1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở việt nam hiện nay

108 453 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 795,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và những kết quả

nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực

Ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt

Nam hiện nay”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, không thể không kể đến sự

giúp đỡ rất nhiệt tình và sự động viên to lớn từ phía các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bệnh viện Ban ngày Mai Hương, từ gia đình và bạn bè đã giúp cho tôi hoàn thành nghiên cứu của mình

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Dương Văn Thịnh đã tận tình hướng dẫn tôi từ những bước đi đầu tiên khi xây dựng đề cương cho tới khi hoàn thành luận văn này

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Triết học học, gia đình, đồng nghiệp và các em sinh viên đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Tuy đã có nhiều nỗ lực, nhưng cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quí Thầy

Cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM 8

1.1 Cơ sở ra đời và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp 8

1.1.1 Cơ sở ra đời 8

1.1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam 22

1.2 Một số yêu cầu của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam 34

1.2.1 Khái niệm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh 34

1.2.2 Yêu cầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp 37

Kết luận chương 1 46

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 48

2.1 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay 48

Trang 5

2.1.1 Về thành tựu 48

2.1.2 Về khuyết điểm, tồn tại 68

2.2 Một số phương hướng cơ bản nhằm tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay 77

2.2.1 Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội 77

2.2.2 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 82

2.2.3 Kết hợp hài hòa lợi ích của của các tầng lớp xã hội và các thành phần kinh tế trên lập trường giai cấp công nhân, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản 87

2.2.4 Củng cố và tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - tri thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản 90

Kết luận chương 2 94

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình thế giới hiện nay đang đan xen những yếu tố phức tạp, phát triển và suy thoái, hợp tác và đấu tranh, ổn định và mất ổn định Đó là kết quả của sự tác động nhiều chiều và phụ thuộc lẫn nhau của nhiều yếu tố, trong đó, phải kể đến mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc dân tộc và lợi ích giai cấp Không thể tiếp cận vấn đề một cách phiến diện, càng không thể đưa ra một giải pháp đơn lẻ nào đó để khắc phục được tất cả, thậm chí một bộ phận các vấn đề đang nảy sinh trong mối quan hệ ấy, mà đòi hỏi phải có sự nỗ lực trên nhiều mặt, từ công tác lý luận đến hoạt động thực tiễn của các quốc gia, dân tộc

Công cuộc đổi mới ở nước ta diễn ra toàn diện, triệt để và sâu sắc trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội Đó cũng là quá trình không ngừng nảy sinh những vấn đề mới Việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện đa dạng hóa quan hệ sở hữu đã làm biến đổi cơ cấu giai cấp ở nước ta, tạo ra sự không thuần nhất, xung đột các lợi ích trái ngược nhau Thêm vào đó hiện nay các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây tác động tiêu cực tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta Do đó, Đảng ta chủ trương mở cửa nền kinh

tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải huy động sức mạnh to lớn của khối đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân Đảng và Nhà nước phải thường xuyên nhận thức và kịp thời giải quyết các vấn đề nảy sinh để thúc đẩy xã hội phát triển Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lợi ích dân tộc phải đặt cao hơn hết thảy, phải chống lại mọi sự vận dụng lí luận giai cấp và đấu tranh giai cấp một cách máy móc, giáo điều Chỉ trên cơ

sở đó mới có thể khai thác được mọi nguồn lực để phát triển đất nước, tạo

Trang 7

điều kiện cho mọi người Việt Nam yêu nước có thể đóng góp phần công sức của mình vào sự phát triển dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp là sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm về giai cấp và dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đưa lại cho cách mạng Việt Nam những thắng lợi to lớn Do đó, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này sẽ giúp cho chúng ta có những hướng đi thích hợp trong bối cảnh đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Chính vì những lí do đó mà tôi quyết định chọn vấn đề “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Bàn về vấn đề dân tộc, giai cấp và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp không phải là một đề tài mới, nhưng nó vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Có thể nêu ra một số công trình như: “Nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh” của Lương Thuỳ Liên, luận án Tiến sĩ Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, 2009 “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam” của Trần Văn Hải, luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001 “Lý luận Mác xít về quan hệ giai cấp và dân tộc với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” của Đinh Ngọc Quyên, luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003 Trong đó luận án “Nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh” của Lương Thuỳ Liên đã nghiên cứu và đánh giá nội dung và đặc điểm của nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng Hồ Chí Minh Phân tích những nhân tố quy định sự hình thành và những biểu hiện chủ yếu của nguyên tắc thống nhất dân tộc, giai cấp, nhân loại trong tư tưởng

Trang 8

Hồ Chí Minh, làm rõ giá trị của nguyên tắc đó đối với Việt Nam hiện nay

“Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam” của Trần Văn Hải đã hệ thống hoá những quan điểm của Hồ Chí Minh

về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng Việt Nam, nổi bật nhất

là quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Ngoài ra còn có một số bài viết, chuyên khảo đăng tải trên các tạp chí như: “Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Nguyễn Duy Quý, Tạp chí Khoa học xã hội, số 5/ 2004; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giai cấp và dân tộc” của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 4/1996; “Sự thống nhất giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong sự nghiệp đổi mới” của Trần Hữu Tiến, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 3 - 1996…Trong bài “Mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh” tác giả Nguyễn Duy Quý khái quát quá trình Hồ Chí Minh tiếp cận lý luận dân tộc và giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, những kết luận Hồ Chí Minh rút ra qua việc nghiên cứu lý luận đó và thực tiễn lịch sử thế giới và đất nước Tác giả cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, quán triệt tư tưởng

Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp trong tình hình mới Tác giả Nguyễn Ngọc Long trong bài nêu trên đã phân tích quan điểm của giai cấp vô sản với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa Tác giả cũng khái quát những luận giải của Hồ Chí Minh về sự thống nhất không thể tách rời đó và khẳng định đó là một nội dung cơ bản và quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh

Hầu hết, các công trình trên đã trình bày khá rõ ràng các vấn đề về dân tộc, vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, phân tích được mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, cũng như lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp

Tuy nhiên, riêng những vấn đề triết học thì phần lớn các công trình trên chỉ dừng lại ở những vấn đề có tính chất phương pháp luận chung nhất Trong khi đó, trong giai đoạn hiện nay, với xu hướng quốc tế hóa và sự phát triển

Trang 9

không ngừng của khoa học - công nghệ, mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp cũng như việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan

hệ dân tộc và giai cấp đang nảy sinh nhiều vấn đề mới cần giải quyết Vì vậy,

việc nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống vấn đề“Vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay” là một yêu cầu cấp thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn

* Mục đích:

Trên cơ sở phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, thực trạng vận dụng tư tưởng đó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam trong những năm qua, từ đó đề xuất một số phương hướng cơ bản nhằm tiếp tục vận dụng tư tưởng đó ở Việt Nam hiện nay

* Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp

- Trình bày thực trạng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong những năm đổi mới

- Đề xuất một số phương hướng nhằm tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:

Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và giai cấp ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

* Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp, trong đó một số phương pháp chủ yếu như: sự thống nhất giữa lôgích và lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp khoa học liên ngành…

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn

* Ý nghĩa lí luận

Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lí luận cho việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, góp phần thống nhất nhận thức và hoạt động thực tiễn trong quá trình đổi mới

* Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,

giảng dạy những vấn đề liên quan đến dân tộc, giai cấp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 11

CHƯƠNG 1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ LỢI ÍCH GIAI CẤP VÀ NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1.1 Cơ sở ra đời và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp

1.1.1 Cơ sở ra đời

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ dân tộc và giai cấp

Giai cấp và dân tộc là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết với nhau Giai cấp ra đời trước dân tộc rất lâu Còn dân tộc ở Châu Âu ra đời gắn với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Quan điểm của Mác và Ăngghen về quan hệ dân tộc và giai cấp được thể hiện trong nhiều tác phẩm như “Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản”, “Đấu tranh giai cấp ở Pháp” song tập trung nhiều nhất là ở tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản”

Vấn đề dân tộc được Mác và Ăngghen xem là một bộ phận của hệ vấn

đề dân tộc và giai cấp tức là xem xét vấn đề dân tộc dưới góc độ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản Nó là một bộ phận không thể tách rời của sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, đồng thời cũng là giải phóng toàn thể những người lao động khỏi mọi hình thức áp bức bóc lột Mác và Ăngghen đã đề cập đến sự ra đời của dân tộc gắn liền với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, của chủ nghĩa tư bản Lẽ tất nhiên

