tổ chức giảng dạy ở trường phổ thông
- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy, đánh giá nhận thức của HS và đánh giá nội dung về làm văn trình bày trong SGK, từ đó đưa ra một số đề xuất về nôi dung cũng như về việc giảng dạy làm văn cho HS lớp 12
6 Đóng góp của luận văn.
Luận văn góp một phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ thêm về cách dạy kĩ
năng làm văn cho học sinh thông qua một kiểu bài nghị luận - kiểu bài “Nghị
luân về môt tư tưởng đao /픫 • o •
7 Bố cục của luận văn.
Để triển khai đề tài, chúng tôi chia khoá luận thành ba phần lớn: mở đầu; nội dung; kết luận Cụ thể:
Mở đầu: tập trung trình bày các nội dung cơ bản có tính định hướng cho việc nghiên cứu nội dung đề tài là: lý do chọn đề tài; lịch sử vấn đề; đối tượng, phạm vi nghiên cứu; mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu Ngoài ra, tôi còn giới thiệu về đóng góp và bố cục của luận văn
Nội dung: gồm 3 chương Mỗi chương được chúng tôi tập trung trình
bày các phương diện khác nhau của đề tài Cụ thể:
+ Chương 1: Văn bản nghị luận và kiểu bài “Nghị luận về một tư
Trang 18Kết luận: Đây là nội dung cuối cùng của luận văn Trong phần này,
chúng tôi tập trung khái quát lại, hệ thống lại Yấn đề đã được triển khai trong các phần trên
Trang 19JC h tki lu ậ n tất m ịh iỀp ClrườnẨẬ CĐTôStỊ) '3ÙÒ Q íê i 2
NÔI DUNG CHƯƠNG 1: VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VÀ KIỂU BÀI
“NGHỊ LUẬN VÈ MỘT T ư TƯỞNG ĐẠO LÍ”.
1.1 Phương thức biểu đạt và văn bản nghị luận.
1.1.1 Phương thức biểu đạt.
Giao tiếp là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng nhất của con người Thông qua giao tiếp, con người có thể trao đổi, giãi bày ý kiến đó với mọi người và khiến mọi người có thể hiểu, thông cảm với bản thân hoặc thống nhất trong lao động để tạo ra những hiệu quả nhất định
Hoạt động giao tiếp là hoạt động có mục đích Mục đích ở đây được hiểu
là trao đổi thông tin, truyền đạt một nội dung, một vấn đề, một chuyện gì đó, hay một việc gì đó với nhau Mục đích này không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên là có Nó xuất phát từ chỗ một nhân vật giao tiếp cảm thấy có “nhu cầu” nào đấy thôi thúc phải trao đổi thông tin YỚi người kia Nói một cách khác, hoạt động giao tiếp bao giờ cũng chỉ được thực hiện khi con người có động cơ nhất định nhằm đạt được một mục đích nhất định Và để “nhu càu” giao tiếp nảy sinh thì điều kiện quan trọng và cần thiết chính là môi trường giao tiếp Môi trường ấy vừa tạo ra nhu cầu, vừa là không gian tiến hành giao tiếp
Để ghi lại nội dung lời nói trong hoạt động giao tiếp, chúng ta có thể dùng lời nói hoặc chữ viết Dùng lời nói ghi lại nội dung ta có các ngôn bản, còn dùng chữ viết ghi lại nội dung giao tiếp sẽ cho ta các văn bản Như vậy, văn bản chính là sản phẩm của hoạt động giao tiếp Đó là hệ thống các ngôn ngữ được tổ chức sắp xếp hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp, thực hiện một hoặc một số mục đích nhất định
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B 19 JChfíu fìiạ ĩỉ (ĩ)ăn
Trang 20Để văn bản đạt hiệu quả giao tiếp cao, điều quan trọng khi tạo lập văn bản chính là việc người viết phải căn cứ vào động cơ, mục đích giao tiếp phù hợp Mục đích giao tiếp vừa là cơ sở để đánh giá, vừa là thước đo giá trị của văn bản Hình thức thể hiện văn bản là yếu tố ghi lại nội dung của văn bản được gọi là kiểu văn bản.
