1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thơ tú xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học việt nam

293 535 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 293
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đổi mới trong nội dung chương trình văn học được giảng dạy ở bậc đại học và trung học cũng đòi hỏi cần phải có những công trình nghiên cứu tổng thể về văn học thời trung đại mà tro

Trang 2

ĐOÀN HỒNG NGUYÊN

THƠ TÚ XƯƠNG TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số 5-04-33

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: GS.TS MAI QUỐC LIÊN

Thành phố Hồ Chí Minh -2003

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Kí tên

Trang 4

PHẦN DẪN NHẬP - 1 -

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI - 1 -

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU - 3 -

3 MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU - 18 -

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 19 -

5 ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU - 20 -

6 NHŨNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN - 21 -

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN - 22 -

PHẦN NỘI DUNG - 23 -

CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ CỦA LUẬN ÁN - 23 -

1.1 Những khái niệm cơ sở - 23 -

1.1.1 Khái niệm qui phạm văn học và đặc trưng qui phạm hóa trong văn chương trung đại Việt Nam - 23 -

1.1.2 Khái niệm hiện đại, văn học hiện đại, hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam - 27 -

1 1 2 1 Khái niệm hiện đại - tính hiện đại của văn học và văn học hiện đại: - 28 - 1.1.2.2 Hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam - 30 -

1.2 Vấn đề văn bản thơ Tú Xương - 36 -

1.2.1 Tình hình văn bản tác phẩm của Tú Xương - 37 -

1.2.1.1 Những chép tay bằng chữ Nôm - 37 -

* Về các bản đã khai thác: 37

Trang 5

-* Về các bản chưa được khai thác - 41 - 1.2.1.2 Những bản bằng tiếng Việt: - 45 - 1.2.2 Nhìn lại tình hình văn bản và tiến trình nghiên cứu văn bản tác phẩm của Tú Xương - 53 - 1.2.3 Những cơ sở và nguyên tắc để xác lập một văn bản mới về tác phẩm của Tú Xương - 60 - 1.2.4 Đôi nét về văn bản tác phẩm Tú Xương vừa xác lập - 63 - TIỂU KẾT VỀ NHỮNG VẨN ĐỀ CƠ SỞ CỦA LUẬN ÁN - 66 - CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG VỀ CON NGƯỜI THỊ DÂN VÀ THẾ GIỚI THỊ THÀNH - 69 - 2.1 Cảm hứng về con người thị dân của Tú Xương - 70 - 2.1.1 Cảm hứng về con người trong thơ ca nhà Nho trung đại - 70 - 2.1.2 Cảm hứng thị dân và sự đa dạng độc đáo của kiểu hình con người thị dân trong thơ Tú Xương - 76 - 2.1.2.1 Nhà nho thị dân: Kiểu hình tượng nhà nho thị dân và kiểu ngôn chí thị dân -

77 -

2.1.2 2 Cảm hứng thị dân và kiểu bộc lộ cái "tôi" thị dân - 84 - 2.1.2.3 Kiểu hình tượng và sự thể hiện hình tượng người phụ nữ thị dân - 93 - 2.1.2.4 Kiểu hình tượng con người phố phường và nét riêng trong sự thể hiện hình tượng con người phố phường - 117 - 2.2 Cảm hướng về thế giới thị thành của Tú Xương - 123 - 2.2.1 Không gian sinh hoạt: không gian cảnh phố và không gian cảnh trường thi trong thơ Tú Xương - 124 - 2.2.1.1 Không gian thơ Tú Xương đóng khung trong cảnh sinh hoạt đô thị - 125 - 2.2.1.2 Không gian khoa cử và không gian trường thi - 135 -

Trang 6

TIỂU KẾT - 145 -

CHƯƠNG 3 VỀ THỂ LOẠI, NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT VÀ PHƯƠNG THỨC TRỮ TÌNH QUA KIỂU TRÀO PHÚNG TỰ TRÀO - 149 -

3.1 Về thể loại - 149 -

3.1.1 Thơ Hát nói - 149 -

3.1.2 Thơ lục bát - 161 -

3.1.3 Thơ Nôm luật Đường - 169 -

3.2 về ngôn từ nghệ thuật - 187 -

3.3 Kiểu trào phúng tụ" trào - 205 -

TIỂU KẾT - 212 -

KẾT LUẬN - 215 -

DANH MỤC NHỮNG BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN - 220 -

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 221 -

PHỤ LỤC:

*Phụ lục 1: Nam âm thảo (tờ 281) *Phụ lục 2: Quốc văn tùng kí (tờ 68) *Phụ lục 3: Thi văn tạp lục (tờ 4l a) *Phụ lục 4: Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm (tờ 29a)

*Phụ lục 5: Vị thành giai cú tập biên (tờ la) *Phụ lục 6: Việt tuy tham khảo (tờ 12 a) *Phụ lục 7: Niên biểu Trần Tế Xương * Phụ lục 8: Một số trang trong Tác phẩm Tú Xương

