Bài tập hóa học được đánh giá là phương pháp dạy học hiệu nghiệm trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học; phát triển năng lực nhậ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tr ần Văn Tèo
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tr ần Văn Tèo
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
người thân trong gia đình
sư phạm
thân đã luôn luôn quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành lu ận văn
Tr ần Văn Tèo
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Bài tập hoá học 7
1.2.1 Khái ni ệm bài tập hóa học 7
1.2.2 Tác d ụng của bài tập hóa học [6], [41] 7
1.2.3 Phân lo ại bài tập hóa học [6], [41] 8
1.2.4 Xu hướng xây dựng bài tập hóa học mới [2] 9
1.2.5 Nh ững chú ý khi ra bài tập [14] 10
1.2.6 Nh ững chú ý khi chữa bài tập cho HS [14] 10
1.3 Một số vấn đề về học sinh khá giỏi 12
1.3.1 Khái ni ệm về học sinh khá giỏi [9] 12
1.3.2 Nh ững phẩm chất và năng lực của học sinh khá giỏi 12
1.3.3 Hình thành và phát tri ển tư duy cho học sinh khá giỏi 13
1.4 Cấu trúc và nội dung phần Hóa học hữu cơ lớp 12 nâng cao [40] 14
1.4.1 C ấu trúc 14
1.4.2 N ội dung 14
1.5 Thực trạng về việc sử dụng HTBT hóa học cho HSKG ở THPT 15
1.5.1 Th ực trạng về HTBT đang sử dụng cho HSKG 15
1.5.2 Th ực trạng về việc giải BTHH của HS THPT 20
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HTBT HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 12 DÙNG CHO HSKG 25
Trang 52.1 Đặc điểm của hệ thống bài tập hóa học dùng cho học sinh khá giỏi 25
2.2 Nguyên tắc xây dựng HTBT hóa học dùng cho HSKG 25
2.2.1 H ệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học 25
2.2.2 H ệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học 26
2.2.3 H ệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng 26
2.2.5 H ệ thống bài tập phải gây hứng thú học tập, phát huy tính tích cực nhận th ức, năng lực sáng tạo của học sinh 27
2.2.6 H ệ thống bài tập phải rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh 27
2.3 Qui trình xây dựng HTBT hóa học hữu cơ lớp 12 dùng cho HSKG 28
2.3.1 Xác định mục đích của hệ thống bài tập 28
2.3.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập 28
2.3.4 Thu th ập tài liệu để soạn bài tập 29
2.3.5 Biên so ạn các bài tập mới 29
2.3.6 Ti ến hành soạn thảo hệ thống bài tập 30
2.3.7 Tham kh ảo, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp 31
2.3.8 Th ực nghiệm, chỉnh sửa và bổ sung 31
2.4.1 Gi ới thiệu tổng quan về hệ thống bài tập 31
2.4.2 H ệ thống bài tập chương Este - lipit 36
2.4.3 H ệ thống bài tập chương Cacbohiđrat 62
2.4.4 H ệ thống bài tập chương Amin – Amino axit - protein 73
2.4.5 H ệ thống bài tập chương Polime và vật liệu polime (lưu CD) 96
2.5 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập hóa học 96
2.5.1 S ử dụng hệ thống bài tập rèn kỹ năng giải bài tập khi ôn, luyện tập 96
2.5.2 Chú tr ọng phát triển tư duy hóa học cho học sinh 98
2.5.3 K ết hợp nhiều phương pháp giải khác nhau trong một bài toán 101
2.5.4 Hướng dẫn học sinh giải bài toán hóa học theo nhiều cách 108
2.5.5 Rèn luy ện cho học sinh các kỹ năng giải BTHH 111
2.5.6 Nâng cao hi ệu quả tự học, tự nghiên cứu cho học sinh 113
2.6 Giáo án một số bài có sử dụng hệ thống bài tập mới xây dựng 114
Trang 62.7.1 Giáo án bài: “Luy ện tập Mối liên hệ giữa hiđrocacbon và một số dẫn
xu ất của hiđrocacbon” (lưu CD) 114
2.7.2 Giáo án bài: “Luy ện tập Cấu trúc và tính chất của một số cacbohiđat tiêu bi ểu” 114
2.7.3 Giáo án bài: “Luy ện tập Một số tính chất của amin, amino axit và protein” (lưu CD) 120
2.7.4 Giáo án bài: “Luy ện tập polime và vật liệu polime” (lưu CD) 120
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 122
3.1 Mục đích thực nghiệm 122
3.2 Đối tượng thực nghiệm 122
3.3 Tiến hành thực nghiệm 123
3.4 Kết quả thực nghiệm 125
3.5 Những bài học kinh nghiệm khi sử dụng bài tập cho học sinh khá giỏi 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
bkt : bài kiểm tra
BT : bài tập BTHH : bài tập hóa học CTCT : công thức cấu tạo CTPT : công thức phân tử
KG : khá giỏi
PP : phương pháp PTPƯ : phương trình phản ứng SGV : sách giáo viên
SGK : sách giáo khoa STT : số thứ tự
TB : trung bình
TL :tự luận
TN : thực nghiệm TrN :trắc nghiệm THPT : trung học phổ thông
VD : ví dụ
YK : yếu kém
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các bài trong chương trình hóa hữu cơ 12 ban nâng cao 14
Bảng 1.2 Danh sách các trườngTHPT được điều tra về thực trạng 16
Bảng 1.3 Ý kiến GV về các dạng BT cần bổ sung cho HSKG 17
Bảng 1.4 Ý kiến GV về các hướng sử dụng BT cho HSKG 18
Bảng 1.5 Số HS ở các trường THPT tham gia khảo sát 20
Bảng 1.6 Ý kiến HS về lợi ích của BT 20
Bảng 1.7 Cảm nhận HS về giờ BT 21
Bảng 1.8 Ý kiến HS về những điểm không thích BTHH 21
Bảng 1.9 Thời gian HS chuẩn bị cho tiết BT 21
Bảng 1.10 Công việc HS chuẩn bị cho tiết BT 22
Bảng 1.11 Ý kiến HS về hướng giải quyết khi gặp BT khó 22
Bảng 1.12 Nguồn bài tập HS thường làm 22
Bảng 1.13 Những vướng mắc khi giải BTHH 23
Bảng 1.14 Ý kiến HS về các yếu tố để giải tốt BTHH 23
Bảng 2.1 Số lượng BTTL, BTTN và các dạng bài tập phần hữu cơ 12 32
Bảng 2.2 Các HTBT tự luận và trắc nghiệm định tính 34
Bảng 2.3 Các dạng BT trắc nghiệm định lượng 35
Bảng 3.1 Danh sách các trường, lớp và GV tham gia thực nghiệm 122
Bảng 3.2 Bảng điểm bài kiểm tra lần 1 125
Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bkt1 126
Bảng 3.4 Kết quả học tập của HS bkt1 126
Bảng 3.5 Các tham số thông kê đặc trưng bkt1 126
Bảng 3.6 Bảng điểm bài kiểm tra lần 2 129
Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích bkt2 129
Bảng 3.8 Kết quả học tập của HS bkt2 129
Bảng 3.9 Các tham số thông kê đặc trưng bkt2 130
Bảng 3.10 Bảng điểm tổng hợp của 2 bkt 131
Trang 9Bảng 3.11 Phân phối tần số, tần suất, tần suất lũy tích của 2 bkt 131
Bảng 3.12 Kết quả học tập của HS qua 2 bkt 132
Bảng 3.13 Các tham số thống kê đặc trưng của 2 bkt 132
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ kết quả bkt1 127
Hình 3.2 Đồ thị đường tích lũy kết quả bkt1 127
Hình 3.3 Biểu đồ kết quả bkt2 128
Hình 3.4 Đồ thị đường tích lũy kết quả bkt2 130
Hình 3.5 Biểu đồ kết quả tổng hợp 2 bkt 132
Hình 3.6 Đồ thị đường tích lũy kết quả tổng hợp 2 bkt Error! Bookmark not defined
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong Giáo dục học đại cương, bài tập được xếp trong hệ thống phương pháp
dạy học Bài tập hóa học được đánh giá là phương pháp dạy học hiệu nghiệm trong
việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học; phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duy cho học sinh nhất là học sinh khá giỏi Do vậy, ngoài việc sử dụng triệt để các bài tập có sẵn trong SGK, SBT hoặc các tài liệu tham khảo khác, trong quá trình dạy học, người giáo viên Hóa
học cần xây dựng một hệ thống bài tập phù hợp với từng đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu Có như vậy mới kích thích niềm say mê học tập bộ môn của các em Đồng thời, khuyến khích các em học tập phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, vận dụng linh hoạt các kiến thức vào các tình huống
thực tế nhằm khắc sâu kiến thức
Hóa học có rất nhiều dạng bài tập, đặc biệt hóa học hữu cơ, nếu không nắm
vững được phương pháp giải thì học sinh khó nắm bắt được kiến thức Vì vậy việc
dạy và học phần hóa học hữu cơ lớp 12 có ý nghĩa thiết thực đối với HS vì chẳng
những cung cấp cho HS những kiến thức nâng cao để thi vào đại học, cao đẳng mà còn góp phần giáo dục cho HS việc bảo vệ môi trường xanh và sạch, giáo dục phong cách làm việc chính xác khoa học, tăng cường sự hứng thú học tập bộ môn, phát triển ở HS năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, tích cực sáng
tạo, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử
d ụng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ lớp 12 trung học phổ thông dùng cho
h ọc sinh khá giỏi” nhằm giúp học sinh nắm được các dạng bài tập và phương pháp
giải, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học
2 M ục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông dùng cho học sinh khá giỏi
Trang 123 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường Trung học phổ thông
Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ lớp
12 dùng cho học sinh khá giỏi
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập hóa học hữu cơ cho học sinh khá giỏi
- Nội dung nghiên cứu: Phần hóa học hữu cơ lớp 12 chương trình nâng cao
- Địa bàn nghiên cứu: Các trường THPT thuộc tỉnh Bình Dương: Bình Phú –
Thủ Dầu Một, An Mỹ – Thủ Dầu Một , Võ Minh Đức – Thủ Dầu Một, Lai Uyên –
Bến Cát, Phan Bội Châu – Dầu Tiếng,
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2013
6 Gi ả thuyết khoa học
Xây dựng được hệ thống bài tập có chất lượng, đa dạng, phong phú sẽ giúp cho học sinh khá giỏi phát triển khả năng tư duy, năng lực sáng tạo, phát huy tính tự
lực, tự nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1.Các p hương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
Trang 13- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa
7.2 Các p hương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Thăm lớp, dự giờ, trò chuyện, trao đổi ý kiến với giáo viên và học sinh
- Phỏng vấn một số giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy lâu năm
- Điều tra bằng phiếu câu hỏi
- Phương pháp thực nghiệm (để kiểm nghiệm giá trị thực tiễn của đề tài và
khả năng ứng dụng của những đề xuất)
7.3.Các p hương pháp toán học
- Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê toán học
8 Đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng HTBT hóa học hữu cơ dùng cho học sinh khá giỏi lớp 12 nâng cao (có 24 bài tập mới gây hứng thú)
- HTBT được phân dạng và định hướng cách giải theo chương nhằm giúp HS
dễ sử dụng
- Đề xuất 6 biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng bài tập hóa học cho HSKG
- Rèn cho học sinh phương pháp tự nghiên cứu, tự giải bài tập theo chủ đề
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Áp dụng bài tập vào giảng dạy môn hóa học là việc hết sức cần thiết khi truyền thụ kiến thức mới và ôn tập kiến thức cũ Trong những năm qua, xu hướng
sử dụng bài tập đã được nhiều người nghiên cứu và thực hiện, các đề tài đó cũng đã đạt được những thành công nhất định, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học Chúng tôi xin nêu một số công trình nghiên cứu trong những năm gần đây có liên quan đến đề tài như:
- Lê Văn Dũng (1994), Bài tập hóa học rèn trí thông minh cho học sinh
- Nguyễn Thị Ngà (1998), Phát triển tư duy nhận thức của học sinh thông
thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội
- Trần Thị Phương Thảo (1998), Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm
TPHCM
