1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sách đọc hiểu văn bản ngữ văn 9 kiến thức cơ bản, kiến thức mở rộng, nâng cao, luyện tập

66 677 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- phần hai : Thực hành đọc - hiểu văn bẩn N gữ văn 9, ứng dụng quan điểm và giải pháp đọc hiểu văn bản trong những bài cụ thể, mỗi bài được câ'u tạo theo ba phần : I - Gợi dẫn II - Kiến

Trang 1

m m m m

Trang 2

N G U YÊN TRỌNG HOÀN

NGỮ VĂN 9

(Tái bún lần tliứ tư)

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Trang 3

Công ty Cổ phần Dịch vụ xuất bản Giáo dục Hà Nội - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giữ quyền công bố tác phẩm

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện Chương trình Trung học cơ sở (Ban hành kèm theo Quyêt định

số CB/QĐ-BGD&ĐT ngày 24 - 1 - 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), môn Ngữ văn đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp - trong đó

trọng tâm của yêu cầu dạy học phần Văn là Đọc - hiểu văn bản (bao gồm các

trích đoạn hoặc tác phẩm văn học trọn vẹn, các văn bản nhật dụng) Đây là yêu cầu lần đầu tiên được gọi tên một cách chính thức trong sách giáo khoa Ngữ văn, xác định những nội hàm cụ thể để học sinh thực hiện một chuỗi thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, hướng tới hiệu quả hành dụng và kết nối kịến thức với các phần Tiếng Việt, Tập làm văn

Nhằm cung câ'p tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh về lĩnh vực

này, chúng tôi biên soạn bộ sách Đoc - hiếu văn băn (gổm bổn cuốn, tương

ứng với sách giáo khoa Ngữ văn các lớp 6 - 7 - 8 - 9) Vì đây là một lĩnh vực lí thú và có liên quan tới nhiều bình diện của hoạt động đọc - hiểu, nên trong mỗi cuốn sách chúng tôi sẽ trình bảy một sô vân đề có tính khái quát trước khi thực hành đọc - hiểu văn bản Ngữ văn

Theo đó, cuốn Đọc - hiểu văn bẩn N gữ văn 9 gồm :

- Phần một : Tiến tới một quy trình đọc - hiểu văn bẩn văn học và văn

bẩn nhật dụng Ở trường p h ổ thông, khái quát về đọc - hiểu văn bản Ngữ văn

theo đặc trưng loại thể

- phần hai : Thực hành đọc - hiểu văn bẩn N gữ văn 9, ứng dụng quan

điểm và giải pháp đọc hiểu văn bản trong những bài cụ thể, mỗi bài được câ'u tạo theo ba phần :

I - Gợi dẫn

II - Kiến thức cơ bản

111-L iê n hệ

Nội dung phần Gợi dẩn của mỗi bài học là chuẩn bị tâm thế, cung cấp

nhĩíng kiến thức công cụ để chiếm lĩnh mục tiêu của bài đọc - hiểu, đó là các

3

Trang 5

yếu tô' đặc trưng thể loại, các thông tin về tác giả, tác phẩm, đại ý, tóm tắt t và xác định lời kể hoặc cách đọc văn bản.

Nội dung phần Kiến thức cơ bản được hình thành trên cơ sở lí giải nhíững

vấn đề (theo thứ tự hoặc tổng hợp) từ các câu hỏi của sách giáo khoa, thể nghiệm một lô gích các thao tác tiếp cận văn bản

Nội dung phần Liên h ệ có kết câu mở, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạing :

có thể giới thiệu một văn bản tương đương hoặc gần gũi với bài học để tạo điều kiện cho người đọc so sánh kiến thức ; có thể cung câp một số nhận điịnh

để tham khảo cho việc đánh giá về tác giả, tác phẩm ; cũng có thể cung cấp một bài văn, bài thơ có tính chat thực hành hoặc mỏ rộng trường liên tưởng

*

* *

Mục đích tìm hiểu và tính chẵt của tài liệu sẽ quy định phương thức íđọc Phương thức đọc - hiểu văn bản Ngữ văn chắc chắn không chỉ là điều qman tâm của một cá nhân Rất mong các thầy, cô giáo và các bạn học sinh trrong quá trình sử dung cuốn sách này góp cho những ý kiên quý báu để chúng tôi có) dịp

Trang 6

T^hồKi mộ+

TIẾN TỚI MỘT QUY TRÌNH

Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1 Vấn để

Đọc là một hoạt động nhận thức nhằm hiểu nghĩa thông qua quá trình chủ thể người đọc làm việc với văn bản Trước văn bản, người đọc vận dụng những kiến thức đã có cùng với những gợi ý (trực tiếp và gián tiếp, hàm ngôn

và hiển ngôn) trong bài đọc để hiểu nghĩa Các nghiên cứu chỉ ra rằng : những người đọc đạt được hiệu quả cao luôn có chiến lược đọc riêng Điều này cũng

có nghĩa : phải xác định mục đích rõ ràng trước khi đọc, duy trì và kiểm soát mục đích đó trong suốt quá trình đọc và ứng đụng việc đọc cho phù hợp với môi mục đích và nhiệm vụ của bài đọc Tuy nhiên, người đọc có chiến lược là người biết linh hoạt vận đụng và lựa chọn hợp lí nhât các kĩ năng khác nhau khi tìm hiểu nghĩa của văn bản

Chiến lược đọc là một kế hoạch hỗn hợp mà người đọc sử dụng để đạt đến mục tiêu cụ thể và hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra Khi người đọc lưa chọn

và sử dụng chiến lược đọc một cách tư giác, họ đã đạt được sư độc lập trong cách đọc Các nghiên cứu đã chỉ ra : người đọc phải phát triển việc sử dụng các kĩ năng làm phương tiện hỗ trợ trong quá trình đọc hiểu, muốn vậy, họ phải dược chỉ đẫn, sử dụng các chỉ dẫn để trở thành người đọc thành thục, qua đó họ có được sự độc lập trong quá trình đọc và có thể sử dụng kĩ năng đọc đó trong việc học tập và thưởng thức các giá trị cuộc sông Việc học cách

sử dụng các chiến lược đọc là điều có ý nghĩa quyết định đôi với mọi người đọc Không có chiến lược đọc, thường vấp phải khó khăn trong quá trình tiếp cận văn bản

ơ nước Anh, trước giờ học, học sinh phải tự tóm tắt thông tin trong sách giáo khoa, đến lớp trình bày lại tóm tắt đó để bạn bè và giáo viên cùng góp ý

5

Trang 7

về kiến thức mà học sinh đã chuẩn bị sẵr/1) Còn ở Hàn Quốc, trong; giè* học,

đa sô" giáo viên chọn cách giảng "ngoài lề" nhiều hơn những điều đã C ió sẵn trong sách giáo khoa, bởi vì họ cho rằng : sách giáo khoa là đỉều học sinhi hiển nhiên phải biết, phải đọc Đồng thời, để tăng cường hứng thú và đỊnti hìinh ấn tượng, bài giảng của giáo viên thường được xen lẫn những câu chuyệ-n, nihững đoạn phim minh hoạ, gợi mở Kết thúc mỗi bài học, giáo viên cho học: sinh đọc thêm một câu chuyện ngoài sách giáo khoa và giáo viên yêu cầ u "t)hứ vẽ một bức tranh hiện ra trong đầu khi các em đọc bài " để học sinh miở rộ’ng trí tưởng tượng^)

2 Một sô' chỉ dẫn vê đọc

Việc đọc bao giờ cũng gắn liền với các phản ứng tâm lí nhằm đáp ứng (nhận thức) về một điều gì đó thông qua quá trình đọc và nghe Quá trìnih này bắt đầu trước khi nghe đọc, diễn ra trong và sau khi đọc Xô-đăng-b<ơ-nan trong nhiều năm nghiên cứu đã chỉ ra rằng người đọc bao giờ cũng tiự xây dựng cho họ một sư hiểu biết thông qua việc làm quen với văn bả n KChi có

những phản ứng làm quen với văn bản đọc và nghe thì phản ứng ấ\y gimp họ

phát triển khả năng hiểu biết sâu hơn và giúp cho họ kết nối chúng v ới rìihững kinh nghiệm cá nhân mà người đọc đã có Thông qua quá trình này ngưỡi đọc

sẽ hiểu các văn bản đọc

Những phản ứng dạy học sinh đọc và viết được thể hiện qua việc kết nối ý tưởng với kinh nghiệm sẵn có Hoạt động phản ứng thứ nhất sẽ curv.g cấ p cho người đọc cơ hội để nối kết những nội dung văn bản với kinh mghiệm cá nhân Thông qua quá trình đó, học sirth hình thành kĩ năng và kũnh nhiệm mới cho chính mình, mở rộng sự hiểu biết và phát triển khả năng bao) quát trong quá trình đọc Thông qua việc hiểu văn học, người đọc hìtnh thành những cách thể hiện văn bản viết Chính trong quá trình này, học sinìh sẽ được củng cố thêm sự hiểu biết về văn bản đã đọc Các nhà nghiên cứu cho irằng : người đọc bao giờ cũng thích ứng, phản hồi kết quả tiếp xúc vớii vă.n học bằng nhiều cách Qua kể lại tóm tắt, phân tích, tổng hợp, người đọc sẽ khám phá được những cấp độ nghĩa khác nhau của văn bản Trẻ em ở tutổi nihỏ có khả năng phản ứng lại những điều vừa nói ở mức độ rất đơn giản Khi ìngười

(1) Lê Vũ, theo Straits Times, báo Giáo dục Thành phô'H ồ Chí Minh, số 21,13 - 11 - 2003 (2) Lê Vũ, theo Straits Times, báo Giáo dục Thành phô'H ồ Chí Minh, số 22, 17 - 11 - 2003.

