1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng phú thọ

107 305 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 758,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược của Đảng và Nhà nước, tạo động lực và huy động mọi nguồn lực để phát triển một nền giáo dục tiên tiến, chấ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực chƣa hề đƣợc sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác giả

Trần Tuấn Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc nghiêm túc và đầy trách nhiệm, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS - TSKH Nguyễn Văn Hộ, đến nay luận văn đã hoàn thành Nhân dịp này cho phép tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng cảm chân thành đến các giảng viên Trường Đại học sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn Khoa Sau đại học, Khoa Giáo dục Trường Đại học sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên; Sở GD&ĐT Phú Thọ; Phòng GD&ĐT Đoan Hùng; các đồng chí cán bộ quản lý và các thầy giáo, cô giáo các trường Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT và TTGDTX- HN; các xã, thị trấn; các lực lượng xã hội huyện Đoan Hùng đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Hy vọng rằng với những kết quả đã đạt được, khi áp dụng vào thực tiễn công tác sẽ góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ

Luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót; kính mong được sự chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo và sự đóng góp ý kiến của đồng chí, đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2015

Tác giả

Trần Tuấn Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 2

5 Giải thuyết khoa học 2

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC XÃ HỘI THAM GIA PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 4

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Quá trình xuất hiện tư tưởng huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục 4

1.1.2 Huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục là một tư tưởng chiến lược để phát triển giáo dục ở Việt Nam 7

1.1.3 Tư tưởng xã hội hoá của các nhà khoa học giáo dục 9

1.2 Lý luận về xã hội hoá công tác giáo dục 10

1.2.1 Một số khái niệm liên quan 10

1.2.2 Vai trò của xã hội hoá giáo dục trong sự nghiệp đào tạo con người 16

1.2.3 Mục tiêu, nội dung, hình thức thực hiện xã hội hoá giáo dục 18

Trang 6

1.2.4 Đặc trưng xã hội hoá giáo dục ở huyện miền núi 21

1.3 Chức năng của UBND các xã trong việc triển khai thực hiện xã hội hoá giáo dục 21

1.3.1 Định hướng và chỉ đạo các trường thực hiện xã hội hoá giáo dục 21

1.3.2 Khai thác, huy động nguồn lực phục vụ phát triển giáo dục 22

1.3.3 Kiểm tra, giám sát thực hiện xã hội hoá giáo dục của các trường trên địa bàn 24

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC XÃ HỘI THAM GIA PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở CÁC XÃ HUYỆN ĐOAN HÙNG - PHÚ THỌ 26

2.1 Tình hình giáo dục huyện Đoan Hùng 26

2.1.1 Tình hình chung 26

2.1.2 Về mạng lưới và quy mô trường lớp 27

2.1.3 Tình hình đội ngũ 27

2.1.4 Chất lượng giáo dục 29

2.2 Thực trạng công tác huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ 36

2.2.1 Nhận thức về XHHGD trong cán bộ, quần chúng nhân dân 36

2.2.2 Thực trạng công tác chỉ đạo triển khai xã hội hoá giáo dục của UBND các xã 43

2.3 Đánh giá chung 50

2.3.1 Ưu điểm, nguyên nhân 50

2.3.2 Thiếu sót, bất cập, nguyên nhân 52

Chương 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC XÃ HỘI THAM GIA PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở CÁC XÃ HUYỆN ĐOAN HÙNG - PHÚ THỌ 55

3.1 Yêu cầu của việc đề xuất biện pháp 55

3.2 Các biện pháp cụ thể 58

Trang 7

3.2.1 Cấp ủy và UBND các xã cần có sự quan tâm tới việc tuyên truyền cho quần chúng chủ trương huy động các nguồn lực của địa

phương tham gia phát triển giáo dục 58

3.2.2 Cấp ủy và UBND các xã chủ động phối hợp với các trường trong việc nâng cao nhận thức và kinh nghiệm thực tiễn cho đội ngũ cán bộ quản lý 62

3.2.3 Cấp ủy và UBND các xã tiến hành việc chỉ đạo, giám sát và kiểm tra các nhà trường thực hiện xã hội hoá giáo dục 66

3.2.4 Cấp ủy và UBND các xã giúp nhà trường thiết lập mối quan hệ với các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội 68

3.2.5 Cấp ủy và UBND các xã tạo dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, đoàn thể, quần chúng trong việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục 73

3.2.6 Cấp ủy và UBND các xã cần khai thác, huy động, điều phối nguồn lực xã hội góp phần phát triển giáo dục 75

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 82

3.4 Khảo nghiệm các biện pháp đề xuất 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Khuyến nghị 88

2.1 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo 88

2.2 Đối với Huyện uỷ, UBND huyện 88

2.3 Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo và các trường trên địa bàn huyện 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 8

UBND : Ủy ban nhân dân

XHHGD : Xã hội hóa giáo dục

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Đội ngũ GV huyện Đoan Hùng từ năm 2010 đến năm 2014 28Bảng 2.2: Quy mô Giáo dục huyện Đoan Hùng từ năm học 2010-2011 đến

năm học 2014-2015 35Bảng 2.3: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHHGD 37Bảng 2.4: Quan niệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về

XHHGD 38Bảng 2.5: Nhận Thức về mục tiêu và yêu cầu chính của XHHGD 38Bảng 2.6: Nhận thức về tầm quan trọng của nội dung XHHGD 39Bảng 2.7: Nhận thức về vai trò của các lực lƣợng quan trọng trong công

tác XHHGD 39Bảng 2.8: Kinh phí đầu tƣ cho giáo dục từ năm học 2010 - 2011 đến năm

học 2014 - 2015 49Bảng 2.9: Nguyên nhân, thiếu sót, bất cập 53Bảng 3.1: Kết quả điểm trung bình cộng ở các nhóm khảo nghiệm 85

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược của Đảng

và Nhà nước, tạo động lực và huy động mọi nguồn lực để phát triển một nền giáo dục tiên tiến, chất lượng ngày càng cao trên cơ sở có sự tham gia của toàn

xã hội Là một trong những phương thức thực hiện để mọi người dân đều có cơ hội được học tập Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương

2 (khoá VIII), Kết luận hội nghị Trung ương 6 (khoá IX), Nghị quyết Trung

ương (khoá X) đã khẳng định: "Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, coi giáo dục là

sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục" Chủ trương xã hội hoá giáo dục là xuất phát từ quan điểm coi giáo dục là

sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân

Trong bối cảnh đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi Giáo dục - Đào tạo phải đào tạo một nguồn nhân lực rất lớn có chất lượng cao Vì vậy, phải phát triển mạnh mẽ quy mô giáo dục đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Trong điều kiện

đó, Nhà nước chưa đủ sức và không thể bao cấp toàn bộ sự nghiệp phát triển giáo dục thì xã hội hoá giáo dục là một trong những phương thức cơ bản để phát triển giáo dục

Cùng với việc tăng cường đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách Nhà nước, cần làm tốt công tác huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện và vững chắc đối với sự

nghiệp giáo dục, thể hiện quan điểm của Đảng "Coi Giáo dục - Đào tạo là quốc

sách hàng đầu"

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, Giáo dục - Đào tạo Đoan Hùng vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới, cơ sở vật chất trang thiết bị còn thiếu, đội ngũ giáo viên thiếu, chưa đảm bảo cơ cấu giữa các môn, đời sống giáo viên còn gặp khó khăn Ở một số địa phương, cấp

ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, cha mẹ chưa nhận thức đầy đủ về vị trí tầm

Trang 11

quan trọng của giáo dục Nhận thức trong một số cán bộ nhân dân về công tác

xã hội hoá giáo dục còn phiến diện không đầy đủ, nên chưa huy động được các nguồn lực, các LLXH tham gia phối hợp trong công tác giáo dục

Để góp phần tiếp tục phát triển giáo dục, việc tìm ra: "Biện pháp huy

động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ" là một việc rất quan trọng và cần thiết

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã trên địa bàn huyện Đoan Hùng - Phú Thọ

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Vấn đề xã hội hoá giáo dục cấp xã

- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ

4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ

- Số liệu điều tra từ năm 2010 đến năm 2014

- Khách thể điều tra: Cán bộ phòng Giáo dục, hiệu trưởng các trường trong huyện, cán bộ các ngành các giới, các LLXH trong huyện, cha mẹ học sinh,

5 Giải thuyết khoa học

Nếu các xã áp dụng biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục phù hợp với:

- Chức năng của các xã

- Hoàn cảnh và điều kiện của từng địa phương

Thì sẽ nâng cao chất lượng công tác xã hội hoá, góp phần phát triển giáo dục trong huyện