đó là dân tộc tư sản mà giai cấp tư sản là đại biểu Ở châu Âu khi chủ nghĩa tư bản ra đời đã tồn tại các lãnh địa phong kiến cát cứ, phân tán và biệt lập Ở Đức, chẳng hạn, trước công cuộc thống nhất của Bixmac đã tồn tại tới 38 công quốc lớn, nhỏ, mà Phổ là lớn nhất Các công quốc này có quân đội, tài chính, đơn vị đo lường và tiền tệ, quan thuế riêng Do đó việc xóa bỏ tình trạng phân tán, cát cứ, xây dựng thị trường dân tộc thống nhất là nhiệm vụ dân tộc của cách mạng tư sản, và giai cấp tư sản đã hoàn thành nhiệm vụ này Các ông đã viết về vấn đề này như sau: “Giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ

Trang 12

tình trạng phân tán của tư liệu sản xuất, của tài sản và của dân cư Nó tụ tập dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít người Kết quả tất yếu của những thay đổi ấy là sự tập trung về Chính trị Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những quan hệ liên minh và những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất,

một luật pháp thống nhất có tính chất giai cấp và một thuế quan thống nhất”

[54, tr.546 – 547] Như vậy, dân tộc trong quan điểm của Mác và Ăngghen là cộng đồng người gắn với xã hội có giai cấp, có nhà nước và có các thể chế chính trị Nhưng khác với các hình thức cộng đồng người trước đó, những mối liên hệ dân tộc chặt chẽ hơn, bền vững hơn, một mặt do chúng được hình thành trong quá trình lịch sử rất lâu dài, đã trải qua nhiều thử thách, mặt khác,

do chúng được hình thành và củng cố trên cơ sở mới là quan hệ trong một địa bàn, tầng lớp có những lợi ích chung và riêng và có quan hệ với lợi ích dân tộc ở những mức độ khác nhau Trong các quan hệ ấy, quan hệ dân tộc và giai cấp là quan hệ chi phối

Quan hệ giai cấp với tư cách là sản phẩm của một phương thức sản xuất nhất định là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành dân tộc, tính chất dân tộc, xu hướng phát triển của dân tộc Trong kết cấu giai cấp của

xã hội, giai cấp nào mạnh nhất về kinh tế thì sẽ giữ vai trò thống trị đối với dân tộc Tính chất của giai cấp thống trị bị quy định bởi tính chất của phương thức sản xuất và quy định tính chất của dân tộc, áp bức giai cấp sẽ sinh ra áp bức dân tộc: “hãy xóa bỏ nạn người bóc người thì nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội

bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng mất” [54, tr.565] Mác và Ăngghen đã phân tích và chỉ rõ tính chất đặc biệt của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản Cuộc cách mạng vô sản, theo Mác và Ăngghen là cuộc cách mạng mang tầm vóc thế giới, và là cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử Bởi vì, nó là cuộc cách mạng

Trang 13

duy nhất trong lịch sử không phải nhằm thay thế sự thống trị của giai cấp bóc lột này bằng giai cấp bóc lột khác, mà là nhằm xóa bỏ chế độ tư hữu sản sinh

ra sự bóc lột, mà biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của nó là chế độ tư sản,

từ đó xóa bỏ hoàn toàn cơ sở cho bóc lột, áp bức giai cấp, áp bức dân tộc và

áp bức con người nói chung Do vậy, không thể giải quyết được vấn đề dân tộc nếu không tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân để thủ tiêu chế độ người bóc lột người Mác và Ăngghen khẳng định rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản mới xóa bỏ triệt để ách áp bức dân tộc Do đó, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trước tiên phải được thực hiện trên địa bàn một quốc gia – dân tộc nhất định Là đại biểu chân chính của lợi ích và truyền thống dân tộc, giai cấp công nhân có khả năng đoàn kết mọi lực lượng yêu nước cách mạng xây dựng mặt trận dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Nhiều nhà nghiên cứu đến nay thống nhất rằng trong quan hệ dân tộc – giai cấp thì Mác và Ăngghen tập trung làm sáng tỏ vấn đề giai cấp Sở dĩ như vậy là bởi thời của các ông trong xã hội Tây Âu mâu thuẫn cơ bản nổi cộm là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Chính vì vậy, Mác và Ăngghen tập trung giải quyết vấn đề giai cấp Vấn đề dân tộc mà hai ông nói đến mới chỉ được đặt ra chủ yếu với giai cấp vô sản ở các nước tư bản phát triển, chưa phải đối với giai cấp vô sản ở các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa

và phụ thuộc V.I Lênin là người kế tục sự nghiệp cao cả của Mác và Ăngghen Song, sống trong thời đại chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã bổ sung thêm vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác những luận điểm mới về mối quan hệ dân tộc và giai cấp với những điều kiện mới của thời đại

Trong vấn đề dân tộc, Lênin đã nêu lên hai xu hướng của chủ nghĩa tư bản: một là thức tỉnh và phát triển đời sống dân tộc và các phong trào dân tộc, hình thành các quốc gia dân tộc Xu hướng này tương ứng với việc xóa bỏ chế

độ phong kiến cát cứ xây dựng những quốc gia tư sản độc lập, phong trào dân

Trang 14

tộc trở thành phong trào có tính chất quần chúng, các quốc gia dân tộc lần lượt ra đời Và hai là phá vỡ những hàng rào ngăn cách các dân tộc Xu hướng này tương ứng với giai đoạn các quốc gia tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển, làm cho các dân tộc xích lại gần nhau, hình thành thị trường thế giới Trách nhiệm của giai cấp vô sản Nga là phải lật đổ mọi ách áp bức phong kiến, xóa bỏ mọi áp bức dân tộc, xóa bỏ mọi đặc quyền của bất kì dân tộc nào Giai cấp vô sản Nga, về vấn đề dân tộc, một mặt phải chống mọi thứ chủ nghĩa dân tộc, trước hết là chủ nghĩa dân tộc đại Nga giữ vững quyền bình đẳng hoàn toàn giữa các dân tộc, giải quyết vấn đề quyền tự quyết về chính trị của các dân tộc, mặt khác cần giữ vững nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế, giữ vững cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và sự thống nhất về tổ chức của giai cấp vô sản, gắn công nhân các dân tộc trong nước thành một khối Lênin viết: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền

tự quyết, liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” [15, tr.84]

Lênin đã giải quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở gắn nó với thời đại chủ nghĩa đế quốc, từ đó mở rộng phạm vi vấn đề dân tộc từ những dân tộc nhỏ bé

ở Châu Âu thành vấn đề giải phóng, độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới Đặc biệt là khi giai cấp tư sản ở các nước trên thế giới đã liên minh với nhau để cùng đối phó với giai cấp vô sản thì cách mạng xã hội chủ nghĩa càng không thể chỉ là của giai cấp vô sản cách mạng ở từng nước riêng biệt chỉ chống lại giai cấp tư sản nước mình Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản là cuộc đấu tranh mang tính liên hợp giữa những người vô sản trên toàn thế giới với nhân dân tất cả các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc Như vậy, từ việc tìm bạn đồng minh cho giai cấp vô sản, Lênin đã chỉ ra và hướng phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vào con đường cách mạng vô sản, giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp theo lập trường vô sản Xem xét vấn đề dân tộc – thuộc địa để chuẩn bị cho cách mạng vô sản nổ ra và thắng lợi ở nước Nga, Lênin nhận ra rằng giai cấp vô sản không chỉ có bạn đồng minh to lớn

Trang 15

mà để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nó cần phải liên hiệp với lực lượng này, đó là nhân dân các dân tộc thuộc địa Người cho rằng nếu: “Không

có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được” [45, tr.206] Ngay cả sau này khi cách mạng Nga đã thành công, trong nhiều văn bản chỉ thị của Người đối với Đảng Bônsêvích Nga và Quốc

tế cộng sản, Người cũng rất chú ý và nhấn mạnh về sự cần thiết phải thực hiện

sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa để thực sự đảm bảo cho thắng lợi của cách mạng, để cho giai cấp vô sản giữ được thành quả cách mạng của mình trước sự tấn công điên cuồng của chủ nghĩa đế quốc Không dừng lại ở những lời kêu gọi chung chung Lênin khẳng định sự cần thiết “phải thi hành một chính sách thực hiện sự liên minh chặt chẽ nhất của tất cả các phong trào giải phóng dân tộc và thuộc địa với nước Nga Xôviết, bằng cách đem lại cho sự liên minh ấy những hình thức phù hợp với trình độ phát triển của phong trào cộng sản trong nội bộ giai cấp vô sản ở mỗi nước, hay của phong trào giải phóng dân tộc dân chủ tư sản của công nhân và nông

dân ở các nước chậm tiến hay ở các dân tộc chậm tiến” [45, tr.200]

Cũng trong tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, Lênin đã xác định vai trò của giai cấp công nhân