6

Trang 8

đọc có kinh nghiệm hơn, ki năng nảy tinh tế hơn ihông qua việc phân tích và đánh giá văn bản Viết là một hình thức hồi đáp lại đối với văn bản Thông qua các bài viết, học sinh học cách sáng tạo văn bản và điều đó giúp các em phát triiển khả năng suy nghĩ có phê phán.

Việ*c đọc thường diễn ra theo các bước cơ bản sau : học sinh đọc thầm, học sinh nghe giáo viên hoặc nghe bạn trong lớp đọc, đọc thành tiếng Việc đọc thành tiếng đặc biệt có nghĩa khi người đọc biết dừng lại mỗi lần gặp phải một từ mới và khó, lấy đó làm căn cứ để chú ý, tập trung thảo luận Sau khi đọc, giáo viên giúp học sinh tham gia hội thoại (trao đổi) về văn bản đọc Những thảo luận về bài học sẽ giúp học sinh có điều kiện tích luỹ kiến thức về

tử mới và các khái niệm liên quan tới nội đung đọc - hiểu, gắn nó với kinh nghiệmi hiểu biết trước đây Trong hoạt động này, học sinh được học từ mới gián tie'p khi nghe và nhìn thấy từ được sử dụng trong những tình huống khác nhau, v í dụ qua hội thoại, qua nghe người khác đọc và qua chính bản thân mình đ ọc

Hiếu vừa là nguyên nhân, vừa là mục đích của việc đọc Khi nào người đọc chưa hiểu được văn bản thì đó chưa phải là quá trình đọc Trong khi đọc, học sinỉh đồng thời nhận ra nghĩa của những điều đang đọc, tham gia một quá bình plhức tạp, vận dụng kiến thức đã biết để đọc (hiểu biết về từ vựng, cấu trúc vă,Ti bản, kĩ năng đọc) thây nghĩa của văn bản Muôn đạt được điều đó, với mỗi bài đọc, phải được đặt dưới sự kiểm soát của các câu hỏi, nhằm :

1 Hướng học sinh vào mục tiêu bài đọc, 2 Tập trung sư chú ý của học sinh vào nội dưng bài đọc, 3 Giúp học sinh suy nghĩ tích cực trong khi đọc, 4 Khuyến khích hoc sinh kiểm soát được quá trình đọc - hiểu, 5 Giúp học sinh hình dung tông th<ể nội dung bài đọc và liên hệ (gắn kết nó) với kinh nghiệm đã có

ĐỌ(S văn chương cỏ nghĩa là tháo gỡ mã của các: kí hiệu văn chương trong

văn bản, là tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm thồng qua các cấu trúc của văn bản (cốt truyện, kết câu, nhân vật, đối thoại, không gian, thời gian, V.V.) Đọc là

mã hoái cách đọc, là tổng hợp các khâu của việc đọc, phát biểu cảm tưởng,

phân tí<ch, đối chiếu, tổng hợp, đảnh giá, v.v là phát hiện và sáng tạo Đọc,

trước h<ết, là phát hiện, trong văn bản và từ văn bản, một thế giới khác, những

con ngtười khác Người đọc sống trong thế giới tưởng tượng của mình, xây dựng Ciho mình, thông qua tác phẩm, một xứ sở riêng Đọc là một hoạt động

tích cực ; người đọc "nhập cuộc", "hoá thân", với những cảm xúc riêng của

7

Trang 9

mình, những kỉ niệm, kí ức, khát vọng riêng Đọc có nghĩa là chuyển đổii tác phẩm nghệ thuật thành một vũ trụ tình cảm, cảm xúc, tư duy, hình tưíỢĩng riêng của người đọc Đọc văn chương là một khoa học mà đối tượng là nguròi đọc, người tiếp nhận vần b ản "^.

3 Tiến tới xây dưng m ô t quy trình đoc - h iểu v ăn bản N gữ v ăn ớ trưíờng

p h ổ thông

Trong phần mở đầu của các cuốn sách Đọc - hiểu văn bẩn N gữ văm đã xuất bản và một số bài trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ, N ghiên cứu giáo dục, chúng tôi đã có điều kiện trình bày vấn đề này từ góc độ khái quát ( Ké' qjwan

niệm và giải pháp đọc - hiểu văn bản N g ữ vărP^ đến các góc độ cụ thể (Aíiột sô' vâh đọc - hiểu thơ văn trữ tình và tác phẩm văn chương nghị luậrP\ M ót s ố vấn đ ề về đọc hiểu kịch bẩn văn họé^\ Một sô' vâh đ ề về đọc - hiểu tác p.ihém

kí, tác phẩm truyện hiện đại, Cốt lõi của vấn đề đọc - hiểu mà chúng tô>i đã

trình bày là : việc đọc gắn liền với tài năng, phong cách tác giả ; gắn liền V ăn bản với vấn đề loại thể, chú giải văn bản và mở rộng các lớp nghĩa từ văn bản Theo đó, quy trình đọc hiểu văn bản ngữ văn chúng tôi đã trình bày theo một

cấu trúc gồm ba phần chính : Gợi dẫn, Kiếù thức cơ bản và Liên h ệ (vớii nội hàm của từng phần như đã nêu trong Lời nói đầu của mỗi cuôn sách), tirong

đó nhiệm vụ của mỗi phần đều được xác định cụ thê’ (ví dụ : phần tóm tắt văn

bản gồm Tổng quan ý chứứì, Liên kết các ý cơ bản, Lược bỏ những ứìôrtịg từi

không cần ửiiết, Ghi n h ớ nhữn g điều đã đọc, ).

Phải nói rằng : có rất nhiều yếu tô' liên quan đến hoạt động đọc - Iniểu, song chắc chắn nội hàm của khái niệm đọc không thể tách rời với hiểu Mỗi quan niệm về đọc sẽ quy định (hoặc lựa chọn) từng thao tác kĩ thuật đọc như đọc lướt, đọc chi tiết, các hình thức đọc như đọc thầm, đọc thành tiếng, Đó

là chưa kể, trong văn học, còn có thể đọc bằng "con mắt bên trong", đọc Ibằng hồi ức, liên tưởng, tưởng tượng Tuy nhiên, dù đọc bằng hình thức nào, Ibằng thao tác kĩ thuật gì cũng xem nhiệm vụ khai thác thông tin là ưu tiên sô" nr>ột, lấy đó làm điểm tựa để thông hiểu kiến thức mà văn bản chuyển tải

(1) Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000.

(2) Đọc - hiểu văn bẳn N gữ văn 6, NXB Giáo dục, 2003.

(3) Đọc - hiểu văn bản N gữ vân 7, NXB Giáo dục, 2004.

(4) Đọc - hiểu văn bản N gữ văn 8, NXB Giáo dục, 2005.

8

Trang 10

Phomg cách Hồ Chí Minh là một phần bài viết Phong cách H ồ Chí Minh,

cái v ĩ đ ạ i %ắn với cái giản dị củ a tác giả Lê Anh Trà, trích trong cuốn sách H ồ

c lĩí Miriih và vần hoá Việt Nam (Viện Văn hoá xuất bản, Hà Nội, 1990).

3 Tcôm t ắ t :

Viết về phong cách Hồ Chí Minh, tác giả đưa ra luận điểm then chô't : Phong ciách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa tính dân tộc và tính nhân loại/ giữra Tuyền thông vả hiện đại, giữa sự vĩ đại và giản dị

Để liàm sáng tỏ luận điểm này, tác giả đã vận dụng một hệ thống lập luận chặt chẽ':, 'ới những đẫn chứng xác thực, giàu sức thuyết phục về quá trình hoạt động cách mạng, khả năng sử đụng ngôn ngữ và sự giản dị, thanh cao trc>ng CUỊỘC sông sinh hoạt hằng ngày của Bác

9

Trang 11

4 Cách đọc :

Đọc bài văn bằng giọng chậm rãi, trang trọng, chú ý nhấn mạnh nhữnịg từ ngữ thể hiện chủ đề : Chủ tịch Hồ Chí Minh - "một nhân cách râ't Việt Níam, một lôi sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng ckồng thời rất mới, rất hiện đại"

II - KIẾN THỨC C ơ BẢN

Trong bài thơ N gười đi tìm hình của nước, Chế Lan Viên v iế t:

Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba Lê Một viên gạch hồng, Bác chôhg lại cả một m ùa băng giá

Đó là những câu thơ viết về Bác trong thời gian đầu của cuộc hành trrình cứu nước gian khổ Câu thơ vừa mang nghĩa tả thực vừa có ý khái quát sAui xa

Sự đôi lập giữa một viên gạch hồng giản dị với cả một mùa đông băng gieấ đã

phần nào nói lên sức mạnh và phong thái của vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại 'Sau này, khi trở về Tổ quôc, sống giữa đồng bào, đồng chí, dường như chúrtỊg ta vẫn gặp con người từng bôn ba khắp thế giới ấy :

N hớ N gười nh ững sáng tinh sương Ung dun gỵ ên ngựa trên đường suôi reo

N hớ chân N gười bước lên đèo

N gười đi, rùng n ú i trông theo bóng Người.

