1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba

237 507 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 11,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tìm hiểu của người thực hiện, các nghiên cứu ở Việt Nam về tích hợp trong môn TN&XH chủ yếu nêu lên quan điểm tích hợp và việc vận dụng nó trong vấn đề xây dựng chương trình theo hư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN THỊ LY KHA

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cùng với nghe và nói, đọc và viết là những kĩ năng ngôn ngữ cần được chú ý rèn luyện, phát triển trong mọi hoạt động của con người Vì thế, việc rèn luyện hai kĩ năng này ngay từ cấp Tiểu học nói chung và lớp Ba nói riêng là rất quan trọng Đề cập đến nhiệm vụ rèn các kĩ năng ngôn ngữ nói chung và kĩ năng đọc, viết nói riêng, trong chương trình giáo dục bậc Tiểu học, đây là nhiệm vụ chính của môn Tiếng Việt, môn học có tính thực hành, ứng dụng và tích hợp cao

Bàn về vấn đề dạy học tích hợp, có thể nói, trong thời đại ngày nay, đây là xu thế ngày càng thiết yếu của quá trình giáo dục toàn diện cho học sinh (HS) Đặc biệt, đây cũng là một trong những quan điểm chỉ đạo việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau năm 2015 trên cơ sở tăng cường tích hợp để hình thành năng lực tổng hợp và giải quyết vấn đề cho HS Để việc tích hợp đạt hiệu quả cao, sự phối hợp đồng bộ giữa chương trình các môn học, các tài liệu dạy học, sự vận dụng linh hoạt các phương pháp tích hợp là rất quan trọng Như vậy, có thể thấy rằng, việc xây dựng chương trình tích hợp, xây dựng tài liệu dạy học dựa trên nền tảng của một chương trình tích hợp nhằm tăng cường năng lực liên môn cho HS, tạo điều kiện cho các em phát triển kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng sáng tạo là một việc làm quan trọng và cấp thiết

Ở bậc tiểu học, cùng với các môn học khác, chương trình, sách giáo khoa (SGK) môn Tự nhiên và Xã hội (TN&XH) cũng được cấu trúc theo quan điểm tích hợp, thể hiện trên ba phương diện: tích hợp kiến thức tự nhiên và xã hội; tích hợp phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học; tích hợp trong việc hình thành

và phát triển các kĩ năng khác nhau cho HS tiểu học Đồng hành với sách giáo khoa,

vở bài tập Tự nhiên và Xã hội (VBTTN&XH) là nguồn tài liệu phù hợp nhằm giúp HS thực hiện các hoạt động học tập độc lập và đa dạng trong các tiết học để rèn luyện các

kĩ năng học tập, thực hành, củng cố và khắc sâu kiến thức Xét trên bình diện chung về chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt được, SGK và VBTTN&XH đã chuyển tải khá tốt nội

Trang 4

dung kiến thức và giúp HS phát triển năng lực bản thân thông qua việc học tập môn TN&XH Tuy nhiên, nếu xét trên bình diện rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ - nhiệm vụ chính của môn Tiếng Việt, mà cụ thể hơn, đề tài này xin xét đến kĩ năng đọc, kĩ năng viết, VBTTN&XH vẫn chưa được thiết kế trên cơ sở chú trọng tích hợp rèn luyện thêm hai kĩ năng này nhằm phối hợp với môn Tiếng Việt trong việc hình thành, phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho HS

Như đã đề cập phía trên, trong chương trình học tập cấp Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò chủ yếu nhất đối với việc hình thành, phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho trẻ Chương trình Tiếng Việt lớp Ba là giai đoạn “chuyển mình” quan trọng nhằm củng

cố cho HS những kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ đã học ở lớp 1, 2 (giai đoạn HS tư duy trực quan hình ảnh) và trang bị những kiến thức, kĩ năng cao hơn, cần thiết cho việc học tập Tiếng Việt ở lớp 4, 5 (giai đoạn HS tư duy trực quan trừu tượng) Vì thế, có thể nói nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học nói chung và ở lớp Ba nói riêng

là không hề nhẹ Tuy vậy, những nhà giáo dục, nhà sư phạm không nên xem đây chỉ là nhiệm vụ của riêng môn Tiếng Việt mà cần xem nó như một nhiệm vụ không thể tách rời các môn học khác mà TN&XH là một ví dụ Do đó, nếu thực hiện được việc tích hợp kĩ năng đọc, viết thông qua hệ thống bài tập môn TN&XH ngay trong giai đoạn này thì trẻ sẽ có một tiền đề thuận lợi cho việc phát triển kĩ năng đọc, viết sau này Theo tìm hiểu của người thực hiện, các nghiên cứu ở Việt Nam về tích hợp trong môn TN&XH chủ yếu nêu lên quan điểm tích hợp và việc vận dụng nó trong vấn

đề xây dựng chương trình theo hướng: tích hợp kiến thức của một số ngành khoa học, tích hợp bồi dưỡng kĩ năng sống, tư tưởng, lối sống đạo đức cho trẻ vào chương trình môn TN&XH, chứ chưa tìm hiểu việc tích hợp rèn các kĩ năng ngôn ngữ thông qua hệ thống bài tập Trong khi đó, trên thế giới, vấn đề này được đề cập khá nhiều Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu, công trình lại tập trung nghiên cứu việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho trẻ thông qua môn “Science (1)” ở các lớp 4, 5 và các lớp cao hơn

(1)

Trên thế giới, thuật ngữ “Science” được dùng để gọi các môn Khoa học cho tất cả các lớp Tại Việt Nam, môn

“Science” có tên là môn Tự nhiên và Xã hội (đối với lớp 1, 2, 3); Khoa học, Lịch sử và Địa Lý (đối với lớp 4, 5)

Trang 5

Chương trình “Science A - Z” (http://www.sciencea-z.com) chỉ tập trung thiết kế các bài tập khoa học giới hạn trong bốn chủ đề nhỏ “Đời sống, Trái Đất, Vật lý, Tiến trình” (Life, Earth, Physical, Process) Chương trình Hạt giống Khoa học/ Gốc rễ của

việc đọc (Seeds of Science/Roots of Reading) cung cấp các hoạt động học tập khoa

học đa dạng trong mục đích phát triển đồng thời kĩ năng đọc, viết và kĩ năng khoa học; tuy nhiên, số lượng bài học ở đây chỉ giới hạn trong một vài bài cụ thể và chia theo các nhóm lớp (nhóm lớp 2 - 3, nhóm lớp 3 - 4, nhóm lớp 4 - 5), thiếu sự phân hóa thành một lớp cụ thể Hơn nữa, do đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa, cấu trúc chương trình môn học, việc áp dụng các bài tập này vào chương trình giáo dục môn TN&XH3 ở Việt Nam có sự chênh lệch và khó khăn rất lớn Như vậy, có thể nói, hệ thống bài tập TN&XH tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ Xuất phát từ thực tiễn trên; đồng thời, với mong muốn tìm hiểu về quan điểm tích hợp nói chung và việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết thông qua hệ thống bài tập TN&XH lớp Ba nói riêng, đón đầu xu hướng đổi mới chương trình và sách giáo khoa theo định hướng phát triển năng lực sau 2015, để tìm kiếm, tham khảo, xây dựng và thử nghiệm các bài tập phù hợp góp phần rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba, chúng

tôi chọn đề tài “Xây dựng bài tập Tự nhiên và Xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết

cho học sinh lớp Ba” nhằm tìm hiểu và xây dựng hệ thống bài tập TN&XH3 theo

hướng tích hợp và chứng minh giả định bài tập TN&XH3 được thiết kế theo dạng tích hợp sẽ là một nguồn tài liệu hiệu quả trong việc hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ngày nay, tích hợp trở thành xu thế tất yếu trên thế giới ở mọi lĩnh vực mà giáo dục là một yếu tố trong đó Nói đến tích hợp trong giáo dục, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm có thể tìm thấy những thông tin chi tiết về vấn đề này ở tất cả các khía cạnh: định nghĩa, nguyên nhân, cách tiếp cận, lợi ích của việc tích hợp trong

Vì vậy, để tránh bị nhầm lẫn, chúng tôi vẫn giữ nguyên thuật ngữ “Science” khi đề cập đến môn học này trong khi trình bày các nghiên cứu của thế giới về vấn đề liên quan đến đề tài

Trang 6

giáo dục về mặt thiết kế chương trình cũng như phương pháp dạy học ở nhiều tài liệu

và nghiên cứu của các chuyên gia, nhà giáo dục như Fan (2004), Drake & Burns

(2004), ĐàoThị Hồng (2005), Cao Văn Sâm (2006), Hoàng Thị Tuyết (2012) Ngoài

ra, khi xét đến các mức độ tích hợp trong giáo dục, các tác giả Drake & Burns (2004),

Hoàng Thị Tuyết (2012) cũng trình bày ba hướng tiếp cận tích hợp và các phương án khác nhau để tạo nên một chương trình tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn Chính sự đa dạng về các nguồn tài liệu tích hợp trong giáo dục giúp cho người đọc có một cái nhìn đa chiều, thuận lợi cho việc lựa chọn các hướng tiếp cận xu hướng dạy học tích hợp trong phạm vi mà người đọc quan tâm [1, tr.27, 28], [5], [6], [7], [9, tr 13 - 24], [10], [18], [19]

Nằm trong hệ thống giáo dục của các quốc gia trên thế giới, việc dạy tiếng cũng

đã, đang được thực hiện theo xu hướng tích hợp với nhiều hình thức khác nhau Và

“Language Arts (2)” được nhiều nơi lựa chọn, sử dụng linh hoạt như một mô hình tích hợp đem lại hiệu quả cao cho việc dạy tiếng Trong “Language Arts”, ở một góc độ tiếp cận, kĩ năng ngôn ngữ được tích hợp vào các môn học khác Điều này tạo điều kiện cho HS phát triển các kĩ năng ngôn ngữ trong sự tương tác với các kiến thức khoa học, xã hội đa dạng nhằm phát triển kĩ năng sống và khả năng tư duy, giao tiếp của các

em Các tài liệu và nghiên cứu của Joyce, Malicky (1996), Cox (2007), O'Shaughnessy (2001), Mildred (2008) nêu lên cái nhìn chung nhất về mô hình “Language Arts” từ định nghĩa, đặc điểm đến cách thức và phương pháp thực hiện Thực hiện theo mô hình này, nhiều trang web, mà điển hình là trang http://www.time4learning.com, mục

“Online Language Arts Curriculum” (Chương trình “Language Arts” trực tuyến) cũng tập trung vào việc cung cấp các bài học đa phương tiện nhằm giảng dạy, củng cố, phát triển kiến thức về ngữ âm, độ trôi chảy, ngữ pháp, chính tả, từ vựng, đọc hiểu, Bên cạnh đó, mục “Language Arts Games” (Trò chơi “Language Arts”) của các trang web

(2) “Language Arts” là một thuật ngữ được hiểu trên 3 lĩnh vực: (1) các kĩ năng ngôn ngữ; (2) một môn học trong chương trình (liên quan đến các kĩ năng diễn đạt ý tưởng theo hình thức ngôn ngữ nói hoặc viết cũng như các kĩ năng hiểu ý tưởng của người nói hay người viết); các lĩnh vực của chương trình giáo dục ngôn ngữ của nhà trường

Trang 7

http://www.sheppardsoftware.com, http://www.funbrain.com, http://www.softschools.com, http://www.primarygames.com còn cung cấp các trò chơi

