Lí do ch ọn đề tài Ngày nay, du lịch đã trở thành hoạt động phổ biến trong đời sống văn hóa xã hội của mỗi con người và ngành du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa được sử dụng Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tp.Hồ Chí Minh, ngày tháng … năm 2012
Tác gi ả
PH ẠM THỊ VUI
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Thị Sơn, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô trong Khoa Địa lí Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm học tập, nghiên cứu trong suốt khóa học Tác giả chân thành cảm ơn Phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan: Cục Thống
kê tỉnh Kiên Giang, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Kiên Giang, Ủy ban dân tộc
tỉnh Kiên Giang đã giúp tác giả trong quá trình thu nhập số liệu, tư liệu, các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã giúp đỡ, động viên và tạo điệu kiện cho tác giả trong suốt thời gian
học tập và thực hiện luận văn
Tp.Hồ Chí Minh, ngày….tháng….năm 2012
Tác gi ả
PH ẠM THỊ VUI
Trang 5M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các biểu đồ, bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Một số vấn đề về du lịch 8
1.1.2 Tài nguyên du lịch 18
1.2 Vai trò của văn hóa dân tộc Khmer đối với phát triển du lịch 28
1.2.1 Văn hóa dân tộc là tài nguyên có ý nghĩa đặc trưng của mỗi dân tộc ở mỗi địa phương 28
1.2.2 Văn hóa dân tộc Khmer làm phong phú tài nguyên nhân văn của địa phương 29
Chương 2: VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG KHAI THÁC DU LỊCH Ở KIÊN GIANG 31
2.1 Khái quát đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
2.1.1 Vị trí địa lí 31
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 31
2.1.3 Các yếu tố kinh tế xã hội 35
2.2 Tổng quan đặc điểm kinh tế - xã hội của người Khmer 39
2.2.1 Điều kiện cư trú 39
2.2.2 Các đặc điểm kinh tế xã hội 41
Trang 62.2.3 Đặc điểm văn hóa của người Khmer 43
2.3 Nhận xét chung về ý nghĩa của văn hóa Khmer trong khai thác du lịch tỉnh Kiên Giang 69
2.4 Hiện trạng du lịch tỉnh Kiên Giang 70
2.4.1 Hiện trạng phát triển chung 70
2.4.2 Thực trạng du lịch theo lãnh thổ 81
2.5 Thực trạng khai thác nét văn hóa của người Khmer cho hoạt động du lịch 83
2.5.1 Các giá trị văn hóa Khmer đã được khai thác cho hoạt động du lịch ở Kiên Giang 83
2.5.2 Đánh giá chung 84
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH KIÊN GIANG TRÊN CƠ SỞ KHAI THÁC VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER 86
3.1 Định hướng 86
3.1.1 Cơ sở cho việc định hướng 86
3.1.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang 88
3.1.3 Định hướng khai thác văn hóa Khmer cho phát triển du lịch 91
3.1.4 Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch gắn với văn hóa Khmer 93
3.2 Các giải pháp chủ yếu khai thác văn hóa Khmer cho phát triển du lịch 94
3.2.1 Duy trì, tôn vinh các giá trị bản sắc văn hóa Khmer 94
3.2.2 Đầu tư vốn 96
3.2.3 Nâng cao trình độ nguồn nhân lực 98
3.2.4 Quảng bá, xúc tiến, liên kết du lịch 100
PHẦN KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC
Trang 7
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long
IUOTO : Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch
KT – XH : Kinh tế - xã hội
Nxb : Nhà xuất bản
TP : Thành phố
UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc) UNWTO : United National World Tourist Organization (Tổ chức du lịch thế giới) VQG : Vườn quốc gia
Trang 8DANH M ỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Chỉ tiêu sinh học đối với con người (của các học giả Ấn Độ) 21
Bảng 2.1: Chế độ nhiệt ở một số địa điểm 32
Bảng 2.2 Hiện trạng khách du lịch đến Kiên Giang giai đoạn 2005 - 2010 71
Bảng 2.3 Hiện trạng ngày khách và khách lưu trú trung bình 74
Bảng 2.4 Doanh thu du lịch giai đoạn 2005 - 2010 75
Bảng 2.5 Hiện trạng chi tiêu bình quân của khách du lịch giai đoạn 2005 – 2010 76 Bảng 2.6 Số lượng lao động du lịch giai đoạn 2005 – 2010 77
Bảng 2.7 Phân loại lao động theo trình độ 77
Bảng 2.8 Chỉ tiêu các cơ sở lưu trú 79
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Ngày nay, du lịch đã trở thành hoạt động phổ biến trong đời sống văn hóa xã
hội của mỗi con người và ngành du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế, nó cũng là ngành đem lại những lợi ích to lớn về nhiều mặt cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có
Việt Nam
Trong tình hình hiện nay, khi mà các quốc gia đang xích lại gần nhau trong xu thế hòa bình thì nhu cầu tìm hiểu, trao đổi và giao lưu về kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ngày càng mạnh mẽ, nó chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Bên cạnh tiềm năng du lịch về tự nhiên thì ở Việt Nam điểm đặc biệt thu hút khách du lịch đó chính
là sự đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc, với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có
những nét đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán và lối sống riêng tạo nên một bức tranh văn hóa đầy màu sắc
Nằm trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ, Kiên Giang là một tỉnh có vị trí địa lí thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh đẹp nổi tiếng như: Hà Tiên
thập cảnh, đảo Phú Quốc, các đảo ở huyện Kiên Lương, VQG U Minh Thượng… Đồng thời, Kiên Giang còn là nơi sinh sống của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer và một
số dân tộc ít người khác tạo cho tỉnh một nét văn hóa rất riêng biệt Đặc biệt, người Khmer ở đây đã tạo cho Kiên Giang một nét đẹp riêng về phong tục, tập quán và văn hóa Văn hóa của người Khmer đem lại cho Kiên Giang một tiềm năng phát triển du
lịch rất lớn Tuy nhiên, tiềm năng này vẫn chưa được quan tâm, khai thác đúng mức
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “Văn hóa của người Khmer trong định hướng phát
tri ển du lịch tỉnh Kiên Giang” được lựa chọn nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp
thích hợp để khai thác, tận dụng thế mạnh, tiềm năng to lớn này phục vụ cho phát triển
du lịch của tỉnh, góp phần kích thích sự phát triển kinh tế của tỉnh
Trang 112 M ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch, phát triển văn hóa, và khai thác tài nguyên nhân văn cho phục vụ du lịch, đề tài tập trung phân tích văn hóa của người Khmer để định hướng phát triển du lịch ở tỉnh Kiên Giang
Từ đó, đề xuất một số giải pháp khai thác văn hóa của người Khmer để phục vụ du
lịch, góp phần đa dạng hóa các loại hình du lịch của tỉnh Kiên Giang
2.2 Nhi ệm vụ
Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổng quan một số vấn đề lí luận về du lịch và văn hóa dân tộc
- Trình bày những nét văn hóa chủ yếu của người Khmer có khả năng khai thác cho mục đích du lịch ở Kiên Giang
- Thực trạng khai thác các nét văn hóa đặc trưng của người Khmer cho phát triển du lịch ở Kiên Giang