- Đặng Công Thiệu (1998), Bài tập hóa học với việc nâng cao tính tích cực
Vinh
- Cao Cự Giác (1999), Hệ thống lý thuyết bài tập dung dịch chất điện ly dùng
Nội
- Ngô Thuý Vân (1999), Sưu tầm và xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ
thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Thị Thuỷ (2000), Phát triển tư duy cho học sinh tỉnh miền núi Hà
Trang 15- Lê Văn Dũng (2002), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh
- Ngô Đức Thức (2002), Phát triển tư duy cho học sinh qua hệ thống câu hỏi
Huế
- Đoàn Thị Thu Hiền (2005), Xây dựng hệ thống bài toán hóa học có thể giải
ĐHSP Vinh
- Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập
sĩ, ĐHSP Hà Nội
- Vũ Anh Tuấn (2006), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm rèn luyện
tư duy trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông,
Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2006), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy
ĐHSP Vinh
- Nguyễn Thị Oanh (2008), Xây dựng và cách suy luận để giải nhanh câu hỏi
- Nguyễn Cao Biên (2008), Rèn luyện năng lực độc lập, sáng tạo cho học
- Văn Thị Ngọc Linh (2008), Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TPHCM
- Lại Tố Trân (2009), Xây dựng hệ thống bài tập phát triển tư duy cho học
sinh ph ần hóa hữu cơ lớp 11 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP
TPHCM
Trang 16- Trần Thị Trà Hương (2009), Xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ lớp 10
thạc sĩ, ĐHSP TPHCM
- Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học
ĐHSP TPHCM
- Lê Thị Thanh Thủy (2009), Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách
- Lê Thị Mỹ Trang (2009), Xây dựng hệ thống lý thuyết, bài tập phần hóa lý
ĐHSP TPHCM
- Nguyễn Trần Thủy Tiên (2009), Ứng dụng Access và Visualbasic.net để
thạc sĩ, ĐHSP TPHCM
- Phan Thị Mộng Tuyền (2009), Sử dụng phương pháp dạy học phức hợp
hướng dẫn học sinh giải bài tập phần hóa hữu cơ lớp 11 chương trình cơ bản, Luận
văn thạc sĩ, ĐHSP TPHCM
- Trương Thị Lâm Thảo (2010), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm
ĐHSP TPHCM
- Nguyễn Thị Ngọc An (2011), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ
TPHCM
- Lê Thị Phương Thúy (2011), Xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ
hóa học trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học nhưng được vận dụng
Trang 17với những mục tiêu và phương tiện cụ thể khác nhau, phù hợp với điều kiện và trình
độ thực tế của học sinh Tuy nhiên các công trình nghiên cứu nêu trên đều:
- Chưa xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ lớp 12 chương trình nâng cao có phần dành riêng cho học sinh khá giỏi
- Chưa xây dựng hệ thống các dạng bài tập có định hướng phương pháp giải
1.2.1 Khái niệm bài tập hóa học
Theo Từ điển Tiếng Việt, bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng
những điều đã học
Như vậy bài tập hóa học là những bài tập liên quan đến hóa học, trong đó đưa ra những vấn đề đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức vốn có để giải quyết
1.2.2 Tác d ụng của bài tập hóa học [6], [41]
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
- Giúp học sinh hiểu rõ và khắc sâu kiến thức
- Hệ thống hóa các kiến thức đã học: một số đáng kể bài tập đòi hỏi học sinh
phải vận dụng tổng hợp kiến thức của nhiều nội dung trong bài, trong chương Dạng bài tổng hợp học sinh phải huy động vốn hiểu biết trong nhiều chương, nhiều bộ môn
- Cung cấp thêm kiến thức mới, mở rộng hiểu biết của học sinh về các vấn đề
thực tiễn đời sống và sản xuất hóa học
- Rèn luyện một số kỹ năng, kỹ xảo:
+ sử dụng ngôn ngữ hóa học + lập công thức, cân bằng phương trình phản ứng + tính theo công thức và phương trình
Trang 18+ các tính toán đại số: qui tắc tam suất, giải phương trình và hệ phương trình
+ kỹ năng giải từng loại bài tập khác nhau
- Phát triển tư duy: học sinh được rèn luyện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, qui nạp, diễn dịch
- Giúp giáo viên đánh giá được kiến thức và kỹ năng của học sinh Học sinh cũng tự kiểm tra biết được những lỗ hỏng kiến thức để kịp thời bổ sung
- Rèn cho học sinh tính kiên trì, chịu khó, cẩn thận, chính xác khoa
học…Làm cho các em yêu thích bộ môn, say mê khoa học (những bài tập gây hứng thú nhận thức)
1.2.3 Ph ân loại bài tập hóa học [6], [41]
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau vì vậy cần có cách nhìn
tổng quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại
1 Dựa vào nội dung toán học của bài tập:
- Bài tập định tính (không có tính toán)
- Bài tập định lượng (có tính toán)
2 Dựa vào hoạt động của học sinh khi giải bài tập:
- Bài tập lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm)
- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
3 Dựa vào nội dung hóa học của bài tập:
- Bài tập hóa đại cương
- Bài tập hóa vô cơ
- Bài tập hóa hữu cơ
4 Dựa vào nhiệm vụ đặt ra và yêu cầu của bài tập:
- Bài tập cân bằng PTPƯ
- Bài tập viết chuỗi phản ứng
- Bài tập điều chế
- Bài tập nhận biết
- Bài tập tách chất
Trang 19- Bài tập xác định phần trăm hỗn hợp
- Bài tập lập CTPT
- Bài tập tìm nguyên tố chưa biết…
5 Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập:
7 Dựa vào phương pháp giải bài tập:
- Bài tập tính theo công thức và phương trình
- Bài tập biện luận
- Bài tập dùng các giá trị trung bình…
8 Dựa vào mục đích sử dụng:
- Bài tập dùng kiểm tra đầu giờ
- Bài tập dùng củng cố kiến thức
- Bài tập dùng ôn luyện, tồng kết
- Bài tập dùng bồi dưỡng học sinh giỏi
- Bài tập dùng phụ đạo học sinh yếu…
1.2.4 Xu hướng xây dựng bài tập hóa học mới [2]
- Loại bỏ những bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đến
những thuật toán phức tạp để giải (hệ nhiều ẩn, nhiều phương trình, bất phương trình, cấp số cộng, cấp số nhân, …)
- Loại bỏ những BT có nội dung rắc rối, phức tạp, xa rời hoặc phi thực tiễn
HH
- Tăng cường sử dụng BT thực nghiệm
- Tăng cường sử dụng BT trắc nghiệm khách quan
- Xây dựng BT mới về bảo vệ môi trường và phòng chống ma túy
Trang 20- Xây dựng BT mới để rèn luyện cho HS năng lực phát triển và giải quyết
- Nội dung kiến thức phải nằm trong chương trình
- Các kết quả phải phù hợp với thực tế
- Phải vừa sức với trình độ HS
- Phải chú ý đến yêu cầu cần đạt được (thi tốt nghiệp hay đại học…)
1.2.6 Những chú ý khi chữa bài tập cho HS [14]
- Cần chọn chữa các bài tập tiêu biểu điển hình, tránh trùng lặp về kiến thức cũng như về dạng bài tập Cần chú ý các bài
+ Có phương pháp giải mới
+ Dạng bài quan trọng phổ biến hay được ra thi
+ Có trọng tâm kiến thức hóa học cần khắc sâu
- Phải nghiên cứu chuẩn bị trước thật kỹ càng như là:
+Tính trước kết quả
+Giải bằng nhiều cách khác nhau
+ Dự kiến trước những sai lầm học sinh hay mắc phải và cả những thắc mắc
của học sinh
Trang 21- Giúp học sinh nắm chắc các phương pháp giải các bài tập cơ bản:
+ Chữa bài mẫu thật kỹ
+ Cho bài tương tự về nhà làm
Khi chữa bài tập tương tự có thể: cho học sinh lên bảng, chỉ nói hướng giải, các bước tiến hành và đáp số, chỉ nói những điểm mới cần lưu ý, ôn luyện thường xuyên
- Biết sử dụng hình vẽ, sơ đồ một cách linh hoạt trong quá trình giải bài tập
vì nó có tác dụng sau:
+ Cụ thể hóa các vấn đề , các quá trình trừu tượng
+ Trình bày bảng ngắn ngọn
+ Học sinh dễ hiểu bài
+ Giải được nhiều bài tập khó
- Cần hình thành cho học sinh kỹ năng tóm tắt đề bởi nó sẽ giúp HS hình dung một cách khái quát các dữ kiện tạo thuận lợi cho quá trình tư duy, tìm ra lời
giải
- Dùng phấn màu khi cần làm bật các chi tiết đáng chú ý
- Cần phải biết tiết kiệm thời gian (photo đề bài, sử dụng phiếu học tập)
- Cách gọi HS lên bảng: bài đơn giản có thể gọi bất cứ HS nào, bài phức tạp nên gọi những HS khá giỏi, nếu HS có hướng giải sai thì cần dừng lại ngay để khỏi
mất thời gian
- Chữa bài tập với lớp có nhiều trình độ khác nhau: cần phân chia bài tập ra thành các phần nhỏ (các câu a, b, c…) từ thấp đến cao những câu dễ cho HS yếu làm…những câu tiếp theo cho HS khá làm…
- Các bước giải bài tập trên lớp (algorit giải)
- Tóm tắt đầu bài một cách ngắn gọn trên bảng Bài tập về các quá trình hóa
học có thể dùng sơ đồ, hình vẽ…
- Xử lý các số liệu thô thành dạng cơ bản
- Gợi ý HS suy nghĩ tìm lời giải bằng cách:
+ Phân tích các dữ kiện của đề bài xem từ đó cho ta biết được những điều gì
Trang 22+ Liên hệ với các dạng cơ bản đã giải quyết
+ Suy luận ngược từ yêu cầu của bài toán
+ Trình bày lời giải
+ Viết các phương trình phản ứng xảy ra nếu có
+ Đặt ẩn số cho các dữ kiện phải tìm, tìm mối liên hệ giữa các ẩn→ lập phương trình đại số, giải phương trình, biện luận tìm kết quả
1.3 Một số vấn đề về học sinh khá giỏi
1.3.1 Khái niệm về học sinh khá giỏi [9]
Theo quy chế đánh giá, xếp loại HS trung học cơ sở và HS THPT (Ban hành kèm theo quyết định số 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
a Loại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
- Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó: đối với HS THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với HS THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên
- Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5
b Loại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
- Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó: đối với HS THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 6,5 trở lên; đối với HS THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên
- Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5,0
Như vậy, theo chúng tôi, HSKG trong nhà trường phổ thông có thể được hiểu theo hai cách như sau:
- Thứ nhất: HSKG là đối tượng HS đủ điều kiện xếp loại học lực khá, giỏi theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thứ hai: HSKG là đối tượng HS có năng lực nổi trội ở một môn học; có khả năng vận dụng khá tốt các kiến thức cơ bản đã được học để giải quyết một hay nhiều vấn đề mới; có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt và đạt được thành tích khá tốt trong môn học đó
1 3.2 Những phẩm chất và năng lực của học sinh khá giỏi
Theo [8, tr.16], Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm Vì vậy, một học sinh khá giỏi hóa học thường có những phẩm chất và năng lực quan trọng sau:
Trang 23- Có kiến thức hóa học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống (nắm vững bản
chất hóa học của các hiện tượng hóa học) Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo những
kiến thức cơ bản đó vào tình huống mới
- Có năng lực tư duy tốt và sáng tạo (biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, có khả năng sử dụng phương pháp phán đoán mới: qui nạp, diễn dịch, loại suy…)
- Có kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứu khoa
học (biết nêu ra những dự đoán, lí luận cho những hiện tượng xảy ra trong thực tế,
biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại lí luận trên và biết cách dùng lí thuyết để giải thích những hiện tượng đó)
- Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường mòn
Theo chúng tôi học sinh khá giỏi cần bổ sung những phẩm chất sau:
- Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng
- Luôn hứng thú trong các tiết học, nhất là bài học mới
- Có phương pháp học tập tốt, chuyên cần, quyết tâm
- Luôn chủ động trong học tập
- Có khả năng tự học tốt
- Có ý thức vươn lên trong học tập
1.3.3 Hình thành và phát triển tư duy cho học sinh khá giỏi
Việc phát triển tư duy cho học sinh trước hết là giúp học sinh nắm vững kiến
thức hóa học, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành Qua đó
kiến thức học sinh thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn Học sinh chỉ
thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển và nhờ sự hướng
dẫn của giáo viên mà học sinh biết phân tích, khái quát tài liệu có nội dung, sự kiện
cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết
Tư duy càng phát triển thì càng có khả năng lĩnh hội được tri thức ngày càng nhanh và sâu sắc, khả năng vận dụng tri thức nhanh, hiệu quả hơn Như vậy sự phát triển tư duy học sinh diễn ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức, khi tư duy
Trang 24phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp, chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho học sinh trong hoạt động sáng tạo sau này
D ấu hiệu đánh giá tư duy phát triển:
- Có khả năng chuyển các tri thức và kĩ năng sang tình huống mới
- Trong quá trình học tập, học sinh đều phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi liên tưởng đến những kiến thức đã liên hệ trước đó Nếu học sinh độc lập chuyển tải tri thức vào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển
- Tái hiện nhanh chóng kiến thức, các mối quan hệ cần thiết để giải quyết bài toán nào đó Thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất của các sự vật hiện tượng
- Có khả năng phát hiện cái chung của các hiện tượng khác nhau, sự khác nhau của các hiện tượng tương tự
- Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tế Đây là kết quả phát triển tổng
hợp của sự phát triển tư duy Để có thể giải quyết tốt bài toán thực tế, đòi hỏi học sinh phải có sự định hướng tốt, biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cách áp dụng thích hợp, cuối cùng là tổ chức thực hiện có hiệu quả
1.4 Cấu trúc và nội dung phần Hóa học hữu cơ lớp 12 nâng cao [40] 1.4 1 Cấu trúc
Phần Hóa học hữu cơ lớp 12 chương trình nâng cao được nghiên cứu vào học kì 1, chia thành bốn chương:
Bảng 1.1 Các bài trong chương trình hóa hữu cơ 12 ban nâng cao
Chương 1: ESTE – LIPIT
Bài 1 Este
Bài 2 Lipit
Trang 25Bài 3 Chất giặt rửa
Bài 4 Luyện tập: Mối liên hệ giữa hiđrocacbon và một số dẫn của
Bài 9 Luyện tập: Cấu trúc và tính chất của một số cacbohiđrat tiêu biểu
Bài 10 Thực hành: Điều chế, tính chất hóa học của este và cacbohiđrat
Chương 3: AMIN – AMINOAXIT – PROTEIN
Bài 11 Amin
Bài 12 Amino axit
Bài 13 Peptit và Protein
Bài 14 Luyện tập: Cấu tạo và tính chất của amin, amino axit và protein
Bài 15 Thực hành: Một số tính chất của amin, amino axit và protein
Chương 4: POLIME VÀ VẬT LIỆU POLIME
Bài 16 Đại cương về polime
Bài 17 Vật liệu polime
Bài 18 Luyện tập : Polime và vật liệu polime
1.5 Thực trạng về việc sử dụng HTBT hóa học cho HSKG ở THPT
Trang 26Bảng 1.2 Danh sách các trườngTHPT được điều tra về thực trạng
STT Trường THPT Số giáo viên Tỉnh, thành phố
Kết quả thu được như sau:
a Về số lượng bài tập: Có 85,9% GV cho là hệ thống bài tập trong SGK, SBT còn ít về số lượng các bài tập dành riêng cho HS khá giỏi Từ đó mà việc bổ sung bài tập phục vụ cho việc dạy học, nhất là biên soạn hệ thống bài tập dành riêng cho
HS khá giỏi là cần thiết (100% giáo viên)
b Những khó khăn mà GV thường gặp trong quá trình giảng dạy BT hóa học:
- 100% GV cho là không đủ thời gian, trình độ HS không đồng đều, HS không thuộc lí thuyết, HS không biết cách giải từng dạng BT, không có hệ thống BT tương
tự
- 100% GV cho là kiến thức, khái niệm hóa học mới là quan trọng nhất sau đó là BT hóa
học
c Về nguồn sử dụng bài tập: 92% giáo viên sử dụng bài tập cho học sinh khá
giỏi từ các nguồn: SGK, SBT, đề thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng của Bộ Giáo dục
và Đào tạo qua các năm, sách tham khảo, internet Thiết nghĩ kết quả điều tra này
hợp lý ở chỗ sách giáo khoa và sách bài tập do Bộ Giáo dục ban hành có độ tin cậy cao; sách tham khảo trên thị trường thì phong phú, đa dạng; internet thì phổ biến
Trang 27rộng rãi nên được giáo viên lựa chọn Trong khi đó chỉ có 15,3 % số GV được điều tra cho biết đã tự xây dựng BT mới Như vậy, cần phải có một nguồn bài tập dành riêng cho học sinh khá giỏi để giáo viên sử dụng trong hoạt động dạy học của mình
Cần thiết
Bình thường
11 15,7%
7 10%
2 Toán lượng dư 10
14,29%
52 74,28%
5 7,14%
3 4,3%
3 Toán hỗn hợp 13
18,6%
46 65,7%
11 15,7%
0 0%
11,43%
55 78,57%
7 10%
0 0%
15,7%
54 77,14%
5 7,14%
0 0%
6 Tách các chất ra khỏi hỗn hợp 7
10%
15 21,43%
48 68,57%
0 0%
7 Dãy chuyển hóa 14
20%
51 72,85%
5 7,14%
0 0%
8 Toán hiệu suất 14
20%
48 68,57%
6 8,57%
2 2,86%
9 Xác định chất 20
28,57%
50 71,43%
0 0%
0 0%
10 BT thực tiễn 18
25,71%
44 62,86%
7 10%
1 1,43%
11 Dạng khác