Mỗi kiểu văn bản được sử dụng để truyền tải những nội dung cụ thể với những mục đích cụ thể Vì vậy, mỗi kiểu văn bản sẽ có những phương pháp luận riêng dựa trên đặc trưng của từng kiểu văn bản Mỗi phương pháp luận quy định cách thức diễn đạt nội dung cho phù họp với từng kiểu văn bản như vậy được gọi bằng thuật ngữ “phương thức biểu đạt”
Theo “Từ điển tiếng Việt”, tường giải và liên tưởng thi “phương thức biểu đạt là toàn thể những đặc điểm xác định cách thức, tiến hành, áp dụng.” (Sđd Tr.657)
Căn cứ vào cách giải thích phương thức như trên, chúng ta có thể hiểu: phương thức biểu đạt chính là toàn bộ những đặc điểm xác định, quy định cách thức tổ chức diễn đạt nội dung cho từng văn bản nhằm tạo ra được một văn bản trọn vẹn, mạch lạc về nội dung và trọn vẹn về hình thức Hay nói cách khác, phương thức biểu đạt là khái niệm dùng để chỉ các quy định về cách thức tổ chức diễn đạt nội dung cho văn bản nhằm tạo ra được một văn bản phù hợp về nội dung và mục đích giao tiếp Phương thức biểu đạt chỉ được hình thành khi xác định được nội dung và mục đích tạo lập văn bản và
nó được biểu hiện cụ thể trong những hoàn cảnh giao tiếp Như vậy, phương thức biểu đạt cũng là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, là công cụ, phương tiện, là hình thức để truyền tải nội dung giao tiếp nhằm tạo nên tính hoàn chỉnh về hình thức, thống nhất về cấu trúc văn bản Hơn nữa, phương thức biểu đạt giúp con người có thể tường minh một cách trọn vẹn nội dung giao tiếp và nhờ có nó, người đọc, người nghe mới có thể tiếp nhận đầy đủ nội
Trang 213CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
dung giao tiếp, và xác định được mục đích của cuộc giao tiếp ấy Không chỉ vậy, phương thức biểu đạt còn là cơ sở để con người đánh giá và xác định giá trị của văn bản trong mối quan hệ với mục đích giao tiếp đó
Là một sản phẩm của hoạt động giao tiếp, văn bản được tạo ra nhằm giúp con người thực hiện một hoặc một số mục đích nào đó Vì vậy, muốn xác định được cách tổ chức nội dung văn bản, người ta thường căn cứ vào mục đích giao tiếp Hiện nay, căn cứ vào mục đích giao tiếp, các nhà khoa học cho rằng có sáu kiểu vãn bản tương ứng YỚi sáu phương thức biểu đạt đó là: tự sự; miêu tả; biểu cảm; hành chính công vụ; thuyết minh; lập luận Tương ứng YỚi sáu phương thức này tạo ra sáu kiểu văn bản là: văn bản tự sự; văn bản miêu tả; văn bản biểu cảm; văn bản hành chính công vụ; văn bản thuyết minh; và văn bản lập luận Mỗi kiểu văn bản đều có đặc trưng riêng, tính chất riêng song chúng vẫn tác động lẫn nhau Vì vậy, trong quá trình làm văn, người viết cần biết chúng để trình bày vấn đề một cách cụ thể chân thực nhằm giúp người tiếp nhận có thể hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tạo ra những hiệu quả nhất định
1.1.2 Văn nghị luận.
l.ỉ.2.1 Khái niệm.