- Đề xuất những định hướng và các giải pháp khai thác văn hóa của người Khmer để phục vụ cho mục đích du lịch ở Kiên Giang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Là nét văn hóa đặc trưng của người Khmer ở tỉnh Kiên Giang
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
V ề nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung phân tích, đánh giá những nét văn hóa
nổi bật của người Khmer ở Kiên Giang nhằm phục vụ cho mục đích du lịch Trong đó,
tập trung nghiên cứu các khía cạnh sau:
- Nghệ thuật kiến trúc;
Trang 12- Phong tục tập quán;
- Lễ hội;
- Làng nghề truyền thống
V ề phạm vi không gian: Tại tỉnh Kiên Giang, có đề cập đến các đơn vị hành chính
cấp nhỏ hơn (huyện/thị) nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống
4 L ịch sử nghiên cứu đề tài
4.1 Tình hình nghiên c ứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, người Khmer tập trung phần lớn ở các tỉnh thuộc ĐBSCL Từ năm
1945 người Khmer ở ĐBSCL đã được một số tác giả nghiên cứu và đề cập trong các tác phẩm của mình Các tác phẩm “Người Việt gốc Miên”, “Chợ trời biên giới Việt
Nam – Cao Miên” của Lê Hương giới thiệu về người Khmer ở ĐBSCL, về lịch sử, đời
sống KT - XH, nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo cũng như các hoạt động buôn bán của người Khmer ở vùng biên giới Ngoài ra còn có một số bài nghiên cứu
đăng trên các tạp chí như: “Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long là thành viên
c ủa cộng đồng các dân tộc Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh (3/1984); “Nghiên cứu về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Phan Anh trong tạp chí Dân
tộc học (3/1985)…
Từ những năm 1990 đến nay: Các công trình, bài viết về người Khmer khá phong
phú và đi sâu hơn về nhiều vấn đề Tiêu biểu có: tác giả Thạch Voi với “Khái quát về
người Khmer đồng bằng sông Cửu Long”; “Phong tục tập quán của người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long”; “Một số vấn đề về kinh tế xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long”… Các tác giả Phan Anh, Phan Thị Yến
Tuyết, Tôn Nữ Quỳnh Trân với các tác phẩm “Những vấn đề dân tộc – tôn giáo ở
mi ền nam”; “Văn hóa vật chất của các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long”; “Xóm ngh ề và nghề thủ công truyền thống ở Nam Bộ”,…
Đến những thập niên đầu thế kỉ XXI, vấn đề dân tộc của cả nước nói chung, của
từng vùng, từng địa phương nói riêng đang được nhà nước quan tâm, thu hút nhiều
Trang 13nhà khoa học tập trung nghiên cứu trên cả hai phương diện lí luận và thực tiễn Nhất là trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa như hiện nay, việc bảo tồn và phát huy
những yếu tố truyền thống của mỗi dân tộc không chỉ dừng lại ở việc hiểu rõ lịch sử,
về văn hóa truyền thống của dân tộc đó mà còn lan ra cả ở lĩnh vực kinh tế và các lĩnh
vực khác của toàn địa phương, toàn vùng
4.2 Tình hình nghiên c ứu ở Kiên Giang
Là một trong những tỉnh có đông đồng bào Khmer sinh sống ở đồng ĐBSCL, nên từ lâu người Khmer ở Kiên Giang đã được sự quan tâm của các ban ngành và nhiều nhà nghiên cứu Tiêu biểu là tác giả Đoàn Thanh Nô với tác phẩm “Người Khmer ở Kiên Giang”; hay “Tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc trên đất Kiên Giang”, “ Ngư cụ thủ công chủ yếu ở tỉnh Kiên Giang” của Đoàn Nô, báo cáo tổng hợp về “Văn hóa cộng đồng người Khmer Kiên Giang”, “Kiên Giang điểm hẹn”, “Bảo tồn, phát huy giá trị một số thể loại âm nhạc và sân khấu dân gian Khmer Nam Bộ còn lưu giữ
hiện nay ở Kiên Giang” của Sở văn hóa thông tin tỉnh Kiên Giang thực hiện từ năm
2009
Tuy nhiên, các tác phẩm phần lớn được đề cập dưới cái nhìn chung từ góc độ lịch sử, dân tộc học, kinh tế học… chứ chưa đi sâu vào khía cạnh địa lí du lịch, vào những giá
trị văn hóa đặc sắc phục vụ cho hoạt động du lịch, cũng như giá trị văn hóa đó đã góp
phần như thế nào đến tiến trình phát triển chung của địa phương Trên cơ sở phát huy thành quả nghiên cứu của những người đi trước đề tài này sẽ hệ thống lại, cố gắng làm
rõ giá trị văn hóa của người Khmer và khả năng khai thác vào hoạt động du lịch ở tỉnh Kiên Giang
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Trang 14Khi nghiên cứu về du lịch chúng ta cần phải đặt nó trong mối quan hệ cụ thể với toàn bộ hệ thống lãnh thổ Đó là cơ sở đầu tiên giúp cho việc tiếp cận và phân tích vấn
đề một cách có hệ thống Vì vậy việc nghiên cứu văn hóa Khmer cần đặt nó trong mối liên hệ với vùng ĐBSCL và cả nước Bản thân văn hóa Khmer ở tỉnh Kiên Giang cũng
là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua lại
5.1.2 Quan điểm tổng hợp
Văn hóa của người Khmer không chỉ là những yếu tố vật chất mà nó còn tập hợp nhiều yếu tố khác như những yếu tố thuộc về tinh thần…Do vậy, khi nghiên cứu về văn hóa của người Khmer của tỉnh Kiên Giang cần phải dựa trên phân tích đánh giá
tổng hợp của nhiều yếu tố liên quan
Các yếu tố về điều kiện cư trú, quá trình sản xuất, sinh hoạt cộng đồng của từng khu
vực, từng huyện có những nét riêng Vì vậy, nghiên cứu về văn hóa của người Khmer Kiên Giang phải tìm hiểu trên quan điểm tổng hợp, qua đó làm rõ nguyên nhân sự khác biệt để phân tích và đánh giá khả năng phát triển du lịch, từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm khai thác cho hoạt động du lịch một cách có hiệu quả 5.2.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi hay phát triển theo quá trình của nó Do đó, luận văn luôn xem xét các đối tượng và mối quan hệ giữa các đối tượng trong sự phát triển không ngừng và luôn đặt chúng trong các hoàn cảnh lịch sử
cụ thể
Quán triệt quan điểm lịch sử - viễn cảnh trong quá trình nghiên cứu giúp người nghiên
cứu thấy được bản chất của sự vật hiện tượng, đồng thời đảm bảo tính kế thừa trong nghiên cứu khoa học
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thống kê, thu thập, xử lí tài liệu
Trang 15Nguồn tài liệu cần thu thập và xử lí rất đa dạng và phong phú bao gồm các tài
liệu đã được xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ, của ngành du lịch và các tài liệu khác có liên quan
Trong quá trình thực hiện đã tiến hành thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu, trên cơ sở các tài liệu thu thập được tiến hành chọn lọc, xử lý, bổ sung và hệ thống hóa các tài liệu đó cùng với những tài liệu thu thập được trong quá trình đi thực tế để phục vụ cho nội dung nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Phân tích các tài nguyên du lịch Khmer có ảnh hưởng đến kinh tế- môi trường
và các vấn đề khác Phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch về kết
cấu hạ tầng như phương tiện giao thông, đường hàng không, đường thủy, đường
bộ…Cơ sở vật chất bao gồm: Cơ quan điều hành, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ ngân hàng…
So sánh đối chiếu giữa tài liệu thu thập được và trên thực tế, giữa địa bàn nghiên cứu
với phạm vi cả nước nhằm đánh giá, nhận xét một cách đúng đắn, để làm cơ sở cho