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến xã hội hoá giáo dục, những vấn đề quản lý giáo dục, những Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước

về vấn đề xã hội hoá giáo dục

Trang 12

- Khảo sát, phân tích thực trạng xã hội hoá giáo dục và công tác chỉ đạo triển khai xã hội hoá giáo dục ở huyện Đoan Hùng - Phú Thọ, những thuận lợi, khó khăn, tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan

- Đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tổng hợp chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá giáo dục

- Phân tích những vấn đề lý luận, các công trình nghiên cứu liên quan đến xã hội hoá giáo dục

- Hệ thống hoá, khái quát hoá các khái niệm, xác định bản chất của những vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

7.3 Phương pháp bổ trợ

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

- Sử dụng thống kê toán học xử lý kết quả khảo sát, điều tra

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn chính được chia làm 3 chương:

- Chương 1 Cơ sở lý luận của việc huy động các nguồn lực tham gia

phát triển giáo dục

- Chương 2 Thực trạng triển khai công tác huy động các nguồn lực xã

hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ

- Chương 3 Đề xuất biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia

phát triển giáo dục ở các xã huyện Đoan Hùng - Phú Thọ

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC XÃ HỘI

THAM GIA PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Quá trình xuất hiện tư tưởng huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, nó nảy sinh, phát triển và tồn tại cùng với xã hội loài người Giáo dục phát triển bởi sự chi phối của chính nền kinh tế - xã hội và ngược lại Bằng việc thực hiện những chức năng của mình giáo dục có vai trò to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động, đóng góp thúc đẩy phát triển xã hội Chính do tác động đến nhân cách toàn vẹn của con người nên giáo dục có khả năng tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội, mà con người là chủ thể Những tác động của giáo dục đối với các quá trình xã hội, xét về mặt xã hội học thì mỗi chế độ xã hội, tồn tại một nền giáo dục tương ứng, xã hội nào thì giáo dục ấy, không có nền giáo dục đứng ngoài xã hội Giáo dục là con đường ngắn nhất dành cho mọi người hoàn thiện nhân cách, khả năng, năng lực của bản thân, để hoà nhập cộng đồng Đối với xã hội, giáo dục đã trở thành động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Do vậy giáo dục phải đi trước một bước, đón đầu những ứng dụng khoa học kỹ thuật góp phần thúc đẩy nền KT- XH khi nền kinh tế - xã hội phát triển thì tiếp tục đầu tư cho sự phát triển giáo dục Quá trình này làm nảy sinh mâu thuẫn đó là: Đòi hỏi sự đầu tư cho giáo dục và sức đầu tư của Nhà nước cho giáo dục,

mà đòi hỏi bao giờ cũng lớn hơn mức đầu tư, bởi vậy việc thực hiện công tác

xã hội hoá giáo dục là một việc làm hợp quy luật, việc làm tất nhiên phải có và

nó phải tồn tại cùng với sự tồn tại và phát triển của giáo dục

Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào các bậc cha mẹ cũng mong muốn cho con cái mình được học hành nên người Truyền thống hiếu học ấy thể hiện ở chỗ nhân dân ta

Trang 14

rất coi trọng việc học, quý mến thầy giáo và quan tâm đến công tác giáo dục thế

hệ trẻ Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, tuy Nhà nước chỉ mở trường dạy học dành cho con em các quan lại, các nhà chức trách và con cái nhà giàu nhưng đại bộ phận nhân dân lao động cũng đã tự lo liệu để cho con em mình được đi học bằng cách gửi con cho các thầy đồ dạy hoặc do dân tự mở lớp mời thầy về dạy

Việc nhân dân tự chăm lo cho con em mình được học hành bằng cách kẻ

ít người nhiều, kẻ góp công, người góp của bồi dưỡng thầy giáo; cũng như việc động viên, cổ vũ, tôn vinh người học thành đạt vốn là việc làm của nhân dân ta

đã có từ thời xa xưa Sự chăm lo vật chất và động viên tinh thần cho người dạy

và người học ấy đã nói lên sự quan tâm của xã hội đối với công tác giáo dục; hay nói một cách khác, xã hội hóa giáo dục ở nước ta đã xuất phát từ truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo này

Trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, xã hội hóa giáo dục ở nước ta đã có những bước phát triển mới Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng Tháng 8 thành công, quan điểm giáo dục của Đảng và Bác Hồ đã được khởi xướng và dấy lên nhiều phong trào học tập

rầm rộ Khẩu hiệu “Diệt giặc dốt” và sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ

của Chính phủ đã mở đầu cho nền giáo dục của dân, do dân và vì dân Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, giáo dục là một bộ phận của cách mạng, do

đó giáo dục cũng là sự nghiệp của quần chúng Đáp ứng lời kêu gọi diệt giặc dốt của Bác Hồ và Chính phủ, phong trào học tập được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, phong trào lan ra rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng có người đi học, đâu đâu cũng có các lớp xóa nạn mù chữ Tư tưởng giáo dục của

Hồ Chủ Tịch có tính thuyết phục cao và đem lại hiệu quả to lớn Hình thức tổ

chức dạy- học được thực hiện theo khẩu hiệu hành động “ Người biết chữ dạy

người chưa biết, chồng dạy vợ, cha dạy con” Ai biết chữ đều có thể tham gia

dạy bình dân học vụ Quan điểm giáo dục của Đảng và Bác Hồ đã thực sự đi

Trang 15

vào lòng dân và đã khơi dậy được truyền thống hiếu học của dân tộc, tạo nên

một sức mạnh tổng hợp vượt qua mọi khó khăn thử thách để “Ai cũng được

học hành” Từ đấy Đảng và nhân dân ta đã ý thức sâu sắc lời dạy của Bác Hồ:

“Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”

Tuy ở trong hoàn cảnh đất nước với nhiều khó khăn, thử thách, Đảng và nhân dân ta đang phải cùng một lúc đương đầu với nhiều thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm nhưng nền giáo dục Việt Nam do Bác Hồ khởi xướng đã phát triển một bước khá dài và mạnh mẽ, huy động được sự đóng góp to lớn của toàn xã hội

Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi (1975), Đảng và Chính phủ đã

có nhiều nỗ lực đầu tư phát triển giáo dục nhưng do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, tổ chức thực hiện còn máy móc nên chưa phát huy hết tiềm năng sẵn

có để phát triển mạnh Chúng ta thay vì thực hiện sự quản lý giáo dục của Nhà nước, đã hành chính hóa giáo dục, Nhà nước hóa giáo dục, làm cho giáo dục mất khả năng chủ động và thiếu tính sáng tạo Nhận thức được tình hình này, Đảng và Chính phủ đã thực hiện nhiều đợt cải cách giáo dục nhưng vẫn còn mang tính chắp vá, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu KT - XH, nhất là

trong thời điểm này, khi nhân loại đang bước sang thời kỳ “Làn sóng thứ ba”,

vào thời đại văn minh hậu công nghiệp, khoa học và kỹ thuật phát triển mạnh

mẽ, xu hướng hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa, đa phương hóa là quy luật tất yếu

để phát triển đất nước

Ngày 9/12/1981 Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp chính quyền ở địa phương nhưng mãi đến Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), với đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta bắt đầu chuyển mình để bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ đổi mới tư duy trên các lĩnh vực mà trước tiên là lĩnh vực kinh tế hàng hóa - kinh tế thị trường với xu thế mở cửa Hoàn cảnh khách quan và chủ quan đã đặt

ra nhiều thời cơ và thách thức mới đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam phải phát

Trang 16

triển với tốc độ cao, đạt tới trình độ phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

xã hội Quan điểm đa dạng hóa, đa phương hóa trong giáo dục vốn có được tiếp tục khơi dậy và nâng cao lên một tầm mới

Văn kiện Hội nghị lần thứ hai của BCH TW khóa VIII đã chính thức đề

cập đến nội dung của công tác xã hội hóa giáo dục: “Nhà nước cần đầu tư

nhiều hơn cho giáo dục nhưng vấn đề rất quan trọng là phải quán triệt sâu sắc

và tiến hành tốt các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội… Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển… Phải coi đầu tư cho phát triển là một trong những hướng chính, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của của Nhà nước.” [31, tr 61]

Không riêng ở Việt Nam mà nhiều nước khác trên thế giới như ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, các nước Châu á Thái Bình Dương cũng đều rất quan tâm đến việc xây dựng và củng cố các tổ chức phục

vụ trực tiếp cho giáo dục, vì chất lượng đào tạo thế hệ trẻ Trung Quốc đã xác

định “Cần phải đưa giáo dục lên vị trí ưu tiên cho sự phát triển” Ấn Độ cũng

huy động xã hội tham gia công tác giáo dục gắn liền với phát triển nông thôn, huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính quy

