Các sáng tác của nhà văn thuộc nhiều thể loại, tản văn thường mang chất suy ngẫm về thời đại, truyện ngắn là tiếng nói về nhiều mặt thực tế xã hội và con người, tiểu thuyết đa diện trong
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
V ẤN ĐỀ SỐNG CHẾT TRONG
TI ỂU THUYẾT SỐNG CỦA DƯ HOA
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Người viết luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn:
- Thầy hướng dẫn, TS Nguyễn Đình Phức
- Các thầy cô tổ Văn học Nước ngoài, phòng Sau đại học trường Đại học Sư Phạm TPHCM
- Ban giám hiệu trường THPT Xuân Thọ, Sở GD & Đào tạo tỉnh Đồng Nai, Sở Khoa
Học và Công Nghệ tỉnh Đồng Nai
- Gia đình và bạn bè
đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình góp ý, giúp đỡ, động viên cho tác giả trong suốt thời gian
học tập và hoàn thành luận văn này
TPHCM, Ngày tháng 09 năm 2013 Người viết luận văn
Lê Thị Tố Nga
Lớp Cao học VHNN khóa 22
Trang 5MỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
D ẪN NHẬP 5
1 Lý do ch ọn đề tài 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3 L ịch sử vấn đề 6
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 M ục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 12
6 B ố cục của luận văn 13
CHƯƠNG 1: DƯ HOA VÀ TIỂU THUYẾT SỐNG 15
1.1 Dư Hoa với bối cảnh của thời đại 15
1.1.1 Nhà văn phái tiên phong 15
1.1.2 Chặng đường văn chương 20
1.2 S ống trong thành tựu văn học của Dư Hoa 27
1.2.1 Đóng góp về phương diện nội dung 27
1.2.2 Đổi mới nghệ thuật 30
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GÓC NHÌN VỀ SỐNG CHẾT TRONG TIỂU THUYẾT S ỐNG 33
2.1 S ống chết từ góc nhìn triết học 33
2.1.1 Triết học Đông Tây trong quan niệm sống chết 33
2.1.2 Nhân sinh quan sống chết trong tác phẩm 38
2.2 S ống chết từ góc nhìn lịch sử 49
2.2.1 Từ hiện thực đến tác phẩm 49
2.2.2 Hiện thực lịch sử thể hiện vấn đề sống chết trong Sống 51
2.3 S ống chết từ góc nhìn thẩm mĩ 54
2.3.1 Sống chết theo quan niệm của mĩ học 54
2.3.2 Thông điệp thẩm mĩ từ vấn đề sống chết của Dư Hoa 57
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG 63
3.1 Phương thức tự sự 63
3.1.1 Không gian 63
Trang 63.1.3 Điểm nhìn tự sự 80
3.1.4 Giọng điệu tự sự 84
3.2 Môtip cái ch ết 90
K ẾT LUẬN 97
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 99
PH Ụ LỤC 104
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lý do ch ọn đề tài
Dư Hoa là nhà văn xuất sắc trong văn học đương đại Trung Quốc Tác giả luôn được
xem là nhà văn tiêu biểu thuộc phái tiên phong, một trong những trào lưu tiểu thuyết có ảnh
hưởng khá lớn trong văn học Trung Quốc những năm 80 của thế kỉ XX Các sáng tác của nhà văn thuộc nhiều thể loại, tản văn thường mang chất suy ngẫm về thời đại, truyện ngắn là
tiếng nói về nhiều mặt thực tế xã hội và con người, tiểu thuyết đa diện trong cách nhìn văn hóa dân tộc Trong bốn tiểu thuyết được dịch và xuất bản đến thời điểm này ở Việt Nam,
S ống là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách tiểu thuyết cũng như sự đổi mới của Dư Hoa,
cũng là tác phẩm thu được nhiều thành công nhất, giúp Dư Hoa xác định vị trí của mình trên văn đàn Trung Quốc và thế giới
S ống viết về sức mạnh sinh tồn của con người trong những hoàn cảnh vô cùng khắc
nghiệt Tác phẩm thể hiện quan niệm về vấn đề sống chết Sống chết ở đây không đơn thuần như nghĩa vốn có mà mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Cũng như lời tác giả từng phát biểu trong lời nói đầu của cuốn sách: “Con người ta vì bản thân sự sống mà sống, chứ không
ph ải sống vì bất cứ sự vật nào ngoài sự sống”
Phong cách sáng tác của Dư Hoa hiện đại, giản dị, trong sáng đáng lưu ý nhất là
phương thức tự sự trong truyện ngắn, tiểu thuyết Phương thức tự sự trong Sống truyền
thống mà hiện đại, dân dã mà lạnh lùng, nhằm chuyển tải thông điệp tác giả muốn gửi gắm trong sáng tác Thế nên qua phương thức tự sự để thể hiện quan niệm về vấn đề sống chết,
khẳng định được nét riêng trong cách viết tiểu thuyết của nhà văn
Tìm hiểu về Sống để tìm đến những giá trị thẩm mĩ, nhân văn của con người trong
cuộc sống và đến được với một nhà văn tiêu biểu, được đánh giá cao trong văn học đương đại Trung Quốc Nghiên cứu về vấn đề sống chết và phương thức thể hiện quan niệm này
trong S ống, người viết muốn góp thêm một góc nhìn về tác phẩm và nhà văn Dư Hoa
Xuất phát từ những lý do trên, kết hợp thực tế những vấn đề liên quan đến tiểu thuyết
S ống của Dư Hoa hoàn toàn chưa được nghiên cứu một cách có quy mô, quan tâm đúng
mức hay đạt những thành tựu nhất định tại Việt Nam Chúng tôi trên cơ sở tham khảo
những thành tựu có liên quan của các học giả đi trước, bao gồm cả các học giả trong nước
và thế giới, từ đó muốn đóng góp một hướng tiếp cận liên quan đến tác phẩm Sống Đó là lý
do chúng tôi thực hiện đề tài Vấn đề sống chết trong tiểu thuyết Sống của Dư Hoa
Trang 82 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Vấn đề sống chết trong tiểu thuyết Sống của Dư Hoa, chúng tôi tiến
hành khảo sát tác phẩm Sống dựa vào bản dịch của Vũ Công Hoan (Nxb Văn học, 2002) có đối chiếu với nguyên tác Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đối chiếu Sống với một số tác phẩm
khác của Dư Hoa để có cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết của nhà văn này
Đề tài chủ yếu tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Đầu tiên chúng tôi quan tâm đến phong cách sáng tác của Dư Hoa với nhiều đổi mới
về quan điểm nội dung và nghệ thuật trong Sống đối chiếu với các giai đoạn trước đó Đồng
thời quan tâm đến các góc nhìn khác nhau soi chiếu đến vấn đề sống chết trong Sống tập trung
ở triết học, lịch sử, thẩm mĩ
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành khảo sát phương thức vận dụng các thủ pháp nghệ thuật quan trọng để xem xét sự ảnh hưởng đến quan điểm nhân sinh thể hiện trong Sống
Phương diện khảo sát liên quan đến tự sự học và môtip cái chết, chỉ ra được mối liên hệ của
nó với vấn đề sinh tử trong tác phẩm
3 Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết của Dư Hoa lôi cuốn độc giả bởi những triết lý sâu sắc, những phân tích
sắc bén bản thể đời sống và nội tâm con người được chuyển tải trong những kĩ thuật viết
hiện đại, phương thức tự sự độc đáo mang phong cách riêng của nhà văn tiên phong Vì vậy,
tiểu thuyết của ông đã trở thành một mảnh đất thu hút giới nghiên cứu phê bình Đề tài của các công trình nghiên cứu về Dư Hoa khá phong phú: vấn đề phong cách, vấn đề thể loại, ngôn ngữ, hình tượng nhân vật, phương thức tự sự liên quan đến giọng điệu, không gian,
thời gian, điểm nhìn, ngôi tự thuật,…
Nhà văn Dư Hoa và các tác phẩm của ông được đánh giá cao trên văn đàn văn học đương đại Trung Quốc và thế giới Nhưng tại Việt Nam, nghiên cứu về Dư Hoa chỉ dừng ở
mức độ giới thiệu sơ lược chưa tìm thấy luận văn nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu tiểu thuyết Sống về nội dung và phương thức tự sự Sau đây người viết sẽ đưa ra những bài viết
có liên quan đến đề tài chủ yếu đăng trên tạp chí, báo và một vài trang web đáng tin cậy ở
Việt Nam và Trung Quốc
Việc tổ chức dịch và in bốn tiểu thuyết của Dư Hoa từ năm 2002 đến năm 2009 phần nào cho thấy sự quan tâm của các nhà phê bình và công chúng đối với tác phẩm của Dư
Trang 9Hoa Tuy nhiên, do các tác phẩm của Dư Hoa xuất hiện ở Việt Nam khá muộn (Sống được
ấn hành năm 2002; Chuyện Hứa Tam Quan bán máu ấn hành năm 2006, Gào thét trong
mưa bụi được ấn hành năm 2008 và Huynh đệ (hai tập) được ấn hành năm 2009) nên số
lượng công trình nghiên cứu về tác phẩm của ông còn khá khiêm tốn
Ngoài lời bạt của dịch giả Vũ Công Hoan trong tiểu thuyết Sống Nxb Văn học 2002
chỉ mới giới thiệu sơ lược Dư Hoa, kể tên tác phẩm tiêu biểu, một vài đánh giá cao của các nhà phê bình Trung Quốc về tác giả, các giải thưởng của tiểu thuyết Sống Có thể kể đến
những công trình nghiên cứu sau: Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự của Dư Hoa qua tiểu
nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Huynh đệ và đã đưa ra được những nhận xét mang tính
khái quát về nghệ thuật tự sự của Dư Hoa Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự của Dư Hoa
Thị Khu nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu về các
phương diện người tự sự, điểm nhìn, nhân vật, không gian, thời gian; từ góc nhìn tự sự học khám phá những đặc sắc nghệ thuật tự sự và giá trị nội dung tư tưởng trong sáng tác Dư Hoa
Bên cạnh đó, có một số bài viết có liên quan đến Dư Hoa và các tác phẩm của ông
được đăng rải rác trên các tạp chí Bài viết Tiểu thuyết tiên phong Trung Quốc: ra đời, nở
chung về phái tiên phong trong văn học Trung Quốc, đề cập đến khái niệm, tác giả, sự vận động, thành tựu Trong đó tác giả có đề cập đến Dư Hoa như một nhà văn tiên phong tiêu
biểu Bài Bàn về diễn tiến các trào lưu tiểu thuyết Trung Quốc hai mươi năm qua, (Tạp
chí Văn học năm 2003) của Đinh Phàm, Hà Ngôn Hồng nêu lên các trào lưu văn học từ năm
1976 đến những năm cuối thế kỉ XX Bài viết đã có cái nhìn bao quát chung đối với văn học
đương đại Trung Quốc, đặc biệt đưa ra những nhận xét quan trong đối với trào lưu Văn học
tiên phong ( ở đây tác giả gọi tên là Văn học thực nghiệm) Bài viết Cuộc đời có thể khóc
của Nguyễn Ngọc Thuần (báo Tuổi Trẻ thứ hai ngày 10/3/2003) nêu sự cảm động của tác
giả do tác phẩm Sống mang lại Bài viết Vì bản thân sự sống mà sống của Ngô Ngọc Ngũ
Long (báo Sài Gòn Gi ải Phóng ngày 23/3/2003), phần lớn kể lại nội dung tiểu thuyết Sống,
khẳng định sức sống mãnh liệt của nhân vật, có liên hệ với phim Sống do Trương Nghệ
Mưu đạo diễn Bài viết Lệ rơi trên Sống của Phan Thanh Lệ Hằng (báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật
ra ngày 30/3/2003) đề cập đến nỗi đau của nhân vật Từ Phú Quý Tác giả bày tỏ sự đồng
Trang 10cảm về tình yêu thương, số phận con người Bài Lòng cứ đau đớn mãi của Tâm Thơ (báo
Phụ nữ Chủ Nhật, số 12 ngày 30/3/2003), nói về khả năng chịu đựng và cách sống cao
thượng của con người, khẳng định tài năng Dư Hoa và sự cảm động sâu sắc của người đọc
Trên một số trang mạng có đăng tải vài bài cảm nhận liên quan đến tiểu thuyết Dư Hoa
http://vietbao.vn/Van-hoa/Huynh-de-Cuon-tieu-thuyet-lam-xon-xao-Trung
Quoc/70021718/181/ với bài Huynh đệ - cuốn tiểu thuyết làm xôn xao Trung Quốc, Phó
Thiên Tùng (8/2005) Bài trích phỏng vấn của một tạp chí Trung Quốc dành cho Dư Hoa về tác phẩm Huynh đệ
http://vietbao.vn/Van-hoa/Nguoi-Phai-song-ke-chuyen-Huynh-de/70048973/181/
đăng bài Người Phải sống kể chuyện Huynh đệ của Cát Yên (5/2006) Tác giả giới thiệu
sơ lược về tiểu thuyết và thành công của nó ở Trung Quốc