Trang 7

PHẦN DẪN NHẬP

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Tú Xương sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan Ông sống trọn cuộc đời ngắn ngủi ở giữa lòng đô thị Thành Nam, ngày ngày phải chứng kiến bao cảnh lố lăng của xã hội buổi giao thời phong kiến thực dân tư sản; chứng kiến sự sụp đổ thảm hại của vương quyền phong kiên dưới "gót giày đinh sang đá" và "súng cà nông" của giặc Tây xâm lược Không đủ sức hoa đao, múa giáo "làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ" giữa thời li loạn, tiếp bước sự nghiệp chống giặc của các bậc đàn anh: Phạm Văn Nghị, Vũ Hữu Lợi Tú Xương đành ngậm ngùi vung ngọn bút lông để chống bọn người núp bóng giặc Tây tàn hại nhân dân, tàn hại giống nòi; chống chọi lại với những điều xấu xa bỉ ổi sản phẩm của xã hội thực dãn tư sản bằng tiếng cười dài nức nở với tất cả nỗi hờn tủi uất giận trong ý thức về sự bất lực của bản thân trước thời cuộc Tuy là "một thứ thơ dội lên từ cái thời ấy, như mũ nấm thác sinh từ đóng gỗ ruỗng mục nọ của buổi giao thời." [195, tr 320] nhưng thơ Tú Xương vẫn là "tiếng nói chung của dân tộc" Bởi lẽ, thơ Tú Xương đã là "một chứng từ về đạo học Thành Nam tàn cục, về sinh hoạt vật chất và tinh thần của một lớp nhà nho tỉnh Nam lúc Tây sang " [195, tr 320]

1.2 Tương truyền rằng, khi Tú Xương mất, Nguyễn Khuyến đã có câu đối viếng:

"Kìa ai chín suối Xương không nát,

Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn."

Câu đối không chỉ thể hiện niềm thương cảm liên tài, sự Trần trọng của bậc tiền bối hiển đạt mà còn là một dự phóng về giá trị và sức sóng về một tài thơ Chẳng biết lời tương truyền đúng đến đâu và "nghìn thu" sau thế nào", nhưng dù đã trải qua bao biến thiên của lịch

sử, với người dân Thành Nam nói riêng, thơ Tú

Trang 8

Xương mãi mãi là một thoáng "hương vị thổ ngơi Nam Định " làm rạng danh "cả một nền văn học đất Sơn Nam làm vinh quang cho quê hương non Côi, sông Vị"; [203, tr 8- 9] còn với công chúng nói chung, thơ Tú Xương đã làm rạng rỡ cả nền văn học dân tộc, thơ ông Tú sóng mãi trong lòng người yêu thơ đất Việt

"Ông Nghè ông Thám vô mây khói, Đứng lại văn chương một Tú tài." [69]

Trải qua năm tháng biết bao áng văn chương của các bậc đại khoa đã bị bụi thời gian phủ mờ Duy chỉ "đứng lại" có văn chương của Tú tài "rốt bảng giữa năm Giáp Ngọ", "đứng lại" không chỉ với tư cách là "bậc thần thơ thánh chữ" (chữ dùng của Nguyễn Công Hoan) [94], là bậc thầy và là người khai sáng dòng thơ trào phúng thị dân, mà còn "là người mở đầu, người báo hiệu cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực trong thơ ca Việt Nam " [57, tr 3] là người "đã tạo ra những biến đổi quan trọng trong văn chương nhà nho ở cuối thế kỉ XIX" [52,

tr 619 - 621] là người "đưa văn học Việt Nam sang một thời đại mới: thời đại của văn chương hiện kim.".[92, tr 247]

1.3 Trong lịch sử văn chương Việt Nam, thơ Tú Xương là một hiện tượng độc đáo Hiện tượng ấy ngay từ đầu xuất hiện không chỉ được công chúng đón nhận khá nồng nhiệt

mà qua năm tháng vẫn luôn hấp dẫn với các nhà nghiên cứu Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Tú Xương, về thơ Tú Xương, nhưng nhìn chung vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát thơ Tú Xương một cách hệ thống theo chiều lịch đại của tiến trình phát triển văn học nước nhà Đến nay, vẫn chua có công trình nào đặt việc nghiên cứu thơ Tú Xương trong hệ thống những yếu tó tác động -những yếu tố nội sinh lẫn ngoại sinh - mang tính qui luật làm nên chuyển biến trong thơ Tú Xương theo hướng hiện đại hóa, để qua đó định vị được vị trí của nhà thơ

Trang 9

trong tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam

1.4 Những đổi mới về phương pháp luận nghiên cứu văn học trong thời gian gần đây

đã cho phép chúng ta đặt lại vấn đề nghiên cứu và nhìn lại một số hiện tượng văn học, kể cả việc đặt lại việc phân kì lịch sử văn học Việt Nam Thế nhưng nhìn chung, việc nghiên cứu

về thơ Tú Xương vẫn chưa có nhiều chuyển biến theo xu thế nghiên cứu mới: tiếp cận hệ thống, lịch sử phát sinh và so sánh loại hình Những đổi mới trong nội dung chương trình văn học được giảng dạy ở bậc đại học và trung học cũng đòi hỏi cần phải có những công trình nghiên cứu tổng thể về văn học thời trung đại mà trong đó, thơ Tú Xương phải được xem là một mắt xích đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học nươc nhà