đa dạng nhằm “mềm hóa” việc học tập ngôn ngữ của trẻ Đặc biệt, trong phạm vi của

đề tài, Jerine (2010) cho thấy tầm quan trọng của việc tích hợp giảng dạy ngôn ngữ trong môn “Science” và phác họa những khó khăn, thách thức mà giáo viên (GV) có thể gặp phải khi áp dụng hướng tích hợp này thông qua việc sử dụng vở bài tập khoa học vào giảng dạy [17], [28], [30], [39], [45], [60]

Ngoài ra, khi đề cập đến việc phát triển kĩ năng đọc, viết ở HS, các tài liệu và một số trang web cũng chỉ ra các yếu tố có liên quan đến việc đọc, viết (kiến thức ngữ

âm, từ vựng; kĩ năng giải mã, tốc độ đọc, kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng diễn đạt, …) và đề nghị một số cách thức cũng như trò chơi để phát triển các yếu tố này [9], [11], [12], [13], [25], [34], [37]

Bàn về vai trò của việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết vào chương trình

“Science”, thuật ngữ “science literacy” (đọc viết khoa học) khá quen thuộc với các nhà giáo dục trên thế giới Các nghiên cứu của Krupp(1994); Bowers (2000); Willoughby (2005); Shin, Rueda, Simpkins, Lim (2009); Jerine (2010); Chen (2011); Sharrio (2011); Sessoms (2012) cho thấy lý do và tầm quan trọng của việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết trong dạy học môn “Science” dựa trên việc so sánh tương quan các kĩ năng trong học tập khoa học và các kĩ năng liên quan đến việc đọc, viết Không dừng lại ở

đó, các tài liệu nêu trên còn gợi ý một số cách để tích hợp việc dạy kĩ năng đọc, viết thông qua môn học này mà một trong số đó là xây dựng các hình thức bài tập phù hợp cho cả hai yêu cầu: kiểm tra kiến thức khoa học và tạo môi trường để trẻ phát triển kĩ năng đọc, viết, … Cụ thể, trong nghiên cứu của mình, tác giả Sessoms (2012) cho thấy

ý nghĩa của việc sử dụng các các hình thức văn bản đa dạng (thơ, văn, truyện, thông báo, áp phích, ) trong mục tiêu phát triển kĩ năng đọc, viết cho trẻ thông qua chương trình môn “Science” [50, tr.13, 14] Mặt khác, Stewart (2010) còn nhấn mạnh việc sử dụng các tài liệu học tập môn “Science” trong nhiều cách thức khác nhau: chương trình “Cùng đọc sách”, chương trình “Đọc kịch bản”, kết nối kết nối sách hư cấu và phi hư cấu Đặc biệt, Bowers (2000) trình bày hai hướng để phát triển một bài học tích

Trang 8

hợp Đó là bắt đầu bằng một văn bản bên ngoài và tìm kiếm nội dung khoa học trong văn bản hoặc bắt đầu với nội dung khoa học và tìm kiếm tài liệu tương ứng với chủ đề Mặt khác, các nghiên cứu này cũng cho thấy vai trò của các yếu tố thuộc đồ họa, vai trò của việc dạy học đa phương tiện, đa hình thức, … đối với việc phát triển kĩ năng đọc viết khoa học của HS Bên cạnh những vấn đề như các tài liệu trên đã nêu, đáng lưu ý phải kể đến tài liệu do Colluns Educational xuất bản (1998), tài liệu của Glynn, S., Muth, K (1994), Các tác giả của hai tài liệu này xác định rằng HS có thể nắm được các khái niệm khoa học và mối quan hệ giữa chúng bằng cách đọc, viết các dạng văn bản khác nhau có liên quan đến khoa học (các câu chuyện, bài báo về sự phát triển, tiến bộ trong khoa học và công nghệ; các loại tài liệu tham khảo khác nhau có chủ đề khoa học; tiểu sử của các nhà khoa học; các tác phẩm văn chương của các nhà khoa học, ) Nhờ cách thức này, tư duy phê phán và kĩ năng tổng hợp vấn đề, kĩ năng tìm ý, lập dàn ý và kĩ năng diễn đạt của trẻ sẽ phát triển Qua đó, tác giả giới thiệu một

số mô hình và cách thức để tích hợp rèn luyện kĩ năng đọc, viết thông qua học tập khoa học Đó là các chiến lược SQ4R (3)

, chiến lược MURDER (4) (Dansereau, 1985) chiến lược Dạy học tương hỗ (5) (Palincsar, 1986), chiến lược DARTs (Direct activities related to texts - Các hoạt động định hướng có liên quan đến văn bản) Đặc biệt, tài liệu của Collins Educational (1998) còn trình bày các bước để phát triển kĩ năng viết của HS theo tiến trình: làm quen với nhiều dạng văn bản khác nhau  chia sẻ cùng

dung; Q (Question - câu hỏi): Xây dựng các câu hỏi về nội dung văn bản; R (Read - đọc): Đọc văn bản, sử dụng các câu hỏi và hướng dẫn; R (Reflect - phản ánh, đối chiếu): Xem xét những gì đã đọc, nội dung văn bản liên quan đến kiến thức cơ bản; R (Recite - kể lại): Xem xét những gì đã được đọc, nội dung văn bản liên quan đến kiến thức; R (Review - xem lại): Tổ chức thông tin của văn bản, đọc lại những nội dung khó

(4) Chiến lược MURDER: M (Mood - Lối) : lập kế hoạch cho việc học văn bản, theo dõi sự chú ý; U

(Understanding - Hiểu): xác định nội dung văn bản khó và quan trọng; R (Recall - Gợi nhớ): Diễn giải ý tưởng của văn bản và lập sơ đồ cho những nội dung quan trọng; D (Digest - Phân loại, sắp đặt có hệ thống): Phản ánh, xác định các ý tưởng quan trọng và những phần khó hiểu; E (Expand - Mở rộng): Hỏi để biết cách áp dụng các thông tin trong văn bản; R (Review - Xem lại): Phân tích lỗi trong bài kiểm tra

những nội dung có thể gây nhiễu trong văn bản; dự đoán thông tin sẽ xuất hiện trong văn bản tiếp theo

Trang 9

nhau cấu trúc của văn bản sẽ viết  cung cấp các khung viết mẫu để HS có định hướng và học tập cách tư duy, tổng hợp, phân tích và triển khai vấn đề  viết độc lập [22, tr 1057 - 1069], [42, tr 7 - 18]

Cũng với tinh thần dạy học khoa học theo hướng tích hợp, trang web http://www.sciencea-z.com và chương trình Hạt giống Khoa học/ Gốc rễ của việc đọc

(Seeds of Science/Roots of Reading) (http://www.scienceandliteracy.org/) thiết kế các

hoạt động học tập trong mục đích tích hợp dạy khoa học và kĩ năng ngôn ngữ Thông qua các nguồn tài liệu phong phú như truyện khoa học có hình ảnh minh họa, các bài đọc nhanh, các bài tập thông qua hình thức trò chơi, trang web giúp HS tiếp cận kiến thức khoa học một cách nhẹ nhàng; đồng thời tạo cơ hội cho các em phát triển kĩ năng ngôn ngữ nói chung, và kĩ năng đọc, viết nói riêng Đặc biệt, chương trình Hạt giống

Khoa học/ Gốc rễ của việc đọc (Seeds of Science/Roots of Reading)

(http://www.scienceandliteracy.org/) cung cấp các hoạt động thực hành khoa học tích hợp Thông qua bốn hoạt động Làm - Nói - Đọc - Viết trong suốt quá trình học tập, HS được tạo cơ hội gắn kết với các khái niệm khoa học và phát triển kĩ năng đọc, viết, thảo luận Trong chương trình này, các chủ đề theo khối lớp (từ lớp 2 đến lớp 5) bao gồm nhiều bài học khác nhau và mỗi bài học đều có mục tiêu rõ ràng về mặt kiến thức khoa học, kĩ năng đọc, kĩ năng viết, kĩ năng nghe, nói cũng như có hướng dẫn cụ thể

về các bước cần thực hiện Do đó, có thể nói, chương trình Hạt giống Khoa học/ Gốc

rễ của việc đọc là một người bạn đồng hành cho những người quan tâm đến mảng tích hợp giữa khoa học và kĩ năng đọc, kĩ năng viết ở đối tượng HS lớp 2 - 5

Như vậy, về việc thiết kế các bài tập khoa học tích hợp hỗ trợ rèn kĩ năng đọc viết, tác giả đề tài chưa tìm thấy các tài liệu của nước ngoài và Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, nhưng trong những đề tài về giải pháp tích hợp phát triển kĩ năng đọc, viết thông qua môn “Science”, các nghiên cứu có đề cập đến cách thức xây dựng các bài tập này với các hướng: đa dạng ngữ liệu học tập, phương tiện dạy học với các hình thức phong phú (thơ, văn, truyện, thông báo, áp phích, ); sử dụng các hình thức đồ họa (tranh ảnh minh họa, biểu đồ, …), các khung viết mẫu, trò chơi mở rộng vốn từ để phát triển khả năng diễn đạt, kĩ năng tư duy, kĩ năng phân tích - tổng hợp của

Trang 10

HS trên cơ sở của việc học tập thực hành, tương tác

Khía cạnh đánh giá kĩ năng đọc viết khoa học cũng là một vấn đề mà nhiều tổ chức giáo dục và những nhà nghiên cứu quan tâm Các nghiên cứu của Chương trình đánh giá quốc gia Úc (2012), tổ chức PISA (2000), Cox (2007) trình bày các yếu tố cần đánh giá trong vấn đề này (kiến thức, khái niệm khoa học; kĩ năng khoa học; kĩ năng áp dụng các hiểu biết, kĩ năng khoa học vào hoàn cảnh xác định, ), mục đích và nhiệm vụ đánh giá Đồng thời, các nghiên cứu cũng cung cấp các hướng dẫn cụ thể cho việc đánh giá và giới thiệu các mẫu bài kiểm tra Qua đó, người đọc sẽ có một cái nhìn cụ thể hơn về đọc viết khoa học và nắm rõ việc đánh giá khả năng này ở trẻ [14], [17], [46]

Có thể thấy rằng, việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết qua môn “Science” là xu hướng rất phổ biến trên thế giới, nhưng vẫn chưa được tập trung nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Tại Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu chỉ dừng lại ở các vấn đề tích hợp trong dạy học nói chung (khái niệm, định nghĩa, cách tiếp cận, cách xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp) chứ chưa tìm hiểu về mảng tích hợp hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết thông qua môn TN&XH Trên thế giới, hầu hết các nghiên cứu liên quan thường đề cập đến các đối tượng HS một cách chung nhất hoặc tập trung nghiên cứu trên các lớp đối tượng lớp 4, lớp 5 (ở bậc Tiểu học) và các lớp cao hơn với việc phân tích cách thức tiến hành, tổ chức các hoạt động thực hành, thực nghiệm khoa học

để qua đó, HS thực hành và phát triển đồng thời kiến thức khoa học và kĩ năng đọc viết Trong các nghiên cứu này, đối tượng HS lớp 3 chưa được tập trung chú ý cụ thể Hơn nữa, các đề tài chủ yếu hướng vào việc nghiên cứu các biện pháp dạy học để rèn luyện kĩ năng đọc viết khoa học ở HS chứ chưa có đề tài nào đi sâu vào việc xây dựng, phân tích các bài tập hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba Chỉ có chương trình Hạt giống Khoa học/ Nguồn gốc của việc đọc cung cấp một số hoạt động học tập với các hướng dẫn cụ thể cho đối tượng này Tuy nhiên, do đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa, chương trình đào tạo, việc áp dụng các bài tập môn “Science” trên thế giới vào Việt Nam có sự chênh lệch nhất định Như vậy, có thể nói, bài tập TN&XH tích hợp hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ Do đó, nếu có thể