Như vậy, xã hội hóa giáo dục là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi người, mọi LLXH nhằm trả lại bản chất xã hội cho giáo dục, trả lại nhiệm

vụ xã hội cho chính giáo dục, nhằm xây dựng một xã hội học tập

1.1.2 Huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục là một tư tưởng chiến lược để phát triển giáo dục ở Việt Nam

Với quan điểm lấy con người làm "Trung tâm của sự phát triển", giáo dục và đào tạo là "Quốc sách hàng đầu", huy động toàn xã hội làm giáo dục,

động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới

Trang 17

sự quản lý của nhà nước, chủ trương này là hoàn toàn đúng đắn, là thực hiện

Nghị quyết của Đảng về công tác giáo dục."Giáo dục là sự nghiệp của quần

chúng" quá trình giáo dục thế hệ trẻ trở thành người lao động có tri thức, có

năng lực đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế - xã hội không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục, mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, phải có

sự tham gia tích cực phối hợp chặt chẽ của toàn xã hội Sự tham gia phối hợp

ấy phải được tiến hành có tổ chức, khoa học, liên tục mới mang lại hiệu quả

Xác định vị trí, vai trò, tầm quan trọng, sự cần thiết thực hiện việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục, nhiều Nghị quyết, Văn kiện của Đảng đã chỉ đạo thực hiện:

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ VII

có ghi: "Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp

xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới"…" Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu, để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển đổi mới nhanh cơ chế quản lý giáo dục- đào tạo, khoa học và công nghệ phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn chặt sự phát triển các lĩnh vực này với sản xuất và mục tiêu kinh tế - xã hội Một mặt Nhà nước đầu tư, mặt khác có chính sách để toàn dân, các thành phần kinh

tế cùng làm và đóng góp vào sự nghiệp này"[30, tr 79, 121]

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, xã hội hóa được Đảng ta xác định

là cơ sở để hoạch định hệ thống chính sách xã hội: "Các vấn đề chính sách xã

hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các

cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội" Trên tinh thần ấy, văn kiện Đại hội VIII về GD&ĐT đã nêu: "Cụ thể hóa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa sự nghiệp Giáo

Trang 18

dục và Đào tạo, trước hết là vấn đề đầu tư phát triển và bảo đảm kinh phí hoạt động Ngoài việc ngân sách dành một tỷ lệ thích đáng cho sự phát triển Giáo dục và Đào tạo, cần thu hút thêm các nguồn đầu tư từ các cộng đồng, các thành phần kinh tế, các giới kinh doanh trong và ngoài nước, đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo Những doanh nghiệp

sử dụng người lao động được đào tạo có nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách GD&ĐT Đổi mới chế độ học phí phù hợp với sự phân tầng thu nhập trong xã hội, loại bỏ những đóng góp không hợp lý nhằm đảm bảo tốt hơn kinh phí giáo dục, đồng thời cải thiện điều kiện học tập cho học sinh nghèo" [31, tr 88]

Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định "Nhà nước dành tỷ

lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa phát triển GD&ĐT Huy động và

sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho GD&ĐT Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về phát triển Giáo dục - Đào tạo" Cũng tại Đại hội IX, xã hội hóa được coi là một

trong ba phương hướng để đẩy mạnh sự phát triển GD&ĐT đi vào thế kỷ XXI:

"Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy

và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa" [33]

Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về xã hội hóa giáo dục thực chất là khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển GD&ĐT Quá trình đó đã chứng minh rằng, xã hội hóa giáo dục không phải là giải pháp tình thế khi nền kinh tế đất nước còn khó khăn, điều kiện đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp, mà là một chủ trương chiến lược lâu dài, xuyên suốt toàn bộ quá trình phát triển giáo dục, ngay cả đến khi nước ta phát triển thành một nước công nghiệp, có thu nhập quốc dân cao gấp nhiều lần

so với hiện nay

1.1.3 Tư tưởng xã hội hoá của các nhà khoa học giáo dục

Bên cạnh các Văn kiện, Nghị định, Thông tư, Nghị quyết của Đảng và của Nhà nước, các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục đã bàn luận nhiều về

Trang 19

công tác XHHGD Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn " Giáo dục Việt Nam

trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI" đã khẳng định: "Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục" [10, tr 29; 71]

Trên thế giới tuy tên gọi khác nhau, hình thức tổ chức thực hiện khác nhau, nhưng việc đưa giáo dục đến với mọi người và mọi người trong xã hội, mọi tổ chức trong cộng đồng đều phải tham gia xây dựng phát triển giáo dục Như ta đã thấy các nước phát triển thì trách nhiệm của mọi người, của cộng đồng đến giáo dục tốt hơn Các nhà khoa học đã khẳng định bản chất của công tác giáo dục: Giáo dục chỉ tồn tại và phát triển dược khi toàn xã hội cùng tham gia và được hưởng giáo dục Xã hội hoá công tác giáo dục là một việc làm tất yếu của quá trình giáo dục bởi vậy để việc tổ chức thực hiện XHHGD sao cho hiệu quả cao nhất là tuỳ thuộc vào nhận thức của mỗi chúng ta

1.2 Lý luận về xã hội hoá công tác giáo dục

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

- Xã hội hoá, xã hội hoá giáo dục, huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục

Khái niệm trên đây đã nêu lên nội dung cơ bản thuộc phạm trù xã hội hóa Từ đó ta có thể rút ra:

Xã hội hóa là quá trình học tập suốt đời của cá nhân Trong đó, cá nhân với tư cách là chủ thể hành động không chỉ tiếp thu mà còn làm phong phú thêm các quan hệ xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần dưới hình thức cá

Trang 20

nhân Yếu tố xã hội là quan trọng nhất nhưng không phải là cơ sở duy nhất để tạo nên cái độc đáo có một không hai trong nhân cách, có thể có mâu thuẫn nảy sinh một cách tự phát hay được tạo ra một cách có ý thức thông qua những yêu cầu khách quan Do đó, cá nhân chỉ phát triển khi có sự định hướng cả về nhận thức lẫn hành động của xã hội và giáo dục

Xã hội hóa có mục tiêu chủ yếu là: huy động sức mạnh của toàn xã hội, tạo ra nhiều nguồn lực đa dạng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, làm cho các lĩnh vực này thực sự gắn bó với dân, do dân và vì dân để nâng cao chất lượng cuộc sống

Nhưng trong thực tế, không ít người còn có nhận thức chưa đầy đủ về bản chất và nội dung xã hội hóa Có người cho rằng xã hội hóa có nội dung chủ yếu là huy động tiền của trong nhân dân, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Quan điểm phiến diện, lệch lạc này cùng với sự buông lỏng trong quản lý đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực làm cho người dân hiểu là xã hội hóa đồng nhất với việc thu tiền, làm giảm đi sự tâm huyết với giáo dục trong việc thực hiện công tác xã hội hóa Lại có người cho rằng xã hội hóa có nghĩa là: Nhà nước và nhân dân cùng làm Hiểu như vậy là vô tình hạ thấp vai trò quản lý của Nhà nước, dẫn tới việc chưa thấy được vai trò chủ đạo và thống nhất trong quản lý của Nhà nước Hoặc một số ý kiến chưa thấy hết tầm quan trọng của sự phối hợp liên thông, liên ngành dẫn tới tư tưởng cục bộ, hay địa phương chủ nghĩa trong giáo dục

Năm 1997, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90, khẳng định nội dung cốt lõi của xã hội hóa bao gồm:

Tuyên truyền, vận động sự tham gia đóng góp rộng rãi của nhân dân và của toàn xã hội

Xây dựng cộng đồng trách nhiệm giữa các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các đơn vị kinh tế, cơ sở doanh nghiệp

Đa dạng hóa các hình thức hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, xã hội, tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân được bình đẳng và chủ động tham gia các hoạt động xã hội

Trang 21

Đa dạng hóa các nguồn đầu tư về nhân lực và vật lực đang tiềm tàng trong nhân dân

Thực chất nội dung xã hội hóa là quá trình vận động quần chúng nâng cao tính tích cực và tự giác, phát huy sức mạnh của quần chúng vì sự nghiệp giáo dục Đây cũng là quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và cơ chế quản

lý của Nhà nước để đa dạng hóa các hình thức hoạt động giáo dục

Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh cách mạng nói chung và giáo dục nói riêng đã luôn luôn coi trọng việc huy động toàn xã hội tham gia giáo dục Đến đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996) vấn đề xã hội hóa giáo dục đã trở thành một quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt

Như vậy, kể từ khi đất nước đổi mới đến nay, thuật ngữ "Xã hội hóa"

được dùng chính thức trong các văn kiện của Đảng Khái niện xã hội hóa đã hàm chứa một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự phát triển của đất nước ở một giai đoạn mới trong nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Xã hội hóa giáo dục

