1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số tư tưởng giáo dục việt nam trong giai đoạn lịch sử dân tộc từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 19

60 454 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 766,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vẽ lại bức tranh lịch sử là điều cần thiết và bổ ích, song quan trọng hơn là làm sao tìm ra và phân tích được những quan niệm, suy tư của người xưa về giáo dục, về con người những tư tưở

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC

-* -

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

TÌM HIỂU MỘT SỐ TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ DÂN TỘC

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

PHẦN THỨ NHẤT 1

1 Nhiệm vụ nghiên cứu 1

2 Lý do chọn đề tài: 1

3 Mục tiêu đề tài: 1

4 Nhiệm vụ đề tài: (Những chỉ tiêu cụ thể) 1

5 Phương pháp nghiên cứu cơ bản 2

6 Tổ chức nghiên cứu 2

7 Kinh phí đề tài năm 1997 3

PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 4

I VÀI VẤN ĐỀ THUỘC PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU 4

II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7

1 Những sản phẩm đã nghiên cứu 7

-2 Một số tư tưởng giáo dục cơ bản qua nghiên cứu nền giáo dục phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX 8

-2.1 Bản chất, chức năng, vị trí giáo dục trong sự nghiệp đào tạo con người trong xã hội phong kiến Việt Nam 8

-2.2 Những nội dung tư tưởng giáo dục cơ bản trong xã hội phong, kiến Việt Nam 18

-2.3 Tư tưởng, giáo dục nho giáo - tư tưởng chiếm địa vị độc tôn trong xã hội phong kiến nước ta 24

2.4 Tư tưởng xây dựng một nền giáo dục độc lập, tự chủ 31

2.5 Tư tưởng, về quản lý giáo dục 33

2.6 Hiếu học một tư tưởng giáo dục truyền thống của dân tộc 37

2.7 Coi trọng giáo dục gia đìnhmột tư tưởng truyền thống của dân tộc 40

-III - KẾT LUẬN: TIẾP THU, VẬN DỤNG SÁNG TẠO, CHỌN LỌC NHỮNG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC XƯA 43

Trang 4

-PHẦN THỨ NHẤT

1 Nhiệm vụ nghiên cứu

1.1 Tên đề tài: "Tìm hiểu một số tư tưởng giáo dục Việt Nam trong giai đoạn lịch sử dân tộc từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX"

1.2 Mã số : B96 - 49 - 35

1.3 Thời gian thực hiện: Từ 1 - 1996 đến 12 - 1997

1.4 Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Đăng Tiến

2 Lý do chọn đề tài:

Trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhiều công trình đã đề cập đến vấn đề giáo dục trong thời kỳ phong kiến, song chủ yếu là ở mức độ lịch sử giáo dục Về tư tưởng giáo dục, rải rác có đề cập đến, song chưa có tài liệu, sách vở nào nghiên cứu có hệ thống

Trong hai chu kỳ trước, chúng tôi đã nghiên cứu hai đề tài cấp Bộ với tên như sau:

- Tư tưởng giáo dục Việt Nam thời Lê sơ (1992 – 1993)

- Đặc trưng giáo dục thời Lý - Trần - Hồ (1994 -1995)

Đề tài này là sự tiếp nối và phát triển hai đề tài trên ở mức độ tư tưởng giáo dục cao hơn một bước trong thời kỳ phong kiến Việt Nam

3 Mục tiêu đề tài:

Bước đầu tìm hiểu một số nội dung tư tưởng giáo dục Việt Nam tiêu biểu trong thời

kỳ phong, kiến (từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX)

4 Nhiệm vụ đề tài: (Những chỉ tiêu cụ thể)

4.1 Những tư tưởng về bản chất, chức năng của giáo dục thời phong kiến

4.2 Những tư tưởng cơ bản về nội dung giáo dục (Nho, Phật, Đạo)

4.3 Những tư tưởng về quản lý giáo dục

Trang 5

5 Phương pháp nghiên cứu cơ bản

5.1 Phương pháp - lô gích - lịch sử

5.2 Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá

5.3 Phương pháp chuyên gia

+ Hồ Thị Hồng (đang công tác) Tham gia chính

+ Nguyễn Tiến Doãn (đã nghỉ hưu) thức vào các

+ Hoàng Mạnh Kha (đã nghỉ hưu) chỉ tiêu

- Các cán bộ, chuyên viên khác thuộc trung tâm giáo dục học, Viện KHGD

+ Nguyễn Thanh Bình Đóng góp ý kiến, hoặc

+ Đặng Thành Hưng viết bài

+ Trần Kiếm v.v

- Các cơ quan cộng tác: Viện Hán nôm Cung cấp ý

Viện sử học kiến, tư liệu

6.3 Tiến độ nghiên cứu:

Năm 1996:

+ 6 tháng đầu năm: Sưu tầm tư liệu, phác thảo đề cương chung và các đề cương chi tiết Thảo luận phương pháp luận nghiên cứu, góp ý hoàn chỉnh đề cương

+ 6 tháng cuối năm:

- Tổ chức các xêmina, sinh hoạt khoa học mở rộng

- Phác thảo văn bản các báo cáo khoa học

Trang 6

Năm 1997:

+ 6 tháng đầu năm:

- Tiếp tục nghiên cứu nhằm sửa chữa, bổ sung, hoàn chỉnh, các báo cáo khoa học + 6 tháng cuối năm:

- Tổ chức các xêmina, hội thảo

- Sửa chữa, hoàn chỉnh lần cuối các bản thảo

- Đánh máy, in ấn tài liệu

Năm 1998: Quí I: * Nghiệm thu đề tài cấp cơ sở và cấp Bộ

7 Kinh phí đề tài năm 1997

- Kinh phí đƣợc cấp: 7.000.000 đ,0

- Đã chi hết

Trang 7

PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

I - VÀI VẤN ĐỀ THUỘC PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

Trong hai chu kỳ trước, chúng tôi đã triển khai và hoàn thành hai đề tài cấp Bộ là:

- Tư tưởng giáo dục Việt Nam thời Lê sơ (1992 - 1993)

Vẽ lại bức tranh lịch sử là điều cần thiết và bổ ích, song quan trọng hơn là làm sao tìm

ra và phân tích được những quan niệm, suy tư của người xưa về giáo dục, về con người những tư tưởng đã khiến cho giáo dục thực sự phục vụ được cho mục tiêu chính trị, quân sự, ngoại giao và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc?

Phải chăng chính, những tư tưởng giáo dục đó - mặc dù không được hệ thống thành sách vở, lý luận, mặc dù chúng tản mạn đó đây xuyên suốt thời gian qua lời nói, tác phẩm, qua các biện pháp tiến hành - đã giúp cho nền giáo dục phong kiến đào tạo được nên những nhân tài kiệt xuất cho dân tộc ở nhiều lĩnh vực nội trị, ngoại giao, trong toàn bộ công cuộc giữ nước và dựng nước?