Trang 28Như vậy, đa số GV đều đồng ý với việc bổ sung các dạng BT để sử dụng trong
dạy học cho học sinh khá giỏi Tuy nhiên, với các dạng BT tách chất ra khỏi hỗn
hợp ít được giáo viên quan tâm sử dụng (31,43% GV cho là cần thiết) Thiết nghĩ
những dạng bài tập này cần được đưa vào trong dạy học hóa học để đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nhưng có lẽ vì chúng không được sử dụng trong các kì kiểm tra, thi cuối kì đặc biệt là thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng nên
GV đã bỏ qua dạng bài tập này
Cần thiết
Bình thường
Không
cần thiết
1
Sử dụng bài tập giúp học sinh khá
giỏi rèn luyện năng lực vận dụng kiến
thức
63 90%
2 2,86%
5 7,14%
0 0%
2 Sử dụng bài tập để củng cố kĩ năng
thực hành
50 74,4%
16 22,86%
4 5,7%
0 0%
3 Sử dụng bài tập để rèn luyện năng lực
suy luận logic
66 94,3%
4 5,7%
0 0%
0 0%
4
Sử dụng bài tập để rèn luyện năng lực
phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề
65 92,86%
5 7,14%
0 0%
0 0%
5 Sử dụng bài tập để rèn luyện cách
giải nhanh
49 70%
21 30%
0 0%
0 0%
6 Sử dụng bài tập để mở rộng hiểu biết
các vấn đề thực tiễn cuộc sống
8 11,43%
57 81,43%
5 7,14%
0 0%
Trang 297
Hướng khác:
………
………
Từ kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy:
Có 92,86% giáo viên sử dụng BT cho HSKG nhằm giúp HS rèn luyện năng
lực vận dụng kiến thức Có 100% giáo viên sử dụng BT để rèn luyện năng lực suy
luận logic, rèn luyện năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, rèn luyện cách
giải nhanh Có 92,86% GV sử dụng BT để mở rộng hiểu biết các vấn đề thực tiễn
cuộc sống cho HSKG Có 97,26 % GV sử dụng BT để củng cố kĩ năng thực hành cho HSKG Điều này cho thấy đa số GV đều chú trọng đến việc rèn luyện khả năng
vận dụng kiến thức, kĩ năng thực hành, rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết
vấn đề, rèn luyện cách giải nhanh, mở rộng các vấn đề thực tiễn cuộc sống cho HSKG
Bên cạnh đó, chúng tôi còn trò chuyện, trao đổi trực tiếp với các GV và thu được các thông tin sau:
Thầy Hoàng Phong Vũ – giáo viên trường THPT Bình Phú – Bình Dương cho biết: Để học sinh có thể đạt kết quả cao trong các kì thi, kiểm tra đặc biệt là thi
năng giải bài tập hóa học từ lớp 10 đến lớp 12 Do đó, trong quá trình dạy học, ở
nhanh m ột số dạng bài tập
Cô Lê Thu Hà – giáo viên trường THPT An Mỹ – Bình Dương cho biết: Các
gi ải bài tập trong SGK thì không thể thi đỗ đại học được
Nh ận xét chung:
Trang 30- Đa số GV (85,9% GV) cho rằng là HTBT trong SGK, SBT còn ít về số lượng các BT dành riêng cho HSKG Từ đó mà việc bổ sung bài tập phục vụ cho việc dạy
học, nhất là biên soạn hệ thống bài tập dành riêng cho HS khá giỏi là cần thiết (100% giáo viên)
- Có 100% GV cho rằng HS không biết cách giải từng dạng BT, không có HTBT tượng tự trong khi đó chỉ có 15,3% số GV được điều tra cho biết đã tự xây dựng BT mới
- Đa số GV đều chú trọng đến việc rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng thực hành, rèn luyện năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện cách
giải nhanh, mở rộng các vấn đề thực tiễn cuộc sống cho HSKG
Chúng tôi thiết nghĩ rằng, ngoài việc sử dụng bài tập giúp học sinh nắm chắc
kiến thức cơ bản, giáo viên cần sử dụng bài tập giúp học sinh hiểu, vận dụng kiến
thức, thông qua đó để bổ sung hoàn thiện, nâng cao kiến thức cho học sinh Bên
cạnh đó cần có phương pháp sử dụng bài tập một cách tích cực, khai thác thế mạnh
của bài tập hoá học một cách triệt để nhằm phát triển tư duy cho các em đồng thời kích thích sự sáng tạo của học sinh qua từng bài tập
1.5.2 Thực trạng về việc giải BTHH của HS THPT
Thực tế, tôi đã điều tra ý kiến của 356 em HS của một số trường THPT ở Bình Dương
Bảng 1.5 Số HS ở các trường THPT tham gia khảo sát
Bảng 1.6 Ý kiến HS về lợi ích của BT
Tổng số %
Trang 31Củng cố, đào sâu và hệ thống hóa kiến thức 314 88,20% Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn 277 77,80% Rèn luyện trí thông minh và phát triển tư duy 295 82,87% Tăng hứng thú học tập và lòng say mê môn Hóa học 220 61,79% Giúp HS tự kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng 302 84,83%
2 Em c ảm thấy như thế nào về giờ BTHH?
3 Em chưa thích BTHH ở những điểm nào?
Bảng 1.8 Ý kiến HS về những điểm không thích BTHH
Tổng số %
Thời gian dành cho BT trên lớp ít 316 88,76% Chưa nắm được các dạng BT và cách giải chúng 299 83,99%
GV không đưa ra phương pháp giải từng dạng cụ thể 335 94,10%
4 Em dành bao nhiêu thời gian chuẩn bị BTHH ở nhà mỗi khi đến giờ BT?
Bảng 1.9 Thời gian HS chuẩn bị cho tiết BT
Tổng số %
Trang 32Trên 60 phút 110 30,90% Không cố định, làm khi đến hết bài 140 39,33%
5 Em thường làm gì để chuẩn bị cho tiết BTHH?
Bảng 1.10 Công việc HS chuẩn bị cho tiết BT
Bảng 1.11 Ý kiến HS về hướng giải quyết khi gặp BT khó
7 Em thường làm BT từ nguồn nào?
Bảng 1.12 Nguồn bài tập HS thường làm
Tổng số %
Cả sách GK, sách BT 178 50,00%
Trang 33Trong SGK, sách BT, các nguồn khác (sách tham khảo,
mạng internet, sưu tập từ bạn bè, )
72 20,22%
8 Những vướng mắc em thường gặp khi giải BTHH
Bảng 1.13 Những vướng mắc khi giải BTHH
Tổng số %
Không biết liên hệ giữa dữ kiện và yêu cầu bài toán 121 33,99% Không biết bắt đầu giải bài toán từ đâu 149 41,85% Không nắm được phương pháp giải những dạng cụ thể 284 79,78% Không viết được phương trình hóa học 196 55,06% Không nắm được kiến thức liên quan đến bài toán 224 62,92%