Do vậy, việc nghiên cứu "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam" sẽ có nhiều ý nghĩa không chỉ đối với thơ Tú Xương mà còn đối với tiến trình

phát triển của văn học dân tộc

Đó là lí do để chúng tôi đặt lại vấn đề nghiên cứu thơ Tú Xương và đặt việc nghiên

cứu "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam"

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cũng như hầu hết các tác giả thời trung đại, việc tìm hiểu và nghiên cứu tiếp nhận thơ

Tú Xương trong thời gian qua diễn ra trên hai lĩnh vực: văn bản và nghiên cứu tiếp nhận Những vấn đề về văn bản sẽ được trình bày ở phần nội dung luận án Trong phần này, chúng tôi chỉ đề cập đến tiến trình nghiên cứu tiếp nhận tác phẩm của Tú Xương

2.1 Kể từ bài viết "Văn chương trong lối hát ả đào" của Phạm Quỳnh trên Nam

phong tạp chí số 69 năm 1923 [157] cho đến bài tổng kết "Một thế kỉ tiếp nhận thơ Tú

Xương" của Nguyễn Hữu Sơn trong tập sách "Trần Tế Xương về tác giả và tác

Trang 10

phẩm" - vừa xuất bản năm 2001, [161, tr 7 - 25] tiến trình nghiên cứu về thơ Tú Xương đã

có một bề dầy gần tám mươi năm Gắn liền với những biến thiên của lịch sử Việt Nam hiện đại, do vậy, có thể tạm chia tiến trình nghiên cứu này thành các giai đoạn như sau:

2.1.1 Giai đoạn thứ nhất: trước 1945

Mười sáu năm sau ngày Tú Xương mất, bảy năm sau khi những bài thơ của Tú Xương lần dầu tiên được giới thiệu rộng rãi với công chúng, việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương mới được đặt ra Phạm Quỳnh là người khởi đầu công việc nghiên cứu tiếp nhận về

Tú Xương khi bàn về nét đặc sắc trong "cái ngông" và "giọng tự trào và thể hoạt kê, lời văn

dễ dãi như lời nói thường thế mà hay" của bài hát nói "Câu đối tết" trong bài viết về "Văn chương trong lối hát ả đào" [157]

Trong mục "Nam âm thi thoại" trên các báo Đông Pháp thời báo (1928), Thần

chung (1929), Phụ nữ tân văn (1929); Phan Khôi đã chỉ ra trong thơ Tú Xương "giọng khôi hài trào phúng." [103, tr 64] chí khí, có tư tưởng quốc gia [103, tr 78 - 80] ý vị thâm trầm mà cách đặt câu rất tự nhiên, không có nặn nọt từng lời chữ." [103, tr 122]

Trong lời giới thiệu quyển "Vị Xuyên thi văn tập", Sở Cuồng Lê Dư đã nêu những

nét khá cụ thể về mối quan hệ giữa con người và sự nghiệp của Tú Xương Theo Lê Dư, thơ văn ông Tú Xương " có đủ các giọng, có giọng trào phúng, có giọng cốt kê, có giọng tả

chân, có giọng tự tình, mở miệng thành câu, ít người học được " Nhờ vậy mà cái danh Tú

Xương được truyền đời và trong "thi phái cận đại, ông cũng chiếm được một bộ phận rất có

thế lực", [10, tr.4]

Qua 12 chương của "Trông giòng sông Vị" - tập chuyên luận đầu tiên về Tú Xương

- nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã đặt ra nhiều vấn đề khá lí thú về con

Trang 11

người (chương 1 - chương 7) và giá trị (chương 8 - chương 11) cũng như hạn chế (chương 12) của Tú Xương [123] Với một thái độ ngưỡng mộ đầy thành kính trong hướng tiếp nhận

ấn tượng và thi thoại để tìm hiểu những nét độc đáo của Tú Xương trong giọng điệu và trong tính trào phúng cùng với tâm trạng của nhà thơ trước thời cuộc và trước cảnh ngộ của nhà thơ, Trần Thanh Mại đã khẳng định: "Cái sự nghiệp văn chương của ông để lại cho chúng ta, cho nước Việt Nam, là một cái di sản quí báu vô ngần " [123, tr 75]

Đặt ra nhiều vấn đề có tính chất định hướng và mở ra một hướng nghiên cứu về thơ

Tú Xương, nhưng tác giả tập sách này cũng gây nên không ít những phức tạp cho việc nghiên cứu về văn bản thơ cũng như về việc đánh giá thơ Tú Xương qua việc nêu ra mối quan hệ của

Tú Xương vổi nhà cách mạng Phan Bội Châu

Trong "Việt Nam văn học sử yếu" - công trình văn học sử đầu tiên nghiên cứu về

thở Tú Xương - Dương Quảng Hàm đã xếp Trần Tế Xương vào khuynh hưóng trào phúng cùng với các nhà thơ: Nguyễn Quí Tân, Nguyễn Văn Lạc và Nguyễn Khuyến [85]