Giáo dục là một nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Điều này chứng tỏ không thể tách giáo dục ra khỏi đời sống xã hội Giáo dục chính là một phương tiện để xã hội đổi mới và phát triển

Xã hội hóa giáo dục là quá trình giáo dục gia nhập và hòa nhập vào cộng đồng; đồng thời xã hội tiếp nhận giáo dục như là một công việc chung mà mọi

cá nhân, đoàn thể, tổ chức, bộ máy đều có trách nhiệm tham gia

Xã hội hóa giáo dục có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hóa con

người, xã hội hóa cá nhân Thực hiện xã hội hóa giáo dục là duy trì mối liên hệ

phổ biến có tính quy luật giữa cộng đồng và xã hội, làm cho giáo dục phát triển phù hợp với sự vận động của xã hội Nội dung quy luật này là ở chỗ: Mọi người phải làm giáo dục để giáo dục cho mọi người Nghĩa là xã hội hóa giáo

Trang 22

dục có hai phương diện: Mọi người có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm lo phát triển giáo dục và giáo dục là nhằm mục đích phục vụ cho mọi người, tạo điều kiện

để mọi người ở mọi độ tuổi, ở mọi vùng được học tập, học thường xuyên, học

suốt đời nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống

Hai phương diện trên đã nêu rõ hai yêu cầu cơ bản thuộc về bản chất giáo dục là: xã hội hóa trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục

và xã hội hóa về quyền lợi giáo dục nghĩa là mọi người có quyền được thụ hưởng mọi thành quả của giáo dục

Hai yêu cầu này có quan hệ chặt chẽ và có sự tác động lẫn nhau, trong đó

xã hội hóa quyền lợi giáo dục là mục tiêu, cốt lõi của xã hội hóa giáo dục, làm sao mọi người đều được học tập

Trong hoạt động thực tiễn, cần phân biệt rõ tính chất xã hội của giáo dục

và xã hội hóa giáo dục Nếu không có định hướng rõ ràng thì bản thân hoạt động giáo dục vẫn có tính chất xã hội một cách tự phát nhưng không thể đạt tới trình độ xã hội hóa đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó

Cần có sự phân biệt, không thể đồng nhất xã hội hóa giáo dục với tính chất xã hội của giáo dục Nếu cho rằng xã hội hóa giáo dục để dẫn đến giới hạn

là chỉ nói đến tính chất xã hội của giáo dục là không đúng Xã hội hóa giáo dục

là cách nói vắn tắt, ngắn gọn của xã hội hóa công tác giáo dục Cần xác định rõ rằng: Nội hàm xã hội hóa giáo dục nói ở đây thuộc phạm trù phương thức, phương châm, cách làm giáo dục, thuộc phương thức tổ chức và quản lý giáo dục đúng với bản chất và nội dung xã hội hóa đã nêu trên

Là cuộc vận động lớn trong xã hội với sự tham gia đóng góp của các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội Tập thể, các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể,

cơ quan, đơn vị và quần chúng có sự cộng đồng trách nhiệm trong công tác giáo dục Là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, trong đó ngành giáo dục là nòng cốt, đa dạng hóa các nguồn đầu tư: nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực cho giáo dục, phát triển đa dạng các loại hình giáo dục chính quy và phi chính

Trang 23

quy: Công lập, dân lập, tư thục Mọi người đều có trách nhiệm đối với sự phát triển của sự nghiệp giáo dục vừa có quyền lợi được thụ hưởng những thành quả

do giáo dục mang lại Mọi người đều được học tập, học thường xuyên, học suốt đời; tiến tới một xã hội học tập

Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của xã hội vào việc tham gia công tác giáo dục Đây là điều kiện tiên quyết để phát triển toàn diện và phát triển có hiệu quả sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói riêng và nền giáo dục toàn dân nói chung Nói rằng đó là

tư tưởng chiến lược vì nó mang giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài Tư tưởng ấy xuyên suốt toàn bộ quá trình giáo dục nhằm đạt những mục tiêu đã định

Không nên hiểu xã hội hóa giáo dục chỉ là sự chia sẻ bớt gánh nặng từ phía Nhà nước sang nhân dân mà quan trọng và sâu sắc hơn xã hội hóa giáo dục là cộng đồng trách nhiệm và lợi ích, nhằm thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân vào phát triển giáo dục, xây dựng nền giáo dục toàn dân, khuyến khích mọi người học thường xuyên, học suốt đời, gắn bó hữu cơ giữa giáo dục

và phát triển KT- XH Giáo dục phải đảm bảo công bằng xã hội, thỏa mãn mọi nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân, đáp ứng, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII

đã nêu rõ: "Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và

của mỗi cộng đồng, của từng gia đình và của mỗi cá nhân Kết hợp giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh; người lớn làm gương cho trẻ em noi theo Phát động phong trào rộng khắp toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường lớp và tự học suốt đời, người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết

ít, mỗi người phải tự nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ Phát triển các hình thức giáo dục từ xa, tiếp tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục

Trang 24

và các loại hình trường phù hợp với tình hình mới, với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và của toàn xã hội."[31, tr 61]

Nghị quyết này đã nêu lên những điểm mới của nội dung xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là: Người người đều đi học, học thường xuyên, học suốt đời,

do đó toàn xã hội sẽ là một xã hội học tập Trong các văn bản trước đó, vấn đề

xã hội hóa giáo dục mới chỉ dừng ở mức độ phát triển quy mô giáo dục Từ quan điểm trên của Đảng, chúng ta nhận thức rõ được xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng lớn, một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Đây là

sự kế thừa và phát huy truyền thống hiếu học, đề cao sự học, chăm lo sự học của nhân dân ta trải qua hàng nghìn năm lịch sử Đây cũng là bài học lớn của lịch sử xây dựng hơn 50 năm nền giáo dục cách mạng Lần đầu tiên công tác xã hội hóa giáo dục được gọi bằng một khái niệm mới mang tính tổng quát là xã hội hóa sự nghiệp giáo dục

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thêm một lần nữa khẳng định, đồng

thời với chủ trương chuẩn hóa, hiện đại hóa cần tiếp tục "Tăng đầu tư cho giáo

dục từ ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo Khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáo dục ở tất cả các bậc học, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục" [33, tr 12, 204]

Trong Nghị định 90/CP Ngày 21/8/1999 của Chính phủ cũng đã cụ thể hóa quan điểm xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là quá trình tuyên truyền vận động và tổ chức để đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đơn vị tổ chức, đoàn thể trong xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục, là

sự cộng đồng trách nhiệm chung của mọi người để xây dựng và phát triển một môi trường giáo dục lành mạnh, đa dạng hóa sự đầu tư vào các hình thức giáo dục dưới sự quản lý của Nhà nước

Trang 25

- Huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục

Bằng cách thông qua con đường quản lý hành chính, để các cấp, các nhành có thẩm quyền đầu tư cho giáo dục bằng cơ chế, chính sách của Đảng và nhà nước

Ví dụ: Chính sách của Đảng hiện nay quy định sinh viên các trường sư phạm không phái đóng học phí

Từ những khái niệm trên ta thấy được khái niệm XHH giáo dục rộng hơn và bao trùm cả khái niệm huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục

1.2.2 Vai trò của xã hội hoá giáo dục trong sự nghiệp đào tạo con người

- Xã hội hoá giáo dục tạo điều kiện cho mọi người được tham gia học tập, góp phần nâng cao dân trí

Xã hội hoá giáo dục tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có hoàn cảnh khác nhau đều có khả năng tham gia học tập XHH giáo dục là phát triển được phong trào học tập sâu rộng trong cộng đồng, vận động toàn dân tham gia học tập thường xuyên, học liên tục, học tập suốt đời, tạo nên một xã hội học tập

Xã hội hoá giáo dục còn là hình thức thực hiện công bằng xã hội, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người đi học, Xã hội hoá giáo dục là điều kiện tốt nhất để cả cộng đồng có điều kiện giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn được tham gia học tập và khuyến khích nhân tài

- Xã hội hoá giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

Xã hội hoá giáo dục làm cho cộng đồng tham gia vào cụ thể hoá vào mục tiêu giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, yêu cầu của cộng đồng và các lực lượng có thể tham gia vào cải tiến nội dung, phương pháp, xây dựng môi trường thuận lợi cho giáo dục, vì vậy làm ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng giáo dục

Xã hội hoá giáo dục tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hỗ trợ đời sống giáo viên Bên cạnh đó xã hội hoá giáo dục còn tạo điều kiện cho nhân dân tham gia đánh giá, giám sát các hoạt động của nhà trường

Trang 26

Do vậy XHHGD chính là phương thức tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