Trang 11

xây dựng bài tập TN&XH trong mục đích nêu trên thì HS, GV và những người quan tâm sẽ có thêm một nguồn tài liệu hỗ trợ cho việc phát triển đồng thời kiến thức, kĩ năng khoa học TN&XH hội và kĩ năng đọc, viết Đó là mong muốn mà người thực hiện đề tài “Xây dựng bài tập Tự nhiên và Xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba” hướng đến

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đặt ra, người nghiên cứu tiến hành thực hiện các nhiệm

vụ sau:

 Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề tích hợp rèn kĩ năng đọc, kĩ năng viết thông qua môn TN&XH nói chung và thông qua các bài tập TN&XH nói riêng, đặc biệt tìm hiểu các bài tập môn TN&XH được xây dựng theo hướng tích trên thông qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan và phân tích các dạng bài tập này

 Xây dựng các bài tập TN&XH tích hợp nhằm hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

 Thực nghiệm các bài tập TN&XH đã xây dựng

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

Vấn đề tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba thông qua môn TN&XH

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Bài tập TN&XH hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

6 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, VBTTN&XH 3 chưa được thiết kế trên cơ sở chú trọng tích hợp rèn luyện hai kĩ năng đọc, viết nhằm phối hợp với môn Tiếng Việt trong việc hình thành, phát triển kĩ năng ngôn ngữ cho HS Vì thế, việc xây dựng và sử dụng bài tập TN&XH

Trang 12

tích hợp hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết một cách khoa học, hợp lí có thể góp phần quan trọng vào quá trình phát triển đồng thời kiến thức, kĩ năng khoa học, xã hội và kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nghiên cứu: Vì điều kiện nghiên cứu hạn chế, đề tài chỉ nghiên cứu việc xây dựng 17 bài tập TN&XH (tính theo đơn vị bài học) nhằm hỗ trợ việc rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

- Phạm vi nghiên cứu: Vì điều kiện nghiên cứu hạn chế, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát 294 GV lớp Ba, nhà quản lý trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, TP.HCM; thực nghiệm 97HS của trường tiểu học LCT2., Hóc Môn, TP.HCM và trường tiểu học NTT., Q3, TP.HCM

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, đề tài tập trung tìm lời giải cho các câu hỏi sau:

 Làm thế nào để xây dựng bài tập TN&XH theo hướng tích hợp hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

 Việc sử dụng các bài tập này vào chương trình dạy - học môn TN&XH được thực hiện như thế nào?

 Những dạng hoạt động nào có thể được sử dụng để tích hợp nội dung rèn kĩ năng đọc, viết vào nội dung TN&XH3?

 Các bài tập được xây dựng có tác dụng như thế nào đối với sự hình thành, phát triển kiến thức, kĩ năng Khoa học và kĩ năng đọc, viết của HS lớp Ba?

8.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tiến hành qua việc phối hợp đồng bộ các nhóm phương pháp sau:

 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này được sử dụng để thu thập, nghiên cứu tài liệu trong nước và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến đề tài: kĩ năng đọc, kĩ năng viết; vấn

đề dạy học tích hợp nói chung và dạy học tích hợp ngôn ngữ với khoa học nói riêng,

Trang 13

việc xây dựng các bài tập TN&XH theo hướng tích hợp rèn kỹ năng đọc, viết Sau đó, người thực hiện tiến hành phân loại các tài liệu đã tìm được thành năm mảng: với năm mảng chính có liên quan trực tiếp đến đề tài: các tài liệu về dạy học tích hợp nói chung; tài liệu về đọc viết khoa học; tài liệu về “Language Arts”; tài liệu về kĩ năng đọc, kĩ năng viết; tài liệu về tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết vào học tập “Science” và một số biện pháp để thực hiện điều này Việc làm này được thực hiện giúp người thực hiện xác lập các căn cứ khoa học và cách thức hợp lý để xây dựng các bài tập TN&XH theo hướng tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trong đề tài, phương pháp quan sát khoa học được sử dụng để thu thập thông tin về thái độ, khả năng chú ý, sự yêu thích khi làm bài của HS nhóm thực nghiệm trong quá trình thử nghiệm bài tập TN&XH hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp

Ba Mặt khác, việc quan sát này còn bao hàm cả quá trình quan sát hoạt động dạy - học của cô và trò trong những tiết học TN&XH có sử dụng các bài tập thử nghiệm

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu ý kiến của GV dạy lớp Ba về vấn

đề tích hợp trong chương trình TN&XH; sự cần thiết của việc rèn kĩ năng đọc, viết cho

HS lớp Ba qua môn TN&XH; thực tế tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp 3 qua môn TN&XH trong chương trình TN&XH hiện nay; cách thức tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba qua môn TN&XH

Theo đó, việc khảo sát được thực hiện từ tháng 1 - tháng 5/2014 trên 294GV lớp Ba của 35 trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và TP.HCM Khi tiến hành khảo sát, các GV sẽ trả lời phiếu khảo sát gồm 8 câu hỏi về các vấn đề liên quan (xin xem phụ lục 1)

Trong đề tài, phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu về vấn đề tích hợp rèn

kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba thông qua các bài tập TN&XH

Đồng thời, phương pháp này cũng được người nghiên cứu sử dụng để kết hợp

Trang 14

với phương pháp xin ý kiến chuyên gia về lĩnh vực dạy học TN&XH ở tiểu học Việc làm này giúp người nghiên cứu có cái nhìn nhiều chiều về thực tế của việc tích hợp rèn

kỹ năng đọc, viết trong chương trình môn TN&XH, tầm quan trọng của việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết thông qua các bài tập TN&XH cũng như nội dung, cách thức xây dựng các bài tập TN&XH tích hợp nhằm rèn luyện kĩ năng đọc, viết cho HS Bên cạnh

đó, việc phỏng vấn cũng được tiến hành để tìm hiểu ý kiến chuyên gia về sản phẩm mà

đề tài đã xây dựng ở các mặt nội dung, các hoạt động sử dụng trong các câu hỏi bài tập, câu hỏi bài đọc, hình thức thể hiện (màu sắc, kiểu chữ, cỡ chữ), sự phù hợp với đối tượng học sinh lớp Ba, Nhờ đó, người nghiên cứu có những điều chỉnh, cải tiến phù hợp đối với các bài tập TN&XH đã xây dựng

Thực nghiệm khoa học là phương pháp quan trọng trong đề tài nhằm thực nghiệm và đưa ra những đánh giá cần thiết về tính hiệu quả của các bài tập TN&XH

mà đề tài đã xây dựng trong việc phát triển đồng thời kiến thức khoa học và kĩ năng đọc, viết cho HS Thông qua quá trình thực nghiệm, người nghiên cứu có thể thấy được những ưu điểm, hạn chế của các bài tập đã xây dựng; từ đó, cải tiến, phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế để các bài tập ngày càng hoàn thiện hơn Quá trình thực nghiệm được tiến hành với việc chọn mẫu nghiên cứu là 194HS

ở trường tiểu học LCT2., Hóc Môn, TP.HCM và trường tiểu học NTT., Q3, TP.HCM Việc chọn mẫu nghiên cứu được dựa trên các tiêu chí: các trường được chọn đều chấp thuận và tạo điều kiện cho người nghiên cứu thực hiện khảo sát và thực nghiệm, HS được chọn để khảo sát là các em có sự phát triển bình thường về trí tuệ Bên cạnh những tiêu chí nêu trên, đề tài thực hiện chọn mẫu bằng cách ngẫu nhiên thuận tiện nhằm đảm bảo tính đại diện và tin cậy đối với kết quả nghiên cứu Theo đó, các HS lớp 3 của hai trường đều tham gia thực hiện bài kiểm tra ban đầu Dựa trên kết quả bài kiểm tra này, người nghiên cứu chọn các lớp có kết quả tương đương nhau để làm mẫu nghiên cứu

Sau khi tiến hành chọn mẫu, mẫu nghiên cứu của đề tài bao gồm 194HS chia thành hai nhóm: 97HS ở nhóm thực nghiệm và 97HS ở nhóm đối chứng Trong đó,

Trang 15

mỗi trường đều có một nhóm thực nghiệm (trường TH LCT2., Hóc Môn, TP.HCM: 48HS; trường TH NTT., Q3, TP.HCM: 49HS) và một nhóm đối chứng (trường TH LCT2., Hóc Môn, TP.HCM: 48HS; trường TH NTT., Q3, TP.HCM: 49HS) Điểm cần lưu ý là HS trong nhóm thực nghiệm hoặc nhóm đối chứng trong một trường sẽ học cùng một lớp Sở dĩ chúng tôi không chọn ngẫu nhiên theo từng trình độ (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu) và chia ngẫu nhiên số HS này thành hai nhóm đối chứng và thực nghiệm sao cho số HS ở từng trình độ của mỗi nhóm là như nhau là vì việc lựa chọn này có thể gây nên một số vấn đề: Trong cùng một lớp sẽ có em được chọn vào nhóm thực nghiệm, có em không được chọn Điều này dẫn đến những khó khăn khi đề tài tiến hành thực nghiệm bài tập ở giai đoạn hai Mặt khác, điều này tạo nên sự không công bằng giữa các đối tượng HS vì trong cùng một lớp sẽ có em được chọn, có em không được chọn để tham gia nghiên cứu

Trong đề tài, việc thực nghiệm được tiến hành qua hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Thu thập, phân tích cơ sở dữ liệu về HS lớp Ba mà nhà trường cung cấp; tiến hành bài kiểm tra ban đầu để xác định nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm; khảo sát ý kiến của GV và chuyên gia về việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết thông qua các bài tập TN&XH; xây dựng và thí điểm các bài tập để đánh giá độ phân biệt, độ tin cậy, ưu và khuyết điểm của bài tập để đưa ra những lưu ý cần thiết cho việc xây dựng, cải tiến và thử nghiệm bài tập ở giai đoạn 2

Giai đoạn 2: Thử nghiệm bài tập trên nhóm thực nghiệm; tiến hành bài kiểm tra cuối đợt, so sánh kết quả trước và sau thực nghiệm; phỏng vấn chuyên gia, GV và HS

về những bài tập TN&XH mà đề tài đã thiết kế; rút ra các kết luận và đề xuất

Trang 16

quá trình thực nghiệm, kết quả thực hiện các bài tập TN&XH được thiết kế theo hướng tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết của nhóm thực nghiệm cũng như các thông tin thu được

từ việc ghi chép nhật ký thử nghiệm sẽ được ghi chú phân tích Cuối cùng, kết quả bài kiểm tra cuối đợt được so sánh với kết quả bài kiểm tra ban đầu, thực hiện phân tích,

so sánh số liệu, đánh giá chi tiết để đưa ra các kết luận và kiến nghị cần thiết

9.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Đề tài mong muốn tạo nguồn tài liệu học tập TN&XH hỗ trợ cho việc phát triển

kĩ năng đọc, viết của HS lớp Ba Qua đó, HS được phát triển đồng thời kiến thức, kĩ năng khoa học, xã hội và kĩ năng đọc, viết để tạo tiền đề cho việc phát triển tư duy, kĩ năng khoa học và các kĩ năng ngôn ngữ, đón đầu định hướng dạy học phát triển năng lực của chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015

9.3 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có ba chương: Chương 1 Cơ sở

lí luận và cơ sở thực tiễn; Chương 2 Bài tập môn Tự nhiên và Xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp Ba; Chương 3 Thực nghiệm bài tập Tự nhiên và Xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp Ba