những định hướng và đề xuất phát triển du lịch
Xem xét khuynh hướng du lịch toàn cầu và khu vực để xây dựng các loại hình du lịch khác nhau tạo nên tính đa dạng, phong phú và hấp dẫn cho ngành du lịch Việt Nam ở các điểm, tuyến du lịch sao cho phù hợp với tài nguyên du lịch
5.2.3 Phương pháp điều tra thực địa
Là một phương pháp truyền thống của địa lí học, được sử dụng rộng rãi trong địa lí du lịch du lịch để tích lũy tài liệu thực tế, đồng thời giúp người nghiên cứu phát huy tính độc lập trong nghiên cứu và nhìn nhận vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả tiến hành tìm hiểu cụ thể thực tế địa phương nơi cư trú của người Khmer, tiến hành trao đổi với người dân, tiếp xúc với sư sãi của các chùa để hiểu thêm về phong tục tập quán, và những chính sách của địa phương đối với việc tận dụng lợi thế để phát triển kinh tế
Trang 165.2.4 Phương pháp biểu đồ và bản đồ
Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu Kết hợp các bản đồ và các tài
liệu thu thập được để phân tích, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của tài nguyên
du lịch nhân văn của người Khmer
Đồng thời, tác giả còn vận dụng các phương pháp liên ngành như dân tộc học, xã
hội học, văn hóa học… để tiếp cận với đối tượng nghiên cứu trong quá trình thực
hiện luận văn
6 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch và văn hóa cho du lịch
Chương 2: Văn hóa của người Khmer, khả năng và hiện trạng khai thác cho hoạt động du lịch ở Kiên Giang
Chương 3: Định hướng và các giải pháp khai thác văn hóa của người Khmer cho
du lịch tỉnh Kiên Giang
Trang 17Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH
VÀ KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 M ột số vấn đề về du lịch
1.1.1.1 Khái ni ệm về du lịch
Du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người Tuy nhiên, ở mỗi thời đại do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau Đúng như một chuyên gia về du lịch đã
nhận định “đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định
nghĩa”
Kể từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (International of Union Official Travel Organization) năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn được bàn luận rất nhiều với các quan niệm khác nhau Đầu tiên, du lịch được hiểu là
việc đi lại của từng cá nhân hoặc nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng
thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi giải trí hay chữa bệnh
Vào năm 1994, Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Du l ịch là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuy ển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích
gi ải trí, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức…và nhìn chung là vì những lí do không phải để
ki ếm sống” [13]
Tháng 6/2005, Tổng cục du lịch Việt Nam ban hành luật du lịch và đưa ra khái niệm:
“ Du l ịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”.[3]
1.1.1.2 Ch ức năng của du lịch
Trang 18Du lịch có mối quan hệ rất đa dạng và phức tạp với hầu hết các lĩnh vực KT - XH, văn hóa và môi trường sinh thái Vì vậy, chức năng của du lịch cũng được xét trên nhiều góc độ khác nhau
- Ch ức năng kinh tế: Du lịch được mệnh danh là “Con gà đẻ trứng vàng” bởi nó
đang là ngành kinh doanh có vai trò trọng yếu trong nền kinh tế của nhiều nước cũng như nền kinh tế toàn cầu Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên thế giới với
mức doanh thu ngày càng lớn Năm 1995, doanh thu từ du lịch là 3400 tỉ USD, đóng góp 10,9% doanh thu toàn cầu Năm 2008, doanh thu từ du lịch trên thế giới đạt trên
5500 tỉ USD Du lịch đang tạo ra nguồn thu đáng kể cho nhiều quốc gia Ở các nước
du lịch phát triển, thu nhập ngoại tệ từ du lịch chiếm tới 20% hoặc cao hơn tổng nguồn thu ngoại tệ của đất nước
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán cân thu chi của khu
vực và đất nước Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đất nước đến Ngược lại phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với
những quốc gia có nhiều người đi du lịch nước ngoài
Mặt khác, chức năng kinh tế cho du lịch có liên quan đến vai trò của con người như
là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội Nó góp phần vào việc phục hồi sức khỏe cũng như khả năng lao động và đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với
hiệu quả kinh tế rõ rệt Chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở dịch vụ du lịch –
một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cả cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế
Qua những phân tích ở trên chúng ta thấy du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi
bộ mặt kinh tế của khu vực Nhiều nước trên thế giới coi du lịch là cứu cánh để mong
muốn vực dậy nền kinh tế ốm yếu và què quặt của mình
Tuy nhiên, về mặt kinh tế du lịch cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực Rõ ràng nhất là tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hóa tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng
Trang 19chi tiêu của người dân địa phương, nhất là của những người mà thu nhập của họ không liên quan đến du lịch
- Ch ức năng văn hóa, chính trị - xã hội : Du lịch góp phần thỏa mãn nhu cầu của
con người, nâng cao nhận thức, mở rộng tầm hiểu biết Du lịch còn có ý nghĩa trong
việc gìn giữ, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống của con người Trong chừng
mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động cho người dân Mặt khác, ngành du lịch còn tạo thêm việc làm cho người lao động
Du lịch là yếu tố làm tăng cường giao lưu, mở rộng quan hệ xã hội, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau, góp phần củng cố hòa bình thế giới Nhờ có hoạt động du lịch mà con người biết quý trọng lịch sử, nền văn hóa và truyền thống các
quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm đối với khách du lịch, tạo nên sự
hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc, góp phần củng cố hòa bình thế giới
Du lịch còn giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc Du lịch làm cho con người hiểu biết lẫn nhau, nắm vững hơn lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc
- Ch ức năng sinh thái: Du lịch tạo sự gắn bó giữa con người và môi trường, đưa
con người đến với thiên nhiên Trên cơ sở đó, du lịch con người mở rộng hiểu biết về thiên nhiên nâng cao ý thức bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi chính vì môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người
Hoạt động du lịch cũng góp phần đầu tư bảo tồn và tôn tạo cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái Các nguồn thu từ du lịch là cơ sở quan trọng để đầu tư cải tạo
cảnh quan, bảo vệ môi trường
1.1.1.3 Các lo ại hình du lịch
Trang 20a) Phân loại theo mục đích chuyến đi
- Du lịch tham quan: Là một dạng hoạt động của con người để nâng cao nhận