Trang 8

Tìm hiểu rõ được tư tưởng, giáo dục mới thật sự đem lại lợi ích cho hôm nay, nhất là khi nền giáo dục của chúng ta đang đi vào thời kỳ đổi mới

Nhưng tư tưởng giáo dục là gì? Chưa thấy tài liệu, sách vở nào định nghĩa về khái niệm này Tuy vậy, trên các bình diện triết học, tâm lý học, giáo dục học ta có thể tìm thấy nội hàm của khái niệm tư tưởng và tư tưởng giáo dục

Khái niệm tư tưởng có thể hiểu theo hai mức độ thông thường và triết học

Theo từ điển tiến việt (1) tư tưởng ( pensée; thought; idea; comception) có hai nghĩa

- Sự suy nghĩ hoặc ý nghĩa

- Quan điểm và ý nghĩa chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với

xã hội

Theo từ điển triết học(2), tư tưởng (quan niệm) là phản ánh của hiện thực trong ý thức,

là biểu hiện của quan của con người đối với thể giới xung quanh Bất cứ một tư tưởng nào cũng đều do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người qui định Trong xã hội

có giai cấp, tư tưởng bao giờ cũng mang tính giai cấp, biểu hiện lợi ích vật chất của các giai cấp khác nhau trong xã hội Tư tưởng có thể vùn có tác dụng tích cực, tiến bộ, vừa có tác dụng tiêu cực; lạc hậu, thâm chí phản động

Nó có tác dụng tích cực, tiến bộ, cách mạng khi nó chống lại cái lạc hậu, suy tàn của chế độ cũ, biểu thị những nhu cầu mới của xã hội trong quá trình phát triển lịch sử Do đó nó

có ý nghĩa quan trọng, có vai trò tổ chức, động viên và

Trang 9

cải tạo xã hội Ngược lại, tư tưởng sẽ trở nên tiêu cực khi nó không còn đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của sư phát triển xã hội nữa

Từ đó, ta có thể nói tư tưởng giáo dục là sự phản ánh trong ý thức về hiện tượng giáo dục, về đào tạo bồi dưỡng con người Tư tưởng giáo dục còn là quan niệm về hoạt động giáo dục, về hành động tác động vào việc đào tạo, giáo dục con người nhằm thực hiện những kết luận đã khái quát thành lý luận, thành qui luật Trong mỗi thời kỳ lịch sử, những tư tưởng giáo dục nhất định bao gồm những tri thức về các qui luật của giao dục, những kinh nghiệm

tổ chức thực hiện và điều khiển qúa trình giáo dục theo những qui luật đó, những thái độ đối với những hoạt động giáo dục phù hợp với các qui luật (1)

Nhìn lại nền giáo dục phong kiến Việt Nam, không thấy có tài liệu gì về lý luận giáo dục mà chỉ giảng dạy theo kinh sử của thánh hiền xưa Có thể do nhiều nguyên nhân :

- Những cuộc chiến tranh vệ quốc liên miên khiến cho từ thiên tử đến sĩ phu và thứ dân luôn luôn phải suy tư, lo lắng đến việc giữ nước hơn là cho xây dựng hoà bình, cho nghiên cứu học thuật

- Ảnh hưởng lớn lao của nền văn hoá khổng lồ Trung Quốc

Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả đào tạo, những sản phẩm vật chất và tinh thần, nhưng

di sản về nhiều truyền thống còn lưu giữ đến tận ngày nay v.v , có thể suy đoán, phân tích, khái quát được những tư tưởng, quan niệm của người xưa vì giáo dục

Bởi vậy, để tìm hiểu những tư tưởng giáo dục phong kiến Việt Nam xưa, mọi công trình, sách vở cổ kim đều là những

(1)

Xem thêm: Đặng Thành Hưng: "Tìm hiểu thuật ngữ tư tưởng giáo dục trong nghiên cứu lịch sử"

Trang 10

nguồn tư liệu qui báu cần phải quan tâm khai thác Trên cơ sở đó, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp lô gich - lịch sử

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

- Phương pháp chuyên gia

Sau hai năm nghiên cứu (1996 -1997), chúng tôi đã thu được một số kết quả bước đầu như sẽ trình bày ở mục II dưới đây

II - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Những sản phẩm đã nghiên cứu

Sau 2 năm nghiên cứu, chúng tôi đã hoàn thành các báo cáo khoa học phục vụ cho đề tài như sau:

1.1 Một số ý kiến về tư tưởng giáo dục - Trần Kiểm

1.2 Khái niệm tư tưởngvà tư tưởng giáo dục - Nguyễn Thanh Bình

1.3 Tìm hiểu thuật ngữ Tư tưởng giáo dục trong nghiên cứu lịch sử - Đặng Thành Hưng

1.4 Một số khái niệm cơ bản: Giáo dục, tư tưởng và tư tưởng giáo dục Nguyễn Đăng Tiến

1.5 Hệ thống hóa tư liệu, bảng biểu về nền giáo dục phong kiến Việt Nam - Hồ Thị Hồng

1.6 Thứ tìm hiểu một số vấn đề về quản lí giáo dục - Hồ Thị Hồng

1.7 Tìm hiểu tư tưởng chỉ đạo về giáo dục của nhà nước phong kiến Hoàng Mạnh Kha

1.8 Xác định vị trí, mục đích của nho giáo, vấn đề cốt lõi của quản lí giáo dục thời phong kiến - Hoàng Mạnh Kha

1.9 Giả định về "Tư tưởng quản lí giáo dục thời phong kiến - Hoàng Mạnh Kha 1.10 Các quan điểm về người thầy nho học trong lịch sử Hoàng Mạnh Kha

Trang 11

1.11 Tư tưởng giáo dục của Lão tử qua Đạo đức kinh - Nguyễn Đăng Tiến

1.12 Quan điểm giáo dục của Khổng tử - Nguyễn Đăng Tiến

1.13 Nội dung giáo dục về giảng dạy trong nhà trường phong kiến Việt Nam - Nguyễn Đăng Tiến

1.14 Sự hình thành và phát triển tính cách con người Việt Nam qua tiến trình lịch sử dân tộc - Nguyễn Đăng Tiến

1.15 Một số luận điểm về quốc sách giáo dục dưới các triều đại phong kiến Việt Nam được phản ánh trong giáo học luận trước thế kỷ XIX - Nguyễn Tiến Doãn

1.16 Báo cáo tổng hợp đề tài - Nguyễn Đăng Tiến 1.17 Báo cáo nghiệm thu đề tài : Nguyễn Đăng Tiến v.v

2 Một số tư tưởng giáo dục cơ bản qua nghiên cứu nền giáo dục phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX

2.1 Bản chất, chức năng, vị trí giáo dục trong sự nghiệp đào tạo con người trong xã hội phong kiến Việt Nam

Ngày nay, khi bàn về giáo dục, người ta định nghĩa khái niệm đó như sau: "Giáo dục

là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất bằng cách truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người

Từ định nghĩa trên, ngườỉ ta nêu ra 4 đặc trưng chủ yếu của giáo dục:

e) Đó là quá trình đào tạo con người, hình thành những sức mạnh bản chất của con người, tác động đến sự phát triển của con người

b) Nó không phải là một quá trình, tự phát mà là một quá trình tự giáo, có mục đích, được ý thức trước

c) Đó là quá trình chuẩn bị con người tham gia cuộc sống xã hội, tham gia các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chủ yếu là lao động sản xuất