http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/chuyen-hua-tam-quan-ban-mau-chuyen-nguoi-ban-to-tong-1974099.html đăng bài Chuyện Hứa Tam Quan bán máu,
những trang sách của Dư Hoa và giới thiệu ngắn gọn, khái quát nghệ thuật tự sự trong tác
phẩm này
rac-ruoi-2141070.html có bài Huynh đệ - tác phẩm lớn hay là thứ rác rưởi? của David
http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/huynh-de-tac-pham-lon-hay-la-thu-Barboza do Hà Linh dịch (9/2006) Bài viết tổng hợp hai luồng ý kiến khác nhau về Huynh
đệ, một bên cho rằng đó là tác phẩm dung tục, nhiều người khác lại tán dương Tác giả nêu
khái quát chặng đường sáng tác của Dư Hoa và phong cách tiểu thuyết Huynh đệ
http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/khoc-trong-mua-bui-cuon-sach-dam-nuoc-mat-cua-du-hoa-2139511.html đăng bài Khóc trong mưa bụi - Cuốn sách đẫm
nước mắt của Dư Hoa của H.T (12/2007), nêu lên những cảm nhận khá sâu sắc về nội
dung của cuốn tiểu thuyết đầu tay này
Trang web http://www.dichthuat.com/vuconghoan có phần dịch của Vũ Công Hoan
về lời nói đầu của tác giả Dư Hoa trong Sống xuất bản tại Trung Quốc, tác giả nêu lên một vài quan điểm thể hiện trong Sống và lý do viết Sống Trang web
http://yume.vn/quocty308/article/song-du-hoa có bài viết kể tóm tắt truyện Sống và một vài
cảm nhận riêng về Sống
Trang 11Nhìn chung các bài nghiên cứu tại Việt Nam chưa thực sự có hệ thống, đồng bộ về các tác phẩm Dư Hoa Các bài phần lớn có liên quan đến tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam
Quan bán máu và Huynh đệ, còn mảng nghiên cứu Sống còn đang bỏ ngỏ, rất cần được
quan tâm, khai thác
Dư Hoa trong trào lưu tiên phong, Hình Kiến Xương, Lỗ Văn Trung, Nxb Hoa Hạ,
1/3/2000 Nghiên cứu đã chỉ ra lịch sử xuất hiện của Dư Hoa trong trào lưu van học tiên phong, phân tích góc nhìn về toàn bộ bức tranh nhân sinh u tối và tìm kiếm cảm giác chân
thực thế giới của nhà văn
Dư Hoa tiên phong của Từ Nhân Sinh viết, Nxb Văn nghệ Chiết Giang, 1/2/2003
Tác giả “dựa vào nhiều quan điểm sáng tác của Dư Hoa 5 năm qua, công bố nhiều tài liệu
và tình hình nhân sinh”, kh ẳng định “trên cơ sở nền tảng của sự thật, dự đoán Dư Hoa sẽ
đạt được giải Nobel văn học”
miêu tả chi tiết cuộc sống kết hợp quá trình sáng tác của Dư Hoa, cung cấp cái nhìn sâu sắc
độc đáo những đặc trưng tư tưởng thể hiện trong phần lớn tác phẩm
Dư Hoa: hướng về sinh tử, Vương Thế Thành viết, Nxb Nhân dân Thượng Hải,
1/11/2005 Sách cho rằng những năm 80 của thế kỉ XX Dư Hoa đã có được nền tảng đầy đủ quan sát thế giới, cái nhìn sắc sảo cuộc sống giống như người bác sĩ tỉnh táo và bình tĩnh dùng dao phẫu thuật, kiên định chạm vào sự thật như mở bung bộ quần áo đẹp cho đến khi
nó lộ ra những gì còn ẩn giấu
Tư liệu nghiên cứu Dư Hoa, Ngô Nghĩa Cần, Vương Kim Thắng, Hồ Kiện Linh
biên tập, Nxb Văn hóa Sơn Đông, 1/5/2006 Sách viết “tổng hợp tư liệu nghiên cứu văn học
Trung Qu ốc thời kì mới” trong một cuốn, kết hợp với cuộc đời và sáng tác của Dư Hoa,
đồng thời còn tiếp thu nghiên cứu của các nhà bình luận văn học nổi tiếng Toàn bộ cuốn sách tập trung có hệ thống tư liệu, tính khoa học của học thuật, tính đa nguyên quan điểm,
uy tín chọn lọc thành một khối, thể hiện phong cách của Dư Hoa
Dư Hoa nha sĩ – xem lại Huynh đệ của Dư Hoa, Nhân Nghĩa Vĩ, Hứa Minh
Phương, Hà Ái Anh chủ biên, Nxb Đồng Tâm, tháng 6/2006 Cuốn sách phân tích có hệ
thống Huynh đệ, Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Gào thét trong mưa bụi, Mười tám
tu ổi ra khỏi nhà đi xa, Một loại hiện thực là những tác phẩm quan trọng, biểu hiện cùng
Trang 12hình thái xã hội và bản chất tinh thần, lời khuyên và đánh giá chân thành với phong cách độc đáo của bút kí và tản văn
Chúng tôi chỉ mới thống kê được những cuốn sách nghiên cứu về Dư Hoa tại Trung
Quốc, chứ chưa được tiếp cận văn bản, nhiều vấn đề chưa bao quát được do điều kiện còn
hạn chế Phần khảo sát, tham khảo chúng tôi chủ yếu lấy từ các bài đăng trên tạp chí dưới đây:
Danh tác thường thức, kì 23 năm 2010) Bài viết chỉ ra từ những năm 90 trở đi chủ đề trong sáng tác Dư Hoa không còn là máu me, bạo lực mà chuyển sang tình cảm xót thương, hư
cấu chân thực, đau khổ Tác giả đưa ra nhiều nhận xét xác đáng về ba tiểu thuyết Gào thét
trong mưa bụi, Sống và Chuyện Hứa Tam Quan bán máu
Thanh niên, kì 12 năm 2010) Bài này chủ yếu từ góc độ nhân sinh phân tích Sống của Dư
Hoa, do đó phát hiện Dư Hoa có thái độ đồng cảm khi viết về đời sống gian khổ của nhân
vật Phú Quý
văn học Đại học Sư phạm Giang Tây, kì 6 năm 2010) Tác giả nêu lên những đặc điểm quan
trọng trong nghệ thuật tiên phong của Dư Hoa bằng hàng loạt tác phẩm; sự thay đổi về quan điểm nghệ thuật
KHXHNV, kì 9 năm 2010) Tác giả nêu lên cảm nhận riêng của mình sau khi đọc Sống vào
những thời điểm khác nhau Thông qua phong cách tự thuật tiểu thuyết Sống của Dư Hoa đã phân tích mặt sau giọng văn tự thuật lạnh lùng là khai thác tình thương, ôm ấp tình cảm với nhân thế và quan tâm sâu sắc số phận con người
Ảnh hưởng của văn học nước ngoài trong sáng tác Dư Hoa, Tam Gia Lỗi (Tạp
chí Học viện Hoài Bắc, kì 4 năm 2010) Bài viết khái quát những chuyển hướng của Dư
Hoa từ sau thập niên 90 thế kỉ XX, từ tự thuật với chủ đề bạo lực và máu me, ngôn ngữ đảo điên, thách thức cơ quan cảm giác và thị giác của độc giả sang tả thực Nhìn tổng quát sáng tác của Dư Hoa thì nhà văn chịu ảnh hưởng phương thức sáng tác và lí luận của các tác giả nước ngoài rất lớn
(Tạp chí Văn học Bắc Phương, kì 6 năm 2011) Bài viết đã so sánh kĩ lưỡng những khác
Trang 13biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và phim Sống, các phương diện được liệt kê đầy đủ với góc
nhìn khá toàn diện
luận điện ảnh, kì 15 năm 2011) Bài viết nêu ra khá chi tiết các phương diện khác nhau gồm: góc độ tự thuật; hoàn cảnh sống và phương thức mưu sinh; bối cảnh thời đại; tình tiết và vận
mệnh nhân vật; yếu tố hài hước
Xuân, kì 9 năm 2011) Bài viết khẳng định tiểu thuyết có nội hàm tư tưởng phong phú, phản ánh sâu sắc lịch sử, đạt được sự khẳng định và yêu mến của độc giả Nhân vật chính Phú Quý số phận cuộc đời nhiều gian khổ nhân sinh tạo thành con người từng trải Phân tích
S ống để thấy hiện thực xã hội, bối cảnh lịch sử từng giai đoạn bấy giờ và sự mong manh của
bản chất sinh mệnh
đẳng dạy nghề Hà Nam, kì 5 năm 2011) Bài viết đã khái quát kiến thức chung về tự sự học
có liên quan, khẳng định kết cấu tự sự trong tác phẩm Dư Hoa có điểm vượt trội, đó chính là phương thức lặp lại Tác giả còn đưa ra lí giải của mình về nguyên nhân hình thành nên đặc điểm này
Cát (Tạp chí trường Sư phạm cao đẳng dạy nghề Tư Mao, kì 4 năm 2011) Tác giả đã khẳng
định Sống là tác phẩm cột mốc của Dư Hoa Chủ đề thể hiện trong tiểu thuyết là cái chết và
gian khổ So với hình thức bạo lực, máu me trước đây, cái chết trong Sống liên tiếp nhau, ít
tàn ác, phẫn nộ nhưng nhiều bi thương và khoan dung Như thế cái chết như ánh sáng yếu ớt
ở vùng tối làm cho vững chắc số mệnh nhỏ bé, tác phẩm trở nên có cảm xúc và sức nặng
học viện Đức Châu – kì 1 năm 2011) Tác giả cho rằng Phú Quý là nhân vật điển hình của
tầng lớp nông dân gặp khổ nạn; nghiên cứu ý thức sinh mệnh và phương thức nhân vật đối
mặt với vận mệnh gian khổ
Có thể thấy rõ, việc nghiên cứu Sống ở Việt Nam nhìn từ góc độ học thuật vẫn chưa
hoàn toàn khởi sắc, những bài viết đã công bố phần nhiều dừng lại ở mức độ giới thiệu Riêng các bài viết của các học giả Trung Quốc mà chúng tôi đã tiếp cận, vấn đề nghiên cứu đặt ra đa dạng và sâu hơn Thế nhưng, do trình độ có hạn, đặc biệt khó khăn của cá nhân trong việc đọc văn bản Trung văn, hiện chúng tôi vẫn chưa thể tiếp cận toàn bộ thành tựu
Trang 14nghiên cứu của các học giả Trung Quốc có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của
luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của đề tài, chúng tôi đã vận dụng
những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này cần thiết để chúng tôi làm rõ
vấn đề nội dung và nghệ thuật tác phẩm Sử dụng phương pháp phân tích để thấy được cách
thức tác giả vận dụng và thông điệp hướng đến Tổng hợp để có cái nhìn chung, thống nhất các đối tượng Phân tích – tổng hợp hỗ trợ lẫn nhau khi nghiên cứu đề tài
Phương pháp văn hóa – lịch sử: Vì Sống chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa, lịch sử
Trung Quốc (cuộc nội chiến, Công xã nhân dân, Đại nhảy vọt, Cách mạng văn hóa, đời sống tinh thần của nông dân Trung Quốc suốt nhiều thập kỉ đầy biến động) nên việc tìm hiểu tác
phẩm dựa vào phương pháp văn hóa – lịch sử là cần thiết Qua đó, chúng tôi sẽ chỉ ra sự soi chiếu và tương tác giữa lịch sử thời đại và lịch sử trong tác phẩm như một góc nhìn quan
trọng trong Sống và mối liên hệ với nội dung chủ đề tác phẩm
Phương pháp loại hình: Phương thức tự sự trong Sống của Dư Hoa mang những nét
đặc thù riêng thuộc phương thức tự sự của thể loại tiểu thuyết
Phương pháp phê bình tiểu sử: Phương pháp giúp chúng tôi có cái nhìn cụ thể hơn về
những tác động từ cuộc đời lên sáng tác của nhà văn
Phương pháp so sánh: Vì vấn đề sống chết là một chủ đề xuyên suốt trong sáng tác
của Dư Hoa nên khi nghiên cứu đề tài Vấn đề Sống chết trong tiểu thuyết Sống của Dư
chúng tôi cũng so sánh sống chết trong tác phẩm với một số tác phẩm của các nhà văn khác Phương pháp này góp phần làm rõ về chặng đường sáng tác của Dư Hoa cũng như về tiểu thuyết Sống
5 M ục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, người viết hướng đến những mục đích sau:
- Giới thiệu về tác giả Dư Hoa ở chặng đường văn chương và phong cách sáng tác tiêu biểu
- Tìm hiểu vấn đề tiểu thuyết Sống nêu ra cụ thể là soi chiếu những góc nhìn có liên
quan đến sống và chết để thẩm thấu được thông điệp nhân sinh của tác phẩm
Trang 15- Tìm hiểu phương thức thể hiện quan niệm để xác định nghệ thuật tiểu thuyết độc đáo, mang phong cách Dư Hoa
Nếu luận văn đạt được mục đích trên thì có thể xem như đóng góp của công trình nghiên cứu Bên cạnh đó, chúng tôi cũng mong muốn luận văn có thể góp phần, tuy nhỏ, vào việc nghiên cứu Dư Hoa ở Việt Nam, vốn còn chưa toàn diện và chủ yếu tập trung vào nghệ thuật tự sự trong các tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu và Huynh đệ Đóng
góp về việc tìm hiểu về nhà văn Dư Hoa và tiểu thuyết Sống trong khi nhà văn này còn rất ít
được nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn sẽ cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu về tác giả văn
học đương đại Trung Quốc và góp phần lý giải thành tựu của Dư Hoa thông qua tác phẩm
S ống
6 B ố cục của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm
ba chương chính:
Chương 1 - DƯ HOA VÀ TIỂU THUYẾT SỐNG