( Việt Bắc - TỐ Hữu)

Còn nhiều, rât nhiều những bài thơ, bài văn viết về cuộc đời hoạt đtộng cũng như tình cảm của Bác đôi với đất nước, nhân dân Điểm chung nổi bật

trong những tác phẩm ấy là phong thái ung dung, thanh thản của một ng;ười

luôn biết cách làm chủ cuộc đời, là phong cách sống rất riêng : phong cách

Hồ Chí Minh

Với một hệ thông lập luận chặt chẽ và những dẫn chứng vừa cụ thể vừa giàu sức thuyết phục, bài nghị luận xã hội của Lê Anh Trà đã chỉ ra sự th>ô'ng nhất, kết hợp hài hoà của các yếu tố : dân tộc và nhân loại, truyền thống; và hiện đại để làm nên sự thông nhẵt giữa sự vĩ đại và giản dị trong phong cách của Người

10

Trang 12

Cách gợi mở, dẫn dắt vân đề cứa tác giá rât tư nhiên và hiệu quả Đê lí giải sự thống nhất giữa dân tộc và nlìân loại, tác gia đà dẫn ra cuộc đời hoạt động dầy truân chuyên, tiếp xúc với văn hoá nhiều nước, nhiều vùng trôn thê giới.ễ Kết luận được đưa ra sau đó hoản toàn hớp lô gích : "Có thể nói ít có

vị lành tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hoá thế giới sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh Người củng chịu ảnh hưởng của tãt cả các nền văn hoá, đã tiếp thu mọi cái đẹp và cái hay " Đó là những căn

cứ xác đáng để lí giải về tính nhân loại, tính hiện đại - một vế của sư hoà hợp, thống nhất trong phong cách Hồ Chí Minh

Ngay sau đó, tác giả lập luận : "Nhưng điều kì lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hoá dân tộc không gì lay chuyên được ở Người, để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại "

Dây có thể coi là lập luận quan trọng nhất trong bài nhằm làm sáng tỏ luận điểm chính nói trên Trong thực tế, các yếu tố "dân tộc" và "nhân loại",

“truyền thống" vả "hiện đại" luôn có xu hướng loại trừ nhau Yếu tô' này trội lẽn sẽ lấn át yếu tô' kia Sự kết hợp hài hoà của các yếu tô' mang nhiều nét đối lập ấy trong một phong cách quả lả điều kì diệu, chỉ có thể thực hiện được bởi một yếu tô" vượt lên trên tất cả : đó là bán lĩnh, ý chí của một người chiến sĩ cộng sản, là tình cảm cách mạng được: nung nấu bởi lòng yêu nước, thương dân

vô bờ bến và tinh thần sẵn sàĩìịỊ quổn mình vì sự nghiệp chung Hồ Chí Minh là người hội tụ đầy đủ nhửng phẩm chât đó

De củng cố cho lập luận của mình, tác giả đưa ra hàng loạt đẫn chứng Những chi tiết hết sức cu thể, phổ biến : đó là ngôi nhà sàn, là chiếc áo trân thủ, đôi dép lồp đã từng đi vảo thơ ca như một huyền thoại, là cuộc sông sinh hoạt hằng ngày, là tình cảm thắm thiết đôì với đồng bảo, nhất là với các em thiêu nhi, cũng đã trở thành huyền thoại trong lòng nhân dân Việt Nam Với những dẫn chứng sống động ấy, thủ pháp liệt kê được sử dụng ở đây không nhưng không gây nhàm chán, đớn điệu mà còn có tác tỉụng thuyết phục hơn hán những lời thuyết lí đài dòng

Trong phần cuối bải, tác giả đã khiến cho bài viết thêm sâu sắc bằng cách kết nối giữa quá khứ với hiện tạiẽ Từ nếp sống "giản dị và thanh đạm" của Bác, tác giả liên hệ đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm - các vị "hiền triết" của non sông đất Việt :

11

Trang 13

Thu ăn m ăng trúc> đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Đây cũng là một yếu tố trong hệ thống lập luận của tác giả Dẫu các y/ếu tô> so sánh không thật tương đồng (Bác là một chiến sĩ cách mạng, là Chủ ttịch nước trong khi Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm được nói đến trong tlhời

gian ở ẩn, xa lánh cuộc sống sôi động bên ngoài) nhưng vẫn được vận tỉụing

hợp lí nhờ cách lập luận có chiều sâu : "Nếp sống giản dị và thanh đạm ccủa

Bác Hồ, cũng như các vị danh nho xưa, hoàn toàn không phải là một Qắchì tự

thần thánh hoá, tự làm cho khác đời, hơn đời, mà đây là lốì sông thanh ccao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sông, có kchả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác"ẻ

Bài văn nghị luận này giúp chúng ta hiểu sâu thêm về phong cách của ỈBác

Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hoá của thế giớyi

Ill - LIÊN HỆ

H ồ CHÍ MINH, TÊN NGƯỜI LÀ CẢ MỘT NIỀM THƠ

BỞi vì Người, Ch ủ tịch H ồ Chí Minh

Nhà thơ H ồ Chí Minh

N gười nông dân Việt Nam trong sáng H ồ Chí Minh.

Bẩy m ươi tám năm gần trọn cả đời mình tranh đâu.

Vì N gười đã hi sinh từ bỏ mọi tên

đ ể ch ỉ còn là một giọng nói, một hơi thở, một cái nhìn

Trang 14

BỞi vì trong mỗi xóm nhỏ tan hoang vì bơm na-pan M ĩ

Một manh tim Người tư cháy xót Xcì!

H ồ Chí Minh, tên Người là một niềm thơ.

BỞi vì N gười đả đói mọi cơn đói ngày xưa

Vì N gười dã chết hai triệu lần năm đói bốn nhầm khủng khiếp> Bời vì N gười đả mặc lên mọi tấm áo xác xơ

đã đi chân đất với mỗi dôi chân trần của người dân ma t nước ; BỞi vì N gười đã chứa chất nỗi tủi nhục của mọi người cùng cực ; BỞi vì N gười dã từng chịu đau nối roi vọt đánh vào dân tộc Thuở bọn thực dân Pháp

hoà trộn than Hồng Gai với máu người thợ mỏ,

cao su miền Nam với máu người phu đất dỏ

lúa gạo đồng bằng với mấu nông dân,

dê biến thành vàng bạc gâp trăm.

BỞi vì lòng N gười héo hon khi nắng hạn

Với ruộng đồng chết khát năm lại qua năm,

Và N gười m ang cây lại trong lòng mình

n iô i cây lú a ch ết ngụt Vỉ m ực rì ước trắng b ờ !

Hô Chí Minh, tên N gười là cả một niềm thơ.

BỞi vì N gười đã sống cùng người phu Quảng Châu Thượng Hải,

và đo được m ức tận cùng đói rách,

và Ở Nam Phi, N gười cũng dược rách đói tận cùng

của những người Ân cùng đinh sang đó

tìm m iếng cơm nuôi sống qua ngày.

BỞi vì N gười đã đến với dân lao động

Trang 15

tự đào huyệt chôn mình khi vét dòng kênh Pa-na-ma.

Và n h ư thê' N gười đã nhận ra rằ n g :

Bâ't cứ Ở đâu, con người cũng ch ỉ là một và đói k h ổ cũng ch ỉ là một,

Và N gười cũng b iết: Ở đâu cũng một lòng căm uâ't,

và đường đi ch ỉ có một mà thôi.

BỞi vì tất cả những điều đó và nhiều điều khác nữa

Mà lời nói khó lòng chứa đựng ;

BỞi vì đôi với N gười thì phẩm giá con người

Còn cao hơn cả m iêhg cơm, danh vọng

Cao hơn cả trường tồn cuộc sống.

H ồ Chí Minh, tên N gười là cả một niềm thơ.

Có th ể ca ngợi N gười n h ư ca ngợi biển cả, nú i cao,

n h ư ca ngợi sông cửu Long, sông H ồng Hà.

Nói tới N gười là nói tới Vịnh Hạ Long, Điện Biên Phủ,

Chùa Một Cột, là nói những ruộng đồng đỏ ánh p h ù sa.

Có th ể nói tới N gười bằng hết thảy những lời tương tự,

khi nói tới cây nhãn và cây tre x ứ SỞ.