9 Theo em, những yếu tố giúp HS giải tốt BTHH?
Bảng 1.14 Ý kiến HS về các yếu tố để giải tốt BTHH
Tổng số %
GV đưa ra phương pháp giải từng dạng cụ thể 296 83,15%
GV phân tích giải kỹ BT mẫu 253 71,07%
Có một hệ thống BT tương tự được sắp xếp theo thứ tự từ
dễ đến khó
285 80,06%
HS xem BT mẫu, tự làm các BT tương tự 185 51,97%
GV tổ chức cho mọi đối tượng HS cùng tham gia tranh
luận khi giải BT
203 57,02%
Qua phân tích khảo sát kết quả ban đầu cho thấy:
- Phần lớn HS đều thấy được lợi ích của BT hóa học
- Tỉ lệ HS không thích BTHH là đa số bởi lý do chính là thời gian dành cho
BT trên lớp ít, chưa nắm được các dạng BT và cách giải chúng, GV không đưa ra phương pháp giải từng dạng cụ thể
Trang 34- Khi gặp các BT khó thì HS thường tự mày mò tìm lời giải; chờ đến tiết học
để GV hoặc các bạn sửa rồi chép vào vở
- Nguồn BT mà các em sử dụng chủ yếu là SGK và SBT
- Khi giải BT thì các em thường: không nắm được phương pháp giải những dạng cụ thể (79,78%), không viết được phương trình hóa học (55,06%), không nắm được kiến thức liên quan đến bài toán (62,92%)
- Những yếu tố giúp HS giải tốt BTHH là: GV đưa ra phương pháp giải từng dạng cụ thể (83,15%), GV phân tích kĩ BT mẫu (71,07%), có một hệ thống BT tương tự (80,06%)
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
gồm các nội dung sau:
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chúng tôi đã tìm hiểu một số tài liệu liên quan đến đề tài
- Bài tập hoá học Chúng tôi đã tìm hiểu về khái niệm, tác dụng, phân loại BTHH,
xu hướng xây dựng BTHH mới, những chú ý khi ra và chữa bài tập cho HS
- Một số vấn đề về HSKG như: khái niệm, hình thành và phát triển tư duy cho HSKG, những phẩm chất và năng lực của HSKG
- Cấu trúc và nội dung phần hóa học hữu cơ lớp 12 nâng cao
- Thực trạng sử dụng BTHH cho HSKG ở trường THPT và các yếu tố giúp HS
giải tốt BTHH ở 5 trường THPT của tỉnh Bình Dương
+ Qua điều tra chúng tôi nhận thấy đa số GV (85,9%) cho rằng hệ thống bài tập trong SGK, SBT còn ít về số lượng các BT dành riêng cho HSKG và 100% GV đều cho rằng việc bổ sung hệ thống BTHH dành riêng cho HSKG là cần thiết
+ Đa số HS (83,15%) cho rằng cần có hệ thống BTHH có phương pháp giải
từng dạng cụ thể phù hợp với nội dung, trình độ của HS
Những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đề tài “Xây dựng và sử
Trang 35Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HTBT HÓA HỌC HỮU
CƠ LỚP 12 DÙNG CHO HSKG
2.1 Đặc điểm của hệ thống bài tập hóa học dùng cho học sinh khá giỏi
Xây dựng hệ thống bài tập hoá học dùng cho học sinh khá giỏi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học Vì vậy, để việc xây dựng hệ thống bài
tập có chất lượng cần nắm được những đặc điểm của hệ thống bài tập này Dưới đây
là một số đặc điểm cụ thể:
- Phần lớn bài tập thể hiện ở mức độ hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo
- Ít dạng bài tập ở mức độ biết vì học sinh khá giỏi có khả năng nắm vững
kiến thức trọng tâm trong chương trình
- Số lượng bài tập tương tự ít vì học sinh khá giỏi có khả năng tư duy tốt
- Nhiều bài tập đòi hỏi khả năng suy luận logic
- Nhiều bài tập rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn
đề
- Có những dạng bài tập mở rộng kiến thức thực tế, bài tập gây hứng thú học
tập như: bài tập cung cấp cho học sinh những thông tin về đời sống, sản xuất hóa
học, y học,
2.2 Nguy ên tắc xây dựng HTBT hóa học dùng cho HSKG
Dựa vào các quy luật tâm lý, giáo dục học và đặc điểm của hệ thống bài tập dùng cho học sinh khá giỏi chúng tôi đã thiết kế các nguyên tắc xây dựng hệ thống bài
tập của đề tài nghiên cứu như sau:
2.2.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học
Bài tập là một phương tiện để tổ chức các hoạt động của học sinh nhằm khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết, hình thành và rèn luyện các
kĩ năng cơ bản
Mục tiêu của môn hóa học ở trường THPT (đối với chương trình nâng cao) là cung
cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực,
có nâng cao về hóa học và gắn với đời sống Nội dung chủ yếu bao gồm các kiến
thức về cấu tạo chất, sự biến đổi các chất, những ứng dụng và những tác hại của các
Trang 36chất trong đời sống, sản xuất và môi trường Những nội dung này góp phần giúp
học sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể giải quyết tốt một số
vấn đề hóa học có liên quan đến đời sống và sản xuất, mặt khác góp phần phát triển
tư duy sáng tạo cho học sinh
2.2.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
Khi xây dựng, nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa
học, bài tập cho đủ các dữ kiện, không được dư hay thiếu Các bài tập không được
mắc sai lầm hay thiếu chính xác trong cách diễn đạt, thiếu logic chặt chẽ Vì vậy giáo viên khi ra bài tập cần chú ý tính logic chính xác và đảm bảo tính khoa học về ngôn ngữ hóa học
2.2.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng
Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập có những loại bài tập được đầu tư nhiều hơn, vì chúng góp phần quan trọng hơn vào việc hình thành và rèn luyện
những kĩ năng liên quan đến nhiều hoạt động giáo dục…Giữa các bài tập trong hệ
thống luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bài tập trước là cơ sở, nền tảng để
thực hiện bài tập sau và bài tập sau là sự cụ thể hóa, là sự phát triển và củng cố
vững chắc hơn bài tập trước Toàn bộ hệ thống bài tập đều nhằm giúp học sinh nắm
vững kiến thức, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng cơ bản