Trang 12

d) Quá trình đó được tiến hành bằng nhiều con đường nhiều phương tiện và biện pháp khác nhau, song tất cả đều phải nhằm tổ chức người dạy và người học truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm đã tổng kết trong lịch sử xã hội của loài người

Mọi hoạt động của người dạy và người học trong quá trình giáo dục đều chịu sự chi phối của những tư tưởng giáo dục nhất định.v.v

Nhìn lại nền giáo dục phong kiến Việt Nam, chúng ta không thể tìm thấy những tư tưởng giáo dục, khái niệm giáo dục được sắp xếp thành hệ thống hoặc thái quát hoá thành lý luận giáo dục như các tài liệu giáo dục học ngày nay

Tuy nhiên, qua các kinh, truyện, tử, sử còn để lại, có thể tìm thấy những luận điểm sâu sắc về giáo dục Nó không chỉ được biểu hiện bằng ngôn ngữ từ trong các sách vở, tài liệu thanh văn mà còn ở việc tổ chứ, quản lý nền giáo dục, và ở thành phẩm của giáo dục tức

là phẩm chất, nhân cách của những con người được đào tạo ra từ nền giáo dục phong kiến

Khái niệm giáo dục ít được dùng trong nền giáo dục phong kiến Các nhà nho xưa thường dùng các từ Hán - Việt như Giáo, giáo dưỡng, giáo hoá v.v

Giáo chỉ sự dạy dỗ của thầy đối với trò trên lớp học Hoạt động của thầy chủ yếu là thuyết lý, giảng giải tài liệu dạy học nhằm làm cho học trò nắm và viết được chữ Hán, hiểu được các nghĩa của các chữ ấy càng nhiều càng tốt Thậm chí nhữnh năm đầu, trò chỉ cần học thuộc lòng những điều thầy dạy là đủ Dần dà, càng học càng vỡ dần xa, càng học càng tự suy

ra ý nghĩa sâu sắc của câu chữ, nghĩa lý của đạo thánh hiền, của đạo làm người trong xã hội phong kiến Có lẽ cha ông ta xưa hiểu dạy học là dạy chữ, dạy chữ là dạy người Đơn giản và

cô đọng, không cần chi tiết hóa mà vẫn có lý

Giáo dưỡng là chỉ sự dạy và nuôi Người xưa rất đúng khi quan niệm rằng nuôi con người là phải dạy dỗ "Cha sinh

Trang 13

mẹ dưỡng", trong cái "dưỡng" đã có "giáo" rồi vậy Ngay sách giáo khoa của trẻ mới khai tâm đã ghi "Dưỡng bất giáo, phụ chi quá" nghĩa về là nuôi mà không dạy dỗ chu đáo là tội lỗi của người cha

Văn giáo là dạy cái văn hoá cho con người Ở đây, văn hoá mang một hàm rất sâu rộng, thể hiện quan niệm chính xác và cao sâu về giáo dục

Khái niệm Học một mặt chỉ sự hoạt động của người học trò, mặt khác nói về hoạt động giáo dục của một triều đại, một quốc gia

Nhiều từ ngữ nói về nghĩa rộng này như học chế (chế độ giáo dục), học quan (quan lại trông coi việc học), quan học (giáo dục công lập) v.v

Giáo hoá là dạy học đi tạo nên sự biển đổi con người theo hướng tốt đẹp hơn, cao hơn

vì nhân cách Ở đây có thể thấy quan niệm của người xưa, cho rằng dạy dỗ con người không giống làm ra các sản phẩm vật chất, đôi khi con người được đào tạo ra biến đổi bản chất đến mức những dấu vết ban đầu không còn tồn tại mà được thay thế hoàn toàn để tạo xa con người hoàn toàn mới

Tuy nhiên, sự biến đổi nhân cách con người lại không chỉ phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục chính qui, vào sự kỳ vọng của người làm giáo dục, vào sách vở, ông thầy Trình độ tiếp thu, cá tính của mỗi con người khác nhau, lại chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh; môi trường khác nhau nên sự tiếp nhận giáo dục ở mỗi cá thể cũng khác nhau

Ngay học thuyết của các triết gia, học giả bàn về giáo dục ở các thời đại cũng không hoàn toàn nhất trí, thậm chí còn đối lập nhau về bản chất con người

Khống tử - bậc thánh nho mà đời sau tôn là "Vạn thế sư biểu" trong suốt nửa thế kỷ dạy dỗ học trò đã nêu lên nhiều

Trang 14

quan điểm giáo dục và giảng dạy nổi tiếng, trong đó có nguyên tắc "Tùy tài mà dạy" (Nhân tài thi giáo)(1)

Phát triển hoc thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra luận điểm "Nhân chi sơ, tính bản thiện", còn Tuân tử lại nói "Nhân chi sơ, tính bản ác" Trong khi đó Cáo tử lại cho rằng con người khi sinh ra " Tính vô thiện vô bất thiện" (Tính con người là không thiện và cũng không

ác Nhiều học giả về sau cũng bàn khá nhiều về bản chất con người, về tính con người (2) như Mặc Tử, Đái Chấn,Vương Phu Chi, Chu Hy

Nêu lên một số luận điểm trên để thấy rằng ngay từ thời cổ đại tới sao này, các triết gia, nho gia, Trung Quốc đã lấy con người, làm trung tâm để tìm ra các luận điểm giáo dục

Các tầng lớp trí thức nho học Việt Nam, qua các triều đại, thông hiểu rất sâu sắc kinh điển và các học thuyết nho giáo, chắc hẳn cũng tiếp cận được quan điểm về bản chất của giáo dục, khả năng to lớn của quá trình giáo dục nhằm cái tạo con người Tuy nhiên, cha ông ta cũng không hề tuyệt đối hóa sức mạnh của giáo dục Không phải vô cớ mà các câu tục ngữ

"Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng", "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài" được lưu truyền mãi đến ngày nay Điều đó cho thấy việc dạy học trên lớp - dù rằng đó là phương cách chủ yếu và quan trọng - chỉ là một phần trong toàn bộ sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Vì vậy, nhấn mạnh tính nhân văn trong hoạt động giáo dục, coi nhiệm vụ dạy học là bồi dưỡng, đào tạo, làm cải hóa con người theo hướng tiến độ tốt đẹp hơn là thái độ nhất quán của giới trí thức phong kiến Việt Nam

Những quan niệm, tư tưởng về vai trò , vị trí của giáo dục có thể tìm thấy ở mọi thời đại qua các bút tích trong sách vở, văn bia, đặc biệt ở thời kỳ thịnh trị của nho giáo

Trang 15

Đào Cử, Hộ bộ thượng thư thời Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ tư (1463) , đã viết trong văn bia như sau :

"Thánh Thiên tử lên ngôi báu đến năm thứ tư, vận sáng tựa sao Khuê, nhân tài đông như mây hợp Nay Hoàng thượng khôi phục cơ đồ (của Thái tổ, Thái tông, Nhân tông) văn trị, võ công rỡ ràng sau trước Nền đại hóa đến thế thật tốt đẹp Vầng nguyên khí đến vậy thật bao la Mênh mông thay Văn giáo lan ra rộng khắp Bừng bừng thay nho phong mạnh mẽ chấn hưng "(1)