Ngược lại với các ý kiến trên, trong bài báo "Thơ của Tú Xương" đăng trên Tạp chí

Đại Việt, Quang Phong lại cho là thơ Tú Xương "là thứ thơ ca thiểu mất sự thanh nhã và giá trị nghệ thuật đối với nhân sinh."; [149, tr.22] tuy ông có thừa nhận rằng Tú Xương: "cũng chiếm được một địa vị khả quan"[149, tr 17] " đúng trong thi phẩm bất tử của nước ta" [149, tr 21]

2.1.2 Giai đoạn thứ hai: từ 1945 - 1954

Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu tiếp nhận thở Tú Xương có bước tiến đáng kể

về mặt khoa học trong cả lĩnh vực nghiên cứu giáo khoa và nghiên cứu văn học sử

Trang 12

Trong "Thân thế thơ văn Tú Xương", Vũ Đăng Văn đã chỉ ra nét độc đáo của Tú

Xương qua giọng điệu trào phúng phúng thế, tính thời sự, tính bình dân và tính nhân bản Theo Vũ Đăng Văn, "về phúng thế, từ trước đến Tú Xương lại chưa có người nào dám "liều mạng" làm những văn thơ cách mệnh như thế bao giờ, thành ra, Tú Xương là một cái mốc đặc biệt ở trong làng văn học Việt Nam " [42, tr 120]

Theo Nghiêm Toản trong "Việt Nam văn học sử trích diễm", thơ Tú Xương "toàn

giọng chua chát, mỉa mai, giễu mình, giễu người, khi cảm khái thiết tha, lúc phóng túng ngông cuồng, lời thơ cực kì giản dị tự nhiên, văn ông tức là tấm gương phản chiếu tâm lí hàn nho và tình trạng cả một xã hội ở buổi giao thời, cho nên thơ ông hết sức phổ thông và ông đáng liệt vào hạng đàn anh trong số bình dân thi sĩ." [193, tr 21 -22]

Nguyễn Tưởng Phượng và Bùi Hữu Sủng - tác giả tập sách "Văn học sử Việt Nam hậu bán thế kỉ XIX" đã tìm thấy được những nét độc đáo qua tính cách ưu thời, tư tưởng

hoài cổ, khuynh hương trụy lạc và đặc biệt là phát hiện nét độc đáo trong thơ trào phúng của

Tú Xương "trào phúng của Tú Xương là khí giới của kẻ chiến bại là roi dư luận đã ghi những trạng thái xã hội Việt Nam lúc giao thời" [154, tr 145 - 147]; thơ tự trào của ông Tú

"điểm một nụ cười chay nước mắt" [154, tr 149] Theo các tác giả tập sách này, "Chu Mạnh Trinh đỗ làm quan, tư tưởng hành lạc ít lộ ra trong thơ văn, trái lại Tú Xương phơi bản ngã của mình một cách trắng trợn " [154, tr.144]

Sau đó, trong "Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỉ XIX", cùng soạn với Phan Văn

Sách - Nguyễn Tường Phượng và Bùi Hữu sủng tiếp tục làm rõ thêm những khía cạnh như:

tự thuật và tự trào, văn chương thời thế, bức vẽ hoạt kê xã hội Việt Nam, quan niệm nhân sinh [156, tr 113- 139]

Trang 13

Trong "Khởi thảo văn học sử Việt Nam", Thanh Lãng đánh giá: "cái Tú Xương có,

mà ít ai có, là cái tự nhiên bình dị vậy Nếu nghệ thuật là dấu nghệ thuật thì thơ ông quả có một nghệ thuật cao Thiên tài ông ở chỗ kín đáo áy " [108, tr 117]

"Luận đề về Trần Tế Xương" của Nguyễn Duy Diễn bàn về các khía cạnh: giọng

điệu văn chương, tính dân tộc và sắc thái thời đại, tính trào phúng, xu hướng tình cảm [64,

50 tr.]

Nhìn chung, trong cả hai giai đoạn trướcc 1945 và tử 1945 - 1954 không có những ý kiến gây tranh cãi trong việc nghiên cứu tiếp nhận về Tú Xương Tú Xương được xem là nhà thơ trào phúng bậc thầy của trường phái thơ trào phúng ở Việt Nam Những phát hiện về tính

ưu thời, tính chất bình dân, tính nhân bản, kiểu tự trào, khuynh hướng trụy lạc, sự bộc lộ bản ngã trong thơ Tú Xương, tuy còn dừng ở mức nêu vấn đề và sự vận dụng các quan điểm nghiên cứu còn đôi chỗ máy móc (như trường hợp Trần Thanh Mại vận dụng quan điểm duy vật biện chứng) và hạn chế trong quan điểm cao nhã hóa của văn chương nhà Nho (như trường hợp Quang Phong), nhưng cũng đã gợi mở được những hướng nghiên cứu đặt nền tảng cho giai đoạn sau

2.1.3 Giai đoạn thứ ba: từ 1954- 1975

Do hoàn cảnh đất nước bị phân chia, việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương tạm thời cũng bị chia thành hai hướng khác nhau ở hai miền đất nước