BỞi vì ca ngợi Người, Chủ tịch H ồ Chí Minh,

Nhà thơ H ồ Chí Minh

N gười nông dẫn Việt Nam trong sá n g: H ồ Chí Minh,

là ca ngợi đất nước Việt Nam tươi đẹp và đau thương

ca ngợi nước Việt Nam mà dáng dấp

không còn là chiếc đòn tre gánh m ỏi đầu một thúng

mà là một hình dáng vinh quang của cửa ngõ có một không hai,

đ ể đi vào thểgiới tương lai.

PHÊ-LÍCH PI-TA RÔ-ĐƠ-RI-GHẾT (Caba)

HOÀNG HIỆP dịch

14

Trang 16

ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HOÀ BÌNH

(G.G Mác-két)

I - GỢI DẪN

1 Tác giả :

ÍJhà văn Cô-lôm-bi-a G.G Mác-két (Gabriel Garcia Marquez) sinh năm

1928 Năm 1936, tốt nghiệp tú tài, ông vào học ngành Luật tại Trường Đại học Tổng hợp Bô-gô-ta và viết những truyện ngắn đầu tay

Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két là tác giả của nhiều tiểu thuyết theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo nổi tiếng Ông từng được nhận Giải thưởng Nô-ben văn học năm 1982

G G Mác-két có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, nhưng nổi tiếng nhất là

cuốn Trăm năm cô đơn (1967) - tiểu thuyết được tặng Giải Chianchianô của

I-ta-li-a, được Pháp công nhận là cuốn sách nước ngoài hay nhất trong năm, đưực giới phê bình văn học ở Mĩ xếp là một trong 12 cuốn sách hay nhât trong những nàm sáu mươi của thế kỉ XX

Toàn bộ sáng tác của G G Mác-két xoay quanh trục chủ đề chính : sự

cô íỉơn - mặt trái của tình đoàn kết, lòng thương yêu giữa con người

2 Tác phẩm :

Văn bản Đấu tranh cho m ột th ế giớ i hoà bình trình bày những ý kiến của

tác giả xung quanh hiểm hoạ hạt nhân, đồng thời kêu gọi thế giới nỗ lực hành động để ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ về một thảm hoạ có thể huỷ diệt toàn bộ

sư sống trên trái đất

3 Tóm tắ t:

Dây là một bài văn nghị luận xã hội Tác giả nêu ra hai luận điểm cơ bản

có liên quan mật thiết với nhau :

- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất

- Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đâu tranh cho một thế giới hoà bình

Đê làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đưa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ, đặc biệt là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức thuyết phục

15

Trang 17

4 Cách đọc :

Bài văn có giọng tranh luận, đối thoại ngầm, hệ thông lập luận, dẫn (Chứng râ't ngắn gọn, súc tích, có sắc thái khẳng định mạnh mẽ Vì thế, cần thcê hiện giọng đọc mạnh mẽ, dứt khoát, rõ ràng từng ý, từng câu

II - KIẾN THỨC C ơ BẢN

Chúng ta đang sông trong một thế giới mà trình độ khoa học kĩ thuật đang phát triển với một tốc độ đáng kinh ngạc : những thành tựu củat ngày hôm nay, rất có thê’ chỉ ngày mai đã thành lạc hậu Đã từng có những ý kũẽn bi quan cho rằng : trong khi của cải xã hội tăng theo cấp số cộng thì dân ssố trái

đâ't lại tăng theo cấp số nhân, con người sẽ ngày càng đói khổ Tuy nhiêm, nhờ

có sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, của cải xã hội ngày' càng dồi đào hơn, số người đói nghèo ngày càng giảm đi

Đó là những yếu tô' tích cực trong sự phát triển của khoa học mà phẩần lớn chúng ta đều nhận thây Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó thì hầm như rất ít người có thể nhận thức được Bài viết của nhà văn Gác-xi-a Mác-lkét đã gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại trước nguy cơ đang hiệin hữu của một cuộc chiến tranh hạt nhân thảm khốc có khả năng huỷ diệt toàn bộ sự sống trên hành tinh xanh mà phương tiện của cuộc chiến tranh ấy - rnỉỉa mai thay - lại là hệ quả của sự phát triển khoa học như vũ bão kia

Vân đề được khơi gợi hết sức ấn tượng : "Chúng ta đang ở đâu ? Hôim nay ngày 8 - 8 - 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã được bô' trí trên khắp> hành tinh Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ : tất cả chô đó nổ tung lên sẽ làm biéến hết thảy, không phải một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sốnịg trên trái đất"

Sức tác động của đoạn văn này chủ yếu bởi những con số thống kộ cụ thể : 50 000 đầu đạn hạt nhân ; 4 tấn thuốc nổ ; không phải một lần mà là mười hai lần, Thông điệp về nguy cơ huỷ diệt sự sống được truyền tíải với một khả năng tác động mạnh mẽ vào tư duy bạn đọc Không chỉ có thế, tíác giả còn mở rộng phạm vi ra toàn hệ Mặt Trời, dẫn cả điển tích trong thẩn thoại

Hi Lạp nhằm làm tăng sức thuyết phục

Trong phần tiếp theo, tác giả đưa ra hàng loạt so sánh nhằm thể hiiện sự bất hợp lí trong xu hướng phát triển của khoa học hiện đại : tỉ lệ phục V'ụ cho16

Trang 18

viộc nang cao đời sống nhân loại quá thấp trong khi tỉ lệ phục vụ cho chiên

tranh lại quá cao vẫn là những con so thông kê đầy sức nặng :

100 tỉ đô la cho trẻ em nghèo khố tương đương với 100 máy bay ném bom chiến lược B.1B hoặc dưới 7 000 tên lửa vượt dại châu ;

Giá 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện chương trình phòng bệnh trong cùng 14 năm, bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét;

Hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân lả đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toan thế giới

Dó là những con số vượt lên tren cả những giá trị thống kê, nó còn có giá trị tố cáo bởi điều nghịch lí là trong khi các chương trình phục vụ chiến tranh đều đã hoặc chắc chắn trở thành hiện thưc thì các chương trình cứu trợ trẻ em nghèo hay xoá nạn

mu c hữ chỉ là sự tính toán giả thiết vả không biết đến bao giờ mới trở thành hiện thực Trong khía cạnh này thì rõ ràng là khoa học đang phát triển ngược lại những giá trị ĩứìân văn mà từ bao đời nay con người vẫn hằng xây dưng

Vẫn bằng phép suy luận lô gích và những con sô' thông kê nóng bỏng, tác giá đẩy mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm : sự phát triển vũ khí hạt nhân không chi đi ngược lại lí trí của con người mà còn đi ngược lại lí trí tự nhiên Sự đối lập khủng khiếp giữa 380 triệu năm, 180 triệu năm, bốn kỉ địa chất (hàng chuc triệu năm) với khoảng thời gian đủ để "bấm nút một cái" đã phơi bày toàn bộ tính chất phi lí cũng như sự nguy hiểm của chương trình vũ khí hạt nhân mà các nước giàu có đang theo đuổiệ Bằng cách ây, rất có thể con người đang phủ nhận, thậm chí xoá bỏ toàn bộ quá trình tiến hoá của tự nhiên và xã hội từ hàng trăm triệu năm quaế Đó không chỉ là sự phô phán mà còn là sự kết tội

Dó là toàn bộ luận điểm thứ nhât, chiếm đên hớn ba phần tư dung lượng của bài viết này ơ luận điểm thứ hai, thủ pháp tưđng phản đã được vận dụng triệt đỏ Ngay sau lời kết tội trên đây, tác giả kêu gọi :

"Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem lại tiếng nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng Nhưng dù chojtai hoạ xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ỏ đây cũng fchojng: phải:làívVÔl&h!V !

7 Ị TH O Ĩ^G ềT ì t lắ%l-ỈƯV!Ệf'; ị

Đó không hăn là một lời kêu gọi thống thỊết và mạnh m ẽ;toty rthiên kỉỊông

tạo nên hiệu quả cho luận điểm thứ hai này I^hữn^ỉĩời^keti/gĐi eiíatác giả gần

ị ,"-u' V ' * H iò n q nõni/.uU ỉ

Trang 19

như những lời tâm sự nhưng thấm thìa tận đáy lòng Chưa hết, tác gi.ả còn tưởng tượng ra tân thảm kịch hạt nhân và đề nghị mở "một ngân hàng luíu trử trí nhớ" Lời đề nghị tưởng như không thực ấy lại trở nên rất thực trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh hạt nhân có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Trong luận điểm thứ hai này, tác giả hầu như không sử dụng mộ t dẫn chứng hay một con số thông kê nào Nhưng cách dẫn dắt vân đề, lời tâirri sự tha thiết mang âm điệu xót xa của tác giả đã tác động mạnh đến lươing tri nhân loại tiến bộ Tác giả không chỉ ra thế lực nào đã vận dụng những, phát minh khoa học vào mục đích xấu xa bởi đó dường như không phải lài mục đích chính của bài viết nhưng ông đã giúp nhân loại nhận thức được ng uy cơ

chiến tranh hạt nhân là hoàn toàn có thực và ngăn chặn nguy cơ đó, đồnjg thời

đâu tranh cho một thế giới hoà bình sẽ là nhiệm vụ quan trọng nhâ't của nhân loại trong thế kỉ XXI

Ill- L I Ê N HỆ

ĩ LỜI TRÁI ĐẤT

Tôi vốn nhỏ và ngày diêm bé nhỏ Khi sô'người đông thềm, đầu óc to thêm Từng giật mình hai ngàn năm trước

Khi Ác-si-mét đòi kích bắỵ tôi lên Cũng may điểm tưa, cánh tay đòn ông chưa tìm tlĩâỳ được Tôi còn quay theo quỹ đạo tự nhiên.