Bên cạnh các trang chính văn, luận văn còn có các trang phụ lục gồm: Phiếu tìm hiểu quan điểm về việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba qua môn TN&XH; câu hỏi phỏng vấn; bài kiểm tra TN&XH; bài kiểm tra Tiếng Việt; các bài

Trang 17

tập TN&XH theo hướng tích hợp mà đề tài đã xây dựng; bảng kết quả thống kê về độ tin cậy của các bài tập đã xây dựng; bảng kết quả nhóm đối chứng - nhóm thực nghiệm trước - sau thực nghiệm; trích nhật ký thực nghiệm; hình ảnh thực nghiệm; v.v

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

Đọc thành thạo là một kĩ năng phức hợp đòi hỏi sự phối hợp và tương tác của nhiều kĩ năng Mặc dù khó có thể tách rời các kĩ năng này trong một người đọc thành thạo trưởng thành, nhưng cũng không thể tích hợp chúng hoàn toàn trong những giai đoạn đầu của quá trình học đọc [7, tr.87]

1.1.1.2 Kĩ năng viết

Viết là một hoạt động mà ở đó người thực hiện thể hiện suy nghĩ của mình bằng ngôn ngữ viết với việc dùng các hình thức diễn đạt, từ vựng hợp lý Một người có kĩ năng viết phải biết dùng từ phù hợp (sự phù hợp bao gồm phù hợp trong ngữ cảnh xác định, phù hợp ngữ nghĩa và phù hợp với kiểu văn bản nhất định); biết đặt từ, đặt câu vào vị trí thích hợp trong câu; biết sử dụng kiểu văn bản phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng tiếp nhận văn bản; biết cách diễn đạt để thể hiện trọn vẹn ý chính [13]

1.1.1.3 Một số yếu tố liên quan đến kĩ năng đọc và kĩ năng viết

Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, có nhiều yếu tố liên quan đến kĩ năng đọc

và kĩ năng viết nhưng nổi bật nhất có thể kể đến các yếu tố nền tảng sau đây:

 Ý thức văn bản in (Print awareness)

Ý thức văn bản in là sự hiểu biết rằng những từ ngữ hiển thị trên giấy là có ý nghĩa và nó có liên quan đến ngôn ngữ nói

Ý thức văn bản in giúp trẻ biết rằng văn bản nhìn sẽ khác nhau tùy thuộc vào việc nó được sử dụng như thế nào Khi trẻ bắt đầu có ý thức về văn bản in, trẻ sẽ nhận thức được rằng những từ được in trong giấy thực sự là chữ in chứ không phải là biểu tượng hình vẽ Có thể nói, ý thức văn bản in là một kĩ năng nền tảng quan trọng vì nó

Trang 19

giúp cho HS biết rằng văn bản in được sử dụng như thế nào Các nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ của trẻ cho thấy những trẻ em yếu kém về ý thức văn bản in sẽ khó có thể trở thành người đọc thành công [34]

 Khả năng nhận diện từ - giải mã kí tự (Word recognition and Phonics)

Kĩ năng giải mã là hoạt động tạo cơ sở cho việc hiểu nghĩa văn bản và được nhấn mạnh trong giai đoạn học vần Kĩ năng này được thực hiện theo cấp độ cấu tạo của các đơn vị ngôn ngữ: vần, từ, ngữ, câu, đoạn và bài Trong đó, việc phân tích ngữ

âm được thực hiện ở giai đoạn học vần Ở giai đoạn sau, HS cần được hướng dẫn rèn

kĩ năng phân tích cấu trúc và kĩ năng phân tích ngữ cảnh [7, tr.91]

Nhận diện từ là điểm then chốt của quá trình lĩnh hội năng lực đọc Với tư cách

là một người đọc, HS cần phải có khả năng nhận diện từ Để đạt được điều này, HS cần đạt được các điều kiện sau đây:

- HS nhận ra được sự tồn tại của từ ngữ trong bản chữ viết và trong chuỗi lời nói, hiểu rằng biểu tượng chữ viết được mã hóa thành lời nói

- HS được nuôi dưỡng và phát triển thông qua việc nghe đọc và quan sát người khác đọc

- HS có ý thức ngữ âm

- HS hiểu biết về các chữ cái

Để phát triển kĩ năng nhận diện từ, GV có thể lưu ý một số cách như sau:

- Dạy cho HS tính tương hợp giữa âm và chữ Bên cạnh đó, HS phải nắm vững cách kết hợp các chữ cái thành tiếng và cách tách tiếng thành các chữ cái riêng biệt

- Giúp HS chú ý vào trật tự chuỗi với sự tương hợp âm - chữ; chú ý đến tốc độ đọc âm, tiếng, từ, câu

- Làm mẫu các âm, từ mới; sửa chữa lỗi kịp thời và tường minh; hướng dẫn HS đọc các bài luyện đọc từ dễ đến khó

- Tạo cơ hội cho HS thực hành và luyện tập mỗi ngày dựa trên khả năng và sự ưa thích của trẻ [7, tr 21, 27]

 Vốn từ (Vocabulary)

Từ vựng giữ một vai trò rất quan trọng trong việc đọc và viết vì nếu không có

Trang 20

vốn từ, trẻ sẽ gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung mà ngữ liệu muốn truyền tải Thêm vào đó, nếu có vốn từ nghèo nàn, trẻ sẽ khó có thể diễn đạt trọn vẹn điều mình muốn bằng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết [34, tr.22]

Bàn về vấn đề vốn từ của HS, có thể nói, vốn từ nhận biết có vai trò rất quan trọng Đó là những từ ngữ mà HS có thể nhận ra ngay để đọc mà không cần thời gian ngừng để suy nghĩ Vốn từ nhận biết chỉ những từ ngữ mà học sinh có thể nhận ra ngay để đọc mà không cần thời gian để ngừng và suy nghĩ Vốn từ nhận biết là những

từ được truy xuất nhanh dựa vào các mô hình chữ viết được lưu trữ trong trí nhớ hơn

là việc giải mã những mô hình âm thanh riêng lẻ thể hiện bằng các con chữ Vốn từ này được hình thành thông qua những lần đọc lặp lại một từ nào đó một cách chính xác Việc giải mã trôi chảy phụ thuộc vào rất nhiều vào sự phát triển của vốn từ nhận biết Vì vậy, vốn từ nhận biết có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển năng lực đọc của học sinh, giúp các em có thể nhận ra, hiểu và đọc lớn được các từ ngữ ấy ngay lập tức trong văn bản Nói cách khác, đây là yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng đến khả năng nhận diện từ của HS [7, tr 90, 91]

Khi dạy từ vựng cho HS, GV cần lưu ý một số vấn đề sau đây:

- Dạy từ vựng vừa theo cách trực tiếp, vừa theo cách gián tiếp: GV cung cấp định nghĩa chính xác và đưa ra các ví dụ về từ đó để HS học từ hoặc có thể dạy từ thông qua việc cho HS làm quen với từ điển hoặc cho từ xuất hiện trong các ngữ cảnh khác nhau để các em có thể đoán được nghĩa của từ không quen thuộc

- Dạy từ ngữ trên cơ sở đặt từ trong nhiều ngữ cảnh khác nhau: trong những ngữ cảnh khác nhau, việc sử dụng từ ngữ cũng sẽ khác nhau Do đó, GV cần lựa chọn ngữ liệu lựa chọn phù hợp với các ngữ cảnh để đưa các từ vựng cần thiết vào và hướng dẫn

HS nắm nghĩa, cách sử dụng các từ ngữ này

- Tạo điều kiện cho HS làm việc với từ mới bằng nhiều con đường khác nhau:

Đặt từ mới trong một câu: Đây là cách để củng cố và kiểm tra khả năng nắm nghĩa của từ của HS Việc kết nối từ mới với kinh nghiệm cá nhân hoặc kiến thức cơ bản là một cách để HS có thể hoàn thành nhiệm vụ này

Ví dụ: Cha mẹ dẫn tôi đi “đại dương” lần đầu tiên  Sai

Trang 21

 Nối định nghĩa với từ mới: Hoạt động này có thể được thay đổi để tạo thành một trò chơi vui cho HS Các định nghĩa được HS ghi ra có thể được sử dụng cho rất nhiều hoạt động

 Sử dụng từ mới trong nhiều ngữ cảnh khác nhau: HS sẽ tiếp nhận và làm quen với một từ mới trong một ngữ cảnh nhất định Sau đó, GV cần mở rộng và tạo ra nhiều ngữ cảnh khác nhau để HS có thể rèn luyện và phát triển khả năng hiểu sâu về từ vựng

 Cung cấp cho HS nhiều cơ hội tiếp cận với từ mới: HS cần phải thấy, nghe, nhìn, đọc, viết từ mới nhiều lần và trong nhiều ngữ cảnh khác nhau GV cần làm mẫu cho HS thấy từ mới có thể được sử dụng trong nhiều môn học, nhiều chủ đề khác nhau

- Gắn kết một cách tích cực, chủ động từ vựng với việc học: GV cần tổ chức nhiều hoạt động có liên quan đến việc học tập từ vựng hơn là việc chỉ làm việc một cách thụ động, nhàm chán trên một vài hoạt động cố định, lặp lại

- Kết hợp dạy từ mới với những từ đã biết để HS thấy được mối liên hệ, điểm khác nhay giữa những từ này

- Dạy từ mới trên cơ sở đặt từ trong câu, đoạn để củng cố và kiểm tra khả năng nắm nghĩa của từ, khả năng sử dụng từ của HS

Ví dụ: Cha mẹ dẫn tôi đi “đại dương” lần đầu tiên  Dùng từ không phù hợp

- Có thể củng cố ý nghĩa của từ cho HS bằng hoạt động nối định nghĩa của từ với

từ tương ứng

- Lựa chọn từ phù hợp và cần thiết để dạy cho HS Trên thực tế, GV không có đủ thời gian để dạy tất cả từ cho HS Vì vậy, GV cần phải lựa chọn các từ phù hợp và thật cần thiết để dạy Có thể dựa vào một số tiêu chuẩn để lựa chọn từ ngữ cần dạy cho HS:

Trang 22

tích cấu trúc

Xác định những từ mà HS sẽ gặp thường xuyên: GV cần xác định để khoanh vùng các từ mà HS sẽ sử dụng thường xuyên Sự xuất hiện này có thể là ở bên ngoài môn học, bên ngoài bài học mà HS sẽ gặp ở các môn học khác, các bài học khác Đối với những từ này, GV cần giải thích và đưa ra đa dạng các ví dụ minh họa để đảm bảo rằng tất cả HS đều hiểu nghĩa của từ này trong nhiều loại ngữ liệu khác nhau [10], [32], [25], [34]

 Sự trôi chảy, lưu loát (Fluency)

Đọc lưu loát tức là đọc nhanh và đọc một cách tự động Một người được xem là đọc lưu loát khi có khả năng đọc một cách nhanh chóng và chính xác mà không cần có

sự nỗ lực nào Yếu tố này được tạo nên bởi ít nhất ba thành tố chính: tốc độ đọc, độ chính xác trong nhận diện từ và khả năng đọc diễn cảm [36, tr.2]

Ngoài những vấn đề trên, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng đọc lưu loát là một cầu nối giữa nhận diện mặt chữ, đọc chữ với đọc hiểu Nói rõ hơn, nếu HS

có khả năng nhận diện từ ngữ tốt, các em có thể đọc các tổ hợp từ mượt mà; từ đó, có thể nắm được nghĩa của câu, đoạn và nghĩa của toàn bài Do đó, có thể nói đọc lưu loát đóng vai trò là tiền đề, là cơ sở cho đọc hiểu