2.1.3.1 Tú Xương với các nhà nghiên cứu ở miền Nam:

Việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương ở miền Nam trong thời kì này khá đa dạng

về hướng tiếp cận

Trên các tạp chí, các nhà nghiên cứu đã khai thác sâu các khía cạnh về con

Trang 14

người của Tú Xương như: chuyện thi cử và cuộc đời của Tú Xương [63, tr 110], chí khí hiên ngang, lòng tha thiết với gia đình, tinh thần dân tộc [194, tr 1423], "cái tâm hồn trong sạch

và cái khí tiết "bất năng di" nơi Kẻ Sĩ suốt đời đói rách " [191, tr 108]

Trong chiều lịch đại và trục đồng đại, nhà nghiên cứu Nguyên Sỹ Tế đã tiếp cận "Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương" Ông đã tìm hiểu "Nguyên nhân và đối tượng" của

tiếng cười Tú Xương trong sự so sánh với Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyến, để qua đó khẳhg định: "tiếng nói của ông, tiếng nói của thi ca, của trào phúng đạt đến mức Chân Thiện

Mỹ vẫn còn vang dội non sông đất Việt Trần Tế Xương là một thiên tài trào phúng đã đi vào cõi bất diệt." [173, tr 46]

Thi Nại Thị cho rằng "Nghệ thuật thơ của Tú Xương": " gồm đủ 4 yếu tố: từ", điệu,

ý, khí Cho nên thơ ông Tú Xương để lại phần nhiều là những áng thơ hay " [182, tr 1 và tr 3]

So với luận đề của Nguyễn Duy Diễn trong giai đoạn trước, các luận đề văn chương trong giai đoạn này của: Nguyễn Sỹ Tế - Đỗ Thúc Bình - Tạ Văn Ru [171], Nguyễn Sỹ Tế -

Vũ Khắc Khoan [172], Lê Kim Ngân - Võ Thu Tịnh [132], Nguyễn Tăng Chương [61], Nguyễn Duy Diễn [64], Nguyễn Duy Diễn - Bằng Phong [65], Thẩm Thệ Hà [83], Duyên Hạc - Lê Thái Ất [84], Phạm Thế Ngũ [137], Trịnh Vân Thanh, Phạm Xuân Thu phong phú

và đa dạng hơn về kiểu bài, gợi mở cho người dạy và người học về những nét độc đáo của Tú Xương từ các góc độ: tinh thần đạo đức và khuynh hướng trụy lạc, tính cách bình dân trong con người của Tú Xương, thái độ ưu thời mẫn thế, tình cảm gia đình và quốc gia, chứng nhân của thời đại và giá trị phản ánh hiện thực, thiên tài trào phúng Có thể xem những bài bình giảng về "Sông lấp Nam Định", "Con hát tuồng", "Cái chữ Nho" [84, tr

Trang 15

272- 274], "Tìm hiểu tâm sự của Tú Xương trong bài thơ "Đêm dài"" [137] là những bài văn nhà trường khuôn mẫu

Với các nhà văn học sử: Thanh Lãng, Bùi Đức Tịnh, Đàm Xuân Thiều -Trần Trọng San, Phạm Văn Diêu, Hà Như Chi, Tạ Kí, Lê Văn Siêu, Xuân Tước về con người, Tú Xương thuộc vào nhóm những nhà thơ có xu hướng không dấn thân [160] nhưng "Tú Xương cũng có tấm lòng yêu nước" [68, tr 274], [104, tr 249]; về thi tài, Tú Xương được xem là

" một nhà thơ trào phúng có thiên tài đặc biệt mà tiếng cười ngông ngạo không che đậy được cái thảm trạng của một cuộc đời và của quốc gia đứng trước khúc quanh của lịch sử." [54, tr 804], "Chữ dùng giản dị, bình dân, lời văn tự nhiên, linh hoạt " [183, tr 129] "Trần

Tế Xương đã bắt đầu đưa văn học Việt Nam sang một thời đại mới: thời đại của văn chương hiện kim."[192, tr 246 - 247] Theo Thanh Lãng: "Đối với lời văn trào phúng, Tú Xương không phải là ông tổ, nhưng là người thứ nhất cho người ta tin tưởng vào tương lai của nó trong văn học Tú Xương xứng đáng là ông thầy khả kính của người môn đệ trung thành Hồ Trọng Hiếu, biệt hiệu Tú Mỡ." [109, tr 170] Đồng thời, Thanh Lãng còn nhấn mạnh: "Một tính cách mới mẻ khác trong văn chương Tú Xương là đem tung lên giấy một cái tôi trần truồng Tú Xương không phải là người đầu tiên đưa cái tôi vào văn chương Ngọc Hân Công Chúa, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương cũng đã dùng văn chương để nói đến cái tôi của

họ một cách khá táo bạo Nhưng chưa có ai có cái táo bạo như cái táo bạo của Tú Xương " [109, tr 170]

Cũng có cái nhìn tương đồng về cách bộc lộ cái tôi của Tú Xương, trong chuyên luận

"Khảo luận về Trần Tú Xương", Nguyên Xuân Hiếu và Trần Mộng Chu đã nhận thấy:

"Trần Tú Xương có thể được coi là người đầu tiên trong văn học sử nước nhà dám đưa vào trong văn thơ mình một cái "tồi" táo bạo trần truồng

Trang 16

Chấm dứt một giai đoạn văn học, Trần Tê Xương cũng là người cuối cùng đã đưa văn Nôm đến một địa vị cao quí trong nền văn học nước nhà " [92, tr 10 - 11]

Các tác giả này có thêm những phát hiện khi di sâu tìm hiểu lối tự trào của Tú Xương trong sự so sánh với Nguyễn Khuyến [tr 54 - 66]; cũng như chỉ ra "sự xuất hiện của một lớp người mới trong thơ văn Trần Tê Xương" [tr 85-91] Qua đó các tác giả tập sách khẳng định:

"thi ca của ông tuy nằm trong khuôn khổ của thi ca cổ điển mà thực ra đã khác biệt với nền thi ca này ở nhiều điểm về hình thức cũng như về nội dung Trần Tê Xương không còn là một nhà thơ cổ điển thuần túy nữa." [tr 123 và tr 143]

Trong chuyên luận "Khảo luận về Trần Tế Xương" khác, hai nhà nghiên cứu Doãn

Quốc Sỹ và Việt Tử đã đi tìm "nguyên lai và đối tượng thơ trào phúng Trần Tế Xương", tiếng cười trào phúng của Tú Xương được so sánh với tiếng cười của Hồ Xuân Hương, của Chiêu

Lì Phạm Thái, và của Nguyễn Khuyến [159, tr 87 -94] Theo các tác giả này: "bên những bài thơ trào phúng trắng trợn, cay chua Trần Tế Xương còn là nhà thơ tình cảm nặng lòng dân tộc, một nhà thơ biết phục thiện, có thiện chí xây dựng luân lí.".[tr 95]

Trong "Văn học phân tích toàn thư", Thạch Trung Giả đã tiếp cận ba bài thơ: "Lạc

đường" [81, tr 109 - 120], "Năm mới" [tr 173 - 241], "Buồn đêm dài" [tr 241 - 244] trong

sự so sánh với Hồ Xuân Hương và Nguyễn Khuyên để "Nghiên cứu sự nghiệp Trần Tế Xương" trong ba tầng cấu trúc tâm hồn: trào phúng, Ưu thời, triết lí; và chia thơ Tú Xương thành bốn loại: tự thuật, trào phúng, ưu thời và triết lí [tr 443 - 500] Theo Thạch Trung Giả," những bộ sách gọi là sử chỉ là vỏ của sử còn những tác phẩm như của Tú Xương mới thực là một, là Tâm Tư Sử." [81, tr 473 và 500]

Trang 17

Tóm lại, việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương ở miền Nam trong giai đoạn này đã

có bước phát triển và có được nhiều thành tựu so với giai đoạn trước Tuy nhiên, những tìm tòi và phát hiện về tính tự trào, về sự bộc lộ của cái tôi, về đóng góp của thơ Tú Xương vào

sự chuyển biến của văn học dân tộc còn dừng lại ở mức những ý kiến phát hiện đề xuất, mang tính gợi mở

2.1.3.2 Tú Xương với các nhà nghiên cứu ở miền Bắc:

Việc nghiên cứu tiếp nhận trong giai đoạn này nổi bật lên ở hai thời điểm: kỉ niệm 50 năm ngày mất (1957) và 100 năm ngày sinh (1970) của nhà thơ Trong dịp kỉ niệm 50 năm

ngày mất của Tú Xương (1907 - 1957) Trần Thanh Mại có bài nói chuyện "Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương" [124] Trong bài nói chuyện được nhà xuất

bản Nghiên cứu in thành sách dày 65 trang này, để "đả phá hai quan niệm sai lầm về Tú Xương", Trần Thanh Mại đã đi vào nghiên cứu các khía cạnh: "Thời đại Tú Xương" [tr 7- 12], "Nội dung văn chương" [tr 13 - 34], "Nghệ thuật trào phúng của Tú Xương" [tr 54 - 62] Theo Trần Thanh Mại:"phần nhà thơ đóng góp và xây dựng nhiều nhất, có kết quả nhất, cho nền văn học dân tộc, chính là phân trào phúng." [tr 54] Qua đó ông khẳng định: Tú Xương là "một trí thức thực thà yêu nước, trong cái mức độ có nhiên là bị hạn chế của thành phần giai cấp của mình, của hoàn cảnh gia đình, của lề lối sóng Bằng cách lên án sự lũng đoạn của đồng tiền đầu tư của tư bản đế quốc, nhà thơ Tú, Xương đã lớn tiếng nguyền rủa chế độ áp bức bóc lột của thực dân."[tr 63] Về ảnh hưởng của Tú Xương, nhà nghiên cứu cho rằng:"Nghệ thuật trào phúng là một nghệ thuật vững chãi lâu bền của dân tộc, nhà thơ Tú Xương đã dạy cho chúng ta bài học phải tin tưởng ở tác dụng mãnh liệt của nó, tin tưởng rằng

nó còn có thể phát huy không ngừng trong sự nghiệp xây dựng lập trường tư tưởng cho chủng ta."[tr 64]