1.1 Dư Hoa và bối cảnh của thời đại
1.2 Sống trong thành tựu văn học của Dư Hoa
Chương này, người viết sẽ trình bày về bối cảnh thời đại văn học của Dư Hoa Tác giả thuộc thế hệ nhà văn tiên phong thế hệ thứ hai, có nhiều đổi mới trong kĩ thuật sáng tác do
học hỏi nhiều nhà văn lớn trong nước và thế giới Đến thời điểm này, có thể chia chặng đường sáng tác của Dư Hoa thành ba chặng, ở mỗi giai đoạn đều khẳng định được nét phong cách riêng Tìm hiểu quan niệm về vấn đề sống chết được thể hiện trong các tiểu thuyết của ông như thế nào, có thay đổi qua thời gian hay không Ở đây, người viết cố gắng liên hệ với các tiểu thuyết chung đề tài của dòng văn học tiên phong
Tiểu thuyết Sống xuất bản năm 1992, tiêu biểu cho chặng thứ hai trong sáng tác, đạt
nhiều giải thưởng và còn được dựng thành phim cùng tên khá thành công Khảo sát những đổi mới về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
Chương 2 - MỘT SỐ GÓC NHÌN VỀ SỐNG CHẾT TRONG TIỂU THUYẾT
S ỐNG
2.1 Sống chết từ góc nhìn triết học
2.2 Sống chết từ góc nhìn lịch sử
Trang 162.3 Sống chết từ góc nhìn thẩm mĩ
Luận giải về quan niệm sống chết dưới góc nhìn của Dư Hoa để thấy được tác giả có cái nhìn toàn diện, có nét riêng khi xem xét sự sống chết Đồng thời chỉ ra những luận điểm, thông điệp tác giả gửi gắm thông qua trang viết Dư Hoa nhìn nhận về sống chết có
tiếp thu quan niệm của văn hóa phương Đông như Phật giáo, triết học Lão Trang Hình tượng nhân vật trong tác phẩm trải dài theo 40 năm biến động của lịch sử Trung Quốc (nội chiến, trong và sau cách mạng văn hóa), thân phận con người đi theo dòng chảy lịch sử Khi người ta trải nghiệm quá nhiều về sống chết thì cái nhìn nhân văn, thẩm mĩ về nó được đặt
ra Sống chết mang đậm tính triết lí và vẻ đẹp nhân sinh
Chương 3 - PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT TRONG
TIỂU THUYẾT SỐNG
3.1 Phương thức tự sự
3.2 Môtip cái chết
Chương này tập trung vào thủ pháp nghệ thuật tác giả xây dựng nên quan niệm sống
chết thông qua phương thức tự sự của tiểu thuyết như không – thời gian, điểm nhìn, giọng điệu và môtip cái chết Dư Hoa đã tiếp thu văn chương truyền thống và cả sự hiện đại của văn học phương Tây để tạo nên phong cách độc đáo Người viết tìm hiểu về sự kết hợp đa điểm nhìn, không – thời gian đặc trưng, dụng ý lặp lại cái chết, và giọng điệu để xác định vai trò nghệ thuật tác động vào quan niệm về sống chết
Trang 17CHƯƠNG 1: DƯ HOA VÀ TIỂU THUYẾT SỐNG
1.1 Dư Hoa với bối cảnh của thời đại
Dư Hoa là một trong những cây bút quan trọng của nền văn học Trung Quốc đương đại Nhà văn không chỉ nổi tiếng trong nước mà được biết đến ở nhiều quốc gia trên thế
giới Ông được đánh giá cao với nhiều đóng góp trong sáng tác Dư Hoa sinh ngày 03 - 04 -
1960 tại Sơn Đông, sau cùng cha mẹ chuyển tới huyện Hải Diêm, tỉnh Chiết Giang, Trung
Quốc
Dư Hoa từng là bác sĩ nha khoa, nhà sưu tầm văn học dân gian, và đã qua lớp nghiên cứu sinh do Viện Văn học Lỗ Tấn và Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh phối hợp tổ chức Tác phẩm của Dư Hoa được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản tại nhiều nước như
Mỹ, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Thụy Điển, Hy Lạp, Na Uy, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn
Độ và Việt Nam Tác phẩm chính có: Gào thét trong mưa bụi, Sống, Chuyện Hứa Tam
Quan bán máu, Huynh đệ, Tình yêu cổ điển, Cậu bé trong hoàng hôn, Mười tám tuổi ra
kh ỏi nhà đi xa, Lỗi lầm ven sông, Năm 1986, Sự kiện ngày 3 tháng 4, Trong đó các tác
phẩm Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Gào thét trong mưa bụi, Huynh đệ (hai tập),
tập truyện ngắn Tình yêu cổ điển đều được dịch giả Vũ Công Hoan chuyển ngữ sang tiếng
Việt
Dư Hoa là nhà văn thuộc thế hệ thứ hai của phái tiên phong trong văn học đương đại
Trung Quốc Nói đến văn học tiên phong là nói đến một trào lưu văn học khá tiêu biểu hình
thành trong chặng đường phát triển của nền văn học Trung Quốc sau nhiều chấn thương từ
cách m ạng Văn hóa Trong dòng chảy văn học đang diễn ra gồm nhiều trường phái, trào lưu
thì phái tiên phong đã có tiếng nói riêng, đạt được nhiều thành tựu về cả nội dung lẫn nghệ thuật
Sau cách m ạng văn hóa (1966 - 1976), Trung Quốc bước vào thời kì cải cách mở
cửa Từ khi các nhà văn Trung Quốc có điều kiện sáng tác phù hợp, được tiếp thu các luồng văn hóa khác nhau, học hỏi, sáng tạo, văn học Trung Quốc đã mang diện mạo mới Nhà nghiên cứu Trương Quýnh đã nhận xét: “từ thập niên 80 đến thập niên 90 văn học Trung
Qu ốc dường như đã đi hết lộ trình 100 năm của phương Tây”
Giai đoạn đầu xuất hiện dòng văn học vết thương, tiếp theo là dòng văn học phản tư
ẫm lại), văn học cải cách, văn học tầm căn (tìm nguồn) Từ cuối thập niên 80, xuất
Trang 18hiện văn học tiên phong, tiểu thuyết tân tả thực Những năm 90 xuất hiện dòng văn học “thế
h ệ mới sinh” (còn gọi là thế hệ sinh sau), đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường Các
nhà văn Trung Quốc đương đại đã thể hiện những màu sắc mới trong chủ nghĩa hiện thực
Họ áp dụng những thủ pháp của chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa siêu thực vào trong sáng tác Các nhà văn có ý thức rõ trong sáng tác của mình, họ muốn thể hiện nhìn nhận về cuộc
sống, kết hợp với nhiều thay đổi quan niệm văn chương, thời đại Nhiều sáng tác của văn
học đương đại Trung Quốc biểu hiện sức mạnh và giá trị đạo đức mới
Xã hội có nhiều biến đổi sau thời kì cách mạng văn hóa Con người Trung Quốc thay
đổi về ý thức văn hóa, quan điểm thẩm mĩ nên tạo điều kiện cho sự phát triển của chủ nghĩa
hiện đại văn học Ý thức sâu sắc về tự ngã do bị áp chế lâu ngày đã khởi phát là nguyên
nhân ban đầu dấy lên chủ nghĩa hiện đại thời đổi mới Từ văn học vết thương, nhiều kĩ xảo,
thủ pháp hiện đại chủ nghĩa được sử dụng để vạch trần sự hoang đường trong cuộc sống,
trạng thái tha hóa của con người Trào lưu hiện đại chủ nghĩa tiếp tục phát triển về sau với nhiều trường phái như tiểu thuyết tìm tòi, thơ ca mông lung, kịch nói thực nghiệm Tinh thần
cơ bản của văn học hiện đại chủ nghĩa là tính chống đối, chống lại trật tự lí tính, quan niệm giá trị, truyền thống văn hóa Nó còn chống cả tinh thần mĩ học, quan niệm văn học, phương pháp biểu hiện, hình thức, nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa
hiện thực Dòng thơ mông lung hàm súc, khó hiểu, đầy tính chất tượng trưng với Cố Thành,
Thư Đình… Những vở kịch nói được viết theo kỹ thuật hiện đại, không màn không cảnh,
xung đột dàn trải, thủ pháp tượng trưng như Nhà có làn khí nóng của nhóm Ma Trung Tuấn,
Dã nhân, Tr ạm xe, Tín hiệu tuyệt đối của Cao Hành Kiện Các tiểu thuyết, truyện vừa thì
bao chứa cả hình thức lẫn nội dung chủ nghĩa hiện đại, học tập khá toàn diện chủ nghĩa hiện
đại phương Tây Đến cuối những năm 80, ti ểu thuyết phản tư, tiểu thuyết cải cách đã đi
được một chặng đường dài và phát triển thì cùng lúc xuất hiện hai xu thế sáng tác khác nhau Một là phái hiện đại với Lưu Sách La, Từ Tinh, Tàn Tuyết, Lưu Tây Hồng, hai là
phái t ầm căn với Chung A Thành, Lí Hàng Dục, Trịnh Vạn Long, Giả Bình Ao, Phùng Kí
Tài Văn học Trung Quốc xuất hiện nhiều sáng tác theo chủ nghĩa hậu hiện đại Các nhà văn không những nhận thức và lí giải chính xác chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây mà còn tự thân thể nghiệm [56, tr.26]
Đến với sự ra đời văn học tiên phong, theo nhiều nhà nghiên cứu nguyên nhân ra đời
có liên quan đến hai ngữ cảnh hiện thực Vào những năm 80, văn hóa chính trị Trung Quốc
bắt đầu thoái trào, người đọc trông chờ tìm ở tác phẩm văn học lời giải đáp những vướng
Trang 19mắc về khuynh hướng chính trị và về hiện thực đã suy giảm Văn học thời kì mới luôn tồn
tại “nỗi lo ảnh hưởng”, nên luôn muốn thoát ra tìm kiếm sự cách tân, là động lực nội tại dẫn đến sự ra đời liên tiếp các trào lưu văn học Mặt khác, văn học “bước ra thế giới” trở thành
khẩu hiệu thỏa mãn lòng tự tôn, trở thành hình thái ý thức văn học mạnh mẽ Văn học tiên
phong chịu ảnh hưởng của các trào lưu văn học phương Tây, các nhà văn phương Tây Ban
đầu, họ tìm một tác gia kinh điển có ý nghĩa để làm mẫu sau đó “Đông phương hóa” đi Vì
thế Mạnh Phồn Hoa nhận xét: “hiện tượng văn học tiên phong chẳng những nói lên sự giải
c ấu trúc về chế độ văn học truyền thống mà thực ra về một mặt khác vừa hay cho thấy sự khu ất phục trước một nền văn hóa ở thế mạnh” [dẫn theo 7, tr.43]
Nhìn về nội dung đề tài, phương thức sáng tác thì phái tiên phong có quan hệ với cả hai phái hi ện đại và tầm căn, nhưng chưa có một định nghĩa nào thật sự rạch ròi cho phái
văn học này Theo như Phạm Tú Châu lí giải rằng phái tiên phong về phương diện văn học
nghệ thuật chỉ quần thể nhà văn sáng tác nên những tác phẩm chú trọng cách tân, mạnh dạn
vượt lên truyền thống, nhấn mạnh đến tính nghệ thuật Cuộc vận động nghệ thuật của phái
tiên phong và tác phẩm của họ là biểu hiện khác của cuộc vận động nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa, tính tiên phong trong lịch sử nghệ thuật là một đặc trưng nổi bật của phong trào nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa này [7, tr.42] Nói cách khác, chỉ khi phong trào nghệ thuật hiện đại
chủ nghĩa đã hưng thịnh về mọi mặt, người ta mới chú ý đến tính tiên phong Nghiên cứu còn chỉ ra: “Khái niệm tính tiên phong có hàm nghĩa đặc định trong thực tiễn phê bình văn
h ọc Trung Quốc đương đại nhằm khu biệt với phái hiện đại nửa đầu những năm 80, nhằm
để chỉ một quần thể mạnh dạn sáng tạo nên cái mới về phương diện hình thức văn học xuất
hi ện vào nửa sau những năm 80 và những năm tiếp theo” [dẫn theo 7, tr.42] Nhiều nhà văn
trẻ có ý thức sáng tạo cái mới rõ rệt và bước đầu đã hình thành nên phong cách tự sự riêng như Mã Nguyên, Cách Phi, Tôn Cam Lộ, Dư Hoa, Diệp Triệu Ngôn, Tô Đồng, Trát Tây Đạt
Oa, Phan Quân, Diệp Triệu Minh, Lã Tân, Sử Thiết Sinh, Kỉ Thiên Tân…
Nghiên cứu của Phạm Tú Châu chỉ ra tiếp rằng thách thức văn hóa được mọi người quan tâm nhất của trào lưu tiểu thuyết này là “tính hậu hiện đại” Tiểu thuyết tiên phong chú
trọng đến tìm tòi mới về hình thức, nhấn mạnh hơn nữa tiểu thuyết là nghệ thuật tự sự Các
nhà văn tiên phong Trung Quốc thừa nhận một cách phổ biến “hình thái ý thức của hình
th ức” Sáng tác và lí luận của Robbe Grillet, Rolan Barthes, Milan Kudera… được các nhà
văn tiên phong tôn sùng Lí luận về tự sự là chìa khóa để giải mã tiểu thuyết tiên phong
Ti ểu thuyết tiên phong đã thực hiện được mục tiêu để văn học “trở về với tự thân”, không
Trang 20chỉ cách mạng về hình thức mà còn quan tâm đến các chủ đề về tình dục, chết chóc, bạo
lực… đều có liên quan đến ngữ cảnh Trung Quốc, với những kí ức về vết thương tinh thần