 Hiểu (Comprehension)

Đọc hiểu là quá trình vận động trí tuệ để làm rõ nghĩa kí tự, nội dung và đích thông báo của văn bản Đọc hiểu còn được gọi là đọc ý thức Khả năng hiểu nội dung văn bản thể hiện hiệu quả của hành động đọc thầm Do đó, dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức, đọc hiểu

Một số yếu tố quan trọng cho việc đọc hiểu: độ chính xác và lưu loát của kĩ năng đọc từ, ngôn ngữ bằng lời (vốn từ, mức độ hiểu biết khái niệm và thực tế, kiến thức và chiến lược nhận thức để phát triển kĩ năng đọc hiểu), kĩ năng suy luận, động lực học tập cũng như sự hứng thú đối với nhiệm vụ được giao và đối với ngữ liệu

Ở bậc tiểu học, kĩ năng đọc hiểu có thể chia thành hai cấp độ:

- Sơ cấp: HS biết nắm bắt thông tin với mục đích đã định; hiểu nghĩa hiển ngôn của văn bản; phát triển một số thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, phân

Trang 23

loại và khái quát hóa

- Trung cấp: HS có thể nắm bắt được lớp nghĩa hàm ngôn của văn bản, phát triển được một số thao tác suy nghĩ cao cấp như suy luận, phán đoán, đánh giá, giải quyết vấn đề, [7, tr 93 - 95]

Để trở thành một người đọc hiểu tốt, HS cần phải: sử dụng một loạt các chiến lược đọc hiểu để đọc sâu và phát triển kĩ năng đọc hiểu Trong đó, hai chiến lược đọc hiểu phổ biến và hiệu quả cho việc phát triển kĩ năng đọc hiểu ở HS có thể kể đến là:

Sử dụng kiến thức nền và tạo ra câu hỏi

- Chiến lược sử dụng kiến thức nền: Nhờ vào kiến thức nền, người đọc có thể xây dựng mối liên hệ giữa những điều mà họ đọc được với những điều mà họ đã biết Những người đọc có kiến thức nền yếu kém ở một lĩnh vực cụ thể nào đó thường gặp một khó khăn nhất định trong việc trả lời các câu hỏi yêu cầu tổng hợp, phân tích thông tin Điều này xuất phát từ việc người đọc không nhận ra sự mâu thuẫn giữa điều đọc được và kiến thức nền của các em

- Chiến lược xây dựng câu hỏi: Việc tạo ra câu hỏi dựa trên ngữ liệu đem lại rất nhiều lợi ích cho người đọc: Thứ nhất, nó giúp người đọc có thể kiểm soát việc đọc hiểu của bản thân Những người thường tự đặt câu hỏi cho bản thân trong suốt quá trình đọc hoặc sau khi đọc đều có khả năng xác định các vấn đề đọc hiểu sớm hơn và chính xác hơn hơn những người bình thường Ngoài ra, việc tự đặt câu hỏi trong khi đọc giúp HS phát triển kĩ năng đọc hiểu và có khả năng hồi tưởng lại thông tin tốt hơn; nhờ đó, các em có thể trả lời các câu hỏi chính xác hơn và xác định ý chính của ngữ liệu tốt hơn

Bên cạnh hai chiến lược trên, GV cũng cần chú ý phát triển cho HS các chiến lược đọc hiểu khác:

- Kiểm soát việc đọc hiểu: Việc này được thực hiện bằng việc người đọc cần chú

ý xem khi nào thì họ bắt đầu không hiểu nghĩa của ngữ liệu mà họ đang đọc Khi đó, người đọc cần tóm tắt những điều đã đã đọc bằng từ ngữ của bản thân

- Hợp tác trong học tập: GV cần chia lớp thành các nhóm nhỏ, cung cấp nhiệm

vụ xác định rõ ràng và đảm bảo các hoạt động này đều gắn kết với từng HS

Trang 24

- Nắm bắt chữ viết và các sơ đồ tổ chức ngữ nghĩa (sơ đồ mạng): GV dạy cho HS cách vẽ các sơ đồ tổ chức ngữ nghĩa để trình bày các ý trong ngữ liệu mà các em đã đọc để giúp các em ghi nhớ những gì đã đọc.[36, tr.31 - 38]

 Kĩ năng viết tay (Handwriting skill)

Chữ viết tay là một phương tiện để thể hiện ngôn ngữ cá nhân Đây là một kĩ năng phức tạp và bao gồm rất nhiều yếu tố liên quan Trong đó, có thể kể đến một số yếu tố chính như môi trường, sự điều khiển vận động tinh, tầm nhìn, nhận thức/không gian, sự tích hợp giữa động cơ và thị giác, bộ nhớ - sự chú ý, cảm xúc

Kĩ năng viết tay có liên quan mật thiết đến kĩ năng viết vì nếu trẻ có kĩ năng viết tay tốt, việc thể hiện các ý tưởng bằng ngôn ngữ viết sẽ được thực hiện trơn tru, hiệu quả hơn [41]

 Kĩ năng ngữ pháp (Grammartical skill)

Ngữ pháp là việc xem xét các quy tắc chủ yếu trong sử dụng ngôn ngữ Đó là những quy tắc chuẩn về văn phạm trong văn nói và văn viết Bàn về vấn đề này, có thể nói, nội dung ngữ pháp được xem xét ở hai cấp độ: từ và câu Ngữ pháp ở cấp độ từ như danh từ, động từ, cụm từ, cấu tạo từ Ngữ pháp ở cấp độ câu và ngữ pháp ở cấp độ ngôn bản như câu, đoạn [36]

Ngữ pháp là một khía cạnh rất phức tạp và quan trọng của một ngôn ngữ Và do

đó, việc rèn luyện kĩ năng ngữ pháp là cần thiết để mỗi người có thể nắm rõ ngôn ngữ

đó Tuy nhiên, bàn về kĩ năng ngữ pháp trong việc phát triển kĩ năng đọc, kĩ năng viết, nhiều nhà nghiên cứu xác định rằng kĩ năng ngữ pháp trong vấn đề này không phải là khả năng nhớ tất cả các quy tắc ngữ pháp, mà là khả năng xây dựng được các câu có ý nghĩa để có thể áp dụng cho việc phát triển kĩ năng đọc, viết Theo đó, việc hiểu biết

và ý thức ngữ pháp không phải là một thành tố trực tiếp, chủ đạo tạo nên năng lực ngôn ngữ của cá nhân mà nó chỉ là thành tố có tính hỗ trợ cho năng lực này Vì thế, việc dạy học ngữ pháp cần khai thác vai trò hỗ trợ này của hiểu biết ngữ pháp

Để HS có thể nói, viết đúng, việc dạy học ngữ pháp cần đi theo hướng phát triển lời nói, phát triển năng lực giao tiếp một cách có kế hoạch và hệ thống:

- Vận dụng kiến thức và kĩ năng phân tích ngữ pháp để tự sữa chữa các bài đã viết

Trang 25

- Sử dụng những bài tập liên phân môn để tạo cơ hội cho HS sử dụng ngôn ngữ

- Khuyến khích HS thường xuyên nghe và đọc ngoài SGK để gia tăng cơ hội cho việc phát triển năng lực nói và viết đúng ngữ pháp một cách tự nhiên

- Hướng dẫn HS sửa chữa lỗi ngữ pháp bằng cách cho HS khám phá ra nguyên nhân thông qua việc tự nói lại những gì diễn ra trong suy nghĩ trong khi tạo ra các đơn

vị sai ngữ pháp [10], [53]

1.1.2 Tổng quan về tích hợp trong giáo dục

1.1.2.1 Tích hợp

Tích hợp (integration) là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực

"Integration" có gốc từ tiếng Latin (integer) có nghĩa là "whole" (toàn bộ, toàn thể)

Đó là sự phối hợp, xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở của những

bộ phận riêng lẻ

Cùng bàn về vấn đề này, Clark (2002) cho rằng “tích hợp là cách tư duy trong

đó các mối liên kết được tìm kiếm; do vậy, tích hợp làm cho việc học chân chính xảy ra” Theo quan niệm đó, tích hợp trong giáo dục được xem như một yếu tố tất yếu của quá trình học tập với việc tìm kiếm các mối liên hệ và kết nối các kiến thức Nhờ đó,

HS được học tập toàn diện cả về kiến thức, kĩ năng

Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được hiểu như là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động dạy học để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn, của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất Hay nói cách khác, tích hợp là sự lồng ghép, sự kết hợp những nội dung các môn học (hoặc các phân môn trong một môn học) theo những khía cạnh khác nhau: tích hợp nội dung, phương pháp, tích hợp trong đánh giá, Và cách tiếp cận tìm tòi - khám phá này khuyến khích học thông qua quá trình tìm kiếm tích cực, sẽ kết hợp hơn là mở rộng các kiến thức rời rạc [10]

1.1.2.2 Chương trình tích hợp

Tích hợp chương trình được mô tả như là một cách tiếp cận để dạy và học dựa trên cở sở triết học và thực tiễn Việc tích hợp diễn ra khi các thành phần của chương trình được kết nối và liên quan một cách có ý nghĩa đến cả HS và GV

Trang 26

Chương trình tích hợp là cách giúp HS phá vỡ rào cản của các đối tượng học tập và làm cho việc học có ý nghĩa hơn Vì thế, chương trình tích hợp thường thể hiện

ý tưởng dạy xung quanh một chủ đề, một tổ chức trung tâm học tập Như vậy, có thể nói, chương trình tích hợp đòi hỏi GV và HS phải thực sự linh hoạt, sáng tạo; chú trọng phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề, ứng dụng thực tế và rèn luyện ý thức xã hội cho HS thông qua quá trình học tập

Rogier (1996) xác định rằng chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học Mặt khác, chương trình tích hợp phải liên quan đến việc tạo lập các kết nối, các mối liên hệ: Các kết nối, mối liên hệ này là gì? Các kết nối này dựa trên nền tảng kiến thức hay

kĩ năng nào, được xây dựng nhằm đạt mục đích gì? Việc định nghĩa chương trình tích hợp giúp các nhà giáo dục đưa ra ba loại cơ bản về hoạt động tích hợp theo ba kiểu tiếp cận tích hợp khác nhau: Tích hợp đa môn (The Multidisciplinary Integration), tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration), tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration) [10], [19], [22], [28], [30], [46], [50], [51]

1.1.3 Tích hợp rèn kĩ năng đọc viết trong học tập khoa học

1.1.3.1 So sánh các hoạt động trong học tập khoa học và các hoạt động trong học đọc, học viết

Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy việc học tập khoa học, học đọc và học viết có sự tương đồng với nhau trong một số hoạt động 48 (Xem bảng 1.1, 1.2)