Trước đó, Thượng thư bộ Lại Thân Nhân Trung đã đề cao rất mực thái độ của vua Lê Thái Tông về việc chăm lo giáo hóa : "

" Vẻ vang thay ! Đức Thái tông Văn Hoàng đế nối tiếp nghiệp lớn, làm rạng nếp xưa, xem xét nhân văn giáo hóa thiên hạ, coi trọng việc sùng nho là Đạo hàng đầu, cho cầu hiền, kính trời là mưu kế tốt Người cho rằng mở khoa thi chọn kẻ sĩ là việc phải làm trước hết trong việc trị nước Tô điểm cơ đồ, mở mang giáo hoá cho đời thịnh trị là nhờ ở đó Sửa sang chích trị, sắp đặt mọi việc giáo hóa nhân dân, gây phong tục tốt cũng nhờ ở đó Các bậc

đế vương xưa, làm nên sự trị bình không ai không theo con đường đó "(2)

Trước thế kỷ thứ XI, đất nước ta chưa có một nền giáo dục chính thống, có tổ chức Tuy nhiên dân tộc ta đã có một truyền thống văn hiến lâu đời, trong đó nền giáo dục dân gian vẫn thường xuyên được tiến hành qua mỗi gia đình, trong các cộng đồng làng xa về cuộc sống xã hội

Từ thế kỷ I SCN thế kỷ X, trong khoảng 1000 năm Bắc

(1) "Tuyển tập văn bia Hà Nội" - Quyển I - Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978 - trang 69

(2) Xem thêm các báo cáo khoa học của đề tài cấp Bộ "Đặc trưng giáo dục - thời Lý - Trần - Hồ" Mã số: B94 - 37 - 23 Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Đăng Tiến và các tác giả Nguyễn Tiến Doãn - Hồ Thị Hồng - Hoàng Mạnh Kha

Trang 16

thuộc, giai cấp phong kiến Trung Quốc - thông qua các quan lại cai trị bản địa tổ chức việc học nho giáo, song không phát triển mạnh mẽ, sâu rộng được do nhiều lý do

Thế kỷ X, dưới các thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, các triều đại chưa được ổn định, luôn phải lo việc chống thù trong, giặc ngoài nên chưa có điều kiện xây dựng một nền giáo dục chính qui Tuy vậy nền văn hóa dân tộc vẫn không ngừng phát triển Đặc biệt, Phật giáo phát triển sâu rộng, chiếm ưu thế trong xã hội với các thiền sư nổi tiếng học rộng, tài cao Nhà chùa ở nhiều nơi là các trường học nhằm giáo dục Phật giáo bằng chữ "Phạn, chữ Hán Nho học vẫn phát triển, song còn lả tả, chậm chạp, chưa có vị trí đáng kể(1)

Sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1009), triều Lý bắt tay vào xây dựng chế độ phong kiến trung ương tập quyền

Từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các triều đại phong kiến Việt Nam

kế tiếp nhau trị vì, có lúc thịnh, lúc suy, song vương triều nào cũng nhận thức rõ giáo dục có vai trò cực kỳ quan trọng, có quan hệ đến sự tồn vong của mỗi vương triều cũng như của quốc gia

Tư tưởng đó quán triệt trên mọi mặt của giáo dục : mục tiêu, nội dung, tổ chức quản lí việc học, việc thi, trong việc đào tạo, sử dụng và đãi ngộ hiền tài

Thay thế một triều đại cũ hoặc xây dựng đất nước sau chiến tranh, vương triều nào cũng đều đặt ra 2 mục tiêu giáo dục :

1 Đào tạo được một đội ngũ quan lại đông đảo từ trung ương địa địa phương

2 Tuyển chọn được các hiền tài để giúp vua, trị nước an dân

(1) Xem thêm các báo cáo khoa học của đề tài cấp Bộ "Đặc trưng giáo dục thời Lý - Trần - Hồ" Mã số : B94 - 37 - 23 Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Đăng Tiến và các tác giả Nguyễn Tiến Doãn- Hồ Thị Hồng - Hoàng Mạnh Kha

Trang 17

Chủ trương xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã hình thành

từ thế kỷ X, kể từ khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan thập nhị sứ quân, song các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê không lúc nào ổn định trước nạn thù trong, giặc ngoài nên không có điều kiện chăm

lo đến giáo dục

Lý Công Uẩn lên ngôi đã mở ra một kỷ nguyên mới Thực tế đã đến lúc đòi hỏi xã hội muốn ổn định và phát triển nhất thiết phải xây dựng và củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền

Song đội ngũ quan lại có đủ sức tài đó tìm ở đâu? Ban đầu có ba cách :

- Quan lại hoặc người có uy tín biết trong nước ai là người có tài đức thì tiến cử lên vua và triều đình xem xét và sử dụng, hoặc sử dụng con em các quan lại vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước tùy theao tài năng, đức độ gọi là nhiệm tử Bên cạnh đó vua hạ chiều cầu hiền để ai thấy có năng lực có thể tự mình xin ra, giúp vua, cứu nước

Nhưng ba cách này tuyển chọn không được là bao, vì vậy để có thể tuyển dụng một số lượng quan lại đông đảo, triều đình phong kiến phải "tổ chức qui mô việc học và mở các kỳ thi từ địa phương đến trung ương Việc tuyển chọn nhân tài bằng khoa cử ban đầu chưa thành

lệ, nhưng càng ngày càng đi vào qui củ, chặt chẽ

Vào cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI, xã hội nước ta chịu ảnh hưởng của 3 ý thức hệ tư tưởng Phật, Lão, Nho, trong đó Phật giáo chiếm địa vị cao nhất; Triều Lý đứng trước một vấn đề: Lựa chọn nền giáo dục nào để củng cố vương triều ?

Đạo Phật lúc này được cả xã hội sùng bái, từ vua quan đến thường dân Chùa chiền mọc lên như nấm và thường là nơi giảng đạo, dạy học Song quan điểm "từ bi , bác ái" của đạo Phật không phải là chỗ dựa của chế độ phong kiến

Đạo giáo với tư tưởng "vô vi", "bất tranh", "xa lánh cuộc đời" càng không thể là chỗ dựa cho chế độ phong kiến

Trang 18

trung ương tập quyền, Triều Lý và mọi triều đại tiếp theo đã dựa vào nho giáp với tính chất một học thuyết chính trị đạo trị để xây dựng, củng cố các vương triều

Sự quan tâm đến giáo dục trước hết thể hiện ở mục tiêu đào tạo mẫu người của nho giáo

Mở đầu phần Khoa mục chí trong tác phẩm "Lịch triều hiến chương loại chí", Phan Huy Chú đã nêu rõ ý này như sau:

"Con đường tìm người giỏi, trước hết là khoa mục Phàm muốn thu hút tài năng, tuấn kiệt vào trong phạm vi của mình, thì người làm vua một nước không thể nào không có khoa cử" (1) Tư tưởng cầu hiền này được phép quán triệt xuyên suốt tiến trình lịch sử từ đời Lý đến đời Nguyễn sau này, kéo dài hơn 800 năm