ở các nước thuộc địa phải “ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng dân tộc ấy” [45, tr.203] Quan điểm này của Lênin hoàn toàn khác với quan điểm giai cấp cực đoan phổ biến ở Quốc tế Cộng sản những năm 30 thế kỷ XX Tuy nhiên, do nước Nga thời Lênin còn sống vốn là “nhà tù lớn” của các dân tộc nên vấn đề dân tộc được đặt ra với Lênin chỉ như là hệ quả của vấn đề giai cấp Tóm lại con đường mà Lênin chỉ ra là: Giải phóng giai cấp đi đến giải phóng dân tộc và giải phóng nhân loại

Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp quan hệ biện chứng với nhau không thể tách rời Việc giải

Trang 16

quyết vấn đề giai cấp có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết vấn đề dân tộc Ngược lại, bất cứ ở đâu và khi nào sự hình thành và phát triển của dân tộc, việc giải quyết vấn đề dân tộc đều gắn liền với lợi ích giai cấp, được sự chỉ đạo bởi quan điểm của giai cấp nhất định Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể mà việc giải quyết vấn đề dân tộc hay vấn đề giai cấp trở thành nhiệm vụ chủ yếu trong từng giai đoạn cách mạng Quan hệ dân tộc và giai cấp theo chủ nghĩa Mác - Lênin như là quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể, như là quan hệ giữa phần tử chính, chủ yếu của hệ thống với toàn hệ thống đó Khi mà phần tử này giữ vai trò chủ đạo, chi phối các phần tử khác,

và phù hợp ở một mức độ nhất định đối với toàn hệ thống phần tử này sẽ giữ vai trò thống trị Nhưng một khi vai trò chủ đạo ấy mất đi thì nhất định một phần tử chính, chủ yếu khác của hệ thống sẽ xuất hiện và thay thế Sự xuất hiện và trưởng thành của giai cấp công nhân trong các dân tộc và trên thế giới cũng tương tự như vậy Chủ nghĩa Mác – Lênin kết luận rằng: trong thời đại ngày nay, dân tộc gắn liền với giai cấp công nhân và để làm tròn sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân phải nắm lấy ngọn cờ dân tộc

Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin Luận cương của Lênin đã giải đáp cho Người con đường giành độc lập cho đất nước, tự do cho đồng bào Có thể khẳng định rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố ảnh hưởng và tác động quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh Nó là cơ sở hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của Hồ Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh

đã có bước phát triển về chất từ một người yêu nước trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn Chính trên cơ sở của lý luận Mác - Lênin đã giúp Người tiếp thu và chuyển hoá những nhân tố tích cực, những giá trị và tinh hoa văn hoá của dân tộc và của nhân loại để tạo nên

tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử Vì vậy, trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ nghĩa Mác - Lênin có vai trò to

Trang 17

lớn, là cơ sở, nguồn gốc chủ yếu trong việc hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh

* Quan hệ dân tộc – giai cấp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Từ nửa sau của thế kỷ XIX trở đi, do sự phát triển của lực lượng sản xuất, chủ nghĩa tư bản trên thế giới đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc Chính phủ tư sản của các nước đế quốc đã dùng vũ lực và sức mạnh đi xâm lược và đặt ách đô hộ lên giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước nhược tiểu Mâu thuẫn cơ bản của thời đại đế quốc đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản ở các nước tư bản chủ nghĩa, và mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc thuộc địa Từ chỗ thống nhất với lợi ích dân tộc, đi tiên phong trong phong trào dân tộc, giai cấp

tư sản từ cuối thế kỷ XIX đã đứng lên trên dân tộc, mượn danh công lý và chính nghĩa của dân tộc tư sản đi xâm lược, đặt ách áp bức lên các dân tộc thuộc địa, gây ra nhiều xung đột và mâu thuẫn Đỉnh cao của sự xung đột ấy vào đầu thế kỷ XX là chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918 Chiến tranh đế quốc đã tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân tại các nước

đế quốc tham chiến có điều kiện phát triển Đấu tranh giải phóng của các dân tộc thúc đẩy sự suy yếu của chủ nghĩa đế quốc và sự trưởng thành lớn mạnh của giai cấp công nhân Tiêu biểu của phong trào đấu tranh thế kỷ XX là sự bùng nổ và giành thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 Đó là thắng lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga nói riêng và thế giới nói chung; là sự khẳng định vai trò đầu tàu lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại mới Nhìn chung, từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX, lịch sử loài người đã mở ra một thời đại mới, đó là thời đại chủ nghĩa đế quốc và cách mạng vô sản, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH Là một bộ phận không thể tách rời của thế giới, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp từ cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam cũng không nằm ngoài

xu thế đó

Trang 18

Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta Đây là kẻ thù mới

có tiềm lực kinh tế và quân sự rất mạnh Trong lúc đó, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt, xã hội phong kiến đang suy tàn với hai giai cấp đối kháng chủ yếu Trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, quan hệ giữa giai cấp địa chủ với các tầng lớp nhân dân, quan hệ giữa triều đình và nhân dân trở nên khủng hoảng chia rẽ gay gắt Hậu quả của

sự khủng hoảng ấy là nước Việt Nam mất độc lập (1884) sau 27 năm kể từ khi thực dân Pháp xâm lược Chính sách cai trị và các chương trình khai thác thuộc địa của thực dân pháp dẫn đến những biến đổi xã hội sâu sắc, hình thành cơ cấu giai cấp – xã hội mới khác với cơ cấu giai cấp – xã hội cổ truyền Bên cạnh những giai cấp cũ là địa chủ phong kiến và nông dân, giờ đây xuất hiện thêm những giai cấp, tầng lớp mới, đó là công nhân, tư sản và tiểu tư sản Thân phận, quyền lợi và thái độ chính trị của các giai cấp đối với vấn đề dân tộc, dân chủ không giống nhau Sự phân hóa trong cùng một giai cấp đã diễn ra

Giai cấp địa chủ, phong kiến phân hóa thành hai bộ phận là đại địa chủ phong kiến (vua quan phong kiến) và trung, tiểu địa chủ phong kiến Đến năm

1884, Nhà nước và giai cấp phong kiến đã hoàn toàn đầu hàng Vua tồn tại chỉ là bù nhìn, nhà nước phong kiến còn nhưng chỉ là thủ đoạn để thực hiện chính sách thực dân của Pháp, là hình thức, công cụ để thực dân Pháp sử dụng Bộ phận trung tiểu địa chủ thì mâu thuẫn với đế quốc và chống đế quốc Giai cấp nông dân Việt Nam là một trong hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến Giờ đây, ngoài bị bóc lột phong kiến họ còn chịu thêm bóc lột thực dân Nông dân phân hóa theo thời gian thành cố nông, bần nông, trung nông, phú nông Giai cấp nông dân Việt Nam là một trong hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến Thuế khoá nặng nề, lao dịch chồng chất đã làm đời sống người nông dân Việt Nam rất cơ cực Bị mất ruộng và phá sản, nông dân phải cày thuê cho địa chủ, một bộ phận phải bỏ làng đi xiêu tán ra các thành thị kiếm việc làm, chạy vào các đồn điền, hầm mỏ làm thuê trở thành đội

Trang 19

quân vô sản Nông dân Việt Nam chiếm trên 90% dân số, họ tuy là lực lượng đông đảo nhưng còn non yếu vì thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo Muốn trở nên hùng mạnh họ cần một giai cấp tiên tiến lãnh đạo và giai cấp nào muốn lãnh đạo cách mạng thành công tất yếu phải lôi kéo bộ phận hùng hậu này đi theo

Cùng với sự phát triển của đô thị, tầng lớp tiểu tư sản cũng từng bước hình thành và ngày càng đông Họ bao gồm: Tri thức, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, dân nghèo thành thị, những người làm các nghề tự do…Họ không phải là giai cấp mà là một tầng lớp xã hội Đời sống của tiểu tư sản trong những năm 20 của thế kỷ XX ngày một khó khăn do sưu thuế chồng chất và giá cả đắt đỏ Chính sách độc quyền kinh tế của Pháp đã làm phá sản giới thợ thủ công Chính sách đối xử phân biệt và văn hóa giáo dục ngu dân

đã làm cho tầng lớp tri thức thấy chua chát, bị miệt thị Họ cảm thấy nền văn hóa dân tộc bị bọn thống trị nước ngoài coi rẻ và chà đạp Cảnh phồn hoa bề ngoài của đô thị không che lấp được nỗi khổ của họ, những người dân mất nước không có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, học hành, đi lại và nhiều quyền tự do sơ đẳng khác Học sinh, trí thức có thể bị đuổi học, đuổi việc, giam cầm; tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công có thể bị phá sản, bị thất nghiệp do thuế má nặng nề của đế quốc và sự cạnh tranh của tư sản Bị áp bức

về chính trị, chèn ép về chuyên môn, bóc lột về kinh tế nên tiểu tư sản có tinh thần yêu nước, căm thù đế quốc khá cao Xã hội Việt Nam trong quan hệ với tiểu tư sản có hai mâu thuẫn chính là tiểu tư sản mâu thuẫn với đế quốc và tiểu tư sản mâu thuẫn với địa chủ Đô thị và công nghiệp phát triển thì giai cấp tư sản theo đó cũng từng bước xuất hiện Họ xuất thân từ địa chủ, quan lại, tiểu tư sản…Chính sách bảo thủ, phản động về kinh tế, không chủ trương phát triển công nghiệp ở thuộc địa và chính sách chuyên chế về chính trị của thực dân Pháp đã làm cho giai cấp tư sản Việt Nam ra đời khá muộn, què quặt Chỉ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp, giai cấp tư sản Việt Nam mới hình thành Họ có mặt