Bảng 1.1 Các kĩ năng trong học đọc và khoa học

Các kĩ năng trong học đọc trong học tập khoa học TN&XH Các kĩ năng

- Ghi chú chi tiết

Trang 27

Bảng 1.2 Các kĩ năng trong học viết và khoa học

Các kĩ năng trong học viết Các kĩ năng

trong học tập khoa học TN&XH

- Quan sát và miêu tả

- So sánh đối chiếu

- Phân tích

- Thuyết phục

- Trình bày nguyên nhân và hệ quả

- Trình bày vấn đề và giải pháp giải

- Trình bày giả thuyết

- Trình bày tiến trình, suy luận

- Trình bày kết luận

Nguồn: NSRC (2012) [49, tr.13, 14] 1.1.3.2 Đọc viết khoa học

Khái niệm

Theo PISA (Programme for International Student Assessment), đọc viết khoa học được định nghĩa như là: Kiến thức khoa học của một cá nhân và việc sử dụng kiến thức đó để nhận diện vấn đề, lĩnh hội kiến thức mới, giải thích các hiện tượng khoa học, rút ra những kết luận dựa trên các chứng cứ về vấn đề liên quan đến khoa học, hiểu biết về đặc điểm của khoa học nhưng là một hình thái kiến thức và tìm tòi khám phá của con người, nhận thức về việc công nghệ và khoa học định hình môi trường văn hóa, trí tuệ và vật chất, và sự sẵn lòng tham dự vào các vấn đề liên quan đến khoa học và các vấn đề khoa học với tư cách là một công dân biết suy biết [48, tr 76] Người học biết đọc viết khoa học sẽ có khả năng: biết và hiểu các khái niệm và tiến trình khoa học cần thiết cho việc tham gia xã hội; đặt câu hỏi, tìm ra và xác định các câu trả lời cho những câu hỏi nảy sinh từ trí tò mò về thế giới; mô tả, giải thích và phỏng đoán các hiện tượng thiên nhiên; đọc với sự hiểu biết các bài báo khoa học; nhận diện các vấn đề khoa học; thể hiện những vị trí/ ý kiến khác nhau với kiến thức thông tin về khoa học và công nghệ; đánh giá chất lượng thông tin khoa học dựa trên

cơ sở nguồn và phương pháp được sử dụng để tạo ra thông tin ấy; đưa ra và đánh giá

Trang 28

các lập luận dựa trên chứng cứ thu thập được và áp dụng các kết luận từ những lập luận ấy một cách thích hợp

Các yếu tố của đọc viết khoa học

Đọc viết khoa học bao gồm 5 yếu tố:

- Thể hiện sự hiểu biết về các khái niệm khoa học,

- Nhận diện câu hỏi nghiên cứu khoa học;

- Xác định các dẫn chứng cần thiết về các vấn đề liên quan đến khoa học;

- Trình bày và đánh giá các kết luận khoa học;

- Rút ra các kết luận hợp lý, có giá trị [48, tr 76]

1.1.3.3 Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng đọc viết trong học tập khoa học

Nghiên cứu của các nhà khoa học đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa kiến thức, kĩ năng khoa học tự nhiên xã hội và kĩ năng đọc viết:

Xét về vai trò của kĩ năng đọc, viết đối với việc học tập khoa học tự nhiên, xã hội, nghiên cứu của Shin (2009) kết luận rằng: Thông qua việc tìm hiểu các nội dung văn bản và thực hành, trải nghiệm các hiện tượng khoa học rồi trình bày suy nghĩ, sự hiểu biết của mình bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, HS dễ dàng tiếp cận, ghi nhớ các kiến thức, khái niệm khoa học hơn Hay nói cách khác, những kĩ năng về đọc, viết cho phép HS đào sâu, phản ánh chính xác các vấn đề khoa học [52]

Ở chiều ngược lại, học tập khoa học tạo một ngữ cảnh xác định cho việc học đọc, học viết HS sẽ được tạo cơ hội để dùng khả năng ngôn ngữ vào việc tìm hiểu, thảo luận và trình bày ý tưởng về vấn đề khoa học Điều này làm cho việc học đọc, học viết của các em có ý nghĩa và gắn với thực tiễn nhiều hơn

Bàn về lợi ích của việc tích hợp dạy kĩ năng đọc, viết với dạy khoa học tự nhiên

và xã hội, Thier & Daviss (2002) đã đề cập đến một số vấn đề như sau:

 Hoạt động đọc để khám phá khoa học, kết hợp với điều tra trực tiếp và thảo luận giúp HS có được kĩ năng đọc tốt hơn việc học đọc thuần túy đơn điệu

 Khoa học là môi trường tạo động lực mạnh mẽ cho việc học nói, viết và đọc một cách hiệu quả vì HS buộc phải phát triển khả năng này để tiếp cận các ngữ liệu trong học tập khoa học

Trang 29

 Các ngữ liệu khoa học cung cấp nhiều cơ hội để mở rộng từ vựng của HS, góp phần phát triển kĩ năng đọc

 Việc đọc, thảo luận, thực hành các báo cáo khoa học góp phần nâng cao vốn từ vựng khoa học, phát triển khả năng hiểu và mô tả các khái niệm khoa học [52], [55]

1.1.3.4 Cách thức tích hợp rèn kĩ năng đọc viết trong học tập khoa học

Khi tích hợp rèn kĩ năng đọc viết trong học tập khoa học, GV cần chú ý một số điểm sau đây:

- Dành thời gian cho việc mở rộng và củng cố vốn từ vựng ở HS, đặc biệt là vốn

từ vựng khoa học: từ mới cần được xác định và giải thích một cách kỹ lưỡng Đặc biệt,

HS cần có thời gian để tìm hiểu về từ trước khi được học cách đánh vần

- Xây dựng bức tường từ vựng trong lớp học để chia sẻ và ghi lại các từ mới: GV cần khuyến khích HS xây dựng “bức tường từ vựng” và sử dụng nó như một vốn từ phục vụ cho việc ôn tập kiến thức, phát triển ý tưởng và kiểm tra lại việc đánh vần, phát âm của mình

- Chú ý phát triển kĩ năng đọc trong khoa học dựa trên một số lưu ý sau đây:

 Cung cấp cơ hội cho HS đọc thông qua các ngữ liệu đa dạng Các ngữ liệu này

có thể là thơ, truyện, báo, áp phích có nội dung gắn liền với nội dung bài học và phù hợp với trình độ nhận thức của HS

 Sử dụng các chiến lược “trước khi đọc” (pre - reading strategies) như cho HS quan sát tranh, phân tích các đề mục và thảo luận mục đích của việc đọc trước khi việc đọc thực sự diễn ra

 Tạo cơ hội để HS khám phá ngữ liệu cùng với nhau: xác định từ mới, sử dụng chiến lược siêu nhận thức như (đánh dấu văn bản, khoanh tròn từ khóa, đếm số ý trong bài, )

Ở một hướng khác, tùy vào trình độ HS, GV có thể giúp và hướng dẫn HS xây dựng câu hỏi và yêu cầu các em trả lời các câu hỏi này

 Làm mẫu và tập cho HS tóm tắt các ý chính của ngữ bài học

 Chú ý phát triển kĩ năng viết trong khoa học:

 Xây dựng các bài tập để HS rèn luyện kĩ năng viết câu hoàn chỉnh Bước tiếp

Trang 30

theo, GV cần đặt các câu này trong một đoạn văn để HS phát triển nhận thức về câu, đoạn, văn bản hoàn chỉnh

 Nhằm tạo cơ hội cho HS quen với các dạng thức văn bản, GV có thể chia sẻ cho

HS các khung mẫu của từng dạng thức để HS có thể nắm vững cấu trúc Tùy vào trình

độ của HS, GV có thể hướng dẫn HS theo từng bước: Đối với HS giỏi, GV có thể yêu cầu các em viết câu, đoạn ngay từ đầu Đối với HS khá và trung bình, GV có thể sử dụng các hình thức như sơ đồ mạng, bài tập điền khuyết, bài tập ghép từ, ghép câu để

HS dần hình thành và nắm vững cấu trúc của các đơn vị ngôn ngữ, dạng thức văn bản

 Khuyến khích sự cộng tác theo nhóm nhỏ giữa các HS để các em cùng trao đổi, tranh luận và chia sẻ ý tưởng, suy nghĩ

 Tạo cơ hội cho HS thực hành trên nhiều dạng ngữ liệu khác nhau: tranh, ảnh, sơ

đồ mạng, văn bản thông tin, văn bản nghệ thuật, áp phích,

Hướng dẫn HS xác định đối tượng người đọc trong khi viết

 Tạo động lực cho HS viết bằng cách đảm bảo các yếu tố có thể gây hứng thú cho HS: đó có thể là là tranh, phim, các sơ đồ mạng bảng biểu, biểu đồ Ven thể hiện sáng tạo nội dung bài học [25], [34], [37], [40], [46], [50], [51], [52], [53], [55], [58], [59]

1.1.4 Một số yếu tố cần lưu ý khi xây dựng bài tập TN&XH theo hướng tích hợp hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS

1.1.4.1 Vai trò của các bài tập TN&XH:

- Bài tập TN&XH là một công cụ để HS thể hiện suy nghĩ và hiểu biết của mình

về các khái niệm, kiến thức, kĩ năng về tự nhiên, xã hội Có một thực tế rằng, một số

HS không thích bày tỏ ý kiến trước cả lớp hoặc lười suy nghĩ nhưng thông qua các bài tập TN&XH, các em có phương tiện để tư duy và trình bày hiểu biết, kĩ năng của mình

về vấn đề vừa được tiếp cận

- Bài tập TN&XH cung cấp cho GV cơ hội và phương tiện để đánh giá HS về nội dung học tập cụ thể Từ đó, GV có thể có những điều chỉnh cần thiết cho việc dạy và đưa ra những phản hồi nhằm hỗ trợ HS học tập Mặt khác, những hình thức B bài tập

đa dạng (sơ đồ, câu hỏi trắc nghiệm, điền khuyết, ) cũng là một hình thức để HS hệ

Trang 31

thống lại nội dung học tập và tự xác định mức độ nhận thức của bản thân

- Bài tập TN&XH là một công cụ phát triển kĩ năng đọc, viết, giao tiếp cho HS: Khi thực hiện các bài tập TN&XH, HS được tiếp cận với nhiều dạng ngữ liệu khác nhau (hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu, văn bản dạng tiến trình, văn bản dạng truyện kể, văn bản thông tin, ) Điều này góp phần phát triển kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng viết Về phía GV, các bài tập TN&XH cũng là cơ hội để GV có thêm cơ hội rèn luyện cho HS các kĩ năng đọc, viết thông qua việc cung cấp các hình thức bài tập đọc hiểu ngữ liệu, viết và cung cấp các khung viết mẫu để HS dần quen và có khả năng thực hành với các dạng thức ngữ liệu khác nhau Bên cạnh đó, bài tập TN&XH cũng là nguồn tài liệu hữu ích cho việc củng cố và phát triển vốn từ vựng cho HS, đặc biệt là vốn từ vựng khoa học

- Bài tập TN&XH phù hợp cho nhiều hình thức tổ chức dạy học và trình độ của HS: GV có thể sử dụng bài tập TN&XH nhưng thay đổi hình thức sao cho phù hợp với đặc điểm lớp học và trình độ của HS Bên cạnh đó, các bài tập TN&XH tạo điều kiện cho nhiều đối tượng HS học tập tùy theo trình độ của mình Điều này sẽ thực sự hiệu quả khi GV chú ý đến các nhóm HS với trình độ khác nhau, đưa ra những hướng dẫn

cụ thể và phản hồi cần thiết cho các em

- Bài tập TN&XH thúc đẩy sự tương tác giữa HS và GV: thông qua các bài tập,

HS có dịp củng cố lại kiến thức, kĩ năng của mình và nhận phản hồi từ GV để xác định khả năng của mình Về phía GV, GV có cơ hội tiếp xúc và tương tác hơn với HS thông qua các hoạt động hướng dẫn, trao đổi, đưa ra nhận xét Nhờ vậy, GV và HS có sự phối hợp với nhau và điều chỉnh việc dạy - học cho hợp lý [27], [29], [31], [35], [38]

1.1.4.2 Một số yếu tố cần lưu ý khi xây dựng bài tập TN&XH theo hướng tích hợp hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho HS

- Có nội dung gắn liền với chương trình học tập TN&XH, hướng đến việc củng

cố kiến thức, kĩ năng TN&XH và các kĩ năng quá trình

- Tạo cơ hội để HS tham gia và phát triển kĩ năng đọc, viết thông qua các hoạt động tìm hiểu, thực hành khoa học