- Xã hội hoá giáo dục huy động được nguồn lực cho phát triển giáo dục

Đối với nước ta, nguồn lực con nguời là quý giá nhất, nên XHHGD tạo

ra một xã hội học tập để góp phần đào tạo nguồn nhân lực là công việc có ý nghĩa hết sức lớn lao

Tổ chức huy động nhân lực thực hiện XHHGD là cách làm tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực của của các cá nhân tham gia vào quá trình giáo dục,

kể cả tự giáo dục và giáo dục người khác trong cộng đồng Các tổ chức, cá nhân tham gia vào các phong trào, hoạt động ngoại khoá, tham gia thuyết trình, minh hoạ, đến xây dựng các mục tiêu giáo dục, đều cần đến sức mạnh của nguồn lực, tiềm năng to lớn của xã hội Khi phát huy được sức mạnh này có thể trở thành lực lượng vật chất thúc đẩy giáo dục phát triển

Huy động vật lực là tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho các hoạt động giáo dục Không thể có hoạt động giáo dục nếu không có các phương tiện, không

có những điều kiện vật chất Nguồn lực này nằm trong tiềm lực của nhân dân, của xã hội Thực hiện Nhà nước và nhân dân cùng làm: đất đai xây dựng trường, làm vườn thí nghiệm, trang thiết bị dạy học, phương tiện tham quan, du lịch…

Huy động tài lực cùng với cơ sở vật chất tinh thần, thì tài chính là điều kiện cần thiết để phát triển giáo dục, tuy nhiên những koản thu có tính tự nguyện mà để các tổ chức ngoài trường vận động thu, chi và quản lý trực tiếp dưới dạng quỹ bảo trợ giáo dục, nhà trường có thể tham gia tư vấn, giám sát

- Xã hội hoá giáo dục góp phần làm cho giáo dục phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương

Giáo dục và KT- XH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mối quan hệ mang tính quy luật- tức là mang tính khoa học, tính tất yếu, tính phổ biến Trong XHHGD cần phải coi trọng tính chất địa phương, XHHGD đã khai thác sức mạnh của địa phương theo quy luật giáo dục phục vụ đắc lực vào sự phát

Trang 27

triển KT- XH ở địa phương Từng địa phương có chiến lược phát triển kinh tế riêng, trong chiến lược phát triển kinh tế nhất thiết phải cần có lực lượng lao động có đào tạo, lực lượng đó chủ yếu đang ở trong nhà trường, và đang được hưởng lợi từ XHHGD

1.2.3 Mục tiêu, nội dung, hình thức thực hiện xã hội hoá giáo dục

- Mục tiêu của xã hội hoá giáo dục

Mục tiêu của XHHGD là tạo ra một " Xã hội học tập" góp phần nâng cao

dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho cộng đồng

Mở rộng hình thức giáo dục thường xuyên, tăng cuờng quy mô dạy nghề bằng mọi hình thức, tiến tới phổ cập nghề phổ thông cho toàn dân, đến năm

2015 tất cả lao động đều qua đào tạo

Đối với học sinh phổ thông, phấn đấu thực hiện tốt giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ, lao động Coi trọng giáo dục tư tưởng chính trị, chú ý hình thành tư duy sáng tạo và năng lực thực hành cho học sinh

Hoàn thành phổ cập Trung học đến năm 2015

- Nội dung của xã hội hoá giáo dục

+ Giáo dục hoá xã hội

Tạo lập phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội, vận động toàn dân, trước hết là thế hệ trẻ và những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập thường xuyên, học tập liên tục, học tập suốt đời làm cho xã hội ta trở

thành " một xã hội học tập" để làm việc tốt hơn, đáp ứng sự di chuyển nghề

nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

+ Cộng đồng hoá trách nhiệm

Huy động các lực lượng xã hội cùng có trách nhiệm đối với giáo dục, cùng làm giáo dục Tăng cường trách nhiệm của các cấp uỷ, HĐND, UBND, các LLXH với sự nghiệp giáo dục

+ Đa dạng hoá các nguồn lực

Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của XHHGD, cùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước, cần tranh

Trang 28

thủ sự hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế, của nước ngoài để phát triển giáo dục Huy động sự đóng góp của cha mẹ học sinh và của tổ chức kinh doanh để phát triển giáo dục

+ Đa dạng hoá các loại hình học tập và các loại hình trường lớp

Trên cơ sở củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm nòng cốt, cần mở

ra nhiều hình thức giáo dục, phát triển các loại hình ngoài công lập, tạo cơ hội cho mọi người nâng cao trình độ, tiếp cận những vấn đề mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đời sống

+ Thể chế hoá

Sự quản lý của Nhà nước về trách nhiệm, quyền lợi của các LLXH, của nhân dân trong việc tham gia phát triển giáo dục Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho việc thực hiện chủ trương XHHGD

- Hình thức thực hiện xã hội hoá giáo dục

+ Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về xã hội hoá giáo dục

Muốn có hành động đúng, trước hết phải có nhận thức đúng, trong quá trình tổ chức thực hiện XHHGD là một quá trình khó, đòi hỏi sức lực của nhiều người, nhiều tổ chức và trong thời gian dài Hiện tại ý thức ỷ lại trông chờ vào Nhà nước còn phổ biến, đại đa số nhân dân đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nhất là khu vực miền núi Đối với nhân dân và các tổ chức xã hội do công tác tuyên truyền, do cơ chế, do các hình thức tổ chức chưa hấp dẫn, chưa chu đáo, cho nên nhận thức của nhân dân về vấn đề XHHGD còn chưa đúng, đã nảy sinh phản ứng tiêu cực Trong những bài học đắt giá là chưa làm cho dân tin và hiểu, chưa làm cho dân thấy cái được khi thực hiện XHHGD, tức là họ chỉ mới thấy trách nhiệm chứ chưa thấy quyền lợi Muốn để nhân dân tự giác dành thời gian, tiền của, công sức tham gia cùng làm giáo dục thì Nhà nước cần tổ chức tốt công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức Khi mọi người đã hiểu đúng thì mọi việc tổ chức sẽ trở nên đơn giản hơn Cùng với sự hiểu biết về cơ chế chính sách

và các hình thức tổ chức thực hiện tốt thì xã hội hoá trở thành thói quen, nếp sống, một hoạt động bình thường, tất yếu diễn ra cùng với quá trình giáo dục

Trang 29

Vai trò của cán bộ quyết định đến chất lượng của phong trào, do vậy mỗi cán bộ, đảng viên, các Ban, ngành, đoàn thể, các LLXH và từng cán bộ giáo viên cần phải hiểu rõ cả mục đích, vai trò, nội dung và phương pháp của XHHGD Tổ chức thực hiện sao cho phù hợp với tình hình thực tế để có hiệu quả nhất

+ Tổ chức phối hợp các LLXH tham gia xã hội hoá giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là xây dựng cơ chế phối hợp, các lực lượng trong toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước cùng chăm

lo cho sự nghiệp giáo dục Sự phối hợp không chỉ tạo ra cơ sở vật chất, nội dung, phương pháp và cả mục đích giáo dục cũng như phối hợp tạo nên môi trường giáo dục thống nhất

Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao Chỉ riêng nhà trường, chỉ riêng ngành giáo dục, không thể làm tốt công tác giáo dục Bên cạnh đấy là đòi hỏi cao về tốc độ, quy mô, chất lượng, hiệu quả giáo dục và những yêu cầu thực hiện công bằng trong phát triển càng cần sự tham gia của mọi LLXH vào

đủ tính chủ động sáng tạo, vai trò trung tâm nòng cốt trong xã hội hoá công tác giáo dục

+ Tổ chức đại hội giáo dục là hình thức quan trọng để phối hợp các lực lượng xã hội

Việc thực hiện XHHGD bằng con đường đại hội giáo dục các cấp có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, tạo nên cuộc vận động có sức lôi cuốn cộng đồng, đảm bảo cơ sở pháp lý cho các thành viên tham gia giáo dục, đồng thời đại hội giáo dục, là việc làm nâng cao nhận thức của mọi người, của xã hội về giáo dục

Trang 30

Đại hội giáo dục đã cụ thể hoá được mục tiêu đào tạo, cụ thể được nguyên lý giáo dục của Đảng và kế hoạch phát triển giáo dục của Nhà nước vào mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của địa phương Đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia xây dựng kế hoạch của nhà trường, động viên sức mạnh tổng hợp của nhà trường- gia đình- xã hội để chăm lo việc học tập, giáo dục đạo đức lao động hướng nghiệp cho con em và xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường, chăm lo đời sống cán bộ giáo viên Trong đại hội bầu ra hội đồng giáo dục, ra Nghị quyết đại hội có thể thành lập quỹ khuyến học, các quỹ xây dựng và phát triển giáo dục, ngoài ngân sách Nhà nước