Mặt khác, hệ thống bài tập còn phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú Sự đa dạng của hệ thống bài tập sẽ giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể, chuyên biệt một cách hiệu quả
2.2.4 H ệ thống bài tập phải có tính yêu cầu cao và phù hợp với trình độ học sinh
Dù là học sinh khá giỏi, bài tập cũng phải được xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp: đầu tiên là những bài tập vận dụng nhưng không quá đơn
giản, sau đó là những bài tập đòi hỏi sáng tạo Một số bài tập cần có sự nỗ lực cố
gắng cao mới có thể giải được Các bài tập phải có đủ loại điển hình và tính mục đích rõ ràng Với hệ thống bài tập được xây dựng theo nguyên tắc này sẽ giúp cho
Trang 37học sinh khá giỏi tham gia tranh luận để giải bài tập, tạo hứng thú, kích thích tư duy
- Bài tập cơ bản: loại bài tập chỉ yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã biết
để giải quyết các tình huống quen thuộc
- Bài tập tổng hợp: loại bài tập đòi hỏi học sinh khi giải vận dụng một chuỗi các lập luận logic, giữa cái đã cho và cái cần tìm Do đó học sinh cần phải giải thành thạo các bài tập cơ bản và phải nhận ra quan hệ logic của toàn bài, từ đó học sinh đề ra cách giải quyết cho bài tập đó
Đối với học sinh khá giỏi cần phải có nhiều bài tập dạng tổng hợp để phát huy năng lực sáng tạo của các em Đồng thời cũng cần lựa chọn một số bài tập hấp
dẫn, gây hứng thú học tập như: bài tập liên hệ thực tế, bài tập sử dụng hình vẽ
2.2.6 Hệ thống bài tập phải rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh
Nghị quyết 2 của Ban chấp hành Trung ương khóa VIII có ghi rằng: “ rèn luyện thành công nếp tư duy sáng tạo của người học ” Kho tàng kiến thức của loài người là vô hạn, kiến thức thầy cô truyền dạy chỉ là hữu hạn trong cái vô hạn Kiến
thức là sản phẩm của tư duy, ra đời trong quá trình con người cọ xát với thực tiễn
Dạy và học – thực chất là dạy cách tư duy, học cách tư duy Nếu tư duy và nhân cách được rèn luyện một cách chu đáo, tỉ mỉ thì học sinh sẽ là người chủ động tìm đến kiến thức và đến một trình độ nào đó sẽ có phong cách học tập độc lập, sáng
tạo, tận dụng mọi lúc, mọi nơi, mọi cách để chiếm lĩnh tri thức cho riêng mình
Rèn luyện và phát triển tư duy cho HSKG không chỉ để giải quyết các vấn đề đặt ra trong các đề thi mà nhìn xa hơn, rộng hơn chính là chuẩn bị cho các em
những phẩm chất và năng lực cần thiết để có thể nghiên cứu, ứng dụng, làm việc sau này
Trang 382.3 Qui trình xây dựng HTBT hóa học hữu cơ lớp 12 dùng cho HSKG
2.3.1 Xác định mục đích của hệ thống bài tập
Mục đích xây dựng hệ thống bài tập hóa học hữu cơ lớp 12 (chương trình nâng cao) nhằm sử dụng cho học sinh khá giỏi
2.3.2 Xác định nội dung hệ thống bài tập
Nội dung của hệ thống bài tập phải bao quát được kiến thức của các chương este - lipit; cacbohiđrat; amin, amino axit và protein; polime và vật liệu polime Để bài tập hóa học thỏa mãn mục tiêu của chương giáo viên phải trả lời được các câu
hỏi sau:
a Bài tập giải quyết vấn đề gì?
b Nó nằm ở vị trí nào trong bài học?
c Cần ra loại bài tập gì (định tính, định lượng hay thí nghiệm)?
d Có phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh khá giỏi không?
e Có phối hợp với những phương tiện khác không?
f Có thỏa mãn ý đồ, phương pháp của thầy không?
2.3.3 Xác định loại bài tập, các kiểu bài tập
Đối với phần hóa học, chúng tôi chia thành các loại bài tập: bài tập định tính và bài tập định lượng
Ứng với từng loại chúng tôi chia làm hai hình thức: Bài tập tự luận và bài tập
- Kiểu 1: So sánh, giải thích
- Kiểu 2: Viết đồng phân
- Kiểu 3: Xác định CTCT dựa vào tính chất hóa học
- Kiểu 4: Điều chế các chất
Trang 39- Kiểu 1: Xác định CTPT, CTCT
- Kiểu 2: Tính % của hỗn hợp theo số mol, theo khối lượng, theo thể tích…
- Kiểu 3: Tính khối lượng, số mol, thể tích của một chất hay hỗn hợp các
- Tham khảo sách, báo, tạp chí,… có liên quan
- Tìm hiểu, nghiên cứu thực tế những nội dung hóa học có liên quan đến đời
sống
Số tài liệu thu thập được càng nhiều và càng đa dạng thì việc biên soạn càng nhanh chóng và có chất lượng, hiệu quả Vì vậy, cần tổ chức sưu tầm tư liệu một cách khoa học và có sự đầu tư về thời gian
2.3.5 Biên soạn các bài tập mới
a Xây dựng bài tập dựa vào bài tập hóa học đã có
Trang 40Dựa trên những bài tập hóa học đã có sẵn mà xây dựng các bài tập mới là một trong
những cách xây dựng đơn giản nhất và dễ thực hiện nhất Sau đây là một số cách
mà chúng tôi áp dụng để xây dựng bài tập hóa học mới:
• Phương pháp tương tự
- Thay đổi số liệu đã cho trong bài tập hóa học
- Thay đổi các chất trong bài tập hóa học
- Thay đổi các quan hệ trong bài tập hóa học
- Tăng hoặc giảm số chất trong bài tập
- Thay đổi một trong những dữ kiện đã cho bằng dữ kiện gián tiếp
- Thay đổi câu hỏi của một bài tập bằng câu hỏi khó hơn
• Xây dựng bài tập hóa học mới ngược với bài tập đã giải
• Xây dựng bài tập mới bằng cách chuyển câu hỏi trắc nghiệm sang tự
luận
b Xây d ựng bài tập hóa học hoàn toàn mới
- Xây dựng bài tập chứa nội dung đã định trước
- Xây dựng bài tập hóa học mới bằng cách kết hợp nhiều bài tập nhỏ lại với nhau
2.3.6 Tiến hành soạn thảo hệ thống bài tập
Gồm các bước sau:
- Soạn từng loại bài tập:
+ Bổ sung thêm các dạng bài tập còn thiếu hoặc những nội dung chưa có bài
tập trong sách giáo khoa, sách bài tập
+ Chỉnh sửa các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập không phù hợp như quá dễ, chưa chính xác…
- Xây dựng các phương pháp giải quyết bài tập
- Sắp xếp các bài tập thành các loại như đã xác định theo trình tự: từ tự luận đến trắc nghiệm, từ định tính đến định lượng