Trang 20

ở hầu hết khắp các ngành (Bông vải sợi, nhuộm, đồ gốm, máy xay, máy in, làm sơn, ép dầu, làm đường, xà phòng, nước mắm, sửa chữa ôtô…) Sau thời gian phát triển, giai cấp tư sản phân hóa thành hai bộ phận: Tư sản mại bản và

tư sản dân tộc

Sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào Việt Nam

và sự phát triển của công thương nghiệp thuộc địa đã dẫn đến sự ra đời của giai cấp công nhân Là sản phẩm của quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX số lượng đã tăng lên đáng kể Họ sống và làm việc tập trung trong các xí nghiệp, hầm mỏ, trung tâm công nghiệp Cái họ cần là một luồng tư tưởng mới với một bộ tham mưu dẫn dắt Về thành phần, công nhân xuất thân từ những người thợ thủ công, những người tiểu thủ công nghiệp phá sản, nhưng chủ yếu là từ những người nông dân bị bần cùng hóa Song công nghiệp Việt Nam chưa phát triển cho nên công nhân chưa thoát ly hoàn toàn khỏi nông dân Họ là những công nhân theo mùa vụ, theo hợp đồng với chủ xưởng Khi hết mùa vụ

họ có thể trở lại địa phương, với gia đình và trở về số phận của nông dân Đế quốc, phong kiến và tư sản ra sức bóc lột công nhân vô cùng thậm tệ theo ba thủ đoạn: Chế độ lao động tự do, chế độ lao động theo giao kèo, chế độ lao động cưỡng bức Trong quan hệ với công nhân, xã hội Việt Nam có ba mâu thuẫn chính là: Công nhân mâu thuẫn với đế quốc; công nhân mâu thuẫn với phong kiến; công nhân mâu thuẫn với tư sản bản xứ Đối với giai cấp công nhân, kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc là một Do thành phần xuất thân, công nhân Việt Nam đã kế thừa được truyền thống bất khuất của dân tộc Nằm trong mạch máu kinh tế của xã hội, vừa mới ra đời, tuy số lượng còn ít, nhưng những đặc điểm chung và riêng của công nhân Việt Nam cho thấy rằng, họ vừa là người lao động đau khổ, vừa là người tiên tiến cho nên công nhân là người đại điện xuất sắc nhất cho tất cả các giai cấp tầng lớp bị áp bức ở Việt

Trang 21

Nam Họ có đầy đủ khả năng để tập hợp và lôi cuốn các tầng lớp nhân dân và phong trào chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập tự do Song khi chưa

có lý luận tiên phong và đảng Cộng sản, họ vẫn chưa thể biến khả năng của mình thành hiện thực

Như vậy, ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam nổi lên nhiều mẫu thuẫn cả về mẫu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp Các giai cấp trong xã hội cũng có nhiều biến đổi Sự ra đời và phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã trở thành một tiền đề vật chất quan trọng để đến khi Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta thì cách mạng Việt Nam có thể hòa nhịp với xu thế của thời đại Vấn

đề dân tộc của Việt Nam đầu thế kỷ XX đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết

Hồ Chí Minh là người sẽ đáp ứng được những yêu cầu mà lịch sự dân tộc đặt

ra, giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp

* Giá trị truyền thống dân tộc

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Một đức tính rất đẹp và rất quý của dân tộc Việt Nam ta, là sự quý trọng truyền thống của dân tộc” [33, 130]

Ở đây, đi tìm hiểu truyền thống và đặc điểm của dân tộc Việt Nam để xem xét chúng tác động như thế nào tới sự hình thành tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc và giai cấp, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng gì từ truyền thống dân tộc, qua đó giúp hiểu thêm về động cơ Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài năm 1911

và cách Người giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Yêu nước là giá trị tinh thần của con người và cộng đồng người được

hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước Tình yêu và lòng trung thành với tổ quốc có thể nói là những nội dung chính của chủ nghĩa yêu nước Đó là giá trị tinh thần phổ quát của nhân loại

Từ ngày lập nước, Việt Nam đã liên tiếp trải qua các cuộc chiến chống xâm lược Tính đến trước khi thực dân Pháp xâm lược, dân tộc ta đã phải tiến hành

Trang 22

trên 20 cuộc kháng chiến và khởi nghĩa Ý thức dân tộc nảy nở từ rất sớm và ngày càng sâu sắc Tinh thần tự lực tự cường, ý chí giành độc lập tự do ngày càng mạnh mẽ, chỉ chờ dịp là bùng nổ thành phong trào, lôi cuốn toàn dân tham gia Công cuộc giành và giữ gìn nền độc lập dân tộc là công việc của toàn dân Khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân là nét đặc sắc trong lịch

sử chống xâm lược và bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta Có thể nói, mỗi khi đất nước bị mất độc lập, đa số các cuộc khởi nghĩa, dù do giai cấp nào lãnh đạo, đều nêu cao chủ nghĩa yêu nước, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp nhằm phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đánh đuổi kẻ thù, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Ông đã nêu lên bốn yếu tố làm hình thành lòng yêu nước, đó là: một là việc chống thiên tai, hai là xây dựng hệ thống đê điều, ba là xây dựng nhà nước dân chủ tập quyền, chống ngoại xâm, bốn là xây dựng văn hóa dân tộc

Bên cạnh lòng yêu nước, ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc cũng là một đặc trưng nổi bật của văn hóa Việt Nam Ý thức dân tộc thể hiện ở ý thức về một cội nguồn, một lãnh thổ chung, ý thức về tính độc lập, tự chủ của một dân tộc có chủ quyền và lòng quyết tâm bảo vệ lãnh thổ Tinh thần dân tộc là động lực mạnh mẽ của các phong trào yêu nước, của việc phục hưng đất nước, giữ gìn và phát triền nền văn hóa Tinh thần dân tộc được nói tới ở đây không phải theo nghĩa là thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vị kỉ, coi trọng, đề cao dân tộc mình, chỉ vì lợi ích của dân tộc mình mà coi thường, chà đạp lên các dân tộc khác, bắt các dân tộc khác phải cúi đầu mà đó là ý chí, lòng mong muốn

và bằng hành động để cho dân tộc mình được tự lập và tự cường, trở nên hùng mạnh sánh vai với các cường quốc khác

Mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong lịch sử Việt Nam truyền thống, nổi lên một đặc điểm là ở quy mô cộng đồng thì người Việt nhấn mạnh

và coi trọng tính cộng đồng, sự hòa hợp, cố kết dân tộc Chính vì truyền thống

đề cao yếu tố dân tộc, tinh thần dân tộc rất đậm nét mà trong lịch sử có những

Trang 23

cuộc đấu tranh giai cấp đã chuyển thành đấu tranh dân tộc Lòng yêu nước, ý thức dân tộc phát triển làm cho tinh thần cộng đồng thấm đượm và tinh thần cộng đồng bền chặt làm cho lòng yêu nước, tinh thần dân tộc thêm sâu sắc Các yếu tố đó có quan hệ khăng khít với nhau, tạo nên phẩm chất và nói lên đặc trưng bản chất của văn hóa Việt Nam

Chính những giá trị truyền thống này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của Hồ Chí Minh Là một người yêu nước, sống gần gũi với nhân dân, hiểu được đời sống cảnh ngộ của họ đã giúp cho Hồ Chí Minh quyết chí cứu dân, cứu nước Hồ Chí Minh đã sớm khước từ các con đường cứu nước của các bậc tiền bối, hướng về cái mới, quyết chí tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh

là người thấu hiểu đời sống và tình cảnh của nhân dân lao động của nhân dân

ta và nhân dân lao động trên thế giới Tất cả các điều đó đã khiến Hồ Chí Minh tìm thấy con đường cứu nước đúng cho dân tộc Việt Nam và giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp

* Phẩm chất và năng lực thiên bẩm của Hồ Chí Minh

Bên cạnh những cơ sở khách quan ảnh hưởng đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp thì nhân tố phẩm chất và năng lực thiên bẩm của Hồ Chí Minh cũng là một cơ sở đáng quan tâm Tư tưởng là sản phẩm của tư duy con người trong quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Tư tưởng đó đạt tới chân lý khách quan đến mức độ nào là phụ thuộc vào chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức Nếu một trong hai yếu tố này bị hạn chế thì tỷ lệ chân lý khách quan trong tư tưởng đó sẽ bị hạn chế Đành rằng thời thế tạo anh hùng nhưng không phải cá nhân nào cũng trở thành anh hùng trong cùng một điều kiện lịch sử giống nhau Cũng trong điều kiện lịch sử ấy thì cái làm cho nhân cách của người này hơn hẳn nhân cách người kia là do nhân tố chủ quan của họ quyết định,

do chủ thể nhận thức là chính bản thân họ

Có thể nói, Hồ Chí Minh là một con người có nhạy cảm chính trị đặc biệt Mặc dù không phải là người Việt Nam đầu tiên đến Pháp, cũng không

Trang 24

phải người Việt Nam duy nhất đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, song Người là người Việt Nam đầu tiên biết được đây là cái cần cho Tổ quốc, cho dân tộc, là con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, giai cấp và nhân loại Bên cạnh đó, Người có một tư duy biện chứng sâu sắc Với một tư duy biện chứng khoa học, Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết một cách hợp lý, khéo léo mối quan hệ dân

tộc và giai cấp Hồ Chí Minh luôn quán triệt quan điểm thực tiễn, xem xét sự

vật, hiện tượng trong những điều kiện cụ thể của sự sinh thành và phát triển

Do vậy, Hồ Chí Minh đã không rơi vào sai lầm của chủ nghĩa giáo điều và tả khuynh khi xem xét các vấn để về mốỉ quan hệ dân tộc và giai cấp trong cách mạng Việt Nam Tư duy Hồ Chí Minh cũng không bao giờ xa rời quan điểm

toàn diện, có trọng tâm Hồ Chí Minh luôn xem xét sự vật ở cả mối liên hệ

bên trong và mối liên hệ bên ngoài Người luôn nhận thức rõ những vấn đề có tính chất trọng tâm, có tính chiến lược, mà việc giải quyết chúng là cơ sở để giải quyết các vấn đề khác Trên cơ sở quan điểm toàn diện, có trọng tâm, Hồ Chí Minh đã luôn xem xét các nhân tố dân tộc, giai cấp trong mối liên hệ chặt chẽ, qua lại với nhau, nhưng đồng thời cũng thấy rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi nhân tố, trong đó nhân tố dân tộc là điểm xuất phát

Là một người có tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc Hồ Chí Minh

còn là người "có bản lĩnh kiên định, có khí tiết kiên cường trong đấu tranh

thực hiện mục tiêu, lý tưởng đã lựa chọn" [109, tr.68) Đó là phẩm chất làm cho con người dám hành động, không chùn bước trước những khó khăn nguy hiểm Chính nhờ những phẩm chất này, khách thể nhận thức của Hồ Chí Minh (Quan hệ dân tộc – giai cấp ở Việt Nam và trên thế giới cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX; chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống; quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quan hệ dân tộc và giai cấp) đã liên tục được chủ thể hóa và ngược lại

Trang 25

1.1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc ở nước

ta diễn ra khá sôi nổi dưới nhiều hình thức song đều thất bại Nguyên nhân

cơ bản của những thất bại này là do thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn, thiếu một tổ chức cách mạng có khả năng dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi

Hồ Chí Minh từ yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Người đã biết kết hợp và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, tìm thấy con đường cứu nước trên cơ sở rút kinh nghiệm từ

sự thất bại của phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, bởi sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái do quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học lãnh đạo

Và một trong những quan điểm, chủ trương đúng đắn giúp nhân dân ta thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh đó là việc kết hợp đúng đắn lợi ích của dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân trong cách mạng Việt Nam

* Cách mạng là sự nghiệp của toàn dân do giai cấp công nhân lãnh đạo

Tháng 12/1944, trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Hồ Chí Minh viết về tư tưởng cách mạng toàn dân của mình như sau: “ Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân” [79, tr.507]

Cách mạng toàn dân là sự nghiệp của toàn dân, được biểu hiện trong các thời kỳ cách mạng và các lĩnh vực của cách mạng Hồ Chí Minh luôn luôn tìm mọi cách bảo đảm cho khối đoàn kết dân tộc không bị sứt mẻ Theo

Hồ Chí Minh, cho dù con người có mắc phải sai lầm nào đó, nhưng một khi

họ biết sửa chữa lỗi lầm thì vẫn phải hết sức tranh thủ họ, đảm bảo cho lực lượng toàn dân không bao giờ suy giảm Trong thư gửi đồng bào Nam Bộ tháng 6/ 1946 Hồ Chí Minh đã kêu gọi như sau: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng có người

Trang 26

thế này thế khác, nhưng thế này, thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta, vậy nên ta phải khoan hồng đại độ” [80, tr 246] Trong xây dựng đời sống mới, cách mạng cũng là sự nghiệp của toàn dân Đời sống mới phải được thực hiện trong mọi lĩnh vực Sau khi đi Pháp về, tháng 10 năm 1946, Hồ Chí Minh viết về nhiệm vụ của dân trong xây dựng đời sống mới là: “Chính phủ

và nhân dân phải đồng tâm nhất trí, ra sức tổ chức, ra sức cộng tác, đoàn kết hơn nữa, mở mang kinh tế, xây dựng nước nhà, thực hành đời sống mới khắp mọi phương diện Bất kỳ gái trai, già, trẻ, bất kỳ sĩ, nông, công, thương toàn thể quốc dân phải ra sức làm việc” [80, tr.418] Đó là lời kêu gọi nhân dân trong bất kỳ ngành nghề nào, lĩnh vực gì cũng đều phải ra sức thực hiện nhiệm vụ của mình, đặng phấn đấu góp phần vào xây dựng đời sống mới, tiết kiệm tối đa mức tiêu dùng của xã hội, tập trung cho kháng chiến chống Pháp thắng lợi

Đồng bào Việt Nam, nhân dân Việt Nam là cộng đồng nhiều thành phần vừa có lợi ích chung, vừa có lợi ích riêng Chính vì thế, để đảm bảo được sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, trong khi kêu gọi toàn dân đoàn kết, Hồ Chí Minh cũng quan sát một cách cụ thể nội dung của phạm trù nhân dân Trên nền tảng nhân dân, khối đoàn kết phải được mở rộng tối đa tới các thành phần dân cư khác: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đại đoàn kết đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết

Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” [81, tr.438] Đó là khối đoàn kết vừa có chiều sâu, vừa có chiều rộng Sâu vì nó xác định nền gốc của khối đoàn kết, rộng vì nó tranh thủ tối đa mọi thành phần giai cấp Trong những giờ phút lâm nguy của dân tộc Việt Nam, khi mà kẻ thù điên cuồng chém giết toàn dân vô tội thì sức mạnh Việt Nam và sự trỗi dậy của hồn thiêng sông núi, là tiếng kêu cứu của nhân loại cần lao đang căm hờn; là lời hịch của ông cha ta vang vọng từ ngàn xưa Nó được thể hiện qua lời kêu gọi toàn

Trang 27

dân kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Hồ Chí Minh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu tổ quốc” [80, tr.480] “Vì độc lập của tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng không

sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn” [84, tr.109] Vì cách mạng theo Hồ Chí Minh “là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt” [78, tr.263] trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội cho nên toàn dân phải làm cách mạng trên các lĩnh vực ấy Song mỗi tầng lớp đều có sở trường và vai trò nhất định trong từng lĩnh vực Do đó theo Hồ Chí Minh toàn dân cách mạng ắt phải toàn diện cách mạng Người kêu gọi:

“Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định phải thắng lợi Mọi người chúng ta, bất kỳ ai làm việc gì, ở cương vị nào, đều phải là người chiến sĩ dũng cảm của sự nghiệp vẻ vang ấy” [83, tr.234] Chỉ có thể toàn diện kháng chiến, toàn diện cách mạng mới có thể phát huy được sức mạnh của toàn dân Toàn dân và toàn diện là hai cách nhìn về một vấn đề Toàn dân là nhìn nhận dân tộc theo cơ cấu dân cư Toàn diện là nhìn nhận theo cơ cấu nghề nghiệp của cộng đồng dân cư ấy Toàn dân kháng chiến, toàn dân xây dựng chế độ dân chủ mới Đồng thời xây dựng chủ nghĩa

xã hội cũng là sự nghiệp của toàn dân Nói chuyện với nhân dân Cao Bằng năm 1961, Người nói: “ Ngày nay, chế độ ta là chế độ dân chủ Đảng và Chính phủ ta chỉ lo phục vụ lợi ích của nhân dân Đồng bào tất cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no” [82, tr.282]

Năm 1927, trong tác phẩm “Đường cách mệnh” của mình, Hồ Chí Minh đã xác định vị trí các tầng lớp cách mạng như sau: “công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức,