và bạo lực cách mạng văn hóa
Còn theo hai nhà nghiên cứu Đinh Phàm, Hà Ngôn Đồng thì văn học tiên phong đã
thủ tiêu vai trò khai sáng và tự sự mang tính hiện đại của thập niên 80 và thủ tiêu ý thức tinh
thần và những theo đuổi thẩm mĩ trong chủ nghĩa hiện đại của tiểu thuyết phái hiện đại
Những mục tiêu giá trị cơ bản nhất của tiểu thuyết khai sáng như lý tính, chủ thể, nhân đạo, cái tôi, nhân tính, siêu việt, giải phóng, lịch sử, tiến bộ, luân lý, chân thực, thẩm mỹ, giá trị,
ý nghĩa… và những nhu cầu mang tính hiện đại đã biến mất bởi phương thức “tự sự lạnh
lùng ” Trào lưu tiểu thuyết tiên phong mở đầu từ Mã Nguyên bằng các tiểu thuyết Nữ thần
L ạp Sa Hà (1984), Sự cám dỗ nơi gò núi (1985) và Biển Tây không tàu thuyền (1985)… Các
tác giả không còn muốn thông qua văn bản thể hiện sự đánh giá giá trị và cảm xúc của mình, kiến lập tính chủ thể Nhà văn Tôn Cam Lộ trong Mời cô gái đoán cho rằng: “cũng
ch ẳng biết bắt đầu từ lúc nào, tôi háo hức chạy theo lối tự sự hàm hồ…tình cảm thế tục của tôi đã bị phương thức tự sự của tôi cự tuyệt” [dẫn theo 41, tr.39] và sẵn sàng “ném bỏ quyền đánh giá và phán đoán về các nhân vật và sự kiện trong một bộ tiểu thuyết” [dẫn theo 41,
tr.39] Đến với Dư Hoa thì phong cách “tự sự lạnh lùng”, giấu kín tình cảm chủ thể qua việc
miêu tả về bạo lực và cái chết trong Câu chuyện về cái ch ết, Dĩ vãng và hình phạt, Năm
1986, M ột loại hiện thực… Khi đề cập đến hôn nhân, tình yêu, tình dục, bi kịch của gia đình
thì người sáng tác cũng ném bỏ luôn “quyền đánh giá và phán đoán” đối với “nhân vật và
s ự kiện” trong tiểu thuyết Sự tiêu giải đối với chủ thể trong tiểu thuyết tiên phong không
những khá toàn diện mà còn chứa đựng mối liên hệ nội tại Ngoài ra còn tiêu giải đối với quy luật lịch sử, chân thực lịch sử và bản chất lịch sử của tính hiện đại Có thể thấy ở các tác
phẩm như Thanh Hoàng, Đại niên của Cách Phi, Gặp nhau ở thành phố K của Lý Hiểu
Đinh Phàm, Hà Ngôn Đồng khẳng định sau khi tiểu thuyết tiên phong tước bỏ sự
đánh giá chủ thể, tước bỏ giá trị nhân tính và tính chân thực lịch sử trong sáng tác, cái còn
lại của chúng, chẳng qua chỉ là một khoảng hư vô, Biên duyên của Cách Phi nhận xét: “hiện
th ực là trừu tượng, tiên nghiệm, do đó cũng là sự trống rỗng” [dẫn theo 41, tr.40], Đảo dữ
của Tôn Cam Lộ cho rằng: “toàn bộ sự tồn tại đều là hư cấu” [dẫn theo 41, tr.40] Do đó,
các nhà tiểu thuyết dồn sức vào những hư cấu, không còn can dự vào hiện thực, đánh mất
khả năng đối thoại với thời đại và độc giả Bấy giờ “ngôn ngữ phục vụ kết cấu chứ không
ph ục ý nghĩa Chẳng còn gia đình, bao gồm ngôn ngữ, chẳng có chỗ mà kí thác nữa Tất cả
Trang 21ch ỉ là một nhịp đập, một hơi thở” (Hô hấp – Tôn Cam Lộ) [dẫn theo 41, tr.40] Như vậy
sáng tác tiểu thuyết dần thoái hóa thành những thao tác kĩ thuật đơn thuần, thành câu đố văn
bản và trò chơi văn bản Thực tiễn tự sự cấp tiến kiểu hậu hiện đại trong tiểu thuyết tiên
phong do cố chấp chạy theo các thao tác kĩ thuật, né tránh thời đại và hiện thực nên đánh
mất cơ sở độc giả phổ thông
Văn học Trung Quốc thế kỉ XX có nhiều cách tân sáng tác do chịu ảnh hưởng của
các trào lưu văn học phương Tây Cách Phi (Những gợi ý từ các nhà văn Âu Mĩ đối với
sáng tác c ủa tôi) từng nói:
V ề sự hoài nghi và truy vấn một cách sâu sắc đối với bản thân sự tồn tại và việc tiểu thuy ết tạo dựng được cái mới và hài hòa sau khi đã phá vỡ hình thức cũ lấy ‘xung đột hý kịch’ làm hạt nhân, luôn là hai vấn đề khiến tôi phải suy nghĩ khi đọc những tác ph ẩm này (chỉ văn học nước ngoài), nhất là cái sau, nó đã tạo nên bước chuyển
bi ến khởi đầu cho việc suy nghĩ về những khả năng biểu hiện mới trong tiểu thuyết
ch ữ Hán của tôi [dẫn theo 41, tr.41]
Nhưng ngay cả các nhà văn hậu hiện đại cũng không ném bỏ tất cả các giá trị,
“không tán dông dài thoát li hi ện thực, sự tranh đấu của họ vẫn có cơ sở xã hội hiện thực”
giá trị lịch sử đặc thù của mình, nó không chỉ cảnh báo đối với tiến trình hiện đại ở Trung
Quốc, mà về ý nghĩa lịch sử văn học, sự phong phú trong thủ pháp biểu hiện nghệ thuật và
sự triển khai không gian phát triển đối với tiểu thuyết đương đại của nó, những ảnh hưởng
và gợi ý đối với các trào lưu tiểu thuyết sau này [dẫn theo 41, tr.39]
Đến cuối những năm 90, tiểu thuyết tiên phong không được quan tâm chú ý như trước mà trầm lắng hẳn Trước hiện tượng này, có ý kiến cho rằng tiểu thuyết tiên phong đã
cáo chung, lại có ý kiến khác rằng trào lưu này đang chín muồi hoặc có biến đổi Theo thời gian tên gọi văn học tiên phong dần không giữ được vai trò tiên phong về cách tân tự sự, nội
dung đề tài trong sáng tác như ban đầu, là lời cáo chung về giai đoạn mô phỏng lí luận văn
học và phương pháp sáng tác của phương Tây Nhiều nhà văn đã có những biến hóa rõ rệt
về lí tưởng thẩm mĩ và sách lược tự sự như Dư Hoa, Cách Phi Họ đã dần thoát ra khỏi
những ràng buộc về lí thuyết sáng tác vốn có, hướng đến sự tự do phong cách nhằm đưa văn
học đương đại sang một giai đoạn mới phù hợp thực tại xã hội hơn
Đến với các tác giả cụ thể, thế hệ các nhà văn tiên phong đời đầu tiêu biểu là Mã
Nguyên, thế hệ thứ hai có Dư Hoa, Cách Phi, Tôn Cam Lộ, Diệp Triệu Ngôn, Lã Tân, thế
Trang 22hệ tiếp nối có nhiều nhà văn trẻ như Hà Đốn, Thuật Bình, Chu Văn, Tất Phi Vũ, Quỷ Tử, Lý
Phùng, Khưu Hoa Đống Nhà văn Dư Hoa đã gia nhập hàng ngũ nhà văn tiên phong với
phong cách, bút pháp tự sự độc đáo
Từ khi cầm bút cho đến nay, Dư Hoa đã có nhiều đóng góp trên phương diện thể
loại, lối hành văn tự sự Bắt đầu sáng tác từ năm 1983 cho đến nay, trải qua nhiều thay đổi cho phù hợp với đời sống xã hội lẫn đời sống văn học, không chỉ đi theo hiện thực của riêng mình Sau khi nghiên cứu tỉ mỉ, có hệ thống các tác phẩm văn học của Dư Hoa, Triệu Nghị
Hoành đã nhận xét trong Khải hoàn của phi ngữ nghĩa hóa:
Trong các nhà văn phái tiên phong hiện giờ của Trung Quốc thì Dư Hoa là một nhà văn nhạy cảm nhất đối với cấu trúc ý nghĩa của văn hóa Trung Quốc, cũng là một nhà văn thể hiện ý đồ đổi mới mạnh mẽ nhất đối với nó Chính ý đồ này làm cho Dư Hoa cu ối cùng đã quay về và vượt lên trên các nhà văn thời kỳ Ngũ tứ Chính tinh
th ần phê phán văn hóa này đã làm cho tiểu thuyết của Dư Hoa cung cấp được những
n ội dung chính sâu sắc đối với việc xây dựng lại nền văn hóa Trung Quốc đương đại Trước đó, nền văn học đương đại Trung Quốc về cơ bản vẫn luôn luôn triển khai trên bình di ện ý nghĩa của vấn đề, lấy các tình tiết châm biếm hiện tượng xã hội này hay hi ện tượng xã hội kia Tiểu thuyết của Dư Hoa đã hướng vào khống chế vô ngôn
ng ữ mọi hoạt động ý nghĩa trong văn hóa, hướng vào phương thức cấu trúc ý nghĩa
c ủa văn hóa Ở đấy, phê phán không còn chỉ đi vào chi tiết cành lá, mà đổi mới là tính ch ất căn bản [dẫn theo 25, tr.6]
Dư Hoa đi từ những đặc trưng tiêu biểu nhất của Phái tiên phong, học tập theo lối
viết hậu hiện đại phương Tây, càng về sau thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết lại tìm về với
chủ nghĩa hiện thực, không còn xa rời lớp độc giả phổ thông nữa và được đón nhận đúng
với giá trị văn chương
Dư Hoa bắt đầu sáng tác từ năm 1983, đến nay đã xuất bản 5 tiểu thuyết, 6 tập truyện
vừa và ngắn, 3 tập tuỳ bút Ngay từ những tác phẩm đầu tay nhà văn đã bắt đầu xác định khuynh hướng sáng tác của mình, theo đuổi con đường nhiều khó khăn, thử thách Chặng đường sáng tác có thể chia làm ba giai đoạn quan trọng, có khác biệt về phong cách sáng tác
Trang 23Năm 1983 đến 1987 được coi là giai đoạn sáng tác thứ nhất của Dư Hoa Thời gian
đầu Dư Hoa hoàn thành các tác phẩm Nhà tập thể thứ nhất, Phòng khám nha khoa Venice,
Ngôi sao Tác phẩm giai đoạn đầu thường ngây ngô, non trẻ, thiếu sự thành thạo, tư tưởng thiếu sót, chưa đủ trưởng thành
Ban đầu Dư Hoa chịu ảnh hưởng của Kawabata Yasunari rất lớn Trong Tôi muốn
sáng tác, chính là mu ốn về nhà, Dư Hoa nói: “lần đầu tiên tôi đọc được tác phẩm của ông
ấy là ‘vũ nữ Izu’ […] tôi luôn say mê Kawabata” Giai đoạn đầu tác phẩm hai người đều có
kiểu nhân vật tầm thường Các tác phẩm của Kawabata Nhật kí tuổi 16, Thư gửi cho cha mẹ,
Danh nhân tham d ự lễ tang, Lửa trại chủ yếu miêu tả những việc cá nhân từng trải qua và
thể nghiệm; Vũ nữ Izu, Xứ tuyết miêu tả số phận nhân vật nhỏ bé trong xã hội Dư Hoa trong
Nhà t ập thể thứ nhất và Tiểu trạm đều miêu tả những lo lắng oán hận tầm thường của các
nhân vật Dư Hoa còn chú trọng miêu tả đặc tả chi tiết, phát hiện và nắm chắc những thay
đổi nhỏ bé trong biến đổi tình cảm nhân vật Nhưng sáng tác tập trung quá nhiều vào những
biến đổi nội tâm khiến Dư Hoa dần cảm thấy tâm hồn ngày càng bế tắc, cho đến khi tiếp xúc
với những sáng tác của Kafka thì đã định hình phong cách sáng tác mới
Tác phẩm Ngôi sao đoạt giải thưởng Văn học Bắc Kinh, Dư Hoa chú ý quan hệ khó
hòa giải giữa người với người, đương nhiên nhân vật dưới ngòi bút không tàn nhẫn bằng
giai đoạn sau Kết thúc Ngôi sao thiên về lãng mạn Dư Hoa thà mạo hiểm với kết thúc
không tự nhiên để giữ được tính lương thiện Những truyện ngắn phô bày ra khuynh hướng
tương tự, như trong Nhà tập thể thứ nhất cô gái dùng cái chết để giúp nước mà không biết người đời có hiểu được điều tốt đẹp của mình hay không, còn ở Phòng khám nha khoa
Venice thì một hồng vệ binh muốn phá sự yên ổn của sơn thôn nên cuối cùng bị đuổi đi Ban đầu Dư Hoa chưa ý thức được đầy đủ hiện thực, luôn cố gắng truyền đạt niềm hi vọng, niềm tin và kì vọng vào cái thiện nên không ngại phải hi sinh tính nghệ thuật Nhà văn dùng lời văn nói lên sự tin tưởng đối với lí trí con người, tồn tại giữ vững điều thiện Giai đoạn này
Dư Hoa chịu ảnh hưởng lớn các sáng tác của Kawabata nên không phát huy được sở trường
bản thân mà luôn hướng đến văn học duy mĩ, truy cầu cái đẹp, cái thiện nhân sinh
Giai đoạn thứ hai từ năm 1987 đến 1992 với nhiều sáng tác quan trọng đã khẳng
định vị trí Dư Hoa trên văn đàn Những sáng tác sau đó như Mười tám tuổi ra khỏi nhà đi
xa, Tình yêu cổ điển, Một loại hiện thực, Tự thuật tử vong, Chuyện đã qua và hình phạt, Số kiếp khó tránh, Năm 1986, Sự kiện ngày 3 tháng 4… Dư Hoa dần bộc lộ tài năng và được
hoan nghênh với tư cách là thế hệ nhà văn tiên phong nối tiếp Mã Nguyên Các sáng tác với
Trang 24đề tài phong phú Nhà văn dùng góc nhìn ngôi thứ ba bình tĩnh đến thờ ơ, lối suy nghĩ phức tạp để tự thuật bằng ngôn ngữ lạnh lùng, chuẩn xác
Dư Hoa cho rằng nhà văn cần có sự đối mặt căng thẳng với hiện thực nên trong một
thời gian dài đã là “nhà văn phẫn nộ và lạnh lùng” [25, tr.194] Dư Hoa sáng tác theo nhu
cầu nội tâm cộng thêm luôn muốn đạt đến chân thực cuộc sống Nhà văn đã áp dụng nhiều cách thức thể nghiệm trong phái tiên phong để mong muốn tạo ra đứa con tinh thần đi gần đến chân lí nhất