Trăm năm trước đâu còn yên tĩnh nữa Lần đầu nghe chất n ổ Nô-ben.

Tôi bé nhỏ, người ơi, tôi bé nhỏ

C hỉ một giây thôi sóng điện tử chạy quanh xích đạo bảỵ vông Tôi chỉ là quả cam xanh ữong tiong con ĩĩĩắt các nhà du hành Vìũ trụ Với hệ mặt trời, tôi ch ỉ là điện tử

Là hạt bụi phiêu diêu giữa vô tận, vô cùng.

Trang 20

Tôi bé nhỏ và tôi không bền vững

Hãy hình dung quả trứng luộc nửa chừng

Lớp lòng trắng vừa se se đông lại

N hưng hãy nhìn lòng đỏ phía trong

Là cha t lỏng d ễ dàng tung toé chảy

Tự tôi phun nham thạch bao lần

Tự lòng tôi dọc ngang bao nội lưc

Làm thân hình méo mó với thời gian.

Dù bé nhỏ và m ong manh n h ư tíìế

Trước yêu tin tôi làm nhà, làm m ẹ

Đe nâng niu năm tỉ con người

Ánh mặt trời có cầu vồng bẩy sắc

Đẹp đâu bằng màu da các con tôi

N hững đứa con tôi yêu thương đều khắp

Luôn trở trăn chia ánh sáng mặt trời

Không thương m ẹ sao các con xung khắc

Bao k ỉ nguyên máu, nước mắt trào sôi

Đâu tại m ẹ sao có con trách móc ế*

"Trái Đất hdi, ăn g ì mà khát quá

Uống toàn nước mắt với máu tươiữ'^\

Lỗi lầm Hi-rô-si-ma làm sao quên được

Các hành tinh sẽ châ t vâh con người !

H ỡi đàn con đông đúc của tôi ơỉ

Trái Đât diệu kì thêm khi xuất hiện những cái đầu quá cỡ

(1) Thơ pê-tơ-phi - nhà thơ Hung-ga-ri (1823 - 1849).

19

Trang 21

Trái Đât củng mong manh thêm chính vì điều đó Nếu phát minh muốn huỷ diệt con người

Khi Trái Đất chảng còn là nơi Ở Quỹ đạo nào cho nhân loại chơi vơi ?

H ết cấy xanh, n ú i non tràn nham thạch Phóng xạ trào n h ư sóng biển khơi Nhà thơ ƠIhãy n g h ĩ đi, khi đó Thơ cho ai khi nhân loại không n gười ? Hoạ s ĩ ơi, đã đến lúc vẽ tôi

Với dâu hiệu một chiếc cốc thuỷ tinh lật ngửa

Đ ể nhắc nhở con n g ư ờ i: Coi chừng, d ễ vỡ

Và nói lòng tôi khao khát muôn đời ẳ

N hững màu da dưới ánh mặt trời Tìm gặp nhau với bàn tay nâng cốc ẵf

và nắng cháy sa mạc qua các ô lưới s ắ t; những bàn tay bé nhỏ giơ lên hứinị; lấy từng giọt nước ; những tiếng khóc của trẻ sơ sinh ; cái đ ó i; cái khát, nhữmg lều vải tị nạn chông chênh có thể đổ xuống bất cứ lúc nào, tất cả đã in đậm trong trí óc của tôiề Tôi thương bạn nhiều lắm, Xê-rê-na ạ Đất nước củia bạn còn bao khó khăn và đang có xung đột Những hình ảnh đó chợt gỢi hại cho tôi quá khứ của Việt Nam - đất nước anh dũng của tôi Việt Nam đã tríải qua rất nhiều cuộc đấu tranh giành độc lập đầy cam go Trẻ em Việt Nam cũing đã từng* phải chiến đấu với cái đói, cái khát và giặc xâm lược Bạn còm nhớ những gì bạn đã viết cho tôi không ? Bạn ước mơ có một ngôi nhà thiưc sư20

Trang 22

cunjr jria (iình, muốn được tiếp tuc đến trường mà xã hội đành cho, được vui chới trong yên bình, Vậy mà Xê-rê-na ơi, những ước mơ của bạn lại là những điều tôi đang có Tôi được sinh ra trong hoà bình, được hưởng đầy đủ quyền lợi của một thiếu niên, được đi tiếp trên con đường mà nhiều thê hệ cha anh

đã dày cồng đâu tranh và tạo dựng Tôi đang được sống hạnh phúc, no đủ cùn;; cha mẹ trong căn nhà nhỏ của chúng tôi Hằng ngày tôi được tung tăng tới trường, được đùa chơi thoả thích cùng bạn bè dưới bầu trời yên lành của Việt Nam Tổ quốc yêu quý của tôi

Có thê, bạn đã viết thư cho tôi trong cơn khát khủng khiếp, dưới tâm bạt

lớn của lều tị nạn ? Hãy cố gắng lên nhé, Xê-rê-na ! Trong những đêm lạnh giá

trứn hoang mạc, bạn có đủ chăn để đắp không ? Những lúc ây, tôi đang nằm trong chăn ấm, tôi ước giá tôi có thể bay đến bên bạn, ôm bạn vào lòng để sưởi âm cho bạn và nói với bạn rằng tôi yêu bạn biết bao Tôi khao khát được khám phá đất nước Pa-le-xtin của bạn - một thế giới khác hẳn với những gì tôi clang đưực thây và sông

Bạn và tôi, chúng ta đều là hai đứa trẻ nhỏ của hai dân tộc khác nhau, hai ru'n văn minh khác nhau Chúng ta chưa thể nói chuyện với nhau bằng thứ tiếng riêng của mỗi người, chúng ta chưa thể hoà mình vào văn hoá, phong tục của mỗi nước Nhưng chúng ta đều sống trên trái đất như bao con người khác Hành tinh này chính là ngôi nhà chung rộng lớn của chúng ta, phải không Xê-rê-na ? Và chúng ta rất yêu quý nhau bởi sự đồng cảm thiêng liêng của tình bạn - tình cảm mà tôi tin là đẹp nhât khi nó vượt qua những xung đột sắc tộc và xung đột quốc gia ác liệt đang xảy ra, vượt qua sự khác biệt về ngôn nj;ữ, tôn giáo

Thế kỉ XXI đã bắt đầu Ước mơ ây của tôi chưa trở thành hiện thực khi trên trái đất này vẫn có những người phải chịu thiệt thòi, đau khô như bạn Xê-rê-na ơi, bạn luôn mong muốn thế giới này hoà bình, tôi cũng vậy Thế kỉ XXI không chỉ là thế kỉ của sự phát triển thông tin, nó còn phải là thế kỉ của hoà bình Tôi và bạn, chúng ta sẽ góp sức cùng mọi người xây dựng một thế giới hoàn thiện hơn, không có chiến tranh và bạo lực Đê’ trẻ em không còn phải nơm nớp lo sợ tiếng súng Thế giới mới sẽ không còn súng và bom, không còn cái đói, cái khát, mọi trẻ em sẽ được no đủ, được học hành và phát triển Chúng ta sẽ có nhà, có gia đình đầy đủ, có chăn để đắp trong những nj;ày giá rét Chúng ta sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội để mọi

21

Trang 23

trẻ em trên trái đất này đều có điều kiện được gửi những lá thư cho rnhaui, tâm

sự, chia sẻ với nhau như chúng ta bây giờ phải không ? Đó chẳng ph.ải cĩũng là

ước mơ của bạn đó sao ? Vậy bạn hãy cố gắng tự tin vượt lên mọi khó khăin đen

tốì hôm nay, để một ngày mai, bạn cùng với cha anh mình mang lại m ột euộc sống hoà bình tràn đầy ước mơ và hi vọng cho đất nước thân yêu của Ibạn

Xê-rê-na, cảm ơn bạn đã viết thư cho tôi cảm ơn bạn đã cho tô i hi(ểu giá trị đích thực của ngôi nhà tôi đang sống, của giọt nước tôi đang uô'n;g, ciủa hạt cơm tôi đang ăn, mang đến cho tôi hạnh phúc và niềm tin vào ttương lai

cảm ơn vì bạn đã cầu nguyện hạnh phúc cho tôi mỗi tối và tôi cũrụg vậy, tôi cầu mong những điều may mắn sẽ đến với bạn, những ước mơ của chưng ta sớm trở thành hiện thực

Tôi tạm dừng bút ở đây Hi vọng bạn sẽ mỉm cười khi đọc bức thiư ciủa tôi, mong rằng nó sẽ mang đến cho bạn một niềm tin dù rất nhỏ nh oi và đừng quên rằng : Tôi yêu bạn vô cùng !"