Thật vậy, ngay từ tháng 2 năm Thái ninh thứ 4 (1075) Lý Nhân Tông đã hạ chiếu chọn những người giỏi kinh học rộng và thi nho học tam thường

Song suốt triều Lý và đầu thời Trần, quan niệm nhân tài ở đây là những người thông hiểu cả tam giáo - Phan Huy Chú đưa ra ý kiến của mình :

" Đời Lý đời Trần đều tôn chuộng Phật giáo và Đạo giáo cho nên buổi ấy chọn người muốn được thông cả hai giáo ấy, dù là chính đạo hay dị đoan, đều tôn chuộng không phân biệt, mà học trò đi thi khoa ấy, nếu không học rộng biết nhiều thì cũng không thể đỗ được"(2)

Tuy nhiên, ông cho rằng Đạo Phật, Đạo giáo không sao sánh được với Đạo nho tức là đạo thánh lớn rộng - Bởi vậy người Chân nho là người không thể bỏ thiết thực, chuộng phù

Trang 19

hoa, bỏ gốc theo ngọn bởi vì "những, nhà nho chỉ chăm chăm về Chương cú thì e không thể trông cậy ở họ giúp nên công việc bình trị được " (1)

Đến Lê sơ - tức từ thế kỷ XV - nho giáo ngày một phát triển và chiếm địa vị độc tôn, được triều đại coi là quốc giáo

Ngay sau khi phục quốc, Lê Thái Tổ liên tục mở các khoa thi để tuyển chọn nhân tài :

1428 mở khoa thi lấy đỗ 32 người, 1429 hạ chiếu cho quân nhân các lộ va những người ẩn dật ở rừng rú, các quan từ tứ phẩm trở xuống, ai tinh thông kinh sử thì đến sảnh đường để thi

Đó là khoa Minh kinh (2) Năm 1431 mở khoa Hoành từ (3) Năm 1431 vua lại thân mở khoa thi Văn sách

Năm 1434, Lê Thái Tông, năm Thuận bình thứ nhất, đã định pháp thi chọn kẻ sĩ Trong chiếu có ghi :

"Muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học, phương pháp chọn người có học thì thi cử là đầu Ta nói theo chí tiên đế, muốn cầu được người hiền tài để thoả lòng mong đợi " (4)

Và giai đoạn thịnh trị nhất của nho giáo - thời Lê Thánh Tông - được đánh giá rất cao

vì việc kén chọn hiền tài

"Khoa cử thịnh nhất là đời Hồng Đức", các đời sau không thể theo kịp bởi lẽ lúc đó

"Trong nước không để sót nhân tài; triều đình không dùng làm người kém", (5)

Mãi đến đầu thể kỷ XIX, sau 3 thế kỷ suy thoái, nho giáo lại được triều Nguyễn phục hồi Các vua từ Gia Long, Minh Mệnh đến Thiệu Trị, Tự Đức đều vẫn duy trì tư tưởng của các triều đại trước (6)

(1) SSD trang 152

(2) Minh Kinh : Hiểu rõ nghĩa các kinh Thi Minh kinh để chọn người hiểu nghĩa sách chắc chắn (3) Hoành từ : Lời văn dồi dào, rộng rãi, tỏ ra có học lực cao sau Thi hoành từ để chọn người văn hay học rộng

Trang 20

Với chủ trương chống lại sự bất bình đẳng trong học tập Khổng tử ngay từ đầu đã quan niệm "ai cũng được học" (hữu giáo vô loại) Tuy nhiên, Khổng Tử lại tự mâu thuẫn với chính, mình khi phân biệt con người trong xã hội thành, hai loại là "thượng trí" và "hạ ngu"

Ở Trung Quốc, các nhà tư tưởng đại biểu cho giai cấp thống trị cũng thường chia tính người thành 3 loại như thánh nhân, trung dân, đấu thưng (Đổng Trọng Thư ) hoặc tam phẩm như thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm (Hàn Dữ ) v.v Họ muốn phân biệt có hạng người bản chất trời phú đã tốt đẹp, có hạng người có thể giáo dục để thành tốt, và có hạng người không thề giáo dục hoặc rất khó giáo dục thành người tốt Điều đó hạn chế rất nhiều đến việc phổ cập giáo dục cho tất cả cộng động

Ở Việt Nam, các triều đại phong kiến không thấy có sắc chỉ hay văn bản nào hạn chế việc học hay việc mở trường,

Duy điều lệ các kỳ thi chỉ nêu một số hạng người không được dự thi : con cái các đình hát xướng (do quan niệm xướng ca vô loài), những người bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, những người phạm tội hoặc nghịch đảng, ngụy quan và người có tiếng xấu thì bản thân

và con cháu đều không được đi thi Chính vì vậy mà không chỉ con em vua chúa, quan lại được học mà con em quân dân thường đều có quyền học tập Bởi vậy, ở các làng xã việc mở trường, mở lớp là do dân tự liệu, không bị khó khăn, cản trở gì

Tất nhiên, tính chất "dân chủ" này mang nặng hình thức vì cuộc sống người dân thường rất : nghèo khổ, không mấy ai có đủ điều kiện cho con học đến công thành danh toại, mặt khác nhà nước phong kiến không đầu tư, giúp đỡ gì về vật chất

Sự quan tâm đến việc học của nhà nước phong kiến còn thể hiện sâu kín hơn ở mặt khác, truyền bá, nội dung tư tưởng nho giáo đến từng xã, từng nhà, đến mỗi con người, ngõ hầu tạo ra một cộng đồng phục tùng, trung thành tuyệt đối với chế độ, với vương triều Hơn nữa, bất kỳ ai có điều kiện

Trang 21

theo học đạo thánh hiền đều có thể tiếp tục học ở bậc cao hơn nếu có năng lực và sau nhiều năm đèn sách, gian khổ có thể đổi đời trong gang tấc Những đặc ân, những sự đãi ngộ đặc biệt đối với những người đỗ đạt cũng là" động cơ quan trọng thúc đẩy, động viên người ta vượt mọi khó khăn để vươn tới đích

Có thể nói, sự quan tâm đến việc học của các triều đại phong kiến "thể hiện sự mất còn của chế độ, của đất nước, song về khách quan lại giúp cho nhiều nhân tài kiệt xuất sinh ra trong suốt các thời kỳ lịch sử dụng nước và giữ nước

2.2 Những nội dung tư tưởng giáo dục cơ bản trong xã hội phong, kiến Việt Nam Nét đặc trưng vì tư tưởng nói chung và tư tưởng giáo dục nói riêng ở nước ta là sự hoà quyện giữa ba ý thức hệ tư tưởng lớn là Phật, Đạo, Nho

Phật giáo du nhập vào nước ta rất sớm và được cộng đồng xã hội tiếp nhận dễ dàng Trên bình diện triết học, tư tưởng Phật giáo xoay quanh học thuyết lớn-"Tứ diện đế" bao gồm khổ đế - Tập đế - Diệt đế và Đạo đế" (1) Học thuyết này cho rằng đời là bể khổ vì ai cũng phải qua cuộc sống sinh, lão, bệnh , tử , khổ vì dục vọng của con người là vô tận không bao giờ đạt được Từ đó, học thuyết giải thích nguồn gốc của khổ não, cần phải tiêu diệt nó và muốn thế phải theo 8 ngả đường (bát chính đạo) dắt đến sự giải thoát, vượt khỏi vòng luân hồi để tới coi niết bàn