Với Dư Hoa lí do tác giả viết tác phẩm giai đoạn này để nhận thức một lần nữa quan
niệm tính chân thực Chân thực của văn học là cái gì? Lúc đó nhà văn cho rằng chân thực văn học không thể dùng thước đo hiện thực cuộc sống để đánh giá, chân thật chính là sự
tưởng tượng, cõi mơ và dục vọng Năm 1989, Dư Hoa viết bài Tác phẩm giả dối, đề tài của
nó đến từ một câu nói của Picasso: “Nhà nghệ sĩ phải làm cho người ta hiểu được chân thực
trong gi ả dối” Để bày tỏ chân thực suy nghĩ của mình nên đã thay đổi phương thức tự thuật
vốn có, làm cho hình thức văn học tiên phong càng thêm phong phú
Cơ bản trong sáng tác của Dư Hoa giai đoạn này ở chỗ, ngòi bút chuyển biến đối với thái độ nhận biết và xử lí số phận nhân vật Dư Hoa hoàn toàn từ bỏ điều khiển số phận
nhân vật Mười tám tuổi ra khỏi nhà đi xa thể hiện góc nhìn như một nhà quay phim tài liệu
mà không hề dùng đến kịch bản, chỉ cầm máy quay ghi lại hình ảnh còn để mặc cho mọi việc tự diễn ra Chàng trai trong truyện vì bảo vệ táo của người tài xế mà ẩu đả với mọi người, cậu ta bị cướp đi ba lô, mình đầy thương tích vậy mà tên tài xế lại là một trong
những người cười vui vẻ nhất Tình yêu cổ điển bắt đầu như chuyện đồng thoại tốt đẹp của
đôi tài tử giai nhân, kết cục lại là sự tan vỡ trong ảo tưởng đầy tiếc nuối Sự báo thù của
thiếu niên trong Hoa mai máu đỏ, không thể trở thành đại hiệp để báo thù thành công, anh ta
mãi là người ngoài cuộc Còn nhân vật trong Một loại hiện thực đều biến thành ác quỷ dù họ
là người thân của nhau, cuối cùng tiến đến với cái chết đáng sợ, tàn nhẫn
Sáng tác về sau của Dư Hoa tràn ngập tự thuật bạo lực và đen tối, Dư Hoa nói: “tôi
say mê cách k ể bạo lực, hiện tại nhớ lại những việc thời thơ ấu trải qua…Cha của tôi mỗi khi t ừ phòng giải phẫu đi ra, trên mình quần áo phòng mổ đầy máu” (Tôi chỉ muốn sáng
th ực là những truyện ngắc tiên phong đặc sắc, trong đó miêu tả cuộc sinh tồn và thế giới
hiện thực tràn đầy hỗn loạn
Trang 25Nếu nói Kawabata đã dạy Dư Hoa những nguyên tắc sáng tác cơ bản nhất, miêu tả phóng đại cái chi tiết, Kafka lại giúp Dư Hoa giải phóng về tư tưởng, tức là cách kể kiềm
chế làm cho người ta kinh hoảng về sự tàn nhẫn Lỗi lầm ven sông kể về kẻ điên liên tiếp
giết người, Năm 1986 về kẻ điên tự sát, Một loại hiện thực thì người một nhà giết hại lẫn nhau, Tình yêu c ổ điển thì khiến người ta khiếp sợ vì cảnh ăn thịt người và tình yêu dị
thường Chính màu sắc bạo lực là lí do dẫn đến tính hoang đường làm cho người đọc cảm giác “đột ngột”, đạt được hiệu quả ghê sợ Tiểu thuyết Dư Hoa giai đoạn đầu có nhiều nhân
vật độc ác, điên dại, dị thường Nhà văn chú trọng hiện thực trần trụi, xấu xí Nhân vật chính
bị vây hãm trong xã hội hung ác khắc nghiệt, không ai cứu giúp
Thời kì này, Dư Hoa tiếp tục cảm nhận hiện thực không như người bình thường, thêm vào đó lại càng phóng đại hơn để nhất định theo đuổi nghệ thuật thể nghiệm dữ dội; không hề tiết chế những biểu hiện của cái ác, tàn nhẫn, hiện thực trần trụi đáng sợ mà không
hề bình luận, can thiệp Nhà văn càng nhạy cảm, có tài năng, dũng cảm quan sát cái xấu và suy ngẫm, càng dễ cảm nhận được cái đen tối chiếm giữ tâm hồn Góc nhìn ngôi thứ ba bình tĩnh, lạnh lùng, thái độ không quan tâm, tính cách kiên cường, hay dùng vạn tấm khiên cũng
không chống đỡ nổi mọi thứ Nhà nghiên cứu Trần Hiểu Minh trong Bình luận nhà văn
đương đại nhận xét “thời đại chúng ta là người khiêu chiến kiêu ngạo nhất đã muốn vứt bỏ hết tất cả nhưng cũng bị viên đạn thờ ơ đánh bại, cuối cùng đã không đứng dậy được” Khi
tiểu thuyết tiên phong dần thoái trào, thì giai đoạn về sau của Dư Hoa hình thành rõ rệt, nhà văn thay đổi quan niệm sáng tác hướng về đời sống nhân sinh bằng ngòi bút hiện thực nhân đạo chủ nghĩa
Giai đoạn thứ ba từ những thay đổi trong sáng tác tiểu thuyết năm 1992 đến nay, bắt
đầu với tiểu thuyết là Gào thét trong mưa bụi, sau đó là Sống, Chuyện bán máu của Hứa
Tam Quan, Huynh đệ Nhà văn chuyển hướng trở về với văn học hiện thực Dư Hoa phát
hiện nhân vật cũng có tiếng nói riêng và nhà văn cần tôn trọng điều đó; việc ép buộc nhân
vật theo ý đồ của mình chỉ đem lại một tác phẩm gượng ép, không có giá trị Nhà văn để nhân vật bộc lộ nội tâm làm cho tác phẩm càng thêm chân thực, mang ý nghĩa nhân sinh sâu
sắc
Tiểu thuyết đầu tay Gào thét trong mưa bụi của Dư Hoa, chưa hoàn toàn thoát khỏi
phương thức sáng tác văn học tiên phong, nhưng đã bắt đầu định hướng sáng tác theo văn
học hiện thực chủ nghĩa Tác giả lắng nghe tiếng nói của ký ức, cảm thụ thời gian trong kí
ức Một thế hệ gia đình ba đời với mối quan hệ rời rạc, tất yếu dẫn đến sự tan rã của hình
Trang 26mẫu gia đình xây dựng trên nền tảng của tư tưởng đạo đức lỗi thời Tác giả muốn chạm vào quá khứ theo cách thức kì lạ, lối kể độc đáo, lạnh lùng, đảo trật tự thời gian, “sáng tác của
tôi gi ống như luôn bấm vào từng ngày không có thứ tự để nghe tiếng nói của quá khứ ở đầu dây bên kia” [26, tr.11] Việc lắng nghe ấy đã khiến cho tính chân thực càng thể hiện rõ khi tác giả cảm nhận lại tác phẩm, “hiện giờ tôi không những có thể nhìn thấy họ trong kí ức,
mà còn thường nghe thấy tiếng bước chân lịch bịch của họ Họ đến với tôi, đi lên cầu thang,
gõ c ửa nhà tôi Điều này dần dần đã bắt đầu trở thành nỗi lo lắng không yên của tôi Khi nhân v ật tôi hư cấu càng ngày càng chân thực, tôi đâm ra không khỏi không nghi ngờ, sự chân th ực chân chính của mình liệu có phải đang bị hư cấu” [26, tr.12] Dư Hoa cho rằng
với tác phẩm này mình đã sử dụng: “thứ ngôn ngữ tràn trề dũng cảm và tự tin, thứ ngôn ngữ
có v ẻ như của người kể chuyện, thứ ngôn ngữ định lấy một câu để chung kết một sự vật, đã
c ảm hóa tôi hôm nay, nhịp độ của nó giống như tiếng nổ lép bép của một cây tre trúc khi đốt cháy” [26, tr.10]
Tác phẩm Dư Hoa giai đoạn này trở nên dễ hiểu Nhà văn đã ý thức được văn học không phải là cuộc thí nghiệm hay phô trương hình thức mà thật sự thâm nhập vào tâm hồn
con người Với Sống, Dư Hoa đã thăng hoa với cái thiện trong nhân sinh Thời gian dài tác
giả viết về cái ác, nay tác giả hướng về điều thiện, với sự hội ngộ ấy sẽ thành đạo lí nhân sinh lớn lao
Đầu tiên Dư Hoa tăng cường sự cảm hóa chủ thể của cái thiện Sức cuốn hút của tác phẩm ở những khó khăn trong cuộc sống và cách thức mà nhân vật chính đối mặt Những trở ngại làm cho nhân vật chính thay đổi cả đời người và nghị lực sống đã làm người đọc cảm động Tác giả không từng viết về cái ác, hiểu rõ bản chất cái ác thì không thể viết ra
được hoàn cảnh trở ngại có chiều sâu như thế Cuộc đời Phú Quý trong Sống đã liên tiếp bị
số phận đùa giỡn với biết bao nhiêu khó khăn không thể tưởng tượng nổi So sánh nhân vật này với Hứa Tam Quan trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu thì càng rõ, Hứa Tam Quan
thông qua việc bán máu để giảm bớt áp lực cuộc sống, còn Phú Quý đối mặt với mọi vấn đề lại không thể dùng thân thể để giải quyết Phú Quý không thể thay đổi quy luật tự nhiên, không thể lường trước cái chết đến với người thân trong gia đình, đành đau lòng đứng nhìn trong bất lực
Đến với tác phẩm Chuyện Hứa Tam Quan bán máu xuất bản năm 1995 đạt được thành công lớn, đã được “Nhật báo Trung Ương” của Hàn Quốc chọn là 100 cuốn sách cần đọc Cùng với Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu còn được chọn vào mười tác phẩm có
Trang 27ảnh hưởng nhất những năm 90 của thế kỷ XX do 100 nhà phê bình và biên tập viên văn học Trung Quốc bình chọn Dư Hoa lại tiếp tục với mảng hiện thực Trung Quốc, nơi nhà văn đã
có nhiều trải nghiệm Hành trình bán máu của nhân vật chính Hứa Tam Quan được ví như
đã bán tổ tông của mình Hình ảnh của Từ Phú Quý trong Sống lại bắt gặp ở Hứa Tam
Quan, đó là người chồng, người cha lương thiện, nhân ái và hy sinh đến quên bản thân mình Tam Quan đã bán máu rất nhiều lần trong cuộc đời, tiền thu được chỉ để thoát ra khỏi
những gian khổ đổ ập xuống gia đình cho đến ngày không thể nào bán máu được nữa Từng
trang sách đã phơi bày về nhân tính con người đã bị thử thách tận cùng trong cách mạng văn
hóa
Cuốn tiểu thuyết miêu tả hiện thực xót xa nhưng ngôn ngữ hóm hỉnh cùng với cách
kể chuyện đơn giản đã đem lại sức hấp dẫn lớn Với Dư Hoa, sáng tác và đọc sách là gõ cửa
hồi ức, lắng nghe lại tiếng vọng từ quá khứ để nhìn nhận lại, nói cách khác là để sống lại
một lần nữa Chuyện Hứa Tam Quan bán máu đã tiếp nối phong cách, giọng điệu của Dư
Hoa sau Sống với sự thống nhất cao
Tiểu thuyết Huynh đệ ra đời năm 2006, sau mười năm viết Chuyện Hứa Tam Quan
bán máu, được giới phê bình Trung Quốc ví như một "cơn lốc" bởi sự hấp dẫn của gần 400
ngàn chữ Dư Hoa nói với bạn đọc:
Đây là cuốn tiểu thuyết được sản sinh sau sự gặp nhau của hai thời đại, cái trước là câu chuy ện trong cuộc cách mạng văn hoá, một thời đại của tinh thần cuồng nhiệt,
b ản năng bị đè nén và những số phận thảm liệt, tương đương thời trung cổ ở châu
Âu Cái v ề sau là câu chuyện hiện tại, đó là một thời đại luân lý điên đảo, túng dục
s ống gấp và chúng sinh trưng ra muôn vẻ, hơn cả người châu Âu ngày nay Muốn
tr ải qua hai thời đại một trời một vực như thế, một người phương Tây phải sống đến
400 năm, một người Trung Quốc chỉ cần 40 năm đã trải qua rồi Vô vàn những biến động trong 400 năm được cô đúc, dồn nén trong 40 năm, đó là một quá trình từng
tr ải hết sức quý giá Mắt xích gắn kết hai thời đại chính là hai người anh em huynh
đệ này, cuộc đời họ rạn nứt trong sự rạn nứt, buồn vui, họ nổ bùng trong sự bùng nổ,
s ố phận họ cũng long trời lở đất giống như hai thời đại này và cuối cùng họ tất sẽ
ph ải nuốt lấy hậu quả từ những ân oán đan xen chồng chéo” (trả lời báo chí Trung
Qu ốc)
Huynh đệ đã chứng tỏ được sức viết dồi dào của Dư Hoa, sự sáng tạo không ngừng
nghỉ để đóng góp cho nền văn học đương đại Phong cách sáng tác Huynh đệ vẫn còn tiếp
Trang 28nối từ Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu nhưng có thay đổi Giọng điệu lạnh lùng từng
trải, “u mua đen”, giễu nhại đan xen nỗi đau hiện thực thấm thía Nhà văn phản ánh hiện
thực ở góc nhìn lại quá khứ, kèm yếu tố phóng đại hiện tại, tưởng tượng ở tương lai đối với nhân vật Bây giờ nhà văn chú trọng phân tích tâm lí, giọng điệu nhân vật và phản ánh xã
hội Trung Quốc theo từng giai đoạn phù hợp, thái độ nhân sinh sâu sắc
Nếu như chúng ta xem tác phẩm trước đây Dư Hoa phê phán bản chất nhân tính Ở sáng tác giai đoạn sau tác giả vẫn tiếp diễn chủ đề gian khổ nhân sinh nhưng đặt vào hi vọng
con người Phong cách sáng tác này có liên hệ ít nhiều với Kawabata Trong “Con đường