thức về mọi mặt Loại hình du lịch này thoả mãn nhu cầu đi xem phong cảnh đẹp, hưởng niềm vui được hiểu biết về con người, đất nước, sản vật tại nơi tham quan Loại hình du lịch tham quan có tác dụng nhận thức rất lớn, tác dụng giải trí không hiện hình
hoặc có ý nghĩa thứ yếu Thời gian lưu lại của khách đối với loại hình này trong thời gian rất ngắn, thường kéo dài một giờ, hoặc một vài phút Đối tượng của loại hình du
lịch này thường là những người có văn hoá cao như nhà giáo, nhà khoa học, nhà sử
học, nhà báo… Ưu thế của loại hình du lịch này là đại bộ phận không chịu ảnh hưởng
của tính mùa vụ Điều này giúp cho sự cân bằng trong việc phát triển du lịch
- Du lịch giải trí: Nhằm thay đổi môi trường, bứt ra khỏi công việc hàng ngày
để giải phóng thân thể, đầu óc thảnh thơi, phục hồi sức khỏe Trong chuyến đi, nhu
cầu giải trí là nhu cầu không thể thiếu được của du khách Do vậy, ngoài thời gian tham quan, nghỉ ngơi, cần thiết phải có các chương trình vui chơi, giải trí để thoải mái đầu óc Đời sống xã hội càng phát triển thì nhu cầu vui chơi, giải trí của con người ngày càng tăng Do đó, để đáp ứng xu thế này cần quan tâm mở rộng các loại hình và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vui chơi giải trí như các khu du lịch, khu vui chơi
giải trí, công viên…
- Du lịch thể thao: Có nhiều loại hình thể thao trong hoạt động du lịch như: săn
bắn, leo núi, trượt tuyết… Loại hình này có hai loại khách chính đó là các vận động viên trực tiếp tham gia thi tài ở các kì Thế vận hội, Worldcup…(chủ động), các cổ động viên xem các cuộc thi đấu và cổ vũ (bị động) Loại hình du lịch thể thao là một
loại một trong những loại hình đem lại nguồn thu rất lớn cho địa phương vì nó thu hút
Trang 21- Du lịch học tập, nghiên cứu: Là loại hình du lịch ngày càng phổ biến do nhu
cầu kết hợp lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành Một trong những hình thức biểu
hiện của loại hình này là sinh viên của các ngành như địa lý, lịch sử, du lịch, văn hóa, môi trường…được tổ chức đi nghiên cứu, tìm hiểu thực tế
- Du lịch công vụ: Bao gồm những người đi dự hội nghị, hội thảo, hoặc tham gia các cuộc họp, đàm phán, kinh doanh… Bên cạnh mục đích chính của chuyến đi là đi
thực hiện các công việc, họ có thể tranh thủ nghỉ dưỡng, tham quan, ngắm cảnh trong
thời gian rảnh rỗi Ở loại hình du lịch này, khách thường là những đối tượng có khả năng chi trả cao
- Du lịch chữa bệnh: Với mục đích chính của chuyến đi là để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe cho khách du lịch Địa điểm đến thường là những khu an dưỡng, chữa
bệnh, khu vực có nguồn nước khoáng, khí hậu trong lành, khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp…
- Du lịch thăm thân nhân: Là loại hình du lịch kết hợp trong chuyến đi với mục đích thăm hỏi bà con, họ hàng, bạn bè Loại hình du lịch này có ý nghĩa quan trọng
với các nước co nhiều kiều bào sống xa Tổ quốc
b) Phân loại tổng hợp về du lịch
- Du lịch văn hóa “ là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự
tham gia c ủa cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”
( Luật du lịch Việt Nam, 2005).[3]
Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền
thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với khách du
lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và có những nét sinh hoạt cộng đồng độc đáo
Trang 22- Du lịch sinh thái “ là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn
hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” (Luật du
lịch Việt Nam, 2005) [3]
Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn du khách về tìm hiểu các hệ sinh thái
tự nhiên và văn hóa bản địa Địa điểm tổ chức loại hình du lịch sinh thái thường là
những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa
bản địa đang được bảo tồn gần như nguyên vẹn như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng, bản văn hóa… Loại hình này hiện đang thu hút sự chú ý của hầu hết các du khách yêu chuộng thiên nhiên và văn hóa trên toàn thế giới Loại hình du lịch này tuy ra đời khá muộn nhưng nó đã nhanh chóng
trở thành một loại hình du lịch có triển vọng và đang phát triển với tốc độ khá nhanh, đặc biệt là trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia
c) Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
- Du lịch nội địa là tất cả các hoạt động phục vụ cho nhu cầu của du khách ở trong nước đi nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch trong phạm vi đất nước mình, chi phí bằng tiền nội tệ Loại hình du lịch này phát triển ở các nước đang phát triển và kém phát triển Nguyên nhân là do điều kiện kinh tế
- Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm đi và điểm đến của du khách nằm
ở các quốc gia khác nhau Trong quá trình thực hiện loại hình này sẽ nảy sinh sự giao
dịch thanh toán bằng ngoại tệ Du lịch quốc tế được chia thành:
+ Du lịch quốc tế chủ động (Inbound): Là loại hình du lịch quốc tế, đón tiếp,
phục vụ khách nước ngoài đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan các đối tượng du lịch tại đất nước của cơ quan cung ứng du lịch, còn gọi là du lịch chủ động nhận khách và thu ngoại tệ
+ Du lịch quốc tế thụ động (Outbound): Là loại hình du lịch phục vụ và tổ
chức đưa khách từ trong nước đi nước ngoài và mất một khoản ngoại tệ
Trang 23Sự phát triển loại hình du lịch này là cơ sở cho các mối quan hệ hợp tác cùng có lợi
về các mặt kinh tế, văn hoá xã hội gữa các quốc gia
d) Phân loại theo địa bàn du lịch
- Du lịch nghỉ biển là loại hình du lịch gắn liền với biển Ngoài tắm biển, du khách còn tham gia nhiều hoạt thể thao trên biển như: mô tô nước, dù kéo, lặn biển…
Loại hình này có tính mùa vụ rõ rệt nên thường được tổ chức vào mùa nóng với nhiệt
độ nước biển và không khí trên 200C
- Du lịch núi là loại hình du lịch gắn liền với các khu vực có địa hình cao, hoạt động du lịch ở vùng núi cũng rất đa dạng như: leo núi, khám phá hang động, hay đơn
giản chỉ là đi du lịch vùng núi để hòa mình vào thiên nhiên để thư giãn, lấy lại sự thăng bằng về tâm lí…
- Du lịch đô thị mà điểm đến là các thành phố lớn, trung tâm hành chính nổi
tiếng với những công trình kiến trúc tầm cỡ quốc gia, quốc tế đặc biệt cả những khu thương mại lớn phục vụ chiêm ngưỡng và mua sắm,
- Du lịch nông thôn thường diễn ra ở những vùng nông thôn - nơi có không khí trong lành, yên tĩnh, thanh bình và không gian thoáng đãng Vì vậy, khu vực này thường có sức hút đối với người dân đô thị, nhất là các đô thị lớn
e) Phân loại theo thời gian cuộc hành trình
- Du lịch ngắn ngày là loại hình du lịch thường kéo dài dưới một tuần, tập trung vào những ngày cuối tuần, loại hình này thích hợp với đối tượng du khách có ít
Trang 24- Du lịch xe đạp là loại hình sử dụng phương tiện chính là xe đạp, phát triển ở
những khu vực có địa hình bằng phẳng, con người thân thiện với môi trường Du lịch