Trang 28

song không cực khổ bằng công nông, ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mạng của công nông thôi” [78, tr 266, tl1] Như vậy vị trí của các giai cấp tầng lớp trong xã hội theo cách nhìn của Hồ Chí Minh là do ách áp bức của đế quốc

và phong kiến quy định Khi ách áp bức thay đổi thì vai trò, vị trí các giai cấp cũng phải định vị lại cho sát đúng với tình hình Năm 1960 trong bài “30 năm hoạt động của Đảng” dựa vào việc tổng kết cách mạng thời kì 1930-

1960, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định mức độ vai trò của các giai cấp đối với dân tộc Trên cơ sở ấy Người thấy được mức độ vai trò cao nhất thuộc về giai cấp công nhân Chính vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng Việt Nam càng được Người khẳng định rõ hơn: “Ngay từ lúc đầu, Đảng ta đã giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ, lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc Trong lúc đó giai cấp phong kiến đã đầu hàng đế quốc, giai cấp tư sản non yếu thì chỉ mong thỏa hiệp với đế quốc để tìm một lối sống Các tầng lớp tiểu tư sản tuy là sôi nổi nhưng tư tưởng bế tắc, không có đường ra Chỉ có giai cấp công nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đương đầu với bọn đế quốc thực dân Với lý luận cách mạng tiên phong và kinh nghiệm của phong trào vô sản quốc tế, giai cấp công nhân đã tỏ ra là người lãnh đạo xứng đáng nhất và đáng tin cậy nhất của nhân dân Việt Nam” [82, tr 8-9] Thực tế cho thấy, giai cấp tư sản Việt Nam, đáng lý phải gánh trách nhiệm trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhưng nó không có khả năng thực hiện được nhiệm vụ đó Nguyên nhân cơ bản vì do điều kiện đặc thù của chính sách thuộc địa, giai cấp tư sản đã sinh sau đẻ muộn hơn so với giai cấp công nhân Giai cấp tư sản dân tộc mặc dù có tinh thần yêu nước nhưng họ bị đế quốc chèn ép về kinh tế, kìm kẹp về chính trị Vì thế họ không có đường lối cách mạng sáng suốt và do đó không thể thành công Xem xét vai trò của giai cấp trong xã hội Việt Nam, lựa chọn ra giai cấp công nhân là tiến bộ nhất, xuất sắc nhất, đó là căn cứ để Hồ Chí Minh khẳng định: giai cấp công nhân là người lãnh đạo cách mạng

Trang 29

Là một trong những nội dung cơ bản trong đường lối cách mạng Việt Nam, quan điểm cách mạng toàn dân do giai cấp công nhân lãnh đạo đã thể hiện rõ tư tưởng về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp của

Hồ Chí Minh Theo đó, muốn thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc tất yếu cần phải có sự đoàn kết của cả dân tộc và sức mạnh toàn dân

Để có được điều này, bên cạnh việc kêu gọi, động viên toàn dân kháng chiến thì nhất thiết phải giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa lợi ích của dân tộc và lợi ích của các giai cấp trong xã hội Sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc

và lợi ích giai cấp thể hiện ở chỗ: Bằng việc tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân đoàn kết đánh đổ đế quốc và thực dân phong kiến, dành lại độc lập tự do, giải quyết lợi ích giai cấp sẽ góp phần giải phóng và dành đem lại lợi ích cho

cả dân tộc Với việc tiếp thu tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã nhìn vào hiện tại thấy được kết cấu xã hội – giai cấp, thấy được ách

áp bức của đế quốc và phong kiến đối với nhân dân Việt Nam, thấy được tính tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam Người đã xác định rõ phương hướng duy nhất của cách mạng Việt Nam, đó là lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam Đây là quan điểm phản ánh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp trong cách mạng nước ta

* Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản

Trong quá trình tìm hiểu bản chất của các cuộc cách mạng tư sản, Hồ

Chí Minh thấy rõ, đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, con đường cách mạng tư sản không tránh khỏi thất bại Vì thế, trong quá trình hoạt động và nghiên cứu, Người đã không ngừng suy ngẫm, tìm tòi

và sau cùng mới tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn Với kết quả của cuộc hành trình khảo sát chính trị và hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú, Hồ Chí Minh đã có một bề dày kinh nghiệm và bản lĩnh cách mạng làm

cơ sở vững chắc cho Người đi đến sự lựa chọn đúng đắn con đường giải phóng dân tộc Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc

Trang 30

không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [72, tr.314] Có thể nói, “Sự phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra cũng giống như sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam trong sự tác động, thúc đẩy lẫn nhau giữa cái dân tộc và cái giai cấp” [95, tr.41] Ý thức giác ngộ về giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng là động lực chủ yếu để Hồ Chí Minh đến với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản là Chủ nghĩa Mác - Lênin Đến lượt mình, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trở thành kim chỉ nam, nền tảng tinh thần cho công cuộc giải phóng của dân tộc Việt Nam, thành nền tảng tinh thần cho công cuộc giải phóng dân tộc Việt nam, là cơ sở khoa học cho

sự phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Có bốn điều kiện cơ bản để thực hiện cách mạng vô sản ở Việt Nam:

Thứ nhất, cách mạng Việt Nam phải do giai cấp công nhân thông qua đội

tiên phong của nó là Đảng cộng sản lãnh đạo, đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin

làm cơ sở lý luận, làm nền tảng tư tưởng Thứ hai, lực lượng cách mạng là

“cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”, trong đó “công nông là gốc cách mệnh” Công nhân và nông dân là bạn đồng minh Để cách mạng thành công thì công nhân phải liên minh chặt chẽ với nông dân và nông dân phải đi theo, chịu sự lãnh đạo của công nhân Trước Hồ Chí Minh chưa có ai xác định đúng lực lượng chính của cách mạng Việt nam Chỉ Hồ Chí Minh mới là người xác định đúng đắn cái gốc của cách mạng để trên cơ sở đó tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng hùng mạnh Vì lẽ đó mà cách mạng là

để “quyền giao cho dân chúng số nhiều”, chứ không phải “để trong tay một ít

người” Thứ ba, phương hướng tiến lên của cách mạng là sau khi hoàn thành

nhiệm vụ giải phóng dân tộc sẽ tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa giải phóng giai cấp, giải phóng con người Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng nhân dân lao động Tức là cách mạng có nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có nhiệm vụ và cách tiến hành riêng Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, giai đoạn đầu “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và

Trang 31

thổ địa cách mạng”, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, giai đoạn sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng “xã hội

cộng sản”, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Thứ tư, đưa cách mạng

Việt Nam vào trào lưu của thời đại và gắn cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân ở các nước tư bản và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, xác định cách mạng Việt Nam “là một bộ phận trong cách mạng thế giới”, do đó “ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân Việt Nam”

Đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, kết hợp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, đảm bảo sự hài hòa thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp là nét độc đáo trong con đường cứu nước của Hồ Chí Minh Đó là sự lựa chọn đầy sáng suốt có ý nghĩa thời đại, một quyết định có một không hai trong lịch sử dân tộc, thể hiện sự kết hợp tài tình của lòng yêu nước nồng nhiệt với tri thức khoa học uyên bác nhất và độ nhạy cảm chính trị cao nhất Chính nhờ có sự lựa chọn đúng đắn này mà cách mạng Việt Nam đã thoát khỏi sự bế tắc của giai đoạn cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX và đã vượt qua muôn vàn thử thách to lớn để đi tới thắng lợi ngày càng to lớn Chính sự lựa chọn đúng đắn này là cơ sở để đề ra đường lối chiến lược đúng đắn của cách mạng Việt Nam Điều này đã cổ vũ được giai cấp công nhân, nông dân và toàn dân tham giai vào sự nghiệp cách mạng Nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và giai cấp

* Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Một trong những cống hiến quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng

lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đó là tư tưởng của Người về độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là luận điểm trung tâm của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó thâm nhập và xuyên suốt toàn

bộ hệ thống tư tưởng của Người trong các thời kỳ và trên mọi lĩnh vực Đó cũng là biểu hiện sinh động tư tưởng giải phóng dân tộc gắn với giải phóng

Trang 32

giai cấp, cũng như lợi ích dân tộc gắn liền với lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam

Cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội nghĩa là cách mạng Việt Nam trước hết phải giải quyết vấn đề dân tộc, phải tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc và cuộc cách mạng dân tộc này phải có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới thành công triệt để Sau đó phải tiến hành cách mạng dân chủ Đây mới là cuộc cách mạng giai cấp xóa bỏ chế độ phong kiến Hai cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ kế tiếp nhau gọi chung là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Chính sự thành công của cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng lãnh đạo lại tạo điều kiện tiền đề để thực hiện ngay cách mạng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta Đây mới là cuộc cách mạng giai cấp triệt để nhất trong lịch sử, vì chỉ có như vậy mới xóa bỏ tận gốc sự phân chia xã hội thành giai cấp, mới xóa bỏ được cảnh người bóc lột người, mới xóa bỏ cảnh giai cấp bóc lột ở dân tộc này đi bóc lột, nô dịch dân tộc khác Như vậy sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở đây là ở chỗ: Đấu tranh giải phóng dân tộc – giải quyết và đảm bảo cho lợi ích của dân tộc là điều kiện tiền đề cho đấu tranh giai cấp – giải quyết các vấn đề, đảm bảo cho lợi ích giai cấp và ngược lại đấu tranh giai cấp lại tạo điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa Trong suốt quá trình cách mạng nước ta mục tiêu dân tộc với mục tiêu giai cấp kế tiếp nhau thể hiện một cái là mục tiêu trước mắt với một cái

là mục tiêu cuối cùng nhưng không bị chia cắt, tách rời nhau mà luôn luôn tác động qua lại với nhau, tạo điều kiện tiền đề cho nhau cho đến tận khi cách mạng thắng lợi hoàn toàn

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì sau khi cách mạng dân tộc dân chủ thành công nước ta không thể theo con đường cách mạng tư sản được Vì đó là cách mạng không triệt để, mà phải thực hiện ngay cách mạng xã hội chủ nghĩa Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cuối cùng của công cuộc giải phóng Sự nghiệp giải phóng chỉ đi đến cùng khi nào nó xóa bỏ mọi

Trang 33

áp bức bóc lột, thực sự mang lại hạnh phúc cho nhân dân Độc lập dân tộc mà dân không được tự do hạnh phúc thì độc lập dân tộc cũng không có ý nghĩa

gì Người chỉ rõ: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức bóc lột thuộc địa” [78 tr 274] Cách mạng không đến nơi, tức là cách mạng chưa giải phóng cho mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội đến tận gốc rễ Nó đang dừng lại giữa chừng, đang gián đoạn Các cuộc cách mạng này đã có những bước tiến rất xa so với các cuộc nổi dậy trước đó của loài người Tiến rất xa, vì chúng đã đập tan thể chế quân chủ và thay vào đó bằng thể chế dân chủ tư sản Tuy nhiên theo Hồ Chí Minh, đó đều là những cuộc cách mạng dừng lại giữa chừng Đối tượng giải phóng mà nó đặt ra lúc đầu là toàn thể nhân dân lao động, được sắp xếp

từ giai cấp tư sản trở xuống Nhưng khi giai cấp tư sản được giải phóng rồi thì cách mạng dừng lại Chính vì thế quan hệ dân tộc và giai cấp, tức là quan hệ giữa giai cấp cầm quyền và toàn thể nhân dân lao động chỉ mới được giải quyết một phía, tức là cách mạng chỉ mới phục vụ lợi ích giai cấp cầm quyền

mà thôi Còn một núi người lao động theo sau thì vẫn bị bỏ mặc Cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ đều là những cuộc cách mạng tư sản điển hình mà như vậy thì chắc chắn sẽ không có cuộc cách mạng nào trong khuôn khổ tư bản tốt đẹp hơn Quan hệ dân tộc và giai cấp nói riêng cũng như sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp của các cuộc cách mạng ấy cũng không được giải quyết tốt đẹp Như vậy, hệ tư tưởng đó làm sao có thể cứu vãn được dân tộc Việt Nam Cái mà Hồ Chí Minh hướng đến không những phải giúp cho dân tộc Việt Nam giành được độc lập mà còn phải mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho toàn thể nhân dân, chứ không phải cho một nhúm người Đó phải là bản chất chứ không phải hình thức Đây cũng là điểm khác nhau căn bản trong tư tưởng của Người và các nhà cách mạng Việt Nam trước đó Theo quy luật của lịch sử, con người, nhân dân của các dân tộc đều hướng tới độc lập, tự do Nhưng trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, nhu cầu của con người

Trang 34

đều bị giới hạn bởi những điều kiện mà họ đang sống Vì thế một cộng đồng dân tộc, một xã hội chỉ có thể thực hiện được nhu cầu đời sống của họ ở một thời điểm nào đó với những điều kiện có sẵn, đã cho phép Tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội có thể nói là một hàm số liên tục, đa biến Trong hàm số này, những sự kiện lịch sử ở Việt Nam, ở khu vực

và thế giới diễn ra vào thời điểm nào đó là những biến số Còn giá trị vật chất, tinh thần mà nhân dân Việt Nam đạt được cũng trong thời điểm này là hàm

số Quá trình Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh có thể nói được phản ánh, ghi nhận trong hàm số ấy Đó là một “phong trào hiện thực” của dân tộc Việt Nam sau khi giành được độc lập Về lý thuyết, phong trào chủ nghĩa xã hội hiện thực đã được Các Mác đưa ra trong “Hệ tư tưởng Đức” như sau: “Chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo

ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay Nhưng điều kiện của phong trào ấy là kết quả của những tiền đề hiện đang tồn tại” [64, tr.297]

Đối với Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cũng vậy, cũng là phong trào hiện thực như Mác đã nêu trên, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội không phải đưa nhân dân thực hiện những lý tưởng xa vời với hiện thực của Việt Nam Đối với Hồ Chí Minh độc lập mới là bước đầu Điều quan tâm cao hơn của Hồ Chí Minh là tinh thần của nền độc lập Nền độc lập này để đảm bảo được trường tồn thì phải có một thiết chế phù hợp Ngay từ đầu Hồ Chí Minh đã chọn thiết chế chủ nghĩa xã hội và con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa

Mặt khác, Việt Nam là một nước thuộc địa chịu sự thống trị của thực dân phong kiến, chính vì vậy, kể cả sau khi giành được độc lập vẫn phải tiến hành chiến tranh để “giữ vững quyền tự do độc lập ấy” Tiếp thu học thuyết Mác – Lênin về dân tộc và giai cấp, Hồ Chí Minh đã vận dụng phép biện chứng duy vật để phân tích đặc điểm, tình hình cụ thể của Việt Nam Người

Trang 35

nhận thấy rằng đặc điểm của xã hội Việt Nam và xã hội phương Tây là không giống nhau Mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội Việt Nam không thật sâu sắc và là thứ yếu bên cạnh mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai Từ thực tế đó Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc là nhiệm vụ bao trùm, cơ bản, nổi cộm trước mắt mà cách mạng cần tập trung giải quyết Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề giải phóng giai cấp phụ thuộc vào vấn đề giải phóng dân tộc Người đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết và yếu tố dân tộc là quan trọng, xuyên suốt mọi giai đoạn của quá trình cách mạng Việt Nam Đối với Người dân tộc là trên hết, tổ quốc là trên hết và cả đời Người đã cống hiến cho dân, cho nước, cả đời Người vì tổ quốc, vì dân tộc

Trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” Hồ Chí Minh đã đưa ra những nhận định hết sức sâu sắc về tình hình kinh tế - xã hội, về sự phân hóa giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam nói riêng và các nước phương Đông nói chung là không giống phương Tây Hồ Chí Minh viết Báo cáo này năm 1924, tức là lúc Người đã có sự am hiểu nhất định về học thuyết đấu tranh giai cấp và có thể Người đã biết tới luận điểm đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp của Mác Đương thời các nước phương Tây là những quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển với hai giai cấp đối lập là tư sản và vô sản Mâu thuẫn gay gắt giữa hai giai cấp đã dẫn tới những cuộc xung đột quyết liệt Trong khi đó các dân tộc phương Đông vẫn đang chìm đắm trong cảnh nô lệ, chế độ thuộc địa xen lẫn với những tàn dư của chế độ phong kiến, chưa trải qua tư bản chủ nghĩa Từ thực tế đó, Hồ Chí Minh cho rằng nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước mắt là phải đánh đổ

đế quốc Pháp và tay sai, giành độc lập cho dân tộc, đó là nhiệm vụ của toàn thể dân tộc chứ không riêng gì một giai cấp hay tầng lớp nào Cách mạng phải làm hai nhiệm vụ là nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ, đánh đế quốc và đánh phong kiến Phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ giữa

Trang 36

các nhiệm vụ này cho phù hợp với tình hình Chủ trương đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu của Hồ Chí Minh là rất đúng đắn và khoa học, đáp ứng được yêu cầu lịch sử, nguyện vọng, quyền lợi thiết tha của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân Từ đó sẽ lôi cuốn, tập hợp mọi lực lượng yêu nước tiến bộ của dân tộc đánh thắng bọn đế quốc tay sai, dành chính quyền về tay nhân dân Sau khi đất nước độc lập thì phải thực hiện nhiệm vụ dân chủ và tiến lên xây dựng dân chủ chủ nghĩa xã hội Sức ta có hạn, giặc đông mạnh cho nên phải thực hiện từng bước nhiệm vụ cách mạng, phải tập trung vào giải quyết nhiệm vụ chủ yếu trước mắt, như thế mới giành được thắng lợi Hồ Chí Minh