Để giải thích cụ thể hai chân lý đầu ( khổ đế và tập đế), đạo Phật đưa ra 12 nhân duyên đã gây ra nghiệp luân hồi (thập nhị nhân duyên), cùng với thập nhị nhân duyên lại có ngũ uẩn để giải thích hai chân lý sau ( diệt đế và đạo đế )

(1)

Xem thêm "Nguyễn Đăng Tiến "Vài nét về Phật giáo" - Báo cáo khoa học, đề tài cấp Bộ Mã số B94 - 37 - 23

Trang 22

Mười hai nhân duyên bao gồm :

Cái gốc của mọi nỗi khổ đau là Vô minh Tiêu diệt được Vô minh, Con người sẽ thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử

Còn ngũ uẩn bao gồm 5 thuộc tính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức Khi con người chết, ngũ uẩn tan đi, nhưng cái "nghiệp" lại buộc ngũ uẩn kết hợp lại lần nữa rồi Vãng sinh Ở đây, nghiệp là những việc làm và những ý thức của mình khiến mình phải luân hồi mãi mãi, Diệt được nghiệp thì hết luân hồi và trở thành, chính quả để đi vào cõi niết bàn

Giáo lý của phái Đại thừa, nhất là phái Thiền tông phát "triển mạnh ở nước với quan niệm vạn vật đều là "sắc không" , là giả tưởng

Muốn thoát khỏi vòng nghiệp chướng, con người phải từ bỏ mọi thứ của cuộc đời, phải xuất thế tu hành để đắc đạo Bàn về ý nghĩa của đạo Thiền, sư Huệ sinh đã nói :

" Chỗ tột cùng của đạo Thiền là im lặng, như bóng trăng trên núi Láng già, hư không như chiếc thuyền vượt biển khơi" ( Tịch tịch lăng già nguyệt Không không độ hải chu )

Triết lý Phật giáo là như vậy, song các thiền sư ở nước ta lại không hề quay lưng với thực tế, trái lại rất tích cực nhập thế, tham gia vào công cuộc giữ nước, dựng nước, lo toan việc đời Mặt khác, về nhân sinh quan, Phật giáo chủ trương con người sống phải "từ bi bác ái" phải "bình đẳng" với nhau Quan điểm này phù hợp với truyền thống nhân ái, thương người vốn có của nhân dân ta nên dễ dàng hòa nhập trong cuộc sống cộng đồng và trong việc giáo dục nhân cách của con người

Trang 23

Chính vì thế, trong thời kỳ thịnh trị ( Tiền Lê, Lý, Trần), Phật giáo đã được giảng dạy rộng rãi ở các trường chùa, được mọi tầng lớp từ vua quan đến dân thường sùng , bái Ở giai đoạn sau, dù phảỉ lui bước trước nho giáo, song Phật giáo vẫn tồn tại, bắt rễ sâu vào cộng đồng xã hội

Bên cạnh Phật giáo, Đạo giáo cũng Đi vào quần chúng từ lâu Theo Lão tử, Đạo là cái nguyên lý tuyệt đối đã có từ khỉ khai thiên lập địa, không sinh, không diệt, không tăng không giảm Đạo có hai phương là Vô và Hữu

Vô thì Đạo là nguyên lí vô hình, nguyên lí của Trời, Đất Hữu thì Đạo là nguyên lí hữu hình, là Mẹ sinh ra vạn vật Như vậy, Đạo ở đây không phải là phương tiện, lề lối, con đường

mà là một nguyên lí huyền diệu, không thể suy nghĩ bàn bạc gì được Nguyên lí ban sơ ở những trạng thái hai mặt như có - không, cao - thấp, phải-trái v.v , song đó chỉ là hình thức bên ngoài, thực ra đó là hai mặt của một thực thể thống nhất Bậc thánh nhân luôn đứng trên hai cặp mâu thuẫn đó, do đó không bị lệ thuộc vào một bảng giá trị nào c Nhờ thế mà có thái

độ điềm tĩnh, thản nhiên trước mọi biến cố của cuộc đời

" Hoạ là cho dựa của Phúc; Phúc là chỗ núp của Hoạ" ( Hoạ hề phúc chi sơ ý, Phúc

hề hoạ, chi sở phúc ), đó là quan niệm Tối đại bình đẳng mà sau này Trang tử sẽ phát triển trong toàn bộ thiên Tề vật luận ở sách Nam hoa kinh

Từ quan điểm triết học trên, vận dụng vào cuộc sống xã hội, vào nhân sinh quan, Lão

tử và các môn đệ cho rằng kẻ hiểu Đạo và theo Đạo sẽ giống như "nước" lợi cho vạn vật, lại không bị "trở lực" nào cả vì đức "bất tranh" của nó "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài"; Được có thể ứng theo hình dáng của vật dựng nó, song không bao giờ mất tính chất riêng của mình Từ quan niệm này, Lão tử và môn đệ quen niệm "nhu nhược tháng cương cường", nhưng lại dẫn đến quan niệm "không gì nguy hiểm bằng tranh đấu mà dùng đến bạo động"

Trang 24

Trong phép xử thế, Đạo giáo khuyên con người ta nên luôn giữ phần thấp kém hơn người, giàu sang mà kiêu ngạo sẽ tự chuốc lấy tai ương, cây mạnh ăn hiếp yếu tất bị gẫy, binh mạnh không thắng v.v

Ở đời sở đi có nhiều cạnh tranh, xâu xé, thù oán chập chồng bởi vì ai cũng khoe khôn cây khéo, ăn trên ngồi trốc, chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người Nếu làm theo Đạo của Lão tử thì cái đức khiêm nhu, bất tranh khiến ta sẽ "huyên đồng" (tức hoà đồng, hoà nhập) với tất cả mọi người

Con người cần phải biết "Tri túc giả phú" (Biết đủ thì giàu), bỏ lòng tham dục vô ngần mới không mang hoạ vào thân

Đạo Trời là lo "bớt chỗ thừa, bù chỗ thiếu" trong lúc con người lại làm ngược lại khiến gây bao sự bất chính, bất công Bởi vậy, Lão tử và đạo giáo khuyên ta một chữ Từ (nhất viết Từ), tức là một tình thương không dành riêng cho hạng người nào mà cho tất cả mọi người, lành cũng như dữ

Từ những luận điểm trên, Lão Tử và đạo giáo chủ trương thuyết "vô vi" không nên ham can thiệp đến việc đời

Ở đây, vô vi không phải là không làm gì cả mà là "làm một cách kín đáo", đem cái tự nhiên mà giúp một cách tự nhiên không tư tâm, không vị ký : người làm ơn không biết là làm

ơn, người nhận ơn không biết là nhận ơn

Lão Tử đã làm đảo lộn cả các hệ thống giá trị thông thượng của Khổng tử ( nhân - nghĩa - lễ - trí ), của Mặc gia (Kiêm ái)