1.2.4 Đặc trưng xã hội hoá giáo dục ở huyện miền núi

- Nhận thức về xã hội hoá giáo dục

Nhận thức của đồng bào các dân tộc về công tác XHHGD chưa thật sự đầy đủ, phiến diện Trình độ cán bộ, đặc biệt là cán bộ xã còn chưa đồng đều cả

về trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ Công tác tuyên truyền giáo dục gặp khó khăn, các biện pháp vận động giáo dục tuyên truyền thiếu năng động linh hoạt

- Hình thức hoạt động của các loại hình giáo dục

Các hình thức học tập và các loại hình trường phát triển và duy trì trường công lập và bán công, các hình thức giáo dục phi chính qui mới chỉ có trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm hướng nghiệp dạy nghề cấp huyện Các trung tâm học tập cộng đồng Các hình thức lớp ghép, lớp hoà nhập phát triển

1.3 Chức năng của UBND các xã trong việc triển khai thực hiện xã hội hoá giáo dục

1.3.1 Định hướng và chỉ đạo các trường thực hiện xã hội hoá giáo dục

Để có phong trào XHHGD phát triển đều và rộng khắp các trường và cả

xã hội, UBND các xã định hướng và chỉ đạo các nhà trường trên địa bàn xây dựng kế hoạch và các biện pháp về XHHGD đảm bảo phù hợp với các quan điểm đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, phù hợp với điều KT- XH

Trang 31

địa phương Tích cực tham mưu các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể quan tâm ủng hộ các hoạt động giáo dục đặc biệt kết hợp tốt với HĐGD, hội khuyến học đẩy mạnh phong trào XHHGD Tổ chức phối kết hợp với các ban ngành đoàn thể, HĐGD, hội khuyến học quan tâm tạo điều kiện thực hiện tốt các nội dung XHHGD

Quản lý công tác XHHGD không hoàn toàn là công việc của các trường, nhưng với chức năng của mình, các trường chủ yếu làm công tác tham mưu,

vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về công tác XHHGD,

chia sẻ khó khăn với giáo dục, cộng đồng trách nhiệm và tham gia vào quá trình phát triển giáo dục và đào tạo Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, các trường trực tiếp chỉ đạo và quản lý hoạt động xã hội hóa trong các nhà trường, giúp cho công tác xã hội hóa đi đúng hướng và có kết quả cao

1.3.2 Khai thác, huy động nguồn lực phục vụ phát triển giáo dục

- Sự quan tâm chỉ đạo của tổ chức Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền ở địa phương

Xã hội hoá giáo dục là một quan điểm cơ bản, có tính chiến lược trong việc xây dựng và phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay XHHGD là cuộc vận động lớn trong xã hội có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng,

sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành giáo dục Khi đã có những đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, kịp thời của của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương quan tâm tới công tác xã hội hoá giáo dục sẽ tạo được sự đồng thuận nhất trí cao và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tới công tác XHHGD

- Truyền thống phong tục, nhận thức của nhân dân địa phương có ảnh hưởng lớn tới xã hội hoá giáo dục

Với những địa phương có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, văn hoá xã hội phát triển thì sẽ thực hiện tốt công tác XHHGD Ở những vùng thấp

và đặc biệt là ở thị trấn, các khu vực kinh tế phát triển, việc tuyên truyền, phát động, huy động nguồn lực cho hoạt động xã hội hoá giáo dục có nhiều thuận

Trang 32

lợi Ở vùng cao, hẻo lánh, nền kinh tế vẫn còn tình trạng tự túc, tự cấp, trình độ dân trí thấp, đời sống vật chất còn gặp nhiều khó khăn, hoạt động xã hội hoá giáo dục đòi hỏi, đội ngũ giáo viên, các nhà trường, các lực lượng xã hội cần phải kiên trì bám dân, sống với dân, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống của họ, làm cho dân tin, từ đó nâng cao được nhận thức của dân và khi dân tin thì họ sẽ ủng hộ chủ trương XHHGD, một cách tích cực nhất Khi đó công tác XHHGD sẽ thuận lợi, nhân dân sẽ góp công sức xây dựng giáo dục

Việc huy động nguồn lực từ trong dân chủ yếu là đóng góp bằng công lao động và các vật liệu sẵn có

Việc huy động toàn xã hội xây dựng môi trường giáo dục ở vùng cao còn khó khăn, kinh tế - xã hội kém phát triển nên việc xây dựng xã hội học tập

trong cộng đồng với tinh thần "Học tập suốt đời" chưa trở thành nhu cầu

- Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương

Kinh phí đầu tư cho giáo dục đòi hỏi nguồn lực rất lớn Những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế của địa phương sẽ làm hạn chế đến công tác XHHGD Một vấn đề đặt ra cho giáo dục là mặc dù đầu tư của Nhà nước cho giáo dục không ngừng tăng, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục ngày càng cao Nhìn trên tổng thể, cơ sở vật chất, trang thiết bị của giáo dục hiện nay còn thiếu thốn về số lượng, xuống cấp về chất lượng, đặc biệt ở những vùng núi cao và vùng khó khăn đang thiếu nghiêm trọng về trường, lớp học, cơ

sở vật chất trang thiết bị dạy học Cho nên, việc huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục là một biểu hiện dễ nhận thấy nhất XHHGD

Các nguồn lực mà xã hội có thể đóng góp để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, xây dựng các phòng học đạt tiêu chuẩn, cơ sở vật chất trang thiết bị, tạo cơ hội cho giáo viên được học tập đổi mới phương pháp dạy học có chế độ chính sách hỗ trợ phù hợp nhằm tạo điều kiện giáo viên yên tâm công tác toàn tâm toàn ý giáo dục học sinh Đặc biệt huy động xã hội đóng góp về mục tiêu, nội dung, phương pháp, các sáng

Trang 33

kiến kinh nghiệm, ý kiến tư vấn cho các nhà trường, cung cấp thông tin cần thiết cho hoạt động của ngành giáo dục và nhà trường

Việc lôi cuốn các lực lượng xã hội và cá nhân trong cộng đồng mang hết tâm huyết và tài năng của mình tham gia vào các hoạt động của giáo dục là hết sức quan trọng, mới đảm bảo cho việc thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục Họ có thể tham gia vào việc xây dựng môi trường giáo dục, tạo ảnh hưởng tích cực thống

nhất cho việc giáo dục, hay trực tiếp tham gia tham vấn, giám sát nhà trường

Thực tế ở nhiều địa phương do huy động được nguồn tài chính của xã hội nên đã có nhiều thuận lợi để củng cố và phát triển giáo dục.Tuy nhiên, cần khẳng định rõ ràng huy động tiền của nhân dân, của xã hội chỉ là một mặt, khi

mà xã hội hoá giáo dục được thực hiện tốt thì đó mới là điều kiện tiên quyết để

dễ dàng tạo động lực cho sự đóng góp của nhân dân, của xã hội về tài lực Nhân dân ta còn nghèo về tiền của nhưng lại giầu tiềm năng về trí tuệ và công sức, mỗi người có thể thực hiện xã hội hoá giáo dục theo khả năng của mình,

mà điều đó lại rất cần thiết cho giáo dục

Xã hội hóa giáo dục nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho giáo dục,

có như vậy phải thực hiện đồng bộ các nội dung để xã hội hoá giáo dục góp

phần mở rộng cánh cửa giáo dục trên các bình diện quy mô, chất lượng, hiệu

quả và công bằng xã hội

1.3.3 Kiểm tra, giám sát thực hiện xã hội hoá giáo dục của các trường trên địa bàn

UBND các xã có vai trò theo dõi, giám sát kiểm tra việc thực hiện XHHGD ở các nhà trường trên địa bàn Trong quá trình thực hiện, UBND các

xã thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch XHHGD ở các nhà trường Có biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện đảm bảo kế hoạch XHHGD phù hợp với thực tế cơ sở

Trên cơ sở nắm tình hình XHHGD theo định kỳ báo cáo của Phòng giáo dục - Đào tạo, các địa phương, các trường chỉ đạo tổ chức hội nghị cha mẹ học

Trang 34

sinh, UBND xã kiểm tra, giám sát việc tuyên truyền, triển khai các chủ trương, chính sách của các cấp uỷ Đảng, chính quyền về thực hiện các nội dung XHHGD, kịp thời có các văn bản, hướng dẫn giải quyết, khắc phục và bổ sung các nội dung chỉ đạo các hoạt động XHHGD Đồng thời kiểm tra các trường thực hiện công tác XHHGD, từ đó có những đánh giá cụ thể, chính xác và rút kinh nghiệm cho xây dựng kế hoạch và các biện pháp tiếp theo