văn học của tôi”, Dư Hoa viết: “sau khi đọc ‘vũ nữ Izu’ của Kawabata, tôi có một cảm xúc mãnh li ệt, người ta viết về vết thương là phải viết như thế này, không phải một phương thức lên án mà vi ết bằng phương thức rất ấm áp” Dư Hoa đồng thời ý thức được sứ mệnh của
nhà văn không phải hướng về mọi người phơi bày tội ác và u tối, mà phải thể hiện cao
thượng và hi vọng Dù khắp nơi trong Huynh đệ tràn ngập tự thuật cái chết, chiếm giữ vị trí
chủ đạo tác phẩm, nhưng ở phần kết thấy được hi vọng cuộc đời với chi tiết Lí Trọc chịu khó học tiếng Nga để một ngày kia đem tro cốt Tống Cương rải ngoài không gian khi lên tàu vũ trụ ở Nga
S ống có liên hệ ít nhiều với bài dân ca của Mĩ là Người hầu da đen Dư Hoa từng nói
người nô lệ da đen trong bài dân ca đã trải qua cuộc sống vô cùng gian khổ, người thân đều
chết hết, nhưng ông ta vẫn lạc quan vui vẻ với thế giới và chưa hề tỏ ra oán hận Bài dân ca khiến nhà văn cảm động sâu sắc nên có động lực viết Sống Những năm 90, Dư Hoa không
hề nhìn cái chết như sự tuyệt vọng, mà với Sống là thái độ đối mặt với cuộc sống gian khổ
Giai đoạn sáng tác thứ ba là giai đoạn tiếp nối cho đến nay, Dư Hoa vẫn tiếp tục viết
và cống hiến không chỉ ở trên lĩnh vực tiểu thuyết mà còn ở truyện ngắn, tiểu luận, bút kí Nhà văn từng được vinh danh ở nhiều bảng xếp hạng nhà văn có ảnh hưởng trong văn học Trung Quốc đương đại Điều đó cho thấy không chỉ độc giả, mà các nhà phê bình uy tín cũng có đánh giá đúng về tác phẩm của Dư Hoa Và cũng như Dư Hoa khẳng định về việc sáng tác của mình:
M ột nhà văn chân chính bao giờ cũng chỉ sáng tác vì nội tâm, chỉ có nội tâm mới
th ực sự mách bảo anh ta, anh ta tự tư, anh ta cao thượng nổi bật biết chừng nào Nội tâm khi ến anh ta thực sự hiểu mình, một khi hiểu mình thì cũng hiểu được thế giới
R ất nhiều năm trước, tôi đã hiểu được nguyên tắc này, nhưng bảo vệ được nguyên
t ắc này thì phải trả giá bằng lao động vất vả và đau khổ thời gian dài Bởi vì nội tâm
Trang 29đâu phải lúc nào cũng rộng mở mà nhiều khi nó đóng im ỉm Thế là chỉ có sáng tác, sáng tác không ng ừng mới có thể làm cho nội tâm mở ra, mới có thể đặt mình vào trong s ự phát triển, giống như ánh sáng của mặt trời mọc chiếu sáng đêm tối, linh
c ảm lúc này mới đột nhiên nảy sinh” [25, tr.193]
Nhìn chung ba giai đoạn sáng tác của Dư Hoa có thể thấy sự thay đổi rõ nét phong
cách Nhà văn từ mô tả cái ác, bạo lực với cách viết lạnh lùng tiêu biểu của phái tiên phong,
áp dụng nhiều kĩ thuật mới lạ do ảnh hưởng học tập các nhà văn lớn trên thế giới, về sau đó
tác giả trên sở phân tích cái ác để nổi bật sự ấm áp, lương thiện của con người Sự thay đổi góc nhìn quan sát về cùng đối tượng chứng tỏ sự trưởng thành trong ngòi bút sáng tác của
Dư Hoa
1.2 S ống trong thành tựu văn học của Dư Hoa
Tiểu thuyết Sống được viết vào năm 1992, định hình phong cách giai đoạn sáng tác
thứ ba của Dư Hoa Tác phẩm chứng minh được thực lực và thành công của Dư Hoa, được dịch sang tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Ý, Hà Lan, Na Uy, Hàn Quốc, Nhật, và xuất bản ở các nước
S ống đã dành được giải Mười cuốn sách hay của Thời báo Trung Quốc (Đài Loan),
giải Mười cuốn sách hay của Tạp chí Bác ích (Hồng Kông) và giải thưởng Văn học Gelin
Thana Kapo của Ý Sống được chuyển thể thành phim năm 1994 do Trương Nghệ Mưu đạo diễn Năm 2004 Sống giành được huân chương hiệp sĩ văn học và nghệ thuật của Pháp Tác phẩm được nhiều nhà phê bình và biên tập văn học Trung Quốc bình chọn trong top “10 tác
phẩm có ảnh hưởng nhất thập niên 90”
Suốt một khoảng thời gian dài bắt đầu sáng tác từ năm 1983 đến cuối thập niên 80
thế kỉ XX, tác phẩm tràn ngập máu me, bạo lực Những trang văn xa rời cảm thức thẩm mĩ quen thuộc của phần lớn bạn đọc
T ừ lâu nay, tác phẩm của tôi đều bắt nguồn từ mối quan hệ căng thẳng với hiện thực Chìm đắm trong tưởng tượng, lại bị hiện thực khống chế chặt chẽ, tôi cảm nhận rõ ràng s ự phân biệt bóc tách của chính mình, tôi không thể biến mình thành thuần túy Tôi đã từng hi vọng mình trở thành nhà văn đồng thoại, nếu không thì là một người
có tác ph ẩm chân thực Nếu tôi được trở thành một trong hai người đó thì tôi nghĩ
Trang 30m ức đau khổ trong lòng sẽ bớt đi nhiều, nhưng cùng lúc đó sức mạnh của tôi cũng sẽ
y ếu đi nhiều” [25, tr.193 - 194]
Dư Hoa cự tuyệt dùng dấu hiệu truyền thống để sắp xếp cuộc sống, dụng ý tạo nên
một loại tác phẩm rời bỏ phương thức nhận thức kinh nghiệm thông thường Chân thực của
tôi, Dư Hoa cho rằng: “Chân thực là tương đối với cá nhân”, “con người đi vào phạm vi
tinh th ần rộng lớn mới có thể xác thực lĩnh hội sự vô biên của thế giới”, “Cho nên tôi thà tin chính mình, mà không tin cu ộc sống cho ta điều gì, trong sáng tác của tôi có lẽ đã tiếp cận được một loại chân thực của tinh thần cá nhân”, “tôi dùng hư vô mà sáng tác” [dẫn theo
71] Dư Hoa dùng con dao sắc bén vạch ra chân tướng của thế giới và hiện ra bản chất của
nó, sáng tạo một thế giới ẩn dụ tượng trưng khó nhận biết, trong văn bản tràn ngập mùi giết chóc đẫm máu và bầu không khí kì lạ Tác phẩm Dư Hoa chứa đựng sự thờ ơ, ghê tởm, bạo
lực, vạch rõ xác thực mặt ác của nhân tính, phủ nhận sự tốt đẹp và cao thượng của con người
Tác phẩm Sống cũng viết về đề tài sự sống, cái chết nhưng không còn bạo lực, máu
me mà thay vào đó là sự ôn hòa Cách xây dựng nhân vật hoàn toàn thay đổi, xuất phát điểm
là người nông dân lương thiện, cao thượng trong nghèo khổ Trước đó hàng loạt tác phẩm
thời kì văn học tiên phong đỉnh cao có thể thấy được phần lớn các nhân vật đều chứa đựng
sự hoài nghi với xã hội, mất phương hướng Truyện ngắn Mười tám tuổi ra khỏi nhà đi xa,
nhân vật chàng trai trẻ lên đường tìm kiếm một điều gì đó mơ hồ, rồi nhận được là những
mất mát, đổ vỡ niềm tin đối với con người trong xã hội Cậu bé trong hoàng hôn phơi bày
tàn nhẫn nhân tính, cậu bé vì quá đói đành ăn trộm một quả táo nên bị ông chủ đánh đến gãy tay, bị trói cả buổi chiều mới được thả đi, bóng cậu dần mất hút trong hoàng hôn nhạt nhòa
bụi đất Tôi không có tên kể về cuộc đời anh chàng có tên Lai Phát bị ngớ ngẩn nhưng tràn đầy tình cảm, xã hội đã biến anh ta trở thành người không dám nhận mình có tên nữa Tình
yêu c ổ điển hiện lên một xã hội “ăn thịt người”, tuy được phủ lên màu sắc cổ điển nhưng tác
phẩm chứa đựng nhiều điều tàn bạo không thể tưởng tượng
S ống viết về cuộc sống nhân sinh của con người, thông qua hình tượng nhân vật Từ
Phú Quý Nhân vật Phú Quý dùng nghị lực và lòng lương thiện để trả lời tình cảnh bất lực
với khổ nạn, sự dẻo dai ngoan cường để sống với lí tưởng, sự cao thượng Hầu hết các nhân
vật phụ trong tác phẩm cũng được tạo hình hướng đến thiện tính, không hề bon chen tranh giành, không oán trách, thậm chí còn đề cao tình người trong xã hội Đây là kết quả thay đổi chiều sâu tư tưởng sáng tác của Dư Hoa
Trang 31Sự ôn hòa được vận dụng rất nhuần nhuyễn trong tiểu thuyết Sống Ngòi bút ôn hòa
nên không chỉ nhân vật hướng thiện, tin tưởng cuộc sống mà mối quan hệ giữa người với người được quan tâm hơn, đó là sự kết nối bằng tình cảm chứ không ghẻ lạnh, thờ ơ, vô cảm như hầu hết những tác phẩm giai đoạn trước Tình cảm gia đình bị phân giải đáng sợ trong
M ột loại hiện thực, gia đình là nơi neo đậu hạnh phúc, bến bờ để trở về Thế mà ở đây điều
đó là quá xa vời, anh em giết nhau, chú giết cháu, mẹ không hề có phản ứng Gia đình hoàn toàn tan rã Gào thét trong mưa bụi tạo dựng một mái nhà rời rạc, lỏng lẻo Hình tượng
người cha bị đạp đổ qua nhân vật Tôn Quảng Tài Hắn bạo lực với các con, bất hiếu với cha, không chung thủy với vợ, sàm sỡ với con dâu Ở đây mối quan hệ gia đình, bạn bè dần mất
đi, khó tìm thấy trong màn mưa bụi che phủ, dù cho con người có gào thét dữ dội đến đâu đi
nữa Đó cũng chính là nỗi niềm cay đắng và hạnh phúc mà Dư Hoa muốn tìm lại sau nhiều
lần cố gắng bấm vào phím điện thoại gọi vào quá khứ ở đầu dây bên kia
S ống đã tạo dựng hình tượng người cha, người chồng mang nhiều nét đẹp phẩm chất
truyền thống của nông dân Trung Quốc Viết một tác phẩm đề cao sự sống, thông qua đó nhà văn đề cao nhân cách tốt đẹp của con người Chủ đề tác phẩm còn hướng đến tình gia đình bền chặt, tình người thắm thiết và cả tình yêu cuộc sống Dù miêu tả hiện thực rõ nét
đến đâu chăng nữa thì Sống cũng phản ánh sự đổi mới góc nhìn của Dư Hoa, “sứ mệnh của
nhà văn không phải là trút xả, không phải là tố cáo hay vạch trần Anh ta nên thể hiện, nên trình bày sự cao thượng trước mọi người Sự cao thượng tôi nói ở đây không phải thứ tốt đẹp đơn thuần, mà là sự siêu nhiên sau khi đã hiểu rõ mọi sự vật, nhìn nhận đối xử như nhau đối với thiện và ác, đánh giá thế giới bằng con mắt đồng tình” [25, tr.196]
Hình tượng nhân vật Từ Phú Quý xây dựng dựa trên những cơ sở thay đổi quan điểm nghệ thuật, đề tài Từ chỗ phân giải cấu trúc tư tưởng truyền thống, chống đối trật tự lí tính
xã hội, Phú Quý là kiểu nhân vật tràn đầy sự đồng tình, thái độ sống phù hợp với hoàn cảnh
Một câu nói của nhà văn Trang Thế Hy, có thể liên hệ với Dư Hoa, “điểm tựa tin cậy của
người viết là nỗi đau khổ của số đông thầm lặng” Câu chuyện chịu đựng khổ ải của nhân
vật đã làm lay động biết bao độc giả Tuy nội dung khai thác không thực sự mới mẻ nhưng chính sự thay đổi khác biệt ở một nhà văn tiên phong, điều đó đã đem lại thành công về mặt
nội dung cho tiểu thuyết này
Trang 321.2.2 Đổi mới nghệ thuật
Là nhà văn tiên phong, Dư Hoa áp dụng các phương pháp sáng tác của phái tiên
phong, chủ yếu ở giai đoạn sáng tác thứ hai Nhà văn đã làm cho hình thức nghệ thuật của
tiểu thuyết trở nên đa dạng, sống động linh hoạt Sáng tác Dư Hoa có khi là những triết lí hóa, ngụ ngôn hóa, phá vỡ tính hoàn chỉnh về quy phạm văn thể của tiểu thuyết truyền
thống
Dư Hoa thách thức với những quyền uy và trật tự sẵn có, biểu hiện ở sự phá vỡ văn
bản và thay đổi những kì vọng của độc giả Tình yêu cổ điển bắt chước miêu tả tình yêu như
trong sách cổ với hình ảnh thư sinh áo vải, tiểu thư quyền quý vừa gặp đã động lòng, cùng nhau thề nguyện Người đọc đang chờ đợi kết thúc thư sinh đề tên nơi bảng vàng cùng tiểu thư kết lương duyên, không ngờ tình tiết thay đổi đột ngột Vào năm mất mùa đói khát tiểu
thư đã trở thành “món thịt người”, hoàn cảnh gặp lại trớ trêu, Liễu Sinh lòng như dao cắt
nhưng chẳng thể cứu giúp đành phải đứng nhìn người yêu chết đi Một cảnh dữ dội, thê
thảm, bi thương tạo nên sự mỉa mai, trái ngược hoàn toàn với tiểu thuyết tài tử giai nhân cổ
điển Lỗi lầm ven sông thì có thể coi ngược với tiểu thuyết trinh thám Tiểu thuyết trinh
thám coi trọng nguyên nhân hành động, tình tiết gay cấn Tiểu thuyết này cũng xuất hiện vài
vụ án giết người không rõ đầu đuôi, kết cục hung thủ lại là một kẻ điên, giết người không có