- Phù hợp cho việc dạy học đa hình thức, đa giác quan, đảm bảo HS giữ vai trò

Trang 32

trung tâm của quá trình dạy học

- Lưu ý kết hợp các chiến lược dạy học ngôn ngữ, khoa học một cách sáng tạo và phù hợp

- Đa dạng các loại ngữ liệu (thơ, văn, truyện, thông báo, áp phích, ) dưới hình thức đa giác quan để HS có thể thực hiện các hoạt động đọc, viết, thực hành khoa học trên cơ sở tương tác với các ngữ liệu này

- Sử dụng các yếu tố đồ họa (tranh, sơ đồ, bảng biểu, biểu đồ, ) để hỗ trợ và tạo động lực đọc, viết cho HS

- Chú ý phát triển vốn từ vựng cho HS, đặc biệt là vốn từ vựng khoa học thông qua các chú thích về từ, các bài đọc,

- Chú ý sử dụng các khung mẫu (writing frame) để hướng dẫn, hỗ trợ và từng bước phát triển ở HS nhận thức về các dạng thức văn bản khác nhau [22], [33], [58]

- Đọc thầm

- Tìm hiểu ý chính của đoạn, nội dung của bài; nhận xét về nhân vật, hình ảnh, chi tiết; đặt đầu đề cho đoạn văn

- Đọc thuộc một số bài thơ, đoạn văn ngắn

- Ghi chép một vài thông tin đã đọc [1, tr.15]

1.2.1.2 Kĩ năng viết

- Viết chữ cái hoa cỡ nhỏ

- Viết chính tả đoạn văn, đoạn thơ theo các hình thức nghe - viết, nhìn - viết, nhớ

- viết Viết tên riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài đơn giản Phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài

- Viết câu trần thuật đơn Dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu

Trang 33

phẩy khi viết

- Huy động vốn từ để diễn đạt ý kiến của bản thân Bước đầu sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa [1, tr.15, 16]

1.2.2 Chương trình, sách giáo khoa, vở bài tập môn TN&XH3

Chương trình, SGK, vở bài tập môn TN&XH lớp Ba được cơ cấu trong 35 tuần với tổng số tiết là 70 (2 tiết/ tuần)

Sách giáo khoa TN&XH 3 được cấu trúc theo 3 chủ đề, mỗi chủ đề có các bài học với số lượng khác nhau: Con người và sức khỏe (18 bài), Xã hội (21 bài), Tự nhiên (31 bài) Mỗi bài học được trình bày gọn trong 2 trang mở liền nhau để HS tiện theo dõi

Trên cơ sở cấu trúc chung của chương trình và SGK, VBTTN&XH 3 cũng được cơ cấu trong 35 tuần với tổng số tiết là 70 (2 tiết/tuần) Như vậy, VBTTN&XH 3 bao gồm 70 bài, mỗi bài ứng với một đơn vị học (có 1 số bài được ghép liền nhau: bài

17 - 18, bài 21 - 22, bài 27 - 28, bài 34 - 35, bài 56 - 57, bài 69 - 70) Mỗi đơn vị học

có nhiều câu hỏi khác nhau được thiết kế gọn trong một trang đơn Các câu hỏi trong VBTTN&XH 3 được đánh số thứ tự để HS, GV tiện theo dõi

Các thông tin cung cấp cho HS thông qua chương trình môn TN&XH 3 gồm các kiến thức, kĩ năng liên quan đến đời sống tự nhiên, xã hội thông qua các bài học

như sau:  Chủ đề “Con người và sức khỏe” gồm các bài học: Hoạt động thở và cơ

quan hô hấp; Nên thở như thế nào?; Vệ sinh hô hấp; Phòng bệnh đường hô hấp; Bệnh lao phổi; Máu và cơ quan tuần hoàn; Hoạt động tuần hoàn; Phòng bệnh tim mạch; Hoạt động bài tiết nước tiểu; Vệ sinh cơ quan bài tiết nước tiểu; Cơ quan thần kinh; Hoạt động thần kinh; Hoạt động thần kinh (tiếp theo); Vệ sinh thần kinh; Vệ sinh thần

kinh (tiếp theo); Ôn tập và kiểm tra: Con người và sức khỏe  Chủ đề “Xã hội” gồm

các bài học: Các thế hệ trong một gia đình; Họ nội, họ ngoại; Thực hành: Phân tích và

vẽ sơ đồ mối quan hệ họ hàng; Phòng cháy khi ở nhà; Một số hoạt động ở trường; Một

số hoạt động ở trường (tiếp theo); Không chơi các trò chơi nguy hiểm; Tỉnh (thành phố) nơi bạn đang sống; Các hoạt động thông tin liên lạc; Hoạt động nông nghiệp; Hoạt động công nghiệp, thương mại; Làng quê và đô thị; An toàn khi đi xe đạp; Ôn tập

Trang 34

và kiểm tra học kỳ I; Vệ sinh môi trường; Vệ sinh môi trường (tiếp theo); Vệ sinh môi

trường (tiếp theo)  Chủ đề “Tự nhiên” gồm các bài học: Thực vật; Thân cây; Thân

cây (tiếp theo); Rễ cây; Rễ cây (tiếp theo); Lá cây; Khả năng kỳ diệu của lá cây; Hoa; Quả; Động vật; Côn trùng; Tôm, cua; Cá; Chim; Thú; Thú (tiếp theo); Thực hành: Đi thăm thiên nhiên; Mặt Trời; Trái Đất Quả địa cầu; Sự chuyển động của Trái Đất; Trái Đất là một hành tinh trong hệ Mặt Trời; Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất; Ngày và đêm trên Trái Đất; Năm, tháng và mùa; Các đới khí hậu; Bề mặt Trái Đất; Bề mặt lục địa; Bề mặt lục địa (tiếp theo); Ôn tập và kiểm tra học kỳ II: Tự nhiên

1.2.3 Vấn đề tích hợp trong môn TN&XH3 hiện nay

Ở bậc tiểu học, chương trình môn Tự nhiên và Xã hội (TN&XH) được cấu trúc trên quan điểm tích hợp theo hướng đồng tâm: Chương trình kết hợp ba chủ đề lớn Tự nhiên - Con người - Xã hội thành một thể thống nhất có mối quan hệ qua lại Theo trục

cơ sở đó, môn TN&XH3 cũng được xây dựng trên quan điểm tích hợp theo hướng các kiến thức trong môn học là sự tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học tự nhiên

và khoa học xã hội Đặc biệt, hệ thống kiến thức, kĩ năng trong các chủ đề của lớp 3 được phát triển và nâng cân dần từ kiến thức, kĩ năng của lớp dưới Bên cạnh yếu tố tích hợp này, chương trình TN&XH3 còn thể hiện yếu tố tích hợp trong một số khía

cạnh khác: tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường (các bài Vệ sinh hô hấp, Vệ sinh cơ quan tuần hoàn, Hoạt động bài tiết nước tiểu, Vệ sinh thần kinh, Các thế hệ trong một gia đình, Một số hoạt động ở trường, Hoạt động nông nghiệp, Hoạt động công nghiệp, thương mại, Làng quê và đô thị, Vệ sinh môi trường, Khả năng kì diệu của lá cây, Động vật, Côn trùng, Tôm, Cá, Chim, Thú, Đi thăm thiên nhiên, Mặt trời, Năm, tháng

và mùa, Các đới khí hậu, Bề mặt Trái Đất, Bề mặt lục địa), tích hợp giáo dục đạo đức

Hồ Chí Minh (các bài Các thế hệ trong một gia đình, Họ nội, họ ngoại, Phân tích và

vẽ sơ đồ mối quan hệ họ hàng, Vệ sinh môi trường), tích hợp giáo dục biển đảo (các

bài Hoạt động công nghiệp và thương mại, Làng quê và đô thị, Vệ sinh môi trường, Động vật, Tôm, cua, Cá, Đi thăm thiên nhiên, Mặt trời, Bề mặt trái đất, Bề mặt lục địa), tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết akiệm và hiệu quả (các bài Phòng cháy khi ở nhà, Vệ sinh môi trường, Vệ sinh môi trường (tiếp theo), Vệ sinh môi trường (tiếp

Trang 35

theo)), tích hợp giáo dục kĩ năng sống (các bài Phòng cháy khi ở nhà, Một số hoạt động ở trường, Không chơi các trò chơi nguy hiểm, An toàn khi đi xe đạp, Vệ sinh môi trường, Khả năng kì diệu của cây, Đi thăm thiên nhiên)

Bàn riêng về việc tích hợp kĩ năng đọc, viết trong môn TN&XH3, có thể nói, chương trình môn TN&XH3 cũng có chủ trương tích hợp việc học tập khoa học với học tập ngôn ngữ Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm này trong các tài liệu học tập TN&XH còn khá mờ nhạt, nặng về việc cung cấp, tái hiện kiến thức một cách đơn thuần trong khi việc phát triển kĩ năng đọc, viết cho trẻ thông qua việc học tập khoa học lại chưa thực sự được chú ý Điều này ít nhiều khiến HS mất đi một môi trường học tập, rèn luyện để phát triển thêm kĩ năng đọc viết song song với việc tìm hiểu, bổ sung kiến thức khoa học Trong khi đó, khi so sánh các tài liệu học tập TN&XH ở VN với một số tài liệu học tập TN&XH ở nước ngoài, người viết nhận thấy rằng các tài liệu này thể hiện mục đích chú trọng rèn kĩ năng đọc, viết cho HS từng bước một thông qua việc đa dạng các hoạt động đọc, viết, tư duy; phong phú về ngữ liệu để mở rộng vốn từ, hình thành và phát triển ở HS cả về kiến thức khoa học lẫn kĩ năng đọc, kĩ năng viết (6)

6

Đọc thêm “Dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp Ba thông qua dạy học Tự nhiên và

Xã hội” (Phạm Phương Anh, Kỷ yếu Hội thảo “Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông”, Nxb Đại học Sư phạm TP.HCM, 2014)

Trang 36

1.2.4 Quan điểm của giáo viên lớp Ba về việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết qua bài tập môn TN&XH

Chúng tôi đã khảo sát ý kiến của 294GV lớp Ba của một số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh (7)

nhằm tìm hiểu quan điểm của các GV về việc tích hợp trong chương trình TN&XH3 nói chung và việc rèn kĩ năng đọc, viết qua bài tập môn TN&XH3 nói riêng Việc khảo sát được thực hiện từ tháng 1 - tháng 5/2014 Sau khi khảo sát và tiến hành thống kê, kết quả thu được như sau:

Bảng 1.3 Ý kiến của GV về hướng tích hợp trong chương trình môn TN&XH3

STT

Hướng tích hợp trong chương trình môn TN&XH3 Số lượng Tỉ lệ % Xếp hạng

1 Tích hợp kiến thức của các ngành

2 Tích hợp việc rèn luyện các kĩ năng

3

Tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường,

học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sử

dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

 Về vấn đề tích hợp trong chương trình TN&XH3 nói chung, kết quả

thống kê ở bảng 1.3 cho thấy tất cả GV tham gia khảo sát đều xác định rằng chương

Trang 37

trình TN&XH3 mang tính tích hợp Trong đó, có đến 225 ý kiến (76,5%) cho rằng hướng tích hợp trong chương trình thể hiện chủ yếu ở việc tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường; học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và tích hợp rèn kĩ năng sống Số liệu này phản ánh thực tế việc tích hợp trong chương trình môn TN&XH3 hiện nay ở bậc Tiểu học: chương trình được triển khai trong nhà trường theo hướng yêu cầu GV tích hợp bổ sung, phát triển kiến thức bảo vệ môi trường, học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh, vào các bài học trên lớp Trong khi