* Kết luận chương I: Qua phần được trình bày tại chương trình có thể giúp cho đọc giả thấy được cơ sở lý luận của việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục; tư tưởng và quá trình xuất hiện tư tưởng huy động các nguồn lực; đề cập đến một số khái niệm cũng như vai trò, mục tiêu, nội dung, hình thức của việc huy động các nguồn lực; chức năng của UBND cấp xã trong việc huy động các nguồn lực Những phân tích trên là cơ sở để tác giả đánh giá các nội dung của thực trạng công tác huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục sẽ được đề cập tại chương II

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC

XÃ HỘI THAM GIA PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC

Ở CÁC XÃ HUYỆN ĐOAN HÙNG - PHÚ THỌ 2.1 Tình hình giáo dục huyện Đoan Hùng

2.1.1 Tình hình chung

2.1.1.1 Thuận lợi

Được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự chỉ đạo sát sao của Sở GD&ĐT tỉnh Phú Thọ và sự phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn ngành, trong những năm qua Giáo dục - Đào tạo Đoan Hùng đã không ngừng phát triển và lớn mạnh cả về chất lượng đào tạo, quy mô trường lớp, thực hiện có hiệu quả các chương trình và mục tiêu giáo dục

Nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và đội ngũ các thầy cô giáo về tầm quan trọng của GD - ĐT tiếp tục được nâng cao Huyện uỷ, UBND đã có nhiều chủ trương, chính sách tăng cường đầu tư cho GD - ĐT của huyện thông qua việc quan tâm đầu tư CSVC trường học, quan tâm hơn đến đời sống đội ngũ

GV, có chính sách thu hút giáo viên về công tác, đặc biệt là các xã có nền kinh

tế đặc biệt khó khăn

Sự phối hợp giữa giáo dục với các ban ngành, đoàn thể, hội phụ huynh học sinh và sự tác động trở lại của các ban ngành đoàn thể đối với giáo dục ngày càng gắn bó chặt chẽ và có hiệu quả

2.1.1.2 Khó khăn

CSVC vẫn còn là một trong những vấn đề khó khăn của ngành giáo dục Huyện vẫn còn phòng học tạm thời; thiếu diện tích sân chơi, bãi tập; thiết bị trường học phần nhiều lạc hậu, thiếu; thiếu phòng học bộ môn, phòng chức năng

Việc huy động các nguồn lực cho sự phát triển của giáo dục còn nhiều hạn chế Chi khác còn hạn hẹp, chỉ đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu cho giáo dục

Trang 36

Cơ chế chính sách xã hội, nhận thức của một bộ phận và cán bộ nhân dân còn bất cập so với yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp GD-ĐT: chế độ thu hút đối với giáo viên về công tác tại các khu vực đặc biệt khó khăn còn rất hạn chế,

điều kiện tối thiểu cho đời sống GV ở các khu vực này còn thiếu thốn Trình độ

dân trí còn nhiều lạc hậu, nhân dân chưa quan tâm đúng mức tới việc học tập của con em trong gia đình

2.1.2 Về mạng lưới và quy mô trường lớp

Trong những năm gần đây, mạng lưới trường lớp được bố trí hợp lý và

có tính ổn định Toàn huyện có 29 trường mầm non, 30 trường tiểu học, 25 trường THCS, 01 trường phổ thông Dân tộc nội trú, 03 trường THPT, 01 trung tâm giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp và 01 trung tâm dạy nghề Một số

xã có địa bàn rộng và số học sinh đông được bố trí 2 trường Tiểu học như: Chí Đám, Tây Cốc

Nhìn chung, số trường lớp trong những năm gần đây tương đối ổn định, không có sự tăng, giảm đột biến Hệ thống trường lớp cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu học tập của con em tại địa phương

Về số lượng học sinh, trong 3 năm gần đây, số cháu nhà trẻ, mầm non và học sinh tiểu học có xu hướng tăng nhẹ; trong khi học sinh THCS đang trong thời kỳ giảm nhẹ Theo đà đó, trong vài năm tới số học sinh THCS sẽ tăng trở lại nhưng cũng không đáng kể

2.1.3 Tình hình đội ngũ

Giáo dục và Đào tạo huyện Đoan Hùng tiếp tục triển khai và thực hiện tốt Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư trung ương Đảng và Quyết định số 09/2005-QĐ-TTG ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng và nâng cao đội ngũ chất lượng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Tổ chức cho cán bộ giáo viên nắm được đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là những nội dung có liên quan đến giáo

dục Triển khai và thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “ Mỗi thầy giáo, cô

giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”

Trang 37

Trong mỗi năm học, Giáo dục và Đào tạo huyện Đoan Hùng đã chỉ đạo các nhà trường tiếp tục nâng cao chuẩn hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp giáo viên các cấp để giúp mỗi cán bộ quản lý, giáo viên tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Đội ngũ cán bộ quản lý đạt chuẩn 100% trong đó trên chuẩn là 97%, nhìn chung cán bộ quản lý có đủ năng lực quản lý, đảm đương hoàn thành tốt nhiệm vụ Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, về chất lượng chưa đảm bảo, tỷ lệ chênh lệch giữa các ban khoa còn cao, giáo viên dạy Nhạc, Hoạ, Thể dục chủ yếu là giáo viên có trình độ trung cấp Nhìn chung đội ngũ giáo viên có năng lực, khả năng chuyên môn giảng dạy đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Bảng 2.1: Đội ngũ GV huyện Đoan Hùng từ năm 2010 đến năm 2014

- 4

(Nguồn: Phòng Giáo dục, phòng Thống kê huyện Đoan Hùng)

Trang 38

+ Số lớp MG 3 tuổi 55 lớp với 1.557/1909 đạt 82% tăng 2.5%

+ Số lớp MG 4 tuổi 70 lớp với 1.950/1964 đạt 99% tăng 10%

+ Số lớp MG 5 tuổi 68 lớp với 1.759/1.759 đạt 100%

Công tác phô cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi tiếp tục được duy trì và giữ vững Tiếp tục điều tra bổ sung cập nhật số liệu thường xuyên Tranh thủ sự ủng hộ để bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các lớp 5 tuổi và các lớp dưới 5 tuổi Cuối năm học 100% trẻ mầm non 5 tuổi được đánh giá hoàn thành chương trình giáo dục mầm non

Công tác bảo vệ an toàn cho trẻ được đặt lên hàng đầu, trong năm học không có trường hợp tai nạn ngộ độc nào xảy ra trong các trường mầm non Tổng

số trẻ bán trú: 5.730/6.212 cháu đạt 92,0 % (tăng 4,0% so với năm học trước)

100% các trường mầm non thực hiện nghiêm túc việc cân, đo theo dõi sức khỏe trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng của Tổ chức Y tế thế giới và nhu cầu về dinh dưỡng khuyến nghị dành cho người Việt Nam giai đoạn mới Tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân 329/6216 chiếm 5.2% (giảm 3,4 % so với cùng kỳ năm học trước); thể thấp còi 373/6216 chiếm 6% (giảm 2,5 % so với cùng kỳ năm học trước)

Giáo dục Đoan Hùng đã tập trung chỉ đạo các trường mầm non thường xuyên theo dõi, bổ sung thông tin về số liệu phổ cập trẻ 5 tuổi, tích cực tham mưu xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục đảm bảo duy trì bền vững kết quả phổ cập, thực hiện ngày dạy hai buổi Năm học 2013 - 2014, 100% trẻ 5 tuổi được đánh giá hoàn thành chương trình giáo dục mầm non; 28/28 xã, thị trấn duy trì tốt mục tiêu phổ cập GDMN cho

Trang 39

trẻ em 5 tuổi và tiếp tục quan tâm các độ tuổi dưới 5 tuổi để có phương án duy trì và phổ cập tiếp theo

Thực hiện kế hoạch xây dựng trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn 2011-2015 trong năm học đã có 2 trường (MN Hùng Quan, MN Hùng Long), được công nhận mới và 2 trường MN Vân Du, MN Bằng Luân được công nhận lại trường MN đạt chuẩn quốc gia mức độ I Tính đến thời điểm hiện tại toàn huyện đã có 12/29 trường MN đạt chuẩn quốc gia đạt 41,57%.(tăng 2 trường so với năm học trước)

*Kết quả các kỳ thi: Trong năm học bậc học mầm non đã tổ chức tốt Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện với 88 giáo viên dự thi, kết quả: giải nhất: 9; giải nhì: 10; giải ba: 40; khuyến khích: 30 Tham gia thi tìm hiểu kiến thức dinh dưỡng trẻ thơ cấp huyện; thi đồ dùng đồ chơi tự làm; thi bé khỏe với 100% các trường mầm non tham gia