Trang 18

Đánh giá về bài nói chuyện này, trong "Một thế kỉ tiếp nhận thơ Tú Xương", nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn đã cho rằng:"Có thể nói bài nói chuyện này chịu ảnh hưởng khá

rõ quan điểm đấu tranh giai cấp và lời phê bình văn chương xã hội học đơn giản." [161, tr 18]

Trong năm sau, Trần Thanh Mại lại có bài viết "Chủ nghĩa hiện thực trong thơ văn

Tú Xương" trên tạp chí Văn sử Địa (1958) [125]

Cũng trong hướng tiếp nhận ấy, trong tập sách "Văn học trào phúng Việt Nam ", nhà

nghiên cứu Văn Tân đã đi sâu nghiên cứu "Tính chất và giá trị văn thơ trào phúng của Tú Xương"[170, tr 5 - 66] qua các khía cạnh "Tiểu sử Tú Xương" [tr 5 - 7], "Xã hội Việt Nam

trong thời đại Tú Xương" [tr 8 - li], "Cá tính Tú Xương hay những nhân tố tạo thành ý thức

tư tưởng Tú Xương" [tr 12-18], "Nội dung tư tưởng trong thơ văn Tú Xương" [tr 27 - 31 ],

"Tú Xương đối với quan lại và Tây" [tr 27-31], "Tú Xương với cái túng" [tr 31 - 16], "Tú Xương với sự chơi bời" [tr 37 - 40], "Tú Xương vớii mê tín" [40 - 42], "Tú Xương với cái tết" [tr 42 - 47], "nghệ thuật thơ văn Tú Xương" [tr 47 - 56], "Giá trị thơ văn trào phúng của

Tú Xương" [tr 57 - 66] Theo Văn Tân, "thái độ trào phúng của Tú Xương là thái độ trào phúng của một tầng lóp đang tan rã vì tuyệt vọng, tuyệt vọng bất mãn với hiện thực, nhưng hoàn toàn bất lực trước hiện thực Thơ văn trào phúng của ông là cái đỉnh cao chót vót của thơ văn trào phúng Việt Nam." [170, tr 64 - 65]

Trong hướng tiếp nhận phản ánh lịch sử, nhóm tác giả Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước,

Đỗ Đức Hiểu tìm hiểu những khía cạnh "Xã hội trong văn thơ Tú Xương" [146, tr 12 - 18]

"Tâm sự Tú Xương" [146, tr 18 - 22] "Văn chương Tú Xương" [146, tr 22 - 27] Theo các ông: "Sau Hồ Xuân Hương, trong thời kì văn học cận đại, Tú Xương là nhà thơ kế nghiệp xứng đáng nhất của văn thơ trào phúng nhân dân, cả

Trang 19

về phương diện tư tưởng và nghệ thuật." [tr 27 - 28]

Nội dung cơ bản của những ý kiến đánh giá này sau đó được Đỗ Đức Hiểu đưa vào

(có mở rộng và phát triển thêm) trong tập giáo trình "Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam" [91, tr 82 - 98]

Cũng trong hướng tiếp nhận phản ánh lịch sử, Trần Thanh Mại và Trần Tuấn Lộ cho

ra đời ấn phẩm "Tú Xương - con người và thơ văn" [126]

Trong hướng tiếp nhận này, các nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn, Lê Trí Viễn, Nguyễn Nghiệp, Tầm Dương, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc đã có thêm nhiều phát hiện

về giá trị thơ Tú Xương Hai nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn và Nguyễn Đình Chú có cách nhìn nhận khá tương đồng trong các mặt hiện thực, trào phúng và trữ tình Theo Nguyễn Văn Hoàn "Cùng với Hồ Xuân Hương, Tú Xương là đỉnh cao của thơ Đường luật ở nước ta." [96, tr 241], còn với Nguyễn Đình Chú: "Sau Tú Xương hình như không ai vươn tới, đừng nói là vượt qua, mức thành công ở thể thơ Nôm Đường luật đó nữa." [55, tr 175]

Theo Lê Trí Viễn: " không ai không cùng Tú Xương sống lại một cách thấm thía sâu

xa cái xã hội thuộc địa nửa phong kiến buổi đầu " [208]

Qua những biểu hiện của cái tôi của Tú Xương trong các mặt trào phúng và trữ tình

và qua "Kết cấu trữ tình trong thơ Tú Xương", Nguyễn Lộc cho rằng: "Tú Xương vẫn là nhà thơ hiện đại nhất trong số những nhà thơ quá khứ " [117, tr 291]

Theo Nguyễn Nghiệp: "Tú Xương căn bản là một nhà thơ hiện thực sử dụng rất tài tình cả hai loại thơ trào phúng và trữ tình." [134, tr 92] Còn theo Tầm Dương: " thơ văn Tú Xương có nhiều mối quan hệ mật thiết với giai đoạn đầu thế kỉ 20 của xã hội Việt Nam hơn

là với nửa sau thế kỉ 19 " [77, tr 75]