đó, chỉ có 140 ý kiến (47,5%) nhận định rằng vấn đề tích hợp trong môn TN&XH 3 thể hiện ở việc nội dung chương trình bao gồm kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau: Sức khỏe, Sinh học, Địa lý, Thiên văn học, Đặc biệt hơn, chỉ có 88GV (29,9%) có suy nghĩ: hiện nay, chương trình TN&XH3 thực hiện tích hợp theo hướng rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ, tư duy cho HS Chỉ có số ít ý kiến khẳng định rằng tính tích hợp trong chương trình TN&XH3 hiện nay thể hiện ở cả 3 khía cạnh: tích hợp kiến thức của các ngành khoa học khác nhau, tích hợp rèn kĩ năng ngôn ngữ, tư duy cho HS; tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường, học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; tích hợp kĩ năng sống,

Những con số trên cho thấy: GV lớp Ba chưa thực sự nắm rõ đặc điểm tích hợp trong chương trình TN&XH3: chương trình tích hợp dạy học kiến thức tự nhiên và xã hội song song với việc rèn luyện, phổ biến kiến thức bảo vệ môi trường, kĩ năng sống,

kĩ năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; giáo dục tinh thần học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần bảo vệ Tổ Quốc và biển đảo Việt Nam, Bên cạnh đó, tính tích hợp của chương trình còn thể hiện trong việc hình thành, phát triển các kĩ năng tư duy ngôn ngữ cho HS tiểu học mà trong đó, đọc và viết là hai kĩ năng quan trọng Chia sẻ thêm về vấn đề này, ThS Đỗ Thị Nga (Giảng viên phụ trách các học phần có liên quan đến vấn đề Lý luận dạy học TN- XH ở Tiểu học, Khoa GDTH,

Trường ĐHSP TP.HCM) cho biết: “TN&XH là một môn học mang tính tích hợp cao, thể hiện ngay ở tên môn học Kiến thức môn học là tập hợp những nội dung khoa học TN&XH, được cấu trúc như một tổng thể hài hòa, cân đối, phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS tiểu học [ ] Thông qua việc dạy học tích hợp kiến thức, môn học tích

Trang 38

hợp dạy kĩ năng và hình thành những thái độ khác nhau.” Ngoài ra, theo Cô Đỗ Thị

Nga, “chương trình TN&XH3 tạo điều kiện cho HS phát triển kĩ năng đọc thông qua việc đọc thông tin trong mục “Bạn cần biết” (biểu tượng hình bóng đèn tỏa sáng) của SGK Về kĩ năng viết, HS được rèn luyện thông qua các bài tập TN&XH.” Tuy vậy, các bài tập TN&XH3 đang được thiết kế theo hướng tập trung tái hiện kiến thức, chứ chưa chú ý xây dựng nhiều hoạt động đa dạng, tương tác với ngữ liệu theo hướng luyện đọc, luyện viết cho HS.”

Dựa trên những đặc điểm tích hợp trong chương trình TN&XH3 như đã nêu

trên và kết quả khảo sát thu được ở bảng 1.3, kết quả phỏng vấn, một vấn đề cần được

đặt ra: với mục tiêu tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết mà chương trình TN&XH3 đã nhắm

tới, các nhà xây dựng chương trình, các nhà biên soạn SGK, các tài liệu học tập cũng như GV cần chú ý hơn trong việc soạn thảo tài liệu dạy học cũng như triển khai các hoạt động dạy - học trong quá trình giảng dạy để vấn đề tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết thông qua môn TN&XH3 được thể hiện một cách rõ nét hơn

Bảng 1.4 Ý kiến của GV về mức độ cần thiết của việc rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp

Ba qua môn TN&XH

STT

Mức độ cần thiết của việc tích hợp

rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba

qua môn TN&XH

Trang 39

kiến (chiếm 51,7%) cho rằng việc tích hợp này góp phần cung cấp cho HS công cụ để tiếp thu kiến thức khoa học của môn học Hay nói cách khác, theo các ý kiến này, việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết thông qua môn TN&XH chủ yếu là để phục vụ cho nội

bộ môn học Bàn về ý kiến “tạo tiền đề cho việc học tập và giao tiếp xã hội của HS”,

số liệu thống kê ở bảng 31 cho thấy có 132GV (chiếm 44,9%) đã lựa chọn (bảng 1.5)

Bảng 1.5 Ý kiến của GV về các khía cạnh thể hiện tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba qua môn TN&XH

STT

Khía cạnh thể hiện tầm quan trọng

của việc rèn kĩ năng đọc, viết cho HS

lớp Ba qua môn TN&XH

Số lượng Tỉ lệ % Xếp hạng

1 Hỗ trợ việc học tập môn Tiếng Việt 67 22,8 4

2 Tạo tiền đề cho việc học tập và giao

3 Cung cấp cho HS công cụ để tiếp thu

4 Thực hiện chủ trương tích hợp trong

dạy học nói chung ở nhà trường TH 78 26,5 3 Cũng qua việc khảo sát, người thực hiện nhận thấy rằng có rất ít GV (67 trên tổng số 294 ý kiến) (chiếm 22,8%) nhận định rằng việc tích hợp theo hướng mà đề tài

đề cập sẽ hỗ trợ việc học tập môn Tiếng Việt Đặc biệt, chỉ có 9GV khi được khảo sát cho rằng việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS lớp Ba qua môn TN&XH3 có ích lợi ở cả ba khía cạnh: hỗ trợ việc học tập môn Tiếng Việt, tạo tiền đề cho việc học tập

và giao tiếp xã hội của HS, cung cấp cho HS công cụ để tiếp thu kiến thức khoa học của môn học Kết quả ở bảng 1.5 cho thấy: hiện nay, các GV vẫn chưa thực sự hiểu rõ tầm quan trọng của việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết thông qua môn TN&XH Nói cách khác, đa phần các GV vẫn nghĩ rằng việc tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS phần lớn chỉ để phục vụ cho nội bộ môn TN&XH Đặc biệt hơn, cũng phải nhắc đến con số 78GV (chiếm 26,5%) đã lựa chọn ý kiến “thực hiện chủ trương dạy học tích hợp trong nhà trường tiểu học”

Trang 40

Số liệu nêu trên cho thấy các GV này có xu hướng nghĩ rằng việc thực hiện tích hợp chỉ để nhằm “thực hiện chủ trương tích hợp trong dạy học nói chung ở nhà trường tiểu học” Nói cách khác, theo các GV này,việc tích hợp trong dạy học TN&XH thực chất chỉ mang tính hình thức do yêu cầu chung của chủ trương tích hợp trong dạy học

ở nhà trường tiểu học Như vậy, có thể thấy rằng GV chưa nhận thấy mục tiêu lâu dài

và sâu xa của vấn đề này: hỗ trợ cho môn Tiếng Việt trong việc rèn kĩ năng ngôn ngữ, góp phần phát triển kĩ năng học tập và giao tiếp sau này của HS Đồng tình với nhận định trên, ThS Đỗ Thị Nga nhấn mạnh những lý do cho việc tích hợp theo hướng mà

đề tài đề cập: “Ngôn ngữ là một công cụ quan trọng để HS chiếm lĩnh tri thức, rèn các

kĩ năng và qua đó hình thành những những thái độ tích cực cho các em Vì thế, nếu không thông thạo ngôn ngữ, HS sẽ gặp rào cản lớn trong việc tiếp thu tri thức khoa học, ảnh hưởng đến tư duy của HS Hơn nữa, môn TN - XH là một môn học về rất nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, nó giúp HS mở rộng vốn từ rất tốt Đây là khía cạnh rất quan trọng của môn TN - XH trong việc hỗ trợ môn Tiếng Việt.”

Bảng 31 Ý kiến của GV về những khó khăn có thể gặp phải trong quá trình tích hợp rèn kĩ năng đọc, viết cho HS qua môn TN&XH3

STT

Những khó khăn có thể gặp phải

trong quá trình tích hợp rèn kĩ năng

đọc, viết cho HS qua môn TN&XH

Số lượng Tỉ lệ % Xếp hạng

3 Thiếu sự quan tâm, phối hợp đồng bộ

Ngày đăng: 03/12/2015, 07:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2. Dạng hoạt động “điền khuyết” - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 2.2. Dạng hoạt động “điền khuyết” (Trang 54)
Hình 2.7. Hoạt động “gắn nhãn” theo hướng nối/viết từ phù hợp với hình minh họa - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 2.7. Hoạt động “gắn nhãn” theo hướng nối/viết từ phù hợp với hình minh họa (Trang 59)
Hình 2.14. Hoạt động “sắp xếp các từ/cụm từ thành câu hoàn chỉnh” - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 2.14. Hoạt động “sắp xếp các từ/cụm từ thành câu hoàn chỉnh” (Trang 66)
Hình 2.15. Hoạt động trò chơi   trong câu 2, bài 59 (Trái Đất. Quả địa cầu) và câu 1, bài 67 - 68 (Bề mặt lục địa) - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 2.15. Hoạt động trò chơi trong câu 2, bài 59 (Trái Đất. Quả địa cầu) và câu 1, bài 67 - 68 (Bề mặt lục địa) (Trang 67)
Hình 3.4. Bài làm của HS đối với câu hỏi 3, bài 51 (Tôm, cua) - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.4. Bài làm của HS đối với câu hỏi 3, bài 51 (Tôm, cua) (Trang 109)
Hình 3.3. Bài làm của HS đối với câu hỏi 4, bài 52 (Cá) - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.3. Bài làm của HS đối với câu hỏi 4, bài 52 (Cá) (Trang 109)
Hình 3.10. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi dạng gắn nhãn  3.2.3.3. Dạng hoạt động “Viết câu” - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.10. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi dạng gắn nhãn 3.2.3.3. Dạng hoạt động “Viết câu” (Trang 115)
Hình 3.11. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi dạng viết câu - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.11. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi dạng viết câu (Trang 116)
Hình 3.12. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi 3, bài 58 (Mặt Trời) - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.12. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi 3, bài 58 (Mặt Trời) (Trang 117)
Hình 3.20. Bài làm của HS đối với câu hỏi 2, bài 53 (Chim) - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.20. Bài làm của HS đối với câu hỏi 2, bài 53 (Chim) (Trang 124)
Hình 3.21. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi dạng trò chơi và hoạt động khác - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.21. Bài làm của HS đối với một số câu hỏi dạng trò chơi và hoạt động khác (Trang 125)
Hình 3.22. Biểu đồ thể hiện kết quả thực hiện các câu hỏi bài tập - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 3.22. Biểu đồ thể hiện kết quả thực hiện các câu hỏi bài tập (Trang 126)
Hình 2.23. Biểu đồ thể hiện kết quả thực hiện các câu hỏi bài đọc - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Hình 2.23. Biểu đồ thể hiện kết quả thực hiện các câu hỏi bài đọc (Trang 129)
Bảng 3.28. Kiểm nghiệm T so sánh 2 nhóm ở trường LCT2., Hóc Môn và NTT., Q3 - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Bảng 3.28. Kiểm nghiệm T so sánh 2 nhóm ở trường LCT2., Hóc Môn và NTT., Q3 (Trang 138)
Bảng 3.30. Kết quả khảo sát Tiếng Việt của hai nhóm trước và sau thực nghiệm - xây dựng bài tập tự nhiên và xã hội hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp ba
Bảng 3.30. Kết quả khảo sát Tiếng Việt của hai nhóm trước và sau thực nghiệm (Trang 139)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w