xe đạp là loại hình phổ biến ở các nước phát triển, du khách có thể dễ dàng thâm nhập vào đời sống cư dân bản địa Bằng phương tiện này du khách có thể đi đến những khu
vực đường sá chưa phát triển
- Du lịch ô tô là loại hình du lịch phổ biến và chiếm ưu thế so với các phương
tiện khác, giá rẻ, dễ tiếp cận với các điểm du lịch
- Du lịch máy bay là loại hình vận chuyển tiên tiến nhất, trang bị tiện nghi đầy
đủ, tốc độ cực lớn, đi xa mà ít tốn thời gian song giá cả cao, khả năng rủi ro lớn Tuy nhiên ngày nay số khách đi du lịch bằng máy bay vẫn tăng lên đáng kể vì nó cho phép
du khách đi nghỉ dưỡng tại những nước, những vùng xa xôi nhất, tranh thủ sử dụng
những ngày nghỉ cuối tuần trong thời gian di chuyển ngắn nhất
- Du lịch tàu hoả là loại chình du lịch phổ biến của nhiều du khách với giá thành rẻ, có thể tranh thủ ngắm cảnh bên đường, tiết kiệm thời gian vì có thể thực hiện hành trình vào ban đêm, tuy nhiên không chủ động và phải kết hợp với các phương
tiện vận chuyển khác…
- Du lịch tàu thủy là loại hình du lịch xuất hiện từ khá lâu, ngày nay nhiều tàu
du lịch với đầy đủ tiện nghi như phòng ăn, phòng ngủ, bar, bể bơi, sân thể thao, đảm
bảo nhiều loại dịch vụ Tuy nhiên hình thức du lịch này giá thành cao và không thích
hợp cho những người có vấn đề về sức khỏe
g) Phân loại theo hình thức tổ chức
- Du lịch có tổ chức theo đoàn là loại hình du lịch có sự chuẩn bị chương trình
từ trước, mỗi thành viên trong đoàn biết được kế hoạch đi du lịch của mình
- Du lịch tự do: Du lịch tự phát do du khách tự tổ chức chuyến đi theo ý thích riêng của mình
h) Phân loại theo tính chất hoạt động của du khách
Trang 25- Du lịch khám phá: Mục đích là đáp ứng nhu cầu tìm hiểu những điều mới lạ
- Du lịch mạo hiểm: Mục đích là thoả mãn sự phiêu lưu, mạo hiểm
- Du lịch chuyên đề: Du lịch theo một chủ đề nhất định như tham quan di tích
lịch sử, làng nghề…
- Du lịch kết hợp: Phối hợp các loại hình với nhau
i) Phân loại theo thị trường du lịch
- Thị trường nhận khách (Du lịch chủ động): Thị trường đón khách đến du lịch
- Thị trường gửi khách (Du lịch bị động): Thị trường đưa khách đi du lịch
j) Phân loại theo phương thức hợp đồng
Nếu nhìn dưới góc độ thị trường, còn có thể chia các chuyến du lịch thành du
lịch trọn gói và du lịch từng phần
- Du lịch trọn gói: Khách du lịch thường kí hợp đồng với các công ty lữ hành khi
muốn tham gia vào một tuyến du lịch với một số tiền nhất định Các dịch vụ trọn gói thường là:
+ Dịch vụ lưu trú + Dịch vụ vận chuyển + Dịch vụ ăn uống + Dịch vụ hướng dẫn + Dịch vụ bảo hiểm + Vé tham quan
Như vậy, khách sẽ được công ty lữ hành lo cho hết các quy trình và nhiệm vụ chính
là thưởng thức, cảm nhận các dịch vụ
- Du lịch từng phần: Du khách chọn một hay vài dịch vụ của các công ty du lịch,
có thể là lưu trú, có thể là ăn uống, có thể là vận chuyển… còn lại là khách tự tổ chức
và liên hệ các dịch vụ khác nhau hay tự mình có
k) Phân loại theo hành vi hiện thực của khác
- Khách đến lần đầu
Trang 26- Khách đến lại (từ lần thứ hai trở đi)
l) Phân loại theo đặc tính tinh thần của khách
- Khách đi cá nhân hay tập thể
- Khách đi theo quyết định của bản thân hay phụ thuộc người khác
1.1.1.4 S ản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999): “Sản phẩm du lịch được tạo ra do sự kết
h ợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch
nh ằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”.[3]
Theo luật du lịch Việt Nam (2005) : “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần
thi ết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.[13]
Như vậy, có thể biểu diễn sản phẩm du lịch theo công thức sau:
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Dịch vụ du lịch Nhìn từ góc độ khách du lịch, sản phẩm du lịch gồm toàn bộ những gì phục vụ cho chuyến đi tính từ khi khách rời chỗ ở của mình đến khi trở về nhà sau chuyến đi du
lịch
Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể Nếu như đối với hàng hóa thông thường, người mua được tận mắt nhìn thấy sản phẩm (có
thể thử) rồi mới quyết định mua, thì đối với du lịch, sản phẩm du lịch thường ở cách
xa nơi ở của khách hàng Do vậy, việc đánh giá, kiểm tra chất lượng sản phẩm du lịch
rất khó khăn Sản phẩm du lịch có những đối tượng đặc thù, không đủ các thuộc tính
của hàng hóa và có thể “bán” nhiều lần Đó là các giá trị nhân văn và các tài nguyên
du lịch tự nhiên Các hàng hóa này sau khi bán rồi, người chủ vẫn chiếm hữu nguyên
vẹn giá trị sử dụng của nó
Trang 27Trên thị trường du lịch, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch được thực hiện đồng thời Quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm du lịch luôn diễn ra đồng
nhất với nhau, cùng một thời gian, một địa điểm Do đó, sản phẩm du lịch không thể
cất đi, không thể lưu trữ được như các mặt hàng khác Sản phẩm du lịch luôn gắn với
một địa điểm cụ thể, không thể mang đi “trưng bày” hoặc “tiêu thụ” ở nơi khác được,
mà khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch Như vậy, hiệu quả kinh doanh du lịch nằm trong chính quá trình tổ chức hoạt động du lịch
Sản phẩm du lịch có tính thời vụ rõ rệt Điều đó thể hiện ở cung – cầu du lịch chỉ
xuất hiện trong một thời gian nhất định trong năm Nguyên nhân chính là trong dịch
vụ, lượng cung khá ổn định trong thời gian dài, còn nhu cầu của khách thì thường xuyên thay đổi, dẫn tới có sự chênh lệch giữa cung và cầu Khác với các lĩnh vực khác, trong du lịch khó có thể tăng cung của sản phẩm du lịch trong một thời gian
ngắn mà không làm cho nó biến thể
Tóm lại, sản phẩm du lịch là một nét đặc trưng riêng cho từng vùng miền Mỗi địa điểm đều có một sản phẩm du lịch của riêng mình, chính vì vậy trong quá trình phát triển du lịch phải làm ra những sản phẩm mang bản sắc riêng để thu hút khách du lịch
1.1.2 Tài nguyên du l ịch
1.1.2.1 Khái ni ệm
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành du lịch Tài nguyên du lịch được xem
là tiền đề, là điều kiện đặc biệt để phát triển du lịch
Theo Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ:“Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn
hóa – l ịch sử cùng các thành phần của chúng được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp hay gián ti ếp hoặc cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm góp phần khôi phục, phát triển
th ể lực, trí lực cũng như khả năng lao động và sức khỏe của con người”[12]
Trang 28Theo luật du lịch Việt Nam (2005):“Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên, yếu tố
t ự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá tr ị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ
b ản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch” [19]
Như vậy có thể hiểu rằng: Tài nguyên du lịch là bao gồm tất cả những yếu tố tự nhiên