Trong hoạt động giao tiếp, nhiều khi con người phải đánh giá và bày tỏ ý kiến, thái độ của mình đối với các vấn đề được trình bày Để làm được điều
đó, con người phải sử dụng tới phương thức lập luận
Phương thức lập luận là phương thức biểu đạt trong văn bản nghị luận Trong Hán ngữ cổ thì “nghị” chỉ việc phát biểu ngôn luận, còn “luận” là bình luận, thảo luận làm cho lí lẽ rõ ràng, khúc chiết và có tính thuyết phục
“Nghị” là hoạt động nhằm đi đến quyết định, “luận” thiên về sự phân định phải, trái, đứng, sai Song chúng đều cùng một ý nghĩa là con người để bàn luận các vấn đề của xã hội
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B
21 JChfíu fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 22Nghị luận là một dạng thức giao tiếp cơ bản của con người Nhờ có nó, con người có thể bàn luận và làm rõ các vấn đề của tự nhiên, xã hội Cũng thông qua bàn luận, con người mới có thể hiểu và tin nhau hơn Vì vậy, nghị luận là phương thức nảy sinh do nhu cầu của con người và nó quay lại phục
vụ đời sống xã hội Cho nên, có thể nói nghị luận là hình thức giao tiếp nảy sinh cùng với sự xuất hiện của con người, hình thành và phát triển cùng xã hội loài người Xuất phát từ vai trò quan trọng của phương thức biểu đạt này đối với đời sống và con người nên kiểu văn bản nghị luận cũng rất được chú trọng nghiên cứu về bản chất, nghị luận là kiểu văn bản, trong đó, người nói (người viết) trình bày những ý kiến của mình bằng cách dùng lí luận bao gồm
cả lí lẽ và dẫn chứng để bàn định, nhận xét làm cho người nghe (người đọc) hiểu, tin, đồng tình YỚi những ý kiến của mình, và hành động theo những gì mình đề xuất
Nếu văn bản miêu tả là kiểu văn bản được dùng để mô tả, khắc họa lại hình ảnh, văn bản kể chuyện được dùng nhằm tái hiện đời sống, con người bằng ngôn ngữ chủ yếu là khơi gợi, tác động vào cảm xúc, tư tưởng người đọc (người nghe), thì nghị luận lại thiên về trình bày các ý kiến, các lí lẽ, các dẫn chứng để bàn định, nhận xét nhằm làm sáng tỏ một vấn đề nào đó và qua
đó tác động vào trí tuệ, lý trí của người đọc (người nghe) Vì thế, nghị luận là kết quả của hoạt động tư duy logic Nói khác đi, nghị luận là tên gọi chung cho một thể loại văn bản vận dụng các hình thức của tư duy logic như khái niệm, phán đoán, suy lý để xác định bản chất của sự việc, trình bày lí lẽ, phân biệt đúng sai và tiến hành làm sáng tỏ một cách khoa học đối với hiện thực khách quan và quy luật bản chất của sự vật đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương, ý kiến, quan điểm của người nói (người viết) đối với vấn đề được nghị luận Để chứng minh cho điều này, chúng ta cùng xét YÍ dụ sau:
Trang 233CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
“Nước ta còn nghèo Muốn sung sướng thì phải cỏ tỉnh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động, phải cố gẳng sản xuất Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chủng ta Trong xã hội ta, không nghề nào thấp kém, chỉ có những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ Người nấu bếp, người quét rác cũng như thầy giáo, kỹ sư nếu làm tròn nhiệm vụ thì đều vẻ vang như nhau Ai sợ khó, sợ khổ, muốn “ngồi mát ăn bát vàng” người
đó mới là kém vì không phải là người xã hội chủ nghĩa
(“Cầ« kiệm xây dựng nước nhà ” - Hồ Chí Minh).