Văn bản Tuyên bô' thê'giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phá t triển

của trẻ em được trích từ Tuyên bô' của Hội nghị cấp cao thế giới về tirẻ em họp

tại Liên hợp quốc ngày 30 - 9 - 1990, in trong cuốn Việt Nam và các vãn kiện

quốc t ế về quyền trẻ em (NXB Chính trị quốc gia - uỷ ban Bảo vệ và chă m sóc trẻ em Việt Nam, Hà Nội, 1997)

22

Trang 24

2 Tóm tắt :

Tuy chỉ là một trích đoạn nhưng bài viết này có thể coi là một văn bản khá hoàri chỉnh về hiện thực và tương lai của trẻ em cũng như những nhiệm vụ

cấp thiết mà cộng đồng quốc tế phải thực hiện nhằm đảm bảo cho trẻ em có

được một tương lai tươi sáng

Ngoài hai ý mở đầu, bài viết được chia thành ba phần rất rõ ràng :

Phần một (sự thách thức) : thực trạng cuộc sồng khôn khổ của rất nhiều trẻ em trên thế giới - những thách thức đặt ra với các nhà lãnh đạo chính trị.Phần hai (cơ hội) : những điều kiện thuận lợi đối với việc bảo vệ và phát triển cuộc sông, đảm bảo tương lai cho trẻ em

Phần ba (nhiệm vụ) : những nhiệm vụ cụ thể, cầp thiết cần thực hiện nhằm bảo vệ và cải thiện đời sông, vì tương lai của trẻ em

3 Cách đọc :

Nội đung văn bản là bài tuyên bố, vì vậy, cần chọn giọng đọc mạnh mẽ, đứt khoát, rành mạch để thể hiện vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu đối với quyổn cúa trẻ em

II - KIẾN THỨC C ơ BẢN

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy :

Trẻ em n h ư búp trên cành Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan.

Trẻ em là tương lai đất nước Suy rộng ra, sự vận động và phát triển của thế giới trong tương lai phụ thuộc râ't nhiều vào cuộc sống và sự phát triển của trò em hôm nay Càng ngày, vẫn đề đó càng được nhận thức rõ ràng hơn trôn phương diện quốc tế Năm 1990, Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em đã

được tổ chức Tại đó, các nhà lãnh đạo các nước đã đưa ra bản Tuyên bô' th ế

giới về s ự sôhg còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em Bài viết này

đã trích dẫn những ý cơ bản nhất của bản Tuyên bớ'đó.

Ngay trong phần mở đầu, bản Tuyên bô'đã khăng định những đặc điểm

cũng như những quyền lợi cơ bản của trẻ em Từ đó, các tác giả bắt vào mạch chính với những ý kiến hết sức cơ bản và lô gích

23

Trang 25

Trong phần thứ nhât, tác giả nêu ra hàng loạt vân đề có về thực trạng cũng như sự vi phạm nghiêm trọng quyền của trẻ em Đó là sự bóc lộit, đày đoạ một cách tàn nhẫn, là cuộc sông khốn khổ của trẻ em ở các nước rnghèo Trong hoàn cảnh ấy, những con sô" thông kê rất có sức nặng ("Mỗi ngíày, có hàng triệu trẻ em phải chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo và kíhủng hoảng kinh tế, của nạn đói, tình trạng vô gia cư, dịch bệnh ; Mỗi ngày có tới

40 000 trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật, ") Những con số biiết nói

ấy thực sự là lời cảnh báo đối với nhân loại.

Với nội dung như vậy nhưng các tác giả lại đặt tên cho phần này là Sự

thách thức Mới đọc, có cảm tưởng giữa đề mục và nội dung không thật ithống

nhất Tuy nhiên, đó lại là yếu tố liên kết giữa các phần trong văn bản nà'y Tác giả đã sử dụng phương pháp "đòn bẩy" : hiện thực càng được chỉ rõ bao nhiêu thì những vân đề đặt ra sau đó lại càng được quan tâm bây nhiêu

Trong phần tiếp theo, các tác giả trình bày những điều kiện thích hợp (hay những cơ hội) cho những hoạt động vì quyền của trẻ em Đó là những phương tiện và kiến thức, là sự hợp tác, nhất trí của cộng đồng thế giới cùng sự tăng trưỏng kinh tế, sự biến đổi của xã hội trong đó các tác giả nhấn mạnỉh đến nhân tô' con người Bằng những hoạt động tích cựG, con người hoàn toàn có thể làm chủ được tương lai của mình khi quan tâm thoả đáng đến các tthế hệ tương lai

Trong phần Nhiệm vụ, các tác giả nêu ra tám nhiệm vụ hết sức cơ b>ản và

cấp thiết Có thể tóm tắt lại như sau :

1 Tăng cường sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng của trẻ em

2 Quan tâm chăm sóc nhiều hơn đến trẻ em bị tàn tật, trẻ eưl có hoàn cảnh sống đặc biệt khó khăn

3 Đảm bảo quyền bình đẳng nam - nữ (đối xử bình đẳng với các ern Ịgái)

4 Bảo đảm cho trẻ em được học hết bậc giáo dục cơ sở

5 Cần nhân mạnh trách nhiệm kế hoạch hoá gia đình

6 Cần giúp trẻ em nhận thức được giá trị của bản thân

7 Bảo đảm sự tăng trưởng, phát triển đều đặn nền kinh tế

8 Cần có sự hợp tác quốc tế để thực hiện các nhiệm vụ cấp bách trên đậy.24

Trang 26

Vói những ý hết sức ngắn gọn, được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, bản

Tuyên b ố này không chỉ có ý nghĩa đối với mỗi người, mỗi thành viên trong

cộng đ5ng quốc tê mà còn có tác dung kêu gọi, tập hợp mọi người, mọi quôc gia cùr.g hành động vì cuộc sống và sự phát triển của trẻ em, vì tương lai của chính bài người

Ill - UẺN HỆ

1 3ản Công ướ<p^ về quyền trẻ em do Liên hợp quốc cùng với đại điện của

43 nưốc trên toàn thế giới tiến hành chuẩn bị và soạn thảo trong mười năm (1979 -1989) chính thức thông qua năm 1989, được nhiều quớc gia phê chuẩn.Công ước được Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức thông qua ngày

20 - n - 1990, theo Nghị định 44/25 Công ước có hiệu lực, được đưa vào Luật quốc té từ ngày 2 - 9 - 1990, khi đã có 20 nước phê chuẩn

Tính đến năm 2002, đã có 191 nước kí và phê chuẩn, tham gia

Viét Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới

phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (20 - 2 -1990).

2 Oông ước có thể hiểu là một hợp ước, mà nội đung của nó là sự thoả thuận

manịị tinh ràng buộc giữa các quôc gia Cũng có hiệp ước là sự thoả thuận song phưcíní;, còn Công ước về quyền trẻ em là hiệp ước nhiều bên Các nước tán thanh tham gia hiệp ước được gọi là quốc gia thành viên Khi trỏ' thành quớc gia thành nên của một hiệp ước, quốc gia đó cam kết đồng ý thực hiện mọi điều khoản io hiệp ước quy định, tức phải chấp hành mọi nghĩa vụ quy định trong hiệp ưòc Nghĩa vu của hiệp ước là một bộ phận của luật pháp quốc tê mà các nước ửam gia phải tôn trọng, nếu không chấp hành điều nào đó quy định trong hiộp ưcc, quốc gia đó được xem là đã vi phạm luật pháp quốc tế

Cé thê’ hiểu quyền là điều mà luật pháp truyền thống hoặc tự nhiên đành cho con người Ví dụ : pháp quỵền là những quyền được luật pháp công nhận

và báo vệ ; nhân quyền là những quyền cơ bản nhất mà con người có.

(l)Công ước nây không phải là văn kiện đầu tiên về quyền trẻ em Tuyên ngôn đầu tiên

về quyềi trê om dược Hội quốc liên thông qua vảo năm 1924 Năm 1959, Liên hợp quốc thông qua và n Tuyên ngôn lần thứ hai về quyền trẻ em Nhân việc Liên hợp quốc tuyên bố lây năm

1979 là lăm Quốc tế thiếu nhi, Ba Lan đưa ra đề nghị cần có một hiệp ước vể quyền con người của trẻ im, và sau mười năm chuẩn bị và hoàn thiện, Công ước về quyền trẻ em được chính thức thâìg qua vào n.ăm 1989.

25

Trang 27

3 Công ước quốc tế về quyền trẻ em là văn bản quốc tế đầu tiên đ ề cập đến quyền trẻ em theo hướng tiến bộ, bình đẳng và toàn diện, martfg tính pháp lí cao.