đã kết hợp giải quyết nhuần nhuyễn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế Trong một nước thuộc địa, đấu tranh dân tộc cũng đồng thời là đấu tranh giai cấp Lợi ích của dân tộc cũng là lợi ích giai cấp Đó là cuộc đấu tranh của các giai cấp bị áp bức, bóc lột chống ách thống trị của tư bản nước ngoài và bọn tay sai trong nước cấu kết với chúng

Hồ Chí Minh đã thấy yếu tố dân tộc có sức mạnh to lớn trong việc tập hợp các giai cấp, tầng lớp vào mặt trận chung chống đế quốc, thấy được khả năng và vai trò quan trọng của các tầng lớp “không vô sản”, kể cả tư sản dân tộc và sự phân hóa của các bộ phận trong các giai cấp này để từ đó lôi kéo họ

đi cùng cách mạng Theo Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo cách mạng thuộc về giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản; dân tộc chống đế quốc và trước khi tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội cần tập trung sức lực vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đây vừa là một sự khác biệt trong quan điểm về quan hệ dân tộc và giai cấp của Hồ Chí Minh với quan điểm của Quốc tế cộng sản Quan điểm đó thể hiện sự vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối của Quốc tế cộng sản vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, phù hợp với truyền thống dân tộc, không rập khuôn, giáo điều

Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường giai cấp công

Trang 37

nhân, gắn lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích của dân tộc Trong mối quan hệ dân tộc và giai cấp, phải bảo vệ lợi ích giai cấp công nhân nhưng đồng thời cũng phải chú ý tới lợi ích của dân tộc, lấy lợi ích dân tộc làm trọng Phải chú ý đem lại lợi ích cho toàn thể dân chúng, mà trong một nước thuộc địa thì nguyện vọng thiết thân nhất, bức thiết nhất là độc lập dân tộc Chỉ chủ trương đánh đổ kẻ nào ngoan cố làm tay sai cho giặc, còn lại phải lôi kéo họ về phía nhân dân, về phía dân tộc Đó cũng là chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, đoàn kết nhân dân trong mặt trận dân tộc thống nhất

Như vậy, sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp

vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cơ bản của

Hồ Chí Minh Tư tưởng đó được Đảng ta quán triệt trong đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp cách mạng Đi theo tư tưởng của Người, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt nam đã giành dược những thắng lợi hết sức vẻ vang

1.2 Một số yêu cầu của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong cách mạng Việt Nam

1.2.1 Khái niệm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

Vận dụng hiểu theo nghĩa chung nhất là đem tri thức, lí luận áp dụng vào thực tiễn Về mặt phương pháp luận vận dụng là sử dụng những nguyên

lý tổng quát một cách sáng tạo và thích hợp để giải quyết những vấn đề mới,

những bài toán mới đặt ra trong thực tiễn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong đường lối phát triển của Đảng, Nhà nước và của nhân dân

ta Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành những công thức cứng nhắc để áp đặt vào thực tiễn, bắt thực tiễn phải tuân theo mà là việc kế thừa, áp dụng những nguyên lí, quan điểm của

Hồ Chí Minh một cách sáng tạo vào thực tiễn xây dựng và thực hiện đường

Trang 38

lối cách mạng, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng thời

kì, giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam như đường lối phát triển

kinh tế, chính trị, văn hóa của đất nước ta

Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một tập hợp đơn giản những ý tưởng, những suy nghĩ cụ thể của Hồ Chí Minh trong những hoàn cảnh cụ thể mà là một hệ thống những quan điểm, quan niệm về con đường cách mạng Việt Nam, được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là một khái niệm khoa học và phải được trình bày cô đọng, chặt chẽ và mang tính lí luận cao Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ của thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, nhân nghĩa và cách mạng Việt Nam với tinh hoa văn hoá nhân loại, được nâng lên tầm cao mới dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta; là tấm

gương sáng để mọi người dân noi theo

Trong thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng

Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, cũng như việc đảm bảo cho sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp là một việc làm hết sức cấp thiết Bởi vì, thực tế cho ta bài học là, có thời kỳ, khi triển khai các nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã có lúc Đảng ta phạm sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí, quá nhấn mạnh vấn đề giai cấp, cường điệu mặt đấu tranh giai cấp nên đã xem nhẹ vấn đề dân tộc

Trang 39

trong việc hoạch định và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dẫn đến lợi ích các giai cấp, tầng lớp không được tính đến đầy đủ và kết hợp hài hòa, sức mạnh dân tộc không được phát huy như một trong những động lực chủ yếu nhất Đại hội VI Đảng ta đã sớm nhận ra sai lầm và tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện một cách kiên quyết và nhất quán Đảng ta đã tiến hành nhận thức lại và vận dụng sáng tạo theo cách nhận thức mới quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ dân tộc và giai cấp, để giải quyết vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc trong điều kiện mới của đất nước và của thời đại Nhờ vậy, chúng ta đã khắc phục được một cách đáng kể sự cứng nhắc và máy móc của cách nhìn nhận trước đây về

vấn đề giai cấp, vấn đề dân tộc và đấu tranh giai cấp

Mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” được các kì đại hội Đảng vừa qua kiên trì khẳng định và trong kỳ họp thứ sáu, Quốc hội Khóa XIII được bổ sung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa

xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Quan điểm này của Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện rất rõ quan điểm biện chứng về sự thống nhất giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc, giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc Mục tiêu này vừa thể hiện, vừa đáp ứng được nguyện vọng của toàn thể dân tộc, của các giai cấp và của mỗi người dân yêu nước Mặc dù tình hình đã có nhiều thay đổi so với trước dây nhưng cả hiện nay và cả trong giai đoạn sắp tới của thời kỳ quá độ không chỉ chủ ý đến lợi ích của một giai cấp riêng biệt nào đó, kể cả lợi ích của giai cấp công nhân tách rời khỏi lợi ích của toàn thể dân tộc Sẽ là sai lầm nếu coi nhẹ công cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích

dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc

Điều đó càng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục ngiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp, nhằm đảm bảo sự hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trong tình hình mới, làm cơ sở vững chắc cho việc vận dụng, hoạch định, tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, để đưa dân tộc ta

Trang 40

vượt qua mọi thử thách, vững bước trong quá trình xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

1.2.2 Yêu cầu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp

Bối cảnh thế giới và trong nước hiện nay có những biến động, thay đổi rất lớn, có những đặc điểm, xu thế khác với thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và hoạt động Tuy nhiên, thế giới vẫn vận động theo quy luật khách quan, quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức mới Trong xã hội nảy sinh nhiều vấn đề mâu thuẫn giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc đòi hỏi cần có đường lối chính sách giải quyết hiệu quả Do đó, những tư tưởng của

Hồ Chí Minh vẫn là cơ sở lí luận, phương pháp luận đúng đắn để chúng ta xem xét, giải quyết thắng lợi những vấn đề nóng bỏng, phức tạp trong sự nghiệp đổi mới hiện nay Tuy nhiên, để có thể vận dụng hiệu quả tư tưởng

Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp ở Việt

Nam hiện nay cần phải đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là đội tiên phong của giai cấp

công nhân Việt Nam và là đại biểu cho lợi ích chung của giai cấp công nhân, của toàn thể nhân dân lao động

Mùa xuân năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã họp (từ ngày 3 đến ngày 07/02/1930) ở bán đảo Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc) Tham dự Hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh - đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; Nguyễn Thiệu, Châu Văn Liêm - đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng và dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc - thay mặt Quốc tế Cộng sản Hội nghị quyết định hợp nhất

ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng (17/6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (11/1929) và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (01/01/1930) thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vào ngày

03 tháng 02 năm 1930

Ngày đăng: 03/12/2015, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương (1975), Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Tiểu sử và sự nghiệp
Tác giả: Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1975
2. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (1995), Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, Tài liệu học tập Nghị quyết 09 của Bộ chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
3. Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương (2001), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
4. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2001), Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại hội IX của Đảng (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên)
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Hoàng Chí Bảo (1996), “Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo với phát triển”, Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa xóa đói giảm nghèo với phát triển”, "Xóa đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1996
8. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức - Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên) (1997), Những quan điểm cơ bản của C.Mác - Ph.Awngghen - V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản của C.Mác - Ph.Awngghen - V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức - Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
12. Đảng cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị Khóa VII về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị Khóa VII về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Báo cáo tổng kết nghị quyết Trung Ương 8B (Khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nghị quyết Trung Ương 8B (Khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. TS. Nguyễn Đức Đạt (2005), Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh
Tác giả: TS. Nguyễn Đức Đạt
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
21. Phạm Văn Đồng (1998), Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w