động cơ Cảnh sát tỏ ra nhếch nhác, buồn cười, phương thức điều tra vô ý nghĩa Hoa mai
máu đỏ phảng phất tiểu thuyết võ hiệp cổ điển Nguyễn Hải Khoát trang nghiêm gánh vác
sứ mệnh trả thù cho cha, đi khắp nơi tìm kiếm kẻ thù Khi hắn biết được người khác đã vô tình ra tay giết chết kẻ thù, hắn không mừng rỡ mà mơ hồ cảm thấy mục tiêu phiêu bạt tuyệt
vời sắp sửa chấm dứt nên thẫn thờ không dứt Ở đây tiểu thuyết võ hiệp truyền thống đã bị đùa cợt Tác giả giải cấu trúc ngôn ngữ kinh điển, tiến hành lật đổ giá trị văn hóa truyền
thống với thái độ khiêu chiến trật tự, lí tính
Không gian sinh tồn hỗn loạn được tạo ra do kinh nghiệm cá nhân hóa riêng của Dư Hoa Từng viết về bạo lực, đẫm máu, cái ác nên nhà văn chú trọng khai thác thế giới của
cảm giác kì lạ muôn vẻ Cảm giác độc đáo ấy đến từ phương thức cảm giác đặc thù như nhân vật, động tác, sự kiện, tình cảnh Với hình thức ngôn ngữ độc đáo để biểu hiện phương
thức cảm giác Dư Hoa có thói quen dùng hiện thực, ảo giác và tưởng tượng trong cõi mơ hòa vào một thể Nhà văn áp dụng quá mức đặc tả chi tiết làm sinh ra cảm giác “chênh lệch
th ời gian”, vì sự chậm chạp khiến cho cảm giác mối liên hệ sự vật bị rời ra, sự tồn tại chân
thật thay đổi thành ảo giác
Trang 33Thời gian tự sự mở, giải cốt truyện logic tuyến tính Ảo giác và hiện thực thúc đẩy chuyển hóa lẫn nhau để mở ra triệt để, sự thật tồn tại không xác định Ranh giới truyền
thống giữa sự thật và ảo giác bị loại trừ, ảo giác xâm nhập hiện thực, cốt truyện trở nên khó phân tích Tính tự thuật mơ hồ tiêu trừ giới hạn ảo giác và chân thực trong quá trình tự sự,
sự thật, cõi mộng, ảo giác thâm nhập, chuyển hóa qua lại, hình thành tự thuật mở toàn bộ
cảm giác Tồn tại chân thực và tự do ảo giác biến thành thúc đẩy mọi cảm giác hoàn toàn
mở Tiểu thuyết tiên phong dùng nhiều ngôn ngữ tự sự đương đại đạt tới độ khó và độ phức
tạp, vì thời gian kể chuyện không ngừng thay đổi, tùy tiện giao thoa cảm giác tự thuật, mang đến sự khó khăn nhất định khi đọc của độc giả
Phong cách ngôn ngữ, phương thức tư duy và tiêu chuẩn giá trị khi sáng tác Sống đã
thay đổi rõ rệt Không còn bắt gặp sự giải cấu trúc văn bản truyền thống, hay áp dụng những
kĩ thuật hậu hiện đại phương Tây như nhiều tiểu thuyết tiên phong khác Sống trở về với các
thủ pháp của văn học hiện thực Phương thức tự sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và
hiện đại Dư Hoa dùng hình thức tự sự truyền thống chính là không thời gian hiện thực tuyến tính, giọng điệu mang màu sắc cá nhân, điểm nhìn nghệ thuật khá dễ tiếp nhận với độc giả Bên cạnh đó nhà văn cũng có nhiều cách tân ở ngôi tự thuật, kết hợp đa điểm nhìn,
giọng điệu có thay đổi với giọng chủ đạo có đan xen nhiều giọng khác Sự giãn cách thời
gian cũng là một yếu tố khá mới mẻ trong tiểu thuyết Sống
Dư Hoa dùng ngôi tự thuật khác nhau, thời gian đan xen và thay đổi vị trí không gian địa lí Các kĩ xảo tự sự làm giảm tác động bi kịch lớn lao của câu chuyện tác động đối với
nội tâm người đọc, xóa bỏ căng thẳng và áp lực sinh ra trong quá trình đọc Nhà văn dùng
“kho ảng cách thưởng thức” làm độc giả yên tĩnh trong chốc lát, đau đớn tâm hồn được giảm
bớt nhưng tầm đón đợi của đọc giả đã kích hoạt để vội vã đọc tiếp câu chuyện Chính trong quá trình nghỉ ngơi của tình cảm độc giả có thể càng suy nghĩ sâu hơn “Sống” trong suy
nghĩ của nhân dân Trung Quốc, chính là kiên cường, càng tuyệt vọng thì càng phải sống
chịu đựng Đây là ý nghĩa sâu xa của Sống
Trong Văn tâm điêu long, nhà phê bình Lưu Hiệp khẳng định: “Văn cần có cốt cách cũng như thân thể người ta có bộ xương Tình cảm của ta chứa đựng sẵn cái phong cũng như hình hài ta chứa đựng cái khí chất vậy Khi lời văn được xếp đặt đúng đắn và thẳng thì cái c ốt cách của văn đã hình thành” [22, tr.196] và “người nào trau dồi cốt cách thì việc
ch ọn lựa lời văn thế nào cũng tinh, người nào đi sâu vào phong cách thì diễn đạt thế nào cũng rõ” [22, tr.197] Với phong cách văn chương Dư Hoa, ta thấy vừa thống nhất vừa thay
Trang 34đổi sáng tạo Thống nhất ở chỗ nhà văn tạo được nét riêng, độc đáo khó lẫn với nhiều nhà văn tiên phong khác, giọng văn có trầm tĩnh hơn theo thời gian nhưng vẫn đúng chất Dư Hoa Sự thay đổi lại đến từ quan niệm văn chương và thời đại Nhà văn nên thống nhất phong cách nhưng không thể một màu Thế nên sự cách tân, sáng tạo phù hợp ngay ở tiểu thuyết Sống chính là hướng đi đúng đắn đem lại lớp độc giả phổ thông rộng khắp và khẳng
định đóng góp lớn của nhà văn trên văn đàn đương đại
Dư Hoa đạt được những thành tựu và đóng góp nhất định với vị trí nhà văn phái tiên
phong Trong bối cảnh xã hội từ những năm 80 cuối thế kỉ XX cho đến nay, để dễ hình dung hơn quá trình sáng tác của ông, chúng ta có thể chia thành ba chặng phát triển Con đường văn học của Dư Hoa vẫn đang tiếp diễn, phong phú về thể loại, thành thục hơn về kĩ năng sáng tác
Tiểu thuyết Sống góp phần khẳng định những đổi mới nội dung và nghệ thuật của Dư
Hoa Từ tác phẩm này, Dư Hoa đã chuyển hướng quan trọng về quan điểm nghệ thuật, chủ
đề, nhân vật, phương thức sáng tác Nhà văn thực sự bước vào một mảng sáng tác mới đòi
hỏi nhiều tâm huyết, sáng tạo đó chính là tiểu thuyết Phong cách tiểu thuyết của Dư Hoa
đơn giản, trong sáng, càng viết càng chứng tỏ sở trường Sống đã cất lên được tiếng nói
riêng, chứa đựng sức sống sâu sắc mãnh liệt
Trang 35CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GÓC NHÌN VỀ SỐNG CHẾT TRONG TIỂU
THUYẾT SỐNG
Sống và chết tưởng như là vấn đề hết sức đơn giản và căn bản, thế nhưng cho đến nay sự hiểu biết của con người về hai phạm trù căn bản này khá hạn chế Người ta định nghĩa, lí giải sống chết ở các lĩnh vực khác nhau, thường theo khoa học và tôn giáo Nó xuất
hiện trong văn chương, trong đời sống và được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến
Nhìn vấn đề sống chết trong Sống, chúng tôi dựa theo ba góc nhìn triết học, lịch sử
và thẩm mĩ để lí giải quan niệm của Dư Hoa Nhà văn đã có những nhận định riêng của mình về sinh tử thông qua cách xây dựng nhân vật, bối cảnh sống và cái chết Nhiều yếu tố dung hòa đã tạo nên một tác phẩm giản dị mà độc đáo
2.1 S ống chết từ góc nhìn triết học
Khi xem xét quan điểm sống chết trong Sống, có một góc nhìn chúng ta không thể bỏ
qua đó là góc nhìn triết học Với giọng văn từng trải, thông qua phát ngôn, hành động, thái
độ của nhân vật Dư Hoa đã thể hiện nhiều quan điểm triết lí riêng của mình về sống chết Soi chiếu với triết học Đông Tây, chúng ta sẽ có điểm nhìn quán triệt hơn về nội dung, chủ
đề tác phẩm
Khi khảo sát quan niệm sinh tử Đông Tây chúng tôi đã tham khảo công trình Triết lí
sinh t ử Đông Tây của tác giả Phùng Lô Tường do Thích Hoằng Trí dịch Ở cuốn sách này
đã phần nào có cái nhìn chung về sinh tử Đông Tây của một nhà triết học Trung Quốc Bên
cạnh đó chúng tôi cũng tham khảo tổng hợp nhiều tài liệu để từ quan niệm sinh tử Đông Tây soi vào quan niệm sinh tử trong Sống
Quan niệm về sống chết trong triết học phương Tây không thể không nhắc đến các nhà triết học lớn Hy Lạp Quan niệm thay đổi theo thời gian bởi chịu ảnh hưởng nhiều từ các nền văn hóa khác nhau cũng như thừa hưởng các thành tựu Các nhà triết học Hy Lạp từ trước Công nguyên đã đưa ra ý kiến xung quanh việc sống chết của con người, tiêu biểu với quan điểm của Thales, Heracleitos, Pythagoras, Socrates, Plato, Aristoteles
Tư tưởng chính trong triết học Thales là “vạn vật lưu chuyển”, xem nước tượng trưng cho “nền tảng đầu tiên” của vạn vật, vạn vật trên thế giới này đều có mạng sống Theo
ủa ông, sự vật đều chứa đựng thần linh, sống chết đều nằm trong sự thay đổi
Trang 36mang tính lưu chuyển của vạn vật nên không phải sợ hãi, lo lắng với cái chết [dẫn theo 60, tr.202] Heracleitos có quan điểm khác về sống chết Tư tưởng trung tâm của ông chính là Lô-gích, “con người có sinh ắt có tử”, vạn vật đều bất biến trong sự thay đổi, cũng là
nguyên tắc bất biến trong biến hóa Câu nói nổi tiếng của ông: “chúng ta không bao giờ tắm
hai l ần trong cùng một dòng sông” hiểu về lẽ sống chết rằng sự tồn tại của chúng ta hôm
nay và ngày mai không giống nhau, “tồn tại mà lại không tồn tại” Ông nhấn mạnh quan điểm: “con đường đồng nhất giữa sinh tử” hay “trong bản thân chúng ta, sống và chết, tỉnh
và m ộng, trẻ và già, luôn luôn đều là những cặp phạm trù đồng nhất Cái sau thay đổi trở thành cái trước, cái trước lại thay đổi trở thành cái sau” [dẫn theo 60, tr.206]
Đến với Pythagoras, không chỉ là nhà toán học thiên tài mà còn là nhà triết học lớn
Tư tưởng trung tâm của ông là thuyết “thể xác là nhà lao”, xem thể xác là nhà ngục trói
buộc linh hồn, khi chết linh hồn sẽ rời thể xác Cho nên: “chết chỉ là sự giải thoát tạm thời
c ủa linh hồn”, không phải sợ hãi cái chết Ông chịu ảnh hưởng lối thờ cúng Orpheus đương
thời và tin vào “linh hồn chuyển sinh” hay “nhân quả báo ứng”, gần với lòng tin nhân quả
luân hồi của Phật giáo Theo thuyết này, khi chết linh hồn sẽ trải qua một thời gian chuyển sang một kiếp sống mới với thân thể khác [dẫn theo 60, tr.207]
Bàn về sống chết trong triết học Hy Lạp nổi tiếng với các quan điểm của Socrates, Plato, Aristoteles Họ được xem là “ba vị thầy Hy Lạp” đã có nhiều góc nhìn tiến bộ, bên
cạnh đó vẫn còn nhiều điều đáng bàn
Socrates tin vào thần thánh và mệnh trời, nhận định “sống chết có mệnh”, nhưng vẫn
khẳng định sự nỗ lực của bản thân con người là quan trọng nhất Học trò của Socrates là Plato đã ghi lại nhiều câu di ngôn của thầy mình nên tư tưởng cả hai người có khi không thể phân biệt được Xu thế gần đây nhất của phương Tây là gộp chung lại và gọi là tư tưởng
“Socrates – Plato” Tư tưởng này đưa ra nhiều vấn đề quan trọng đối với sống chết Trước
hết, với cuộc sống nhấn mạnh sống cần phải phản tỉnh thì mới có ý nghĩa Tiếp đó, tiêu chuẩn của sự sống phản tỉnh như điều ông từng nói là sống tốt phải dựa vào sự công bằng, chính nghĩa, cao thượng; trái lại sống làm điều sai trái, không biết phản tỉnh thì thà chết còn hơn Hướng đến cái chết, tư tưởng này cho rằng con người khi đối diện cái chết thì không
thể đủ khả năng đoán được tình hình về cõi âm, chỉ có hai nơi con người có thể chọn sau khi
chết, một là chết đem lại sự u tối trong tâm thức, hai là linh hồn từ cõi này di cư đến cõi khác Thuyết này đem lại sự an ủi lớn cho con người khi sống với sự già nua, bệnh tật, đói rét, thì bấy giờ nên giáp mặt cái chết với tâm thế an nhiên, tự tại Thuyết “Socrates – Plato”
Trang 37đã cho thấy cái nhìn khá thoáng đối với vấn đề nhân sinh muôn thuở này Sống trên đời đòi
hỏi sự phản tỉnh cao, không hề e sợ cái chết bởi linh hồn khi rời khỏi thể xác sẽ có đời sống vĩnh cửu Cách nhìn này khiến người ta thanh thản, an nhiên hơn trong cuộc sống