Nội dung Công ước quốc tế về quyền trẻ em gồm 54 điều khoản, thiể hiện tám nội dung cơ bản :

- Bốn nhóm quyền : Quyền được sống còn ; Quyền được bảo vệ ; Quyền được phát triển ; Quyền được tham giaẽ

- Ba nguyên tắc cơ bản : Trẻ em được xác định là tất cả những người diưới 18 tuổi; Tất cả các quyền và nghĩa vụ được nêu trong Công ước đều được áp cluing một cách bình đẩng cho tất cả trẻ em mà không có sự phân biệt đối xử ; Tất cả 1 những hoạt động được thực hiện đều cần phải tính đến các lợi ích tốt nhất của ữẻ em

- Một quá trình : Tất cả mọi người đều có trách nhiệm giúp Nhài nước thực hiện và theo dõi việc thực hiện Công ước^

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

(Trích Truyền k ì man luc - Nguyên Dữ)

I - GỢI DẪN

1 Tác giả :

Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), người huyện Trường Tâm, nay

là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, ]là thời

kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kicến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền bính, gây ra những cuộc nội chiến kéo <làùẽ Ông học rộng, tài cao, nhưng chỉ làm quan có một năm rồi xin nghỉ

2 Tác phẩm :

Tác phẩm nổi tiếng nhâ't của Nguyễn Dữ là Truyền kì mạn lục, g(ồm 20

truyện viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuô'i mỗi truyện tlhựờng

có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả

(1) Theo Quyền trẻ em, NXB Thế giới, Hả Nội, 2003.

26

Trang 28

Chuyện người con gái Ntìm Xương thể hiện niềm cảm thương của tác giả

đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi về dẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiếnẽ

" Về mặt nội dung, Truyền kì mạn lục chứa đựng nội dung phản ánh

hiện thực và giá trị nhân đạo sáu sắc Tác phẩm cũng đồng thời cho thây những phức tạp trong tư tưởng nhà văn

Nguyễn Dử phản ánh hiện thưc xã hội thời đại mình qua thể truyền kì

nên tác: giả thường lấy xưa để nói nay, lây cái kì để nói cái thựcẾ Đọc Truyền kì

mụn lục nếu biết bóc tách ra cái vỏ kì ảo sẽ thây cái cốt lõi hiện thực, phủi đi

lớp sương khói thời gian xưa cũ, sẽ thấy bộ mặt xã hội đương thời Đời sống

xã hội dưới ngòi bút truyền kì của nhà văn hiện lên khá toàn diện cuộc sống ngươi dân từ bộ máy nhả nước với quan tham lại nhũng đến những quan hệ với nền đạo đức đồi phong bại tuc

Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập trường đạo đức thì khi phản ánh số phận con người, ông lại xuất phát tự

lập trường nhân văn Chính vi vậy, Truvền kì mạn lục chứa đựng một nội

đung nhân đạo sâu sắc về phương điện này, Nguyễn Dử là một trong những nhà văn mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học trung đại Việt Nam

Truyền kì mạn luc phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận của

người phụ nử, đồng thời hướng tới những giải pháp xă hội, nhưng vẫn bế tắc

trên đường đi tìm hạnh phúc cho con người" (Từ điển vẫn học, NXB Thế giới,

Hà Nội, 2005)

3 Thể lo ạ i:

Truyện truyền kỉ là những truyện kì lạ được lưu truyền Truyền kì mạn luc của Nguyễn Dử lả sự ghi chép tán mạn về những truyện ấy Tác phẩm

đưỢt' viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian, các truyền thuyết

lịch sử, dã sử của Việt Nam NhAn vật chính trong Truyền kì mạn lục phần

lớn là những người phụ nữ đức hạnh nhưng lại bị các thế lực phong kiến, lễ giáo khắc nghiệt xô đẩy vào nhửng cảnh ngộ éo le, oan khuất Bên cạnh đó còn eó kiểu nhân vật là những người trí thức có tâm huyết nhưng bất mãn với thởi cuộc, không chịu trói mình vảo vòng danh lợi chật hẹp

4 Tóm t ắ t :

Câu chuyện kể về Vũ Thị Thiết - người con gái quê ở Nam Xương, tính tình nết na thuỳ mị Lây chồng là Trương Sinh chưa được bao lâu thì chàng

27

Trang 29

phải đi lính, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ Đô’ dỗ <con, nàng thường chỉ bóng mình trên tường và bảo đó là cha nó Khi Trương íSinh

về thì con đã biết nói Đứa bé ngây thơ kể với Trương Sinh về người đtậm cđêm vẫn đến nhà Trương Sinh sẵn có tính ghen, mắng nhiếc và đuổi vỢ c1i p^hẫn uất, Vũ Thị Thiết chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn Khi hiểu ra nỗi oan củéa vợ thì đã muộn, Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng

Cũng có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nưrơng nhảy xuống sông tự tử :

- Đoạn 1 (từ đầu đến "và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ") : bị chiồng nghi oan Vũ Nương tự vẫn

- Đoạn 2 (còn lại) : nỗi oan được giải, Vũ Nương được cứu sống I\h\ưng vẫn không trở về đoàn tụ cùng gia đình

5 Cách đọc :

Đọc chậm rãi, rõ ràng, đặc biệt lưu ý các câu đối th o ạ i:

- Giọng đứa trẻ : ngây thơ, hồn nhiên khi nói chuyện với bô'

- Giọng người chồng : tức giận khi ghen, nài nỉ, van xin khi hối hận

- Giọng Vũ Nương : khi bị chồng nghi oan thì đau khổ, khi trò chvuyện với Phan Lang thì ngậm ngùi nhưng khi từ chới đoàn tụ thì cương quyết

II - KIẾN THỨC C ơ BẢN

Có lẽ người Việt Nam chúng ta ai cũng biết về nỗi "oan Thị Kính" - một nỗi oan khuât mà người bị oan không có cách gì đê thanh minh Thị Kínhi chỉ được giải oan nhờ Đức Phật hay nói đúng hơn là nhờ tấm lòng bao đunỊg độ lượng, luôn hiểu thấu và sẵn sàng bênh vực cho những con người bé rnhỏ, thua thiệt, oan ức trong xã hội của những nghệ sĩ dân gian

Người phụ nữ trong Chuyện n gười con gái Nam Xương không có đượ<c cái

may mắn như Thị Kính măc dù nỗi oan của nàng cũng không kém gì, tíhậm chí kết cục còn bi thảm hơn Thị Kính được lên toà sen trong khi Vũ Nurơng phải tìm đến cái chết để chứng tỏ sự trong sạch của mình Mặc dù vậy, mhân vật này vẫn không được nhiều người biết đến, có lẽ bởi phương thức kể Ai cũng biết đến Thị Kính vì câu chuyện về nàng được thể hiện qua một vở chièo - một loại hình nghệ thuật dân gian quen thuộc, được nhân dân ưa thích từ xa xưa,

trong khi Chuyện n gười con gá i Nam Xương là một tác phẩm văn hợc viết

28

Trang 30

thời trung đại (trong điều kiện xã hội phong kiến, nhân dân lao động hầu hêt đều khOng biết chữ) Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta có thể hiểu thêm rất nliiều điều về thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nghệ thuật đựng truyện, dẫn dắt mạch truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng như cách thức kết hợp các phương thức tư sự, trử tình và kịch của tác giả.Trong phần đầu của truyện, trước khi biến cố lớn xảy ra, tác giả đã dành kha nhiều lời để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, từ nhan sắc cho đến đức hạnh Hầu như không có sự kiện nào thật đặc biệt ngoài những chi tiết (tiễn chổng đi lính, đối xử với mẹ chồng, ) chứng tỏ nàng là một người con gái đẹp người đẹp nết, một người vợ hiền, một người con dâu hiếu thảo Chỉ có một chi tiết ở đoạn mở đầu : "Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức" Bạn đọc có thể dễ bỏ qua chi tiết này vì với phẩm hạnh của nàng, dẫu Trương Sinh có đa nghi đến đâu cũng khó có thể xảy ra chuyện gì được.Nhưng đó lại là một chi tiết rất quan trọng, thể hiện tài kể chuyện của tác giả Chi tiết nhỏ được cài rất khéo đó chính là sợi dây nối giữa phần trước và phần sau, xâu chuỗi các yếu tô' trong truyện, đồng thời giúp bạn đọc hiểu đưực nội đung tư tưởng của tác phẩm.