2.1.4.2 Giáo dục Tiểu học

Số trường: 30; số lớp: 346 (năm học 2014- 2015) Tổng số học sinh: 8.546 Toàn huyện có 68 học sinh khó khăn, khuyết tật không tham gia đánh giá xếp loại Không có học sinh bỏ học

Huy động số trẻ 6 tuổi vào lớp 1: 1868/1869 trẻ đạt tỷ lệ 99.9% Duy trì tốt công tác Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, kết thúc năm 2013 có

3 xã, thị trấn được công nhận hoàn thành Phổ cập giáo dục tiểu học đúng đội tuổi mức độ II (10,7%) và 25 xã duy trì Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ I

Chỉ đạo tốt dạy học hai buổi/ ngày, dạy tự chọn Kết quả: Có 30/30 trường tổ chức dạy học từ 6-9 buổi/tuần, chiếm 90% số lớp

Công tác xây dựng trường tiểu học đạt Chuẩn quốc gia được phòng GD&ĐT Đoan Hùng chỉ đạo hiệu quả kết thúc năm học có thêm 01 trường đạt Chuẩn Quốc gia mức độ I nâng tổng số trường đạt Chuẩn Quốc gia của cả huyện lên 27 trường đạt tỷ lệ 90% trong đó có 01 trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ II

Trang 40

Toàn huyện có 50% số trường được học ngoại ngữ(đạt 100% kế hoạch); 30% số trường được học Tin học

* Các kỳ thi đã tổ chức của GV và học sinh

Phong trào thi đua dạy tốt, học tốt trong các nhà trường tiếp tục được đẩy mạnh Trong năm học phòng Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh 3 lần và đã tổ chức tốt các hội thi như: Kiểm định chất lượng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp; thi giáo viên dạy giỏi các môn Mỹ thuật, Âm nhạc, Tiếng Anh, Thể dục; thi giáo viên dạy giỏi các môn văn hóa; giao lưu Olympic Toán, Tiếng Việt tuổi thơ; thi giải toán trên mạng; Olympic Tiếng Anh trên mạng Internet; Khảo sát chất lượng học sinh có học lực môn Toán và Tiếng Việt học kỳ I đạt loại giỏi đối với lớp 3,4; học sinh viết chữ đẹp lớp 1,2 và đặc biệt coi trọng công tác bồi dưỡng các đội tuyển tham gia thi cấp tỉnh, quốc gia

- Tham gia Hội thi giảng dạy kiến thức An toàn giao thông cấp Tiểu học

01 giáo viên đạt giải xuất sắc

- Thi Cán bộ thư viện giỏi đạt: 02 giáo viên được công nhận là Cán bộ thư viện giỏi cấp tỉnh (cả tỉnh chỉ có 25 giải gồm khối phòng GD&ĐT và khối trực thuộc Sở GD&ĐT)

Học sinh: Tổng số học sinh đạt giải: 35 (giảm 04 giải so với năm học 2012-2013 với lý do năm học này Sở GD&ĐT không tổ chức 02 hội thi: Giải toán trên mạng Internet và Giao lưu nghe - nói Tiếng Anh, hai môn này năm học trước đạt 17 giải: Giải toán trên mạng Internet đạt 14 giải, giao lưu Tiếng Anh đạt 03 giải) Cụ thể:

Ngày đăng: 03/12/2015, 09:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban khoa giáo (2000): Tổng thuật tình hình nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng thuật tình hình nghiên cứu về xã hội hoá giáo dục
Tác giả: Ban khoa giáo
Năm: 2000
2. Báo cáo Chính trị đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đoan Hùng lần thứ XXI- nhiệm kỳ 2010- 2015: Đoan Hùng, tháng 7/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đoan Hùng lần thứ XXI- nhiệm kỳ 2010- 2015
3. Báo tổng kết năm học 2013-2014: Phòng GD&ĐT Đoan Hùng 4. Báo cáo tổng kết năm học 2013-2014: Sở GD&ĐT Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo tổng kết năm học" 2013-2014: Phòng GD&ĐT Đoan Hùng 4. "Báo cáo tổng kết năm học
5. Báo cáo Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2013, 2014, 2015: Phòng Tài chính- Kế hoạch Đoan Hùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Dự toán ngân sách Nhà nước
6. Bộ giáo dục - Đào tạo (2002): Phát triển giáo dục THCS theo tinh thần Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) và Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Tài liệu dùng trong hội nghị của Thủ tướng Chính phủ về công tác giáo dục THCS - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục THCS theo tinh thần Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) và Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Bộ giáo dục - Đào tạo
Năm: 2002
7. Bộ giáo dục - Đào tạo - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục (2002): Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI, kinh nghiệm của các Quốc gia.Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI, kinh nghiệm của các Quốc gia
Tác giả: Bộ giáo dục - Đào tạo - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2002
8. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng CSVN (2001): Nhà xuất bản sự thật, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng CSVN
Nhà XB: Nhà xuất bản sự thật
Năm: 2001
9. Phạm Minh Hạc (1997): Xã hội hoá công tác giáo dục, NXB giáo dục Hà Nội 10. Phạm Minh Hạc (1999): Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷXXI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá công tác giáo dục", NXB giáo dục Hà Nội 10. Phạm Minh Hạc (1999): "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ "XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc (1997): Xã hội hoá công tác giáo dục, NXB giáo dục Hà Nội 10. Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB giáo dục Hà Nội 10. Phạm Minh Hạc (1999): "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ "XXI"
Năm: 1999
11. Trần Kiểm (2004): Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
13. Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục (1990): NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1990
14. Một số văn kiện của TW Đảng và Chính phủ về công tác khoa giáo (1995): NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của TW Đảng và Chính phủ về công tác khoa giáo
Tác giả: Một số văn kiện của TW Đảng và Chính phủ về công tác khoa giáo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
15. Niên giám thống kê (2005): Phòng Thống kê Đoan Hùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê
Tác giả: Niên giám thống kê
Năm: 2005
16. Hà Thế Ngữ (2001): Giáo dục học một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới (1996): NXB giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới
Nhà XB: NXB giáo dục. Hà Nội
Năm: 1996
20. Võ Tấn Quang, Bùi Gia Thịnh, Nguyễn Thanh Bình (1998): Xã hội hoá giáo dục - Nhận thức và hành động. Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội 21. Võ Tấn Quang (Chủ biên - 2001): Xã hội hoá giáo dục. NXB Đại họcquốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá giáo dục - Nhận thức và hành động". Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội 21. Võ Tấn Quang (Chủ biên - 2001): "Xã hội hoá giáo dục
Tác giả: Võ Tấn Quang, Bùi Gia Thịnh, Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
24. Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT v/v phê duyệt đề án “ Quy hoạch phát triển xã hội hoá GD giai đoạn 2005 2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/6/2005 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT v/v phê duyệt đề án "“ Quy hoạch phát triển xã hội hoá GD giai đoạn 2005 2010
27. Lê Thị Ánh Tuyết (2.1999): Những yêu cầu đổi mới trong quản lý giáo dục THCS, Tạp chí THCS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu đổi mới trong quản lý giáo dục THCS
28. Từ điển tiếng Việt thông dụng (1998): NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Từ điển tiếng Việt thông dụng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
32. Văn kiện Hội nghị lần thứ II (1997): Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Khoá VIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ II
Tác giả: Văn kiện Hội nghị lần thứ II
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
33. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001): NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Đội ngũ GV huyện Đoan Hùng từ năm 2010 đến năm 2014 - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Bảng 2.1 Đội ngũ GV huyện Đoan Hùng từ năm 2010 đến năm 2014 (Trang 37)
Bảng 2.2: Quy mô Giáo dục huyện Đoan Hùng từ năm học - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Bảng 2.2 Quy mô Giáo dục huyện Đoan Hùng từ năm học (Trang 44)
Bảng 2.3: Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHHGD - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác XHHGD (Trang 46)
Bảng 2.4: Quan niệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Bảng 2.4 Quan niệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân (Trang 47)
Bảng 2.6: Nhận thức về tầm quan trọng của nội dung XHHGD - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Bảng 2.6 Nhận thức về tầm quan trọng của nội dung XHHGD (Trang 48)
Bảng 2.7:  Nhận thức về vai trò của các lực lƣợng quan trọng - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Bảng 2.7 Nhận thức về vai trò của các lực lƣợng quan trọng (Trang 48)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ về mối quan hệ giữa các biện pháp - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ về mối quan hệ giữa các biện pháp (Trang 93)
Bảng 3.1: Kết quả điểm trung bình cộng ở các nhóm khảo nghiệm - Biện pháp huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục ở các xã huyện đoan hùng   phú thọ
Bảng 3.1 Kết quả điểm trung bình cộng ở các nhóm khảo nghiệm (Trang 94)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w