và nhân tạo có khả năng khai thác, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng để thỏa mãn nhu cầu du lịch
1.1.2.2 Vai trò c ủa tài nguyên du lịch
Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố nhưng trước hết phải kể đến tài nguyên du lịch Chính sự phong phú, đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch tạo nên
sự đa dạng và hấp dẫn của sản phẩm du lịch Như vậy, việc đầu tư về phương tiện vật
chất và dịch vụ để biến tài nguyên du lịch thành sản phẩm du lịch là một nghệ thuật trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch Hay nói cách khác, các loại hình du lịch ra đời đều phải dựa trên cơ sở các tài nguyên du lịch
Hoạt động du lịch mạo hiểm được tổ chức trên cơ sở các tài nguyên du lịch như núi cao, hang động, các khu rừng nguyên sinh, hoang vắng, cách vịnh đảo có phong cảnh đẹp…; còn du lịch nghỉ dưỡng lại thường được tổ chức ở những khu vực miền núi, có khí hậu mát mẻ, các bãi biển đẹp, có nhiều ánh nắng, những nơi suối khoáng…
Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch Số lượng, chất lượng và mức độ kết hợp của các loại tài nguyên trên một lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một
quốc gia Một lãnh thổ nào đó có tài nguyên du lịch đa dạng, chất lượng cao, mức độ
kết hợp phong phú thì lãnh thổ đó có sức hút rất lớn đối với du khách
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu và chuyên môn hóa của vùng du
lịch Quy mô hoạt động du lịch của một lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng
Trang 29tài nguyên và nó quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch Sức hấp
dẫn của vùng phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch
1.1.1.3 Phân lo ại tài nguyên du lịch
* Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Địa hình: Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên
phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh Người ta thường chia tổng quát địa hình thành 3 dạng: miền núi, đồng bằng, ven bờ và đảo
Địa hình miền núi là dạng địa hình có nhiều ưu thế cho phát triển du lịch Địa hình núi thường có rừng, thác nước, sông suối (suối nước nóng, nước khoáng), phong cảnh đẹp Đồng thời miền núi còn là nơi bảo tồn nhiều khu vườn quốc gia, và là nơi sinh
sống của nhiều dân tộc ít người với đời sống và nền văn hóa đa dạng đặc sắc Vì vậy
miền núi có rất nhiều hướng phát triển du lịch và có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch: du lịch khám phá, du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du
lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa…
Địa hình ven bờ và đảo có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, kiểu địa hình
hấp dẫn du khách đó là các bài cát ven biển, hồ sông Trong đó đặc biệt là các bãi cát ven biển, đảo thường được gọi là các bãi biển thuận lợi cho các loại hình du lịch như
tắm biển, nghỉ biển, du thuyền ra đảo, lặn biển, các loại hình du lịch thể thao…
Địa hình đồng tương đối đơn điệu nên ít gây cảm hứng cho khách tham quan
- Khí h ậu: Khí hậu có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người Trạng thái
cơ thể con người gắn liền với các chỉ số sinh khí hậu Những chỉ tiêu đáng chú ý là nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, thành phần lý hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt khác
Trang 30
Bảng 1.1: Chỉ tiêu sinh học đối với con người (của các học giả Ấn Độ)
Mức độ đánh giá
Nhiệt độ trung bình năm (0C)
N/độ trung bình tháng nóng nhất (0C)
Biên độ nhiệt ngày (0C)
Lượng mưa năm (mm)
Thích nghi 18-24 24-27 <6 1250-1900 Khá thích nghi 24-27 27-29 6-8 1900-2550 Nóng 27-29 29-32 8-14 >2550
hoạt động du lịch Mùa hè là mùa du lịch sôi động với các loại hình du lịch biển, du
lịch núi, du lịch tới những vùng đồi…Mùa đông lại là mùa du lịch cho những ai đam
mê những môn thể thao mùa đông, Những nơi có khí hậu thích hợp thì thuận lợi cho
du lịch phát triển
- Nước: Bao gồm cả nước mặt và nguồn nước ngầm được coi là tài nguyên quan
trọng, tạo điều kiện cho phát triển du lịch nói chung và phát triển các loại hình du lịch
gắn với nguồn nước nói riêng
Các nguồn tài nguyên nước mặt có giá trị cho nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng…đó là các bờ biển, các vùng hồ tự nhiên, hồ nhân tạo, các suối, thác nước,
Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị cho đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói tới tài nguyên nước khoáng Đây là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa
bệnh
Trang 31- Sinh v ật: Bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật sống trên lục địa và dưới
nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc và lai tạo
Thực và động vật có giá trị tạo nên phong cảnh làm cho thiên nhiên sinh động và đẹp hơn Trong đó, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên…là những nơi còn tồn tại nhiều loài động thực vật nguyên sinh và cũng là nơi hấp dẫn du khách
- Các hi ện tượng tự nhiên đặc biệt: có nhiều hiện tượng tự nhiên độc đáo và đặc
sắc tạo nên sự thu hút du khách Ví dụ hiện tượng nhật thực, tuyết rơi, đêm trắng bắc
cực…
* Tài nguyên du lịch nhân văn
- Di tích l ịch sử - văn hóa: Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan,
trong đó chứa đựng các giá trị lịch sử điển hình Di tích lịch sử - văn hóa thường được phân chia thành:
+ Di tích khảo cổ + Di tích lịch sử + Di tích kiến trúc nghệ thuật + Danh lam thắng cảnh
- L ễ hội: Là một bộ phận của nền văn hóa dân gian được sáng tạo và bảo tồn,
lưu truyền lâu đời trong lòng xã hội từ xưa đến nay Nó là những hình thức sinh hoạt văn hóa – xã hội của quần chúng nhân dân lao động ở một cộng đồng, địa phương nhất định mang đậm tính chất tổng hợp các hình thái tư tưởng, tín ngưỡng, nghệ thuật, phong tục tập quán…của cộng đồng, địa phương đó Nó là một dạng hoạt động xã hội được nhân lên và vượt qua khỏi khuôn khổ của cuộc sống thường ngày Lễ hội có nhiều dạng nhưng thông thường đều bao gồm hai phần liên quan với nhau rất chặt chẽ:
phần lễ mang tính lễ nghi, trang trọng nhằm tưởng niệm, hoặc cầu chúc…phần hội mang tính sinh hoạt vui chơi của cộng đồng Đương nhiên có thể sự phân chia này
Trang 32mang tính chất tương đối Có thể có lễ hội cả hai phần làm một, có lễ hội thì phần lễ là chính hoặc có lễ hội lại chỉ có phần hội
Lễ hội có sức hấp dẫn du khách rất cao Khách du lịch không chỉ tham quan, tìm
hiểu lễ hội mà còn có thể tham gia vào các hoạt động lễ hội
- Làng ngh ề truyền thống: Nghề thủ công truyền thống là loại hình hoạt động KT
– XH rất phong phú, các sản phẩm thủ công mang nhiều giá trị nghệ thuật thường trở thành những mặt hàng lưu niệm đối với du khách
- Dân t ộc và bản sắc văn hóa của dân tộc: Mỗi dân tộc đều có những nét đặc
trưng riêng về trang phục, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, hoạt động kinh tế, văn hóa nghệ thuật… những đặc thù đó có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch
- H ệ thống các bảo tàng và các sự kiện: Hệ thống bảo tàng và các sự kiện lịch sử
của địa phương là những giá trị nhân văn của vùng Các bảo tàng chứa đựng các giá trị tinh thần của dân tộc, nơi tồn tại những phẩm chất cao đẹp của nhân dân địa phương trong công cuộc khai hoang lập ấp và chống giặc ngoại xâm
Các sự kiện là một minh chứng về các truyền thống tồn tại hàng trăm năm gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước, mà còn mang những giá trị nhân văn cho thế hệ sau
1.1.3 M ột số vấn đề văn hóa
1.1.3.1 Khái ni ệm văn hóa
Văn hóa được hiểu và sử dụng theo nhiều nghĩa khác nhau như để chỉ học thức (trình độ văn hóa); lối sống (nếp sống văn hóa) trình độ phát triển của một giai đoạn Văn hóa còn được hiểu theo một nghĩa rộng hơn bao gồm tất cả những phong tục, tín ngưỡng, hiện vật, lối sống…ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của khu vực dân cư
đó Đã có rất nhiều các tổ chức, các quốc gia và các chuyên gia nghiên cứu về văn hoá đưa ra các khái niệm về văn hoá và các vấn đề liên quan, và hiện tại chưa có một khái
niệm nào về văn hoá được thống nhất tuyệt đối Có thể đưa ra một số quan niệm, khái
niệm và định nghĩa về văn hoá như sau:
Trang 33Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982) để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Đã thống nhất đưa ra một khái niệm về văn hoá như sau:
“Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục
và tín ngưỡng” [25]
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [25]
Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày một quan niệm về văn hoá: "Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá" [20]
Giáo sư Viện sĩ Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm: “Văn hóa là một hệ thống
hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [16]
Nói một cách giản dị ta có thể hiểu văn hóa là tất cả những yếu tố vật chất tinh thần đặc trưng cho một cộng đồng xã hội, được cộng đồng đó chấp nhận, sử dụng
và gìn giữ nó theo thời gian
Tóm lại, văn hóa là yếu tố đã có sự lựa chọn mà người làm việc đó là cả cộng đồng dân cư Một yếu tố chỉ được coi là văn hóa của một cộng đồng khi nó "sống" và tồn
tại với cộng đồng đó trong một khoảng thời gian nhất định Ngoài ra, một đặc tính quan trọng khác đó là văn hóa có thể thay đổi, bổ sung và phát triển theo thời gian, cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội đó
Trang 341.1.3.2 Nh ững nội dung biểu hiện của văn hóa
• Phong tục tập quán
Phong tục: Toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác
thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống
nhất của cộng đồng Phong tục không mang tính cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi
thức, tuy nhiên nó cũng không tuỳ tiện, nhất thời như hoạt động sống thường ngày Nó
trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững Phong tục của một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí của một dòng họ và gia tộc, thể hiện qua nhiều chu kì khác nhau của đời sống con người
Hệ thống các phong tục liên quan tới vòng đời của con người như phong tục về sinh
đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão; phong tục tang ma, cúng giỗ Hệ
thống các phong tục liên quan đến chu kì lao động của con người, mà với cư dân nông nghiệp là từ làm đất gieo hạt, cấy hái đến thu hoạch, với ngư dân là theo mùa đánh bắt cá Hệ thống các phong tục liên quan tới hoạt động của con người theo chu kì thời
tiết trong năm, phong tục mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông Phong tục là một
bộ phận của văn hoá, có vai trò quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương, nó ảnh hưởng, thậm chí chế định nhiều ứng xử của cá nhân trong
cộng đồng Phong tục được tuân thủ theo quy định của luật tục hay hương ước
Tập quán: Là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành
nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng Tập quán gần gũi
với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi Trong những tình
huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hoá Tập quán
hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt
Nhìn chung, phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp, tuy nhiên có thể được
hiểu là: Những thói quen đã được mọi người tuân thủ tại một địa phương trong một
Trang 35hoàn cảnh bắt buộc phải chấp nhận lề thói ấy như một phần luật pháp của địa phương
Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng,
phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự
Các lễ hội là tài nguyên nhân văn quý giá, là quốc hồn quốc túy của dân tộc, lễ hội cùng với các tài nguyên nhân văn khác tạo ra những giá trị văn hóa đa dạng, phong phú, đặc sắc của mỗi vùng đất, mỗi quốc gia
Lễ hội có nhiều dạng nhưng thông thường đều bao gồm hai bộ phận: Phần LỄ và
phần HỘI Phần “lễ” là những hình thức nghi lễ tồn tại dưới dạng đọc các bài văn tế, động tác lạy thờ, đọc, tụng…và một số động tác khác liên quan đến tục lệ thờ cúng đã được định ước từ trước, đời này truyền lại cho đời sau và cứ thế tiếp diễn Gắn với lễ
có vật thờ, vật dâng cúng và nghi thức lễ Phần “hội” phần hội thường là các trò diễn, trò chơi dân gian hoặc các hoạt động vui chơi giải trí gắn liền với phần lễ Cũng cần chú ý, giữa “lễ” và “hội” không phải lúc nào người ta cũng có thể tách bạch chúng ra được Trong một số trường hợp, những trò chơi dân gian có nguồn gốc từ các trò diễn nghi lễ nhưng theo thời gian phần nghi lễ nhạt dần
Tóm lại, lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định Cơ sở của lễ hội là
niềm tin và hình thức của nó tồn tại mang tính tự giác
Trang 36Lễ hội là nơi hội tụ các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc sắc của nhân dân, một sinh
hoạt cộng đồng có khả năng đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của đời sống tinh thần của
mỗi thành viên trong cộng đồng, của cộng đồng và toàn xã hội Lễ hội thường được tổ
chức vào những thời điểm nhất định trong một không gian là danh lam thắng cảnh, di tích hoặc ở những thiết chế văn hóa phù hợp với tính chất lễ hội Chính sự gắn kết
giữa cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã tạo nên sức hấp
dẫn cho du lịch
Người ta thường ví lễ hội như những “bảo tàng sống” về văn hóa của cộng đồng Du
lịch lễ hội thỏa mãn được các nhu cầu tìm đến cái mới, cái khác biệt so với nơi ở thường ngày của du khách, khách du lịch không chỉ tham quan, tìm hiểu lễ hội mà còn
có thể tham gia vào các hoạt động lễ hội Đồng thời, hoạt động du lịch lễ hội góp phần
giới thiệu giá trị lễ hội của đất nước, của một vùng, của một địa phương, một cộng đồng, một bản làng nào đó
• Văn hóa ẩm thực
Trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều tạo cho mình một phong cách ẩm thực riêng phù hợp với đặc điểm tự nhiên và đời sống văn hoá của dân tộc mình
Ẩm thực nói chung là cách ăn uống của con người Tùy theo vùng miền, hoàn