Mạch truyện được đẫn rất tự nhiên Sau khi giặc tan, Trương Sinh trở về nhà, bế đứa con nhỏ ra thăm mộ mẹ Thằng bé quây khóc, khi Sinh đỗ dành thì nó nói : "Ô hay ! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít"

Thật chẳng khác gì một tiếng sét bất chợt Lời con trẻ vô tình đã thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng người đàn ông đa nghi (tác giả đã nói đến

từ đầu) Nếu coi đây là một vở kịch thì lời nói của đứa con chính là nút thắt,

mở ra mầu thuẫn đồng thời ngay lập tức đẩv mâu thuẫn lên cao Sau khi gạn hỏi Con, nghe thằng bé nói có một người đàn ông "đêm nào cũng đến, mẹ Đản

đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi " thì môi nghi ngờ của Sinh đối với vỢ đã đến mức không thể nào gờ ra được

Một lần nữa, chi tiết về tính hay ghen của Sinh phát huy tác dụng triệt để

Nó lí giải diễn biến câu chuyện, đồng thời giải đáp những thắc mắc của bạn đọc một cách hợp lí Tại sao Sinh không chịu nghe lời người vợ thanh minh ? Tại sao Sinh không nói cho vợ biết lí đo mình tức giận như th ế ? (Nếu Sinh nói

ra thì ngay lập tức câu chuyện sẽ sáng tỏ) Đó chính là hệ quả của tính đa nghi

29

Trang 31

Vì đa nghi nên Sinh không thể tỉnh táo suy xét mọi việc Cũng vì đa nglhi nên lời nói (dù rất mơ hồ) của một đứa bé cũng trở thành một bằng chứng "Ịkhông thể chối cãi" rằng vợ chàng đã ngoại tình khi chồng đi vắng Sự vô lí (đài trở nên hợp lí bởi sự kết hợp giữa hoàn cánh và tính cách nhân vật.

Không biết vì sao Sinh lại nghi oan nên người vợ không thể thanh minh

Để chứng tỏ sự trong sạch của mình, nàng chỉ có mỗi cách duy nhẩt lè tiự vẫn

Vợ Sinh chết mà mâu thuẫn kịch vẫn không được tháo gỡ, môi nghi ngờ trong lòng Sinh vẫn còn nguyên đó

Theo dõi mạch truyện từ đầu, bạn đọc tuy không một chút n^hii ngờ phẩm hạnh của người phụ nữ nhưng cũng không lí giải nổi chuyên g: đtã xảy

ra và vì sao đứa bé lại nói như vậy Đây cũng là một yếu tô" chứng tỏ nghệ thuật kể chuyện của tác giả Thủ pháp "đầu cuớì tương ứng" được vận (đụng Đứa trẻ ngây thơ là nguyên nhân dẫn đến bi kịch thì cũng chính mó trở thành nhân tô' tháo gỡ mâu thuẫn một cách tình cờ Sau khi vợ mất, niộit đêm kia, đứa trẻ lại nói :

Cha Đản lại đến kia kìa !

Chàng hỏi đâu Nó chỉ bóng chàng ở trên vách :

- Đây này !"

Mâu thuẫn được tháo gỡ cũng bất ngờ như khi nó phát sinh Dứì ttrẻ có biết đâu rằng, nó đã gây ra một sư hiểu lầm khủng khiếp để rồi khi nỊuíời bô'

hiểu ra, hôi hận thì đã quá muộn Ngay cả ban đọc cũng phải sững sờ sụí thật

giản đơn đến thế mà cũng đủ đẩy một con người vào cảnh tuyệt vọng

Ai là người có lỗi ? Đứa trẻ đương nhiên là không vì nó vẫn còn quái nhổ, chỉ biết thắc mắc vì những lời nói đùa của mẹ Vũ Nương cũng khổng có lồi vì nàng biết đâu rằng những lời nói đùa với con để vợi nỗi nhớ- chồng lạ g;ây ra hậu quả đến t h ế ! Tính đa nghi của Sinh đã không gây nên hậu quả >ấiu nếu như nó không được nuôi dưỡng trong một môi trường mà người phụ nữí luôn luôn phải nhận phần thua thiệt về mình Ý nghĩa này của tác phẩm hầm như không được tác giả trình bày tTực tiếp nhưng qua hệ thống các biến cố, sụí kiện được sắp xếp hợp lí, đưa bạn đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, tác g;iả đã thể hiện một cách tinh tế sự cảm thông sâu sắc của mình đô'i với nlữing sô' phận bất hạnh, đặc biệt là của người phu nữ trong xã hội phong kiến

30

Trang 32

Nêu câu chuyện dừng lại ỏ đáy thì có the cho rằng nó đã được sáng tạo theo một lốì viết khá mới mẻ và hiện đại Nhưng Nguyễn Dữ lại là người nổi tiếng với những câu chuyện truyén kì Hoang đường, kì ảo là những yếu tố khổng thể thiếu trong các sáng tác thuộc loại này Mặt khác, tuy là một tác giả của văn học viết trung đại nhưng hẳn Nguyễn Dữ cùng chịu ảnh hưởng ít nhiều tư tưởng "ơ hiền gặp lảnh" của nhân dân lao động Bản thân ông cũng luôn đứng về phía nhân dân, đặc biệt là những người phụ nữ có hoàn cảnh éo

le, số phận oan nghiệt trong xã hội cũ Bỏi vậy, tác giả đã tạo cho câu chuyện một lối kết thúc có hậu Tuy không được hoá Phật để rồi sống ở miền cực lạc như Thị Kính nhưng người phụ nử trong truyện cũng được thần rùa cứu thoát, tránh khỏi một cái chết thảm thương

Phần cuối truyện còn được cài thêm nhiều yếu tố kì ảo khác nữa Ví dụ

như chi tiết chàng Phan Lang trơ thảnh ân nhân của rùa, sau lại được rùa đền

ơn Trên đường chạy giặc, bị đắm thuyền, dạt lên đảo và được chính con rùa năm xưa cứu thoát Đó có thể coi là sự "đền ơn trả nghĩa" - những hành động rất phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân Việc người phụ nữ trở về gặp chồng nhưng không đồng ý trở lại chốn nhân gian có lẽ cũng nhằm khẳng định tư tưởng nhân nghĩa ây Mặc dù đã được cứu thoát, được giải oan nhưng

vì ]ời thề với Linh Phi, nàng quyết không vì hạnh phúc riêng mà bỏ qua tất cảẻ Nhửng chi tiết đó càng ch ling tỏ vẻ đẹp trong tính cách của Vũ Nương, đồng thời cững cho thấy thái độ ngưỡng mộ, ngợi ca của tác giả đối với người phụ nữ trong câu chuyện này nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung

31

Trang 33

chập chờn và mau chóng tan biến Chia li là vĩnh viễn, bởi người chết rồi khuông thể nào sống lại : "Trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà ìbiến

đi mâV Đấy cũng là nét đặc sắc trong truyện truyền kì của Nguyễn DCr mài các tác giả sau ông không thể vượt qua Áo ảnh đoàn tụ mau chóng biến mât chỉ còn lại một hiện thực đắng cay không ai muốn nhưng không chông lại đurợc : Trương Sinh sông trong cảnh "phòng không vắng vẻ ngồi buồn dưới ri.gọn đèn khuya" Đứa trẻ mồ côi, người chồng cô đơn

Có thể nói, với C huyện n g ư ờ i con gá i Nam Xương, Nguyễn Dữ đã vượt

khỏi những công thức thông thường về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì Vũ Nương không phải là hình tượng một trang liệt nữ, nàng ch ỉ là một người phụ nữ bình thường như bao người vợ, người mẹ khác trong đời thực Phản ánh số phận bi thương của nàng, Nguyễn Dữ đã đề cập tới Cíái bi

kịch muôn thuở của con người Có lẽ chính vì vậy mà Chuyện n g ư ờ i com gá i

Nam X ương vẫn còn sức hấp dẫn đôi với người đọc ngày nay".

NGUYỄN ĐĂNG NA

{Bình giảng Văn học 9, NXB Giáo dục, 1995)

2 "Truyện ngắn của Nguyễn Dữ, nhìn từ khía cạnh thi pháp, đã thể Ihiện được một sô' đặc trưng của thi pháp phương Đông Đó là sự hỗn hợp thể loại giữa văn xuôi với văn vần, sự pha trộn giữa yếu tố hiện thực với yêu tố kì ảo

Có thể nói, hiện thực trong C huyện n g ư ờ i con g á i Nam X ương là một thứ hiện

thực lung linh sương khói mờ ảo của cõi âm Đó cũng là việc sử dụng các yêu

tô hiện thực của cuộc sông, chính yếu tô' truyền kì này đã làm cho cõi âm gần gũi với cõi đương hơn, hay nói cách khác, cả cõi âm lẫn cõi dương đều là những khía cạnh khác nhau của cùng một cõi người Trên phương diện ngôn ngữ, lỗi văn biền ngẫu và việc sử dụng nhiều điển tích đã ỉàm cho không khí câu chuyện trở nên cổ kính hơn Kết câ'u xây dựng truyện từ thấp đến cao, theo kiểu văn "ba lan", hết đợt sóng này đến đợt sóng khác, đợt sau mạnh hơn đợt trước làm cho câu chuyện ngày càng trở nên hấp dẫn và cuối cùng, tuy kết thúc không đột ngột nhưng lại tạo ra được một sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc

Hãy quan tâm đến thân phận người phụ nữ, đến số phận của con người Hãy tôn vinh hạnh phúc và đừng làm bất cứ điều gì có thể làm huỷ hoại hạnh phúc đôi lứa và gia đình Và điều quan trọng hơn hết để có được hạnh phúc là32

Ngày đăng: 03/12/2015, 08:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w