Đoạn văn nghị luận trên thật ngắn gọn Trong đoạn văn ấy, Bác đã nêu lên thái độ, nhận thức của mình đối với lao động - hoạt động cơ bản của con người Để làm rõ vấn đề ấy, Bác đã giúp mọi người hiểu đúng thế nào là lao động và thái độ của Người đối với hoạt động lao động: lao động là một hoạt động cao quý, nó không phân biệt nghề nghiệp mà chỉ phân biệt đối YỚi những người không biết ý thức và nỗ lực trong lao động Lao động cao quý chính bởi nó là cơ sở tạo ra của cải vật chất cho xã hội, và là sản phẩm do công sức con người Triển khai vấn đề đó, Bác đã đứng trên lập trường Cách mạng để phát biểu Nêu cơ sở lao động của con người, Bác xuất phát từ đặc
điểm nước ta: “Nước ta còn nghèo” và qua đó Bác khẳng định: “Lao động là
nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta”, làm
bất kì nghề gì “nếu làm tròn trách nhiệm thì đều vẻ vang như nhau” Đọc
đoạn văn, chúng ta thấy, Bác luôn dùng ngôn ngữ dễ hiểu, gần gũi quần
chúng nhân dân và lối diễn đạt tự nhiên như thành ngữ: “ngồi mát ăn bát
vàng” Bác đi thẳng vào vấn đề cốt lõi để giải thích, phân tích với lí lẽ giản dị
nhưng sâu sắc, lập luận sắc sảo, chính xác Chính điều đó, Bác đã khiến người đọc hiểu, tin, và đồng tình YỚi ý kiến của Người về lao động
Tóm lại, văn bản nghị luận là loại văn bản trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, những dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B
23 JChfíu fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 24bàn luận làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mình đề xuất.
I.I.2.2 Đặc điểm cơ bản của văn bản nghị luận.
* Đặc điểm 1: Văn bản nghị luận là kiểu văn bản gắn liền với đời sống
con người.
Văn bản nghị luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong cuộc sống Trong văn bản ấy, người viết sẽ trình bày các quan điểm, tư tưởng, chính kiến, nhận xét, đánh giá của mình về vấn đề để thuyết phục người đọc tán đồng và làm theo Văn bản nghị luận mang đậm dấu ấn chủ quan của người viết
Văn bản nghị luận nảy sinh khi có vấn đề cần giải quyết, cần làm sáng
tỏ Như vậy, nghị luận nảy sinh từ đời sống và quay lại phục vụ đời sống xã hội Và bằng hệ thống các luận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng, chính xác, hấp dẫn, lập luận sắc bén, người viết sẽ thuyết phục người đọc tán thành và làm theo tư tưởng, quan điểm đó của mình
Chẳng hạn: Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật, kẻ đang chiếm đóng nước ta lúc bấy giờ, đã đầu hàng Đồng minh Trên toàn quốc, nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền Ngày 26 - 8 - 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh từ chiến khu Cách mạng Việt Bắc về Hà Nội Tại căn nhà số 48
phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản “Tuyên ngôn Độc lập” Ngày 2 - 9 -
1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản
“Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam mới.
Văn kiện lịch sử này không chỉ được đọc trước quốc dân đồng bào mà còn để công bố với thế giới, đặc biệt là những lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm một lần nữa nô dịch đất nước ta Cũng trong thời gian đó, nhà cầm quyền Pháp tuyên bố: Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị
Trang 253CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) '76à (JIM 2
quân Nhật xâm chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên thuộc quyền “bảo hộ” của người Pháp Xuất phát từ hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, thù trong giặc ngoài luôn lâm le chống lại chính quyền non trẻ, Bác
viết “Tuyên ngôn Độc lập” Và đến lượt nó, “Tuyên ngôn Độc lập” đã kiên quyết bác bỏ luận điệu “bảo hộ” của thực dân Pháp “Tuyên ngôn Độc lập ” là
một tác phẩm chính luận đặc sắc, sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc
“Tuyên ngôn Độc ỉập” là một dạng của văn bản nghị luận, thuộc ngôn
ngữ chính luận Nó là văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: Là lời tuyên bố xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến, là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, là mốc son lịch sử mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do trên đất nước ta