Ông nói :

"Mất đạo rồi mới có đức, mất đức rồi mới có nhận xét, mất nhân rồi mới có nghĩa, mất nghĩa rồi mới có Lễ Lễ chỉ là cái vỏ mỏng che ngoài của lòng trung tín và là cái đầu mối của hỗn loạn"

Trang 25

Điều đó cho thấy Lão tử coi trọng đạo đức nhưng lại coi nhẹ nhân nghĩa

Về mặt trị nước, ông cho rằng nhà cầm quyền muốn cứu vãn tình thế đồi trụy, không cần dùng đến trí mưu, thao lược mà phải tự mình đem cái gương điềm tĩnh vô vi mà cảm hoá

Càng gia tăng luật pháp, càng nhiều điều cấm kỵ, dân chúng càng bị còng trói khổ sở, càng sinh tham gian trá ngụy Muốn dễ dàng trị nước phải làm cho dân ngu, bởi lẽ dân khó trị

vì họ nhiều trí khôn Bởi vậy, theo ông, kẻ dùng trí mà trị nước là cái tai vạ của nước, kẻ không lấy trí mà trị nước là cái phúc của nước

Nhưng như thế mới chỉ là trị ngọn mà chưa trị gốc Muốn trị gốc, phải làm cho con người biết ăn ở giản dị, chất phác, ít tham dục, ít riêng tây, từ bỏ quan điểm nhị nguyên (Ta - người; Thiện - Ác, Vinh - Nhục ; Thị - Phi v.v ) mà trở về với nhất nguyên Muốn trị nước, nhà cầm quyền còn phải biết cần kiệm, không nên xa xỉ, không làm cho giàu nghèo quá chênh lệch trong xã hội

Ông cũng chủ trương hoà bình, bài bác triệt để chiến tranh dưới mọi hình thức Những tư tưởng của Lão tử được Trang tử về các môn đệ sau này phát triển khá phong phú, được tập hợp lại trong tác phẩm nổi tiếng "Nam hoa kinh "

Là một triệt học rất khó và siêu hình, "Đạo giáo thần tiễn" chỉ được một thiểu số tri thức bên trên có trình độ học vấn uyên thâm tiếp thu Trong khi đó "Đạo giáo phù thủy" với nhiều yếu tố dị đoan đã hòa nhập với tín ngưỡng bản địa cũng mang tính chất ma thuật, trở thành, việc bói toán; đồng cốt trong các tầng lớp nhân dân bên dưới

3.1.3 Nho giáo, với tính chất một học thuyết chính trị, đạo trị, đã được các triều đại phong kiến công nhận và dần

Trang 26

trở thành quốc giáo, được sử dụng như một công cụ để xây dựng một nền giáo dục chính qui

Từ vị thế đó, nho giáo ngày một giữ vai trò quan trọng đối với các vương triều Trường học được tổ chức ngày một qui mô, có hệ thống, nho sĩ ngày một đông, quan lại xuất thân từ khoa

cử ngày một giữ nhiều trọng trách ở triều đình và địa phương hơn Các đại biểu điển hình của nho giáo, từ nửa sau đời Trần đã tấn công , phê phán Phật giáo để đề caoo vị trí độc tôn của Nho giáo ( như các nho gia Lê Văn Hưu, Lê Quát, Trương Hán Siêu ) Đặc biệt, nhà Hồ đã đưa ra nhiều chính sách khắc nghiệt để hạn chế Phật giáo và sư sãi

Tuy nhiên, ở triều Lý về nửa đầu thời Trần, các vương triều, vẫn chấp nhận cả ba giáo Cả 3 ý thức hệ Nho, Phật, Đạo có những mặt đối lập về tư tưởng, song lại dung hòa được với nhau Cả 3 ý thức hệ khi du nhập vào nước ta đều phải khúc xạ, hoà nhập với tư tưởng và tín ngưỡng bản địa cho phù hợp với bản sắc riêng của dân tộc Đại Việt

Điều đặc biệt là trên thế giới, những cuộc chiến tranh tôn giáo đã diễu ra đẫm máu ở nhiều nơi thì ở nước ta các tư tưởng triết học, tôn giáo lại dung hoà với nhau, có tác dụng tích cực trong một chừng mực nhất định đối với các tầng lớp trí thức, vua quan cũng như đối với quần chúng nhân dân

Tư tưởng "tam giáo đồng nguyện" là một thực trạng tồn tại trên đất nước Đại Việt, không những trong xe hội mà còn được sử dụng trong việc tổ chức việc học, việc thi trong nền giáo dục chính thống, sử sách còn ghi lại dưới hai chiều Lý -"Trần có 3 kỳ thi tam giáo chính thức vào các năm 1195 (Lý), 1227 và 1247 (Trần) Theo "Thiền uyển tập anh." còn một kỳ thi tam giáo sớm hơn vào năm 1097 nữa

Chúng ta không còn tài liệu nào nói về cách thức, nội dung thi cử, số người đỗ đạt trong các kỳ thi tam giáo Tuy nhiên Phan Huy Chú đã từng có lời bàn về chuyện này trong " Lịch triều hiến chương loại chí" (1)

(1)

Xem nguyên văn lời bàn này ở trang 15

Trang 27

Nhà thơ Nguyễn Nguyên Úc thời Lý ( tức nhà sư Viên Thông)" là người, đã đỗ đầu khoa thi tam giáo năm 1097 (1), được sang chức Đại Văn ( nghe thay cho vua) Như vậy nội dung học và thi của tam giáo là nội dung đặc trưng của giáo dục trong các kỳ thi này của các triều Lý - Trần

Mặc dù vị trí của Phật giáo, Đạo giáo bị mất dần trong nền giáo dục chính thống, song những tư tưởng, giáo lý lại không bị tiêu diệt mà ăn sâu vào cuộc sống," vào xã hội Có thì tìm thay sự hoà quyện của tư tưởng tam giáo tràn ngập trong các "tác phẩm "thơ văn Lý - Trần, của vua quan, trí thức trong các triều đại tiếp sau

Tóm lại, tư tưởng "tam giáo đồng nguyên" là nét đặc trưng của giáo dục nước ta trong buổi đầu xây dựng chế độ phong kiến trung ương tập quyền Tuy tư tưởng nho giáo dần dần chiếm vị trí độc tôn song Phật giáo, Đạo giáo vẫn tồn tại và có ảnh hưởng lâu dài đến tận ngày nay Trong một chừng mục nhất định, tam giáo đã cùng góp phần vào công cuộc giữ nước, dựng nước cũng như vào lối sống, đạo đức của mọi người,

2.3 Tư tưởng, giáo dục nho giáo - tư tưởng chiếm địa vị độc tôn trong xã hội phong kiến nước ta

Không phải ngẫu, nhiên mà triều lý và các triều đại tiếp theo chọn nho giáo làm quốc giáo Nho giáo có một sơ sở triết học sâu sắc bao gồm một hệ thống quan điểm về thiên đạo, nhân đạo và trị đạo Về mặt xã hội, đó là thuyết "Chính danh định phận" Một lần Tề Cảnh Công, vừa một nước chư hầu hỏi về phép trị dân, Khổng Tử đáp :

" Vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con"

Bản chất của ông vua là những điều kiện lý tưởng

(1)

Giáo hội Phật giáo Việt Nam - "Thiền uyển tập anh" Phân viện nghiên cứu Phật học - NXB Văn học

Hà Nội, 1990 , trang 239 Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Hoa dịch và giới thiệu

Trang 28

mà ông vừa phải có, nghĩa là những điều kiện hợp với vương đạo" Vua chỉ đúng là vua khi hành động hợp với vương đạo, ngược lại sẽ không phải là vua mặc dù vẫn ngồi trên ngai vàng Như vậy, trong mỗi tương quan xã hội, danh bao hàm một số trách nhiệm về bổn phận

Về đức tính của mỗi người, Khổng Tử nhấn mạnh quan niệm Nhân - Nghĩa, trước hết

là Nhân

Nhân là thương người, người nào thật lòng thương người khác thì có thể làm tròn bổn phận của mình trong, xã hội Bởi vậy, Khổng Tử coi Nhân không phải để chỉ một đức tính riêng mà chỉ chung mọi đức tính hay "toàn đức" Từ khái niệm Nhân, Khổng Tử đi đến đạo Trung Thứ Môn đệ Trong Cung hỏi về Nhân, Khổng Tử đáp :

"Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người " ( Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân

(1)

Một lần khác, ông lại nói :

"Kẻ nhân là hễ muốn lập cho mình thì lập cho người, hễ muốn cho mình nên thì lo cho người nên Có thể lấy mình mà xử với người, ấy gọi là đường lối của nhân"

(Kỷ dục lập nhi lập nhân , kỷ dục đạt nhi đạt chân) (2)

Vậy thi hành Nhân tức là trọng người khác, là "Làm cho người điều gì mình muốn người làm cho mình" Đó là mặt tính cực, là đạo Trung, còn mặt tiêu cực, đó là lòng vi tha

"Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người" , hay gọi là đạo Thứ Đạo Trung Thứ cũng chính là "phép thước tất" mà các hậu nho sau này đều làm theo

Nghĩa theo Khổng Tử là điều mà con người phải làm trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó

Trang 29

đi đó chỉ là hành động vì lợi Đối với nho gia, nghĩa và lợi là hai mặt hoàn toàn đối lập Khổng tử nói :

"Quân tử biết rõ vì nghĩa, tiểu nhân biết rõ vì lợi" (Luận ngữ) Đó là sự phân biệt quan trọng trong việc giáo dục đạo đức

Tóm lại, Khổng Tử đã nói rõ về nhân, lại phân biệt cặn kẽ giữa nghĩa và lợi, song Người không nói rõ tại sao là ta phải làm như vậy

Mạnh tử đã cố gắng giải đáp câu hỏi này bằng thuyết Tính Thiên Mạnh Tử không cho ràng mỗi người sinh ra đã là một vị Thánh, song "bản chất con người là Thiện Con người còn có những nhân tố khác, không thiện, cũng không bất thiện nhưng có thể trở thành bất thiện nếu không được kiềm thúc Ông nói : "Người ta ai cũng có lòng chẳng nỡ ( bất nhẫn khi thấy người khác khổ), thấy đứa trẻ rơi xuống giếng, ai cũng lo sợ thương xót" Cho nên nếu không có lòng thương xót không phải là người, nếu không có lòng từ nhượng không phải

là người, không có lòng phải trái, không phải là người" Lòng thương xót là đầu mối đức Nhân, lòng hổ thẹn là đầu mối đức Nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối đức Lễ lòng phải trái là đầu mối đức Trí Bốn đầu mối ấy như tứ chỉ của con người nhờ đó ta biết bồi bổ thêm như lửa mới nhen, như suối mới tuôn Nếu bồi bổ được thì dù che chở 4 biển, nếu không bồi bổ được thì không đủ thờ cha mẹ

Về quan điểm chính trị , Mạnh Tử cũng quan niệm "riêng thánh nhân mới thật đáng làm vua Theo ông, vua không có đức tính của Người cầm đầu thì dân cũng có quyền lật đổ Trong trường hợp này, giết vua không mang tội phản nghịch, trái lại hợp với thuyết chính danh Ông quan niệm "dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh"

Quan niệm của Tuân Tử là phản thuyết của tư tưởng Mạnh Tử Ông chủ trương thuyết

"Tính ác, coi "tính người là ác, thiện là do người làm ra" Tuy vậy, ông đồng ý với Mạnh Tử

là mỗi người đều có thể trở thành thánh nhân nếu được

Trang 30

giáo dục và có lòng mong muốn Trong thiên "Tính ác" , Tuân Tử chứng minh rằng con người sinh ra vốn có lòng hem lợi và có dục vọng Tuy có những ác đoạn ấy, Tuân Tử lại cho rằng con người đồng thời có sự thông minh và nhờ đó có thể khiến con người thành tốt

Bàn về gốc rễ của đạo đức, Tuân Tử cho rằng con người ta sống không thể không có

tổ chức xã hội Để có cuộc sống ấm no phải họp quần Sở dĩ con người, mặc dù yếu hơn trâu, ngựa, lại có thể sai khiến, sử dụng chúng là vì có sự hợp quần, nhiều sức mạnh để thắng chúng Muốn có tổ chức xã hội, cần có lề lối cư xử tức là phải có Lễ Ông nói :

" Người ta sinh ra là có lòng ham muốn, muốn không được thì không thể không tìm, tìm mà không độ lượng, không phân giới hạn, thì không thể không tranh Tranh thi loạn, loạn

là hết Các bậc tiên vương ghét loạn, nên đặt ra lễ nghĩa"

Như vậy, giới hạn được đặt ra đối với lòng ham muốn là Lễ Ở đâu có Lễ, ở đó có đạo đức, Ông cũng phân biệt giữa tự nhiên và giáo học Cầm thú có cha con, có đực cái là do tự nhiên, còn tình thương, yêu giữa cha con, sự phân biệt giữa Vợ chồng là sản phẩm của giáo hoá, văn minh Mở rộng thuyết Chính danh, ông còn bàn sâu về về luận lý học qua lý thuyết tri thức luận Ông chia khả năng hiểu biết của con người làm hai phần : Thiên quan (tai, mắt, tay ) dùng để thu nhập cảm giác; Tâm dùng để thu nhập những cảm giác đó và: cho chúng một ý nghĩa

Thế kỷ thứ 2 truớc công nguyên, Đổng Trọng Thư đã phát triển tư tưởng thống trị của Hán Vũ Đế, đề xuất chủ trương "Độc tôn Nho thuật" Ông đã đưa yếu tố thần bí vào đạo Nho nên đời sau tôn ông là Khổng Tử đời Hán Theo ông Đạo là do Trời mà ra "Trời không đổi, nên Đạo cũng không đổi" (Thiên bất biến, đạo diệc bất biến)

Từ đó, ông thiết lập mối quan hệ giữa Trời và Người (Thiên - Nhân tương cảm) Người phải theo mệnh Trời vì Người

Ngày đăng: 03/12/2015, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w