cảnh sống, người ta có thói quen ăn uống khác nhau (tập quán ẩm thực), tùy theo dân tộc, quá trình phát triển, địa hình, địa lý các dân tộc trên thế giới cũng có
những phong cách ăn uống, những món ăn, thứ tự món ăn khác nhau mà người ta
gọi là "văn hóa ẩm thực"
Tóm lại, văn hóa ẩm thực là những gì liên quan đến ăn uống nhưng mang nét đặc trưng của mỗi cộng đồng cư dân khác nhau, thể hiện cách chế biến và thưởng thức các món ăn, uống khác nhau, phản ánh đời sống kinh tế - văn hóa xã hội của tộc người đó
Trang 37Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ 2 điều kiện sau:
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề;
- Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu
nhập của làng
Ở nhiều nước trên thuộc khu vực Châu Á, làng nghề được xem như một sản phẩm
của du lịch Đối với du lịch Việt Nam, trong những năm gần đây, cùng với việc phát triển du lịch, người ta chú trọng hơn đến việc phát triển làng nghề truyền thống
Những hoạt động thường xuyên của du lịch đã ghi nhận việc tổ chức hội du lịch làng nghề Hội du lịch làng nghề được xem là chủ lực nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó tôn vinh các giá trị thẩm mỹ có truyền thống, các nghệ nhân có đôi bàn tay khéo léo, có khối óc sáng tạo và một kinh nghiệm sống làm nghề truyền qua nhiều thế hệ Làng nghề tập trung những thành tựu văn hóa nghệ thuật truyền
thống và hiện đại Nếu được tổ chức tốt làng nghề sẽ trở thành nguồn thu lớn cho ngành du lịch
1.2 Vai trò c ủa văn hóa dân tộc Khmer đối với phát triển du lịch
1.2.1 Văn hóa dân tộc là tài nguyên có ý nghĩa đặc trưng của mỗi dân tộc ở
m ỗi địa phương
Mỗi dân tộc có những sự khác nhau về ăn mặc, đi lại, lễ nghi, phong tục, tập quán, tôn giáo…Cùng một dân tộc, nhưng ở các vùng, miền khác nhau thì tính chất, kết cấu,
mô thức văn hóa cũng đã khác nhau Do đó, văn hóa dân tộc có vai trò đặc biệt quan
trọng trong sự phát triển của mỗi dân tộc ở mỗi địa phương nói riêng và của quốc gia
Trang 38nói chung, nó giúp cho con người phân biệt mình với người khác, dân tộc mình với dân tộc khác, thông qua nét văn hóa bản sắc đặc trưng của cộng đồng, dân tộc
Trong thế giới ngày nay, các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại đã mang lại
cho con người nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn, sự phát triển ồ ạt của quá trình đô thị hóa cũng như các quá trình di dân tự do đã góp phần làm cho con người ngày càng
muốn tìm đến những miền đất lạ, những đất nước mà ở đó các giá trị văn hóa truyền
thống còn được gìn giữ và bảo lưu nguyên vẹn Chính thực tế ấy đã chỉ ra rằng, văn hóa dân tộc có một sức mạnh rất lớn và là nền tảng, là kim chỉ nam trong quá trình
hội nhập của mỗi quốc gia, dân tộc
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, văn hóa dân tộc vừa là tài nguyên quí báu, vừa là động lực của sự phát triển KT - XH Tuy nhiên, các quốc gia, các dân tộc luôn phải đối mặt với một bài toán khó là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế với giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc Chỉ khi nào mối quan hệ đó được giải quyết một cách đúng đắn
và hài hòa thì khi đó sự phát triển mới được coi là bền vững
1.2.2 Văn hóa dân tộc Khmer làm phong phú tài nguyên nhân văn của địa phương
Một dân tộc dù là nhỏ bé và lạc hậu về kinh tế, nhưng dân tộc đó vẫn có khả năng đóng góp những giá trị văn hóa xứng đáng vào di sản văn hóa chung của nhân loại
Những di sản văn hóa ấy có thể trở thành tài nguyên du lịch của quốc gia
Với bề dày lịch sử và văn hóa lâu đời, với những công trình kiến trúc độc đáo,
những lễ hội, làng nghề truyền thống đặc sắc, những loại hình nghệ thuật phong phú… Văn hóa dân tộc Khmer được xem là tài nguyên du lịch quý giá Nó góp phần làm phong phú thêm tài nguyên nhân văn của địa phương nói riêng và của Quốc gia nói chung Các đối tượng văn hóa Khmer thực sự là tài nguyên du lịch hấp dẫn bởi tính phong phú, đặc sắc, tính truyền thống và tính địa phương của nó
Trang 39Qua quá trình cộng cư lâu đời cùng các dân tộc Kinh – Hoa – Khmer…trên địa bàn
cư trú; người Khmer đã có sự giao thoa văn hóa với các dân tộc anh em Nhưng cơ
bản, người Khmer vẫn giữ được những nét văn hóa đặc sắc, những cốt cách, tinh hoa
của dân tộc mình Thể hiện rõ nét qua các ngôi chùa Khmer và sinh hoạt ở mỗi Phum sóc, gắn liền với phật giáo Nam Tông Tiểu thừa, qua tiếng nói, chữ viết, ẩm thực, các hình thức nghệ thuật như: hội họa, điêu khắc, âm nhạc…Những bản sắc vô cùng độc đáo đó của đồng bào Khmer đã đóng góp không nhỏ vào nét đặc sắc của văn hóa địa phương, đem lại cho địa phương một tiềm năng to lớn trong việc khai thác những giá
trị văn hóa vào hoạt động du lịch
Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer là một thành tố không thể thiếu trong việc tạo ra sự đa dạng cho các sản phẩm du lịch của địa phương, một
loại sản phẩm in dấu ấn truyền thống và nhân văn của dân tộc Đồng thời, là cơ sở
chủ yếu tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú Các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể của dân tộc Khmer đã và đang là chất liệu chủ yếu để xây dựng các chương trình du lịch, các sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, khác biệt với các sản
phẩm du lịch văn hóa của các dân tộc khác
Trang 40Chương 2: VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG KHAI THÁC DU LỊCH Ở KIÊN GIANG 2.1 Khái quát đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 V ị trí địa lí
Kiên Giang nằm trong vùng ĐBSCL, tổng diện tích tự nhiên là 6.346 km2,
bằng 1,90% diện tích cả nước và 15,78% diện tích vùng ĐBSCL Cách thủ đô Hà
Phía Đông Bắc giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ, và Hậu Giang; Phía Nam giáp
Cà Mau và Bạc Liêu; Phía Tây giáp vịnh Thái Lan; Phía Bắc giáp Campuchia
Nằm ở tận cùng phía Tây Nam của đất nước, tuy cách xa các trung tâm kinh tế lớn, nhưng lại rất gần các nước trong khu vực Kiên Giang có đường biên giới trên bộ
với Campuchia, có cửa ngõ ra biển Đông thông qua vịnh Thái Lan, phần phía biển
của Kiên Giang giáp với các nước Campuchia, Thái Lan, Malaysia, cách vùng phát triển công nghiệp và du lịch nổi tiếng Đông Nam Thái Lan khoảng 500 km, cách vùng phát triển phía Đông Malaysia khoảng 700 km, cách Singapore 1000 km Đây
là những điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực, là cửa ngõ thông thương với các nước bên ngoài của vùng ĐBSCL
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Địa hình
Kiên Giang là một tỉnh đặc thù của vùng ĐBSCL có cả đồng bằng, núi rừng, bờ
biển và hải đảo Phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Đông
Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 - 1,2m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2 - 0,4m) so với mặt biển Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thủy triều biển Tây