Đoạn văn sau thể hiện rõ điều này:
“Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ẩy, cỏ quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc
Lời bất hủ ẩy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ Suy rộng ra, câu ẩy cỏ ỷ nghĩa là: tẩt cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng cỏ quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
S^ĩỉ < 'Đàm xTliị 7Ểà CK 33 (B
25 JChfíu fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 26Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa
{Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh)
Đây là một văn bản nghị luận mẫu mực cả về nội dung và nghệ thuật,
v ề nội dung, “Tuyên ngôn Độc lập” viết ra nhằm mục đích tuyên bố độc lập
của nước nhà, bên cạnh đó còn muốn đập tan luận điệu bảo hộ của thực dân Pháp, v ề nghệ thuật, ngay mở đầu bản tuyên ngôn, Người đã đưa ra hai văn kiện trong bản tuyên ngôn của Pháp và Mĩ - hai kẻ thù của nước ta làm luận
cứ để chứng minh cho luận điểm của mình Còn gì thuyết phục hơn bằng việc dùng chính lí lẽ, luận điệu của kẻ thù để đáp trả lại chúng Người lấy luận cứ chính xác ai cũng biết để bác bỏ và thông báo với nhân dân toàn thế giới Từ hai luận cứ ấy, Người đi đến luận điểm: là những lẽ phải không ai chối cãi được’' Câu nói đanh thép, ngắn gọn nhưng lại có tác dụng rất lớn để
Người khẳng định: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp ỉợỉ dụng lá
cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hắn với nhân đạo và chính nghĩa Đây là đoạn vãn nghị
luận mẫu mực có tác dụng to lớn đối YỚi hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ, nó góp phần củng cố nền độc lập của nước nhà, đồng thời thấy được khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của dân tộc ta
Như vậy, chúng ta thấy rằng, các bài vãn nghị luận hay, có sức thuyết phục là những bài có nội dung đề cập tới các vấn đề có ý nghĩa xã hội, gắn liền với đời sống, được mọi người quan tâm, có tác dụng thuyết phục họ từ tin đến làm theo các ý kiến trình bày trong bài
*Đặc điểm 2: Văn bản nghị luận chi phối vai trò của lập luận.
Nghệ thuật cơ bản của văn bản nghị luận là nghệ thuật lập luận Đó là cách trình bày, sắp xếp các luận cứ dẫn đến luận điểm Lập luận phải chặt chẽ
Trang 273CkÁ€L lu ận tố t nạhiỀỊL ^ ĩrtiồtnị CĐ'76SỈJ) 'Tôà (JIM 2
hợp lí toàn diện mới có sức thuyết phục Văn bản nghị luận mẫu mực phải đảm bảo kết hợp tư duy logic và tư duy lí luận
Giống như các kiểu văn bản khác, văn bản nghị luận cũng được cấu thảnh bởi các yếu tố nội dung và hình thức Hình thức của văn bản nghị luận được thể hiện qua việc trình bày bố cục của văn bản, việc triển khai và sắp xếp các nội dung cơ bản của bài văn theo trình tự hợp lí để tạo nên hiệu quả nhất định cho văn bản
Ngoài ra, để trình bày nội dung một cách trọn vẹn, văn bản nghị luận triển khai nội dung dựa trên hệ thống lập luận Hệ thống lập luận ấy gồm các yếu tố: luận điểm; luận cứ; luận chứng Trong đó, luận điểm là chủ trương, quan điểm của bài văn nghị luận Luận điểm được hiểu là nội dung cơ bản cần phải được bàn luận cụ thể
Tù luận điểm cơ bản, để làm rõ nội dung của nó, người viết phải sử dụng đến các luận cứ Đó là tài liệu, là chỗ dựa, là cơ sở để đưa ra luận điểm Bởi vậy, so với luận điểm, luận cứ là cơ sở để chúng ta có thể bàn luận nội dung
Bên cạnh đó, để tạo nên nghệ thuật lập luận trong văn bản nghị luận, chúng ta cần biết vận dụng các lập luận hợp lí Trong văn bản nghị luận, chúng ta có nhiều cách lập luận như: lập luận nêu câu hỏi, lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp Và việc sử dụng cách lập luận như thế nào để đạt mục đích
S^ĩỉ < 'Đàm xJlii 7Ểà X 33 (B
27 JChou fìiạĩỉ (ĩ)ăn
Trang 28lập luận là một điều quan trọng Một bài văn có thể sử dụng một cách lập luận nhưng cũng có thể sử dụng hai, ba cách lập luận Sự kết hợp ấy tạo nên sự phong phú, sinh động, hấp dẫn cho bài viết nhưng đòi hỏi người viết phải có kinh nghiệm.