Đến với nhà triết học cổ đại Aristoteles, hậu duệ và học trò của Plato, vấn đề sống
chết được nhìn khác biệt hơn Gần như ngược hoàn toàn với cách nói linh hồn bất tử thì Aristoteles nhấn mạnh: “toàn bộ linh hồn nằm ở cảnh giới sau khi con người chết, tiếp tục
t ồn tại là điều không thể chấp nhận” [dẫn theo 60, tr.225] Ông thấy linh hồn thống nhất với
thể xác, không hề có bản tính của tự thân nó, khi thân thể bị hủy diệt thì linh hồn cũng mất
đi Ông còn nói đến việc nối tiếp của chủng tộc và con cháu đời sau chính là việc lưu giữ linh hồn, “lấy cái thuộc chủng loại nào đó thuộc chủng loại của bản thân nó, kế tục sự tồn
t ại của nó thì sẽ trở thành hình thức có khả năng duy nhất” [dẫn theo 60, tr.226] Tuy thế
ông còn nhận thức dù có dành được thế giới nhưng nếu mất đi mạng sống thì chẳng còn gì, nhưng vẫn đề cao dũng khí và mĩ đức còn hơn mạng sống, có thể dựa vào đó để khắc phục
nỗi sợ hãi
Từ các nhà triết học Hy Lạp đến với các nhà triết học phương Tây, quan niệm về
sống chết có điểm tương đồng lẫn khác biệt Trước hết các nhà tư tưởng phương Tây trên cơ
sở kế thừa, thời cận đại với chủ nghĩa lý tính nên góc nhìn nghiêm túc đối với sống chết như
với Descartes, Kant hay Heghen Descartes theo thuyết nhị nguyên luận nên cho rằng sự
sống là vật chất và cái chết là tâm linh đều là thực thể mang cấp độ giống nhau Ông nhìn
nhận cái chết không hề đáng sợ vì chết thì linh hồn vẫn bất tử, bởi nó rời khỏi thể xác nhưng
chẳng thể bị tổn hại gì Nhà triết học Kant (Đức) đưa ra nhiều quan điểm về sinh tử Trước
hết ông cho rằng người chết có linh hồn bất tử, linh hồn không có tính xác định thuộc phạm trù Logic nhưng lại có tính xác định thuộc phạm trù đạo đức Từ cách nhìn này ông còn
hướng đến việc phản đối tự sát, vì hành vi tự sát là hoàn toàn không phù hợp với “quy luật
t ự nhiên chung” Bất luận con người có đau khổ, bất hạnh đến đâu thì vẫn phải sống kiên
cường, không có lí do nào để hủy diệt mạng sống Con người cần phải vạch ra phương hướng sống, lí tưởng, mục tiêu thì đời sống mới có trọng tâm và sống trường thọ được
Đến với Hegen, nhà triết học đã trang bị đầy đủ các phương pháp khi nhìn nhận về sinh tử Ông nhận định chết không hoàn toàn mang nghĩa phủ định, nhờ cái chết để nâng cao nội hàm và ý nghĩa của mạng sống Và chết còn là sự phủ định một cách tự nhiên của ý
thức, con người luôn mang ý thức sợ hãi cái chết trong suốt quá trình sự sống, cho nên
Trang 38khám phá cái chết chính là lúc phủ định được nỗi sợ hãi Bấy giờ mới có thể thăng hoa tinh
thần để đạt đến sự vĩnh hằng “tinh thần tuyệt đối” [dẫn theo 60, tr.249]
Nietzsche là nhà triết học người Đức đã làm lung lay các nền móng của nền luân lý theo truyền thống và của đạo Thiên Chúa Nền triết học của Friedrich Nietzsche đặt trọng
tâm vào ý tưởng “xác nhận về đời sống” Qua đó đặt câu hỏi liên quan tới mọi chủ thuyết đã
lấy đi các năng lực của đời người, bởi vì nhà triết học tin tưởng vào đời sống, sức khỏe, sự sáng tạo, vào các hiện thực của thế giới mà chúng ta đang sống, hơn là vào một thế giới
“bên kia” Ni etzsche nói rằng: “Thượng Đế đã Chết”, không phải là lời phủ nhận giữa con
người với Thượng đế mà chính là nỗi lặng câm, quay mặt của Thượng đế
Nhìn chung quan niệm sinh tử trong triết học phương Tây, từng nhà triết học, tư tưởng có cách nhìn nhận riêng Xét từ bản chất, lí luận nhân sinh của phương Tây về ý nghĩa chân chính là chủ nghĩa nhân bản, biểu hiện tinh thần nhân cách trên hết của chủ
nghĩa lí tính, lấy “chết làm gốc” Chủ nghĩa lí tính khi suy xét sự sống chết, cho rằng cần
trân trọng sự sống và bình tĩnh đối mặt cái chết Quan niệm về đời sống sau khi chết cũng được đặt ra, với những ý kiến trái chiều về linh hồn có hay không tồn tại Bên cạnh đó văn hóa Đông Tây giao thoa nên vẫn có những chỗ tương đồng với triết học phương Đông
Văn hóa Trung Quốc có bề dày và bề sâu, đã hình thành và phát triển từ cổ đại
Nhiều nhà tư tưởng đã cố gắng đi tìm lí giải về sinh tử, bởi con người còn rất nhiều mơ hồ
về vấn đề mà ai cũng phải đối mặt trong cuộc đời Ban đầu các học thuyết còn đan xen, chưa có học thuyết nào là chính thống Sau đó những học thuyết ngày càng khẳng định được giá trị riêng, được nhiều người chấp nhận, có học thuyết còn được xem như một tôn giáo Chúng ta có thể kể đến tư tưởng của Nho gia tiêu biểu với Khổng Tử, Mạnh Tử, hay Tuân Tử; tư tưởng Đạo gia với đại diện là Lão Tử, Trang tử và Phật giáo
Nho giáo với hệ tư tưởng chính thống chi phối đất nước Trung Quốc với chế độ phong kiến hàng ngàn năm Tư tưởng Nho giáo phần lớn tin vào thuyết số mệnh, đời sống
con người do vận mệnh chi phối Luận ngữ (Khổng Tử) có nói: “sống chết hữu mệnh, giàu
sang tại trời” Mạnh Tử cho rằng: “Chết yểu hay sống thọ không có gì khác nhau, cần bền
chí để tu thân, đó là đứng vững trên số mệnh của mình” (thiên Tận tâm - Mạnh Tử)
Khổng Tử với tư tưởng “tri mệnh”, Mạnh Tử tiếp nối “lập mệnh”, chủ trương coi trọng chữ
nhân nghĩa, con người cần giữ gìn phẩm cách cao quý Tư tưởng Nho gia cho rằng con
đường đời người ta đi cần phải nâng cao giới hạn đạo đức của mình, bắt đầu từ “tu thân” đến “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Đối mặt với tử vong, con người cũng nên lấy thái độ
Trang 39“lập đức, lập công, lập ngôn” để đối xử, dựa vào nguyên tắc đạo đức mà dũng cảm hiến
dâng bản thân
Đạo gia đề xướng “vô vi nhi vô bất vi” (không làm nhưng không có gì không làm)
Tư tưởng này hình thành từ Lão Tử, phát triển đến Trang Tử hàm chứa triết lí nhân sinh sâu
sắc Nói từ góc độ “Đạo”, Đạo là bản nguyên của vũ trụ, tự nhiên mà hình thành trời đất,
vạn vật Nói một cách tự nhiên thì “Đạo” là “vô vi”, nói từ góc độ sinh thành vạn vật thì
“Đạo” lại là “không có gì không làm” Cho nên vô vi là nói thuận theo tự nhiên, còn vô bất
vi là nói không có việc gì không làm, trên thực tế thì vô bất vi nảy sinh từ vô vi Tư tưởng
này bao gồm nhiều luận điểm, trước hết là sự hợp nhất với tự nhiên, hai là nhu nhược không tranh đấu, ba là hư tĩnh thanh đạm, bốn là phục phác quy chân Tư tưởng Lão Trang có tác
dụng tu thân dưỡng tính, giảm nhẹ áp lực tinh thần và bỏ đi sự dày vò tinh thần, thi vị hóa nhân sinh khiến cho con người sống trên đời tự bằng lòng với khoái lạc tiêu dao Tư tưởng này hướng con người đến cuộc sống tự do tự tại không gò bó, thoát khỏi ràng buộc của việc đời, nhưng bên cạnh đó còn làm yếu mềm dũng khí phấn đấu tiến thủ của con người
Đạo giáo ảnh hưởng đến các mặt tính cách, tâm lí dân tộc Trung Quốc Đạo giáo đều cường điệu trung hiếu, hòa thuận, nhân nghĩa, yêu cầu con người nhu, nhược, khiêm, cung,
tế độ diệt khổ và thiết lập thuyết trách nhiệm, báo ứng, địa ngục tiên cảnh… để uy hiếp con người Tư tưởng này cường điệu việc con người làm điều thiện, nói về lương tâm trời đất, tin tưởng việc thiện tất được báo ứng, điều ác tất bị ác báo Tư tưởng chi phối con người ở
mức độ nhất định, giúp con người luôn làm việc thiện để được yên ổn, vui vẻ về mặt tinh
thần, mặt khác người làm điều ác cho dù chưa bị pháp luật trừng trị nhưng khó tránh khỏi lương tâm dày vò và nỗi sợ hãi gặp báo ứng Tư tưởng này còn đem lại sự thanh lọc tâm tính, hòa hợp với tự nhiên, quên những điều phiền muộn để điềm đạm hư tĩnh, giữ lại sự
chất phác Con người mang tinh thần Đạo giáo tức là luôn giữ được trạng thái tâm lí cân
bằng, thuần tĩnh, thúc đẩy con người giải thoát khỏi những giằng xé dung tục, vươn đến điều tốt đẹp, thanh cao
Trang tử nói trong thiên Đại tông sư rằng: “chết sống là mệnh vậy”, có thể xem là
điển hình về Túc mệnh luận Sống chết được xem là hai mặt của một chỉnh thể, tương thông
lẫn nhau Trang Tử nhấn mạnh phải vượt lên trên vấn đề sinh tử, nhìn thấu thế giới để thấy
rằng chẳng phải lo phiền, đau khổ vì chuyện sống chết Ông còn cho rằng nhân sinh như
mộng, “có kẻ chiêm bao cười giữa tiệc rượu, tỉnh giấc khóc trong lòng; hoặc chiêm bao
bu ồn khóc, khi tỉnh giấc vui như đi săn Lúc chiêm bao không biết chiêm bao, khi tỉnh giấc
Trang 40m ới hay là mộng cả Chỉ có bậc đại giác mới biết cuộc đại mộng đó thôi” [54, tr.89] Con
người trong mộng nhưng không biết mình đang mộng, thậm chí trong giấc mộng còn nhập vai hoàn toàn, sau khi tỉnh mới biết mộng hoàn mộng mà thôi
Đến với quan niệm của Phật giáo về sinh tử, Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc, rộng
lớn đến nền văn hóa truyền thống Trung Quốc và hiện thực cuộc sống Từ Ấn Độ đi vào Trung Quốc, Phật giáo đã có nhiều thay đổi để phù hợp với nhân sinh quan, với xã hội Hình tượng các vị Phật cũng có khác biệt đi so với ban đầu, mỗi vị lại đại diện cho những tư tưởng khác nhau Ở những hình ảnh ban đầu, Di Lặc được mô tả như một vị hoàng tử thanh
mảnh, tuấn tú, thường mặc trang phục hoàng gia Ấn Độ Đến Trung Quốc ta thấy hình
tượng Phật Di Lặc, quả vị Phật tương lai với “bụng to có thể chứa được việc thiên hạ khó
dung M ở miệng liền cười chứa trọn nụ cười nhân thế” [dẫn theo 11, 479] Hình ảnh vị Phật
dáng vẻ to béo, hiền hòa, tự tại, bụng phơi ra, trẻ con đeo xung quanh, có đầy đủ ý vị, tay
lần tràng hạt, ngồi khuỳnh chân cởi trần với vẻ mặt tươi cười đã phản ánh thái độ nhân sinh
nhẫn nại thoát tục của nhân dân Trung Quốc đối mặt với tang thương khổ nạn trong đời
sống xã hội Tư tưởng Phật giáo nói một cách tổng thể là thế giới quan, nhân sinh quan duy tâm nhưng nó cũng phân tích và có trí tuệ triết học độc đáo với vũ trụ, nhân sinh
Theo Phật giáo thế giới này vốn vô thường, con người phải thấu triệt nó Sự sống
chết liên quan đến nhân quả, nhân duyên Ai được gần nhau là do duyên tạo, xa nhau là đã
hết duyên Sự sống chết ngắn dài là do nhân quả đã tạo trong cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai Cái chết không phải là kết thúc mà chính là sự khởi đầu bởi khó mà thoát được vòng luân hồi xoay chuyển Kiếp người phù sinh phải hứng chịu bao nhiêu nỗi khổ đau, sự chia li trước cái chết là một trong những điều đau khổ nhất Mỗi cá nhân phải đối mặt với sự thật
vô thường thì mới sống cuộc đời tự tại được
Quan niệm sinh tử Đông Tây đều có những nhận định của các nhà triết học, tư tưởng
về vấn đề sống chết Triết lý sinh tử Đông Tây có những điểm tương đồng lẫn dị biệt Trải qua thời gian, con người dần có những nhận định thấu suốt hướng về lẽ sống chết
Dư Hoa đã thể hiện nhiều quan niệm về sinh tử trong Sống Bên cạnh sự ảnh hưởng
văn hóa Đông Tây về triết học sinh tử thì nhà văn cũng có những quan điểm riêng mang tính triết lí của mình thông qua phát ngôn của các nhân vật Nhìn chung sự tiếp thu về triết học sinh tử thể hiện rõ rệt nhất có thể kể đến là triết học Lão Trang và Phật giáo