Chúng ta cùng xét ngữ liệu sau:
“1 Xã hội luân lỉ thật trong nước ta tuyệt nhiên không có ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được cho nên không cần cẳt nghĩa làm gì.
Tuy trong sách Nho cỏ câu: “Sửa nhà trị nước rồi mới yên thiên hạ
Hai chữ “thiên hạ ” đó tức là xã hội Ngày nay những kẻ học ra làm quan cũng võ vẽ nhắc đến hai chữ đó nhưng chỉ làm trò cười cho kẻ thức giả đẩy thôi Cái chủ ỷ bình thiên hạ đi đã mất từ lâu rồi.
đại ra như thế, thế mà người bên ta thì điềm nhiên như kẻ ngủ không biết gì là
gì Thương hại thayỊ Người nước ta không hiểu cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người đã đành, đến cái nghĩa vụ mỗi người trong nước cũng chưa hiểu gì cả Bên Pháp, mỗi khỉ người có quyền thế, hoặc chính phủ lẩy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay của một hội nào, thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chổng cự, hoặc thị oai, vận dụng M cho được công bỉnh mới nghe.
Vĩ sao mà người ta làm được như thế? Là vì người ta có đoàn thế, có công đức biết giữ lợi chung vậy Họ nghĩ rằng nếu nay để cho người có quyền
đè nén người này thì ẳt cũng lẩy quyền lực ẩy đè nén mình, cho nên phải hiệp nhau lại phòng ngừa trước Người ta có ăn học biết xét lã thấy xa như thế, còn người nước mình thì sao? Người nước mình thì phải ai tai nẩy, ai chết mặc ai! Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt
Trang 293 d ló a luận t ó / ntjhièft ÇJru&ng, ^Đ'76SỈJ) 'X>à Q lậ i 2
cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ẩy không can thiệp gì đến
mình.
Đã biết sổng thì phải bênh vực nhau, ông cha mình ngày xưa cũng đã hiểu đến Cho nên mới có câu: “không ai bẻ đũa cả nắm ” và “nhiều tay làm
góp gió làm bão, gỉụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì
như ngày nay.
Dân không biết đoàn thể, không trọng công ích là bởi ba bốn trăm năm
trở về đây, học trò trong nước mẳc ham quyền tước, ham bả vinh hoa của các
triều vua mà sinh ra giả dối nịnh hót, chỉ biết có vua mà chẳng biết có dân
Bọn ấy muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị của mình được vững mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân.
Dầu trôi nổi, dẫu cực khổ thế nào mặc lòng, miễn là có kẻ mang đai đội mũ, ngất ngưởng ngồi trên, cỏ kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới,
trăm nghìn năm như thế cũng xong! Dân khôn mà chỉ! Dân ngụ mà chi! Dân
lợi mà chỉ! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan
lại càng phú quỷ! Chẳng những thế mà thôi, “một người làm quan, một nhà
có phước”, dầu tham, dầu nhũng, dầu vơ vét, dầu rút tỉa của dân thế nào
cũng không ai phẩm bình, dầu lẩy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà
làm cửa cũng không ai chê bai.
[ ]
trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã Mà muốn cỏ đoàn thể thì cỏ chỉ hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”.
(về luân lí xã hội ở nước ta - Phan Châu Trinh)
“về luân lí xã hội ở nước ta” là đoạn trích trong phần III của bài “Đạo
đức và luân lí Đông Tây”, được Phan Châu Trinh diễn thuyết tại nhà Hội
S^ĩỉ < 'Đàm ÇJhi 7Ểà X 33 (B 29 ÍJCh fíu f ìiạĩỉ (ĩ)ăn