Những cảm nhận tinh tế của các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Tuân,

Trang 20

Nguyễn Công Hoan, Tú Mỡ, Xuân Diệu, Chu Văn qua những trang viết về Tú Xương đã tạo

ra một dòng nghiên cứu tiếp nhận mang đậm chất ấn tượng nghệ sĩ Nguyễn Công Hoan cực lực phê phán quan niệm luôn " coi Tú Xương lúc nào cũng có lập trưởng chính trị " [95, tr

124 ] và tôn vinh Tú Xương là "Bậc thần thơ thánh chữ" [94] Nhà thơ Xuân Diệu đã trang trọng đề hai câu thơ:

"Ông nghè ông thám vô mây khói, Đứng lại văn chương một tú tài." [69]

Còn Tú Mỡ đã tự xem mình là "một đệ tử sùng kính Tú Xương", đệ tử của "một bậc thầy, đã cống hiến cho "tiếng cười Việt Nam'' nhiều bút thuật quí báu " [131, tr 34]

Nguyễn Tuân là đại biểu kiệt xuất nhất của dòng nghiên cứu tiếp nhận nghệ sĩ Không

chỉ thể hiện được sự cảm nhận tài hoa qua các bài thơ "Đi hát mất ô", "Sông lấp", Nguyễn

Tuân còn phát hiện ra chất lãng mạn trữ tình cùng mối quan hệ giữa trữ tình và hiện thực trong thơ Tú Xương: "Tú Xương lấy cái chân phải trữ tình mà khiến cái chân trái tả thực Chủ đạo cho đà thơ là ở chân phải và Tú Xương đã băng mình thơ tới chúng ta bằng nước bươc lãng mạn trữ tình." [195, tr 323] Về sau, Nguyễn Tuân còn có dịp đào sâu hơn những cảm

nhận về "Thời và thơ Tú Xương" trong "Chuyện nghề" vào năm 1962 [196]

Phát hiện độc đáo này không chỉ mở ra một hướng nghiên cứu tiếp nhận mới về Tú Xương từ góc độ trữ tình, mà còn góp phần làm hoàn thiện "chân dung" thơ Tú Xương và cho đến nay hướng tiếp nhận của Nguyễn Tuân vẫn còn lưu dấu ấn qua nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về thơ Tú Xương

Tóm lại, theo thời gian, việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương đã dần dần khắc phục được những hạn chế do quan điểm nghiên cứu xã hội học nhờ vào hướng

Trang 21

tiếp nhận biện chứng và lịch sử Trong hướng tiếp nhận biện chứng và lịch sử, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng đến giá trị phản ánh hiện thực, có phát hiện sâu sắc về chất trữ tình, cái tôi, tính hiện đại cùng những nét độc đáo trong nghệ thuật trào phúng

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về yếu tố hiện đại chỉ dừng lại ở một nhận định nêu vấn

đề Còn về cái tôi, những biểu hiện của cái tôi chỉ mới nghiên cứu ở cấp độ yếu tố, kiểu biểu hiện cái tôi của Tú Xương chưa được nghiên cứu trong chỉnh thể hệ thống theo chiều lịch đại

và trong trục đồng đại so với các nhà thơ cùng thời và so với qui phạm của văn chương trung đại

2.1.4 Giai đoạn thứ tư: từ 1975 đến nay

Từ 1975 đến nay, việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương ngày càng có nhiều đổi mới về hướng tiếp nhận Việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương có nhiều điều kiện để phát triển nên đã có được nhiều thành tựu trên cả hai lĩnh vực văn bản và nghiên cứu tiếp nhận

Tú Xương được đưa vào Từ điển văn học [52], [118] và sách "Tác giả văn học Việt Nam" [58] Không dưới 12 ấn phẩm về tác phẩm của Tú Xương được in ra, trong đó có

nhiều quyển được biên soạn hết sức công phu Những thành tựu về văn bản sẽ được đề cập trong chương 1 Nhiều tập sách tổng hợp những cồng trình nghiên cứu về Tú Xương như

"Tú Xương thơ và đời"[29], "Trần Tế Xương"[83] [84], "Tú Xương con người vả tác phẩm"[33], "Tú Xương lời bình - giai thoại và thơ"[18], "Tú Xương - Ắt hẳn nghìn thu tiếng hãy còn", "Trần Tế Xương về tác gia và tác phẩm"[161] lần lượt ra đời và được tái

bản nhiều lần

Qua các công trình và bài viết của: Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, Lê Trí Viễn, Nguyễn Văn Huyền, Đỗ Huy Vinh, Lê Văn Tùng, Đỗ

Trang 22

Đức Dục, Trần Lê Văn, Lê Đinh Kị, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Ngô Văn Phú, Lữ Huy Nguyên, Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Quốc Tuy, Trần Đình sử, Trần Mạnh Hảo, Vũ Dương Quỹ, Lê Chí Dũng, Trần Thị Trâm những giá trị phản ánh hiện thực, nét độc đáo của thơ

trào phúng và tính trữ tình, mối quan hệ giữa "Thời và thơ của Tú Xương" [196] "Vị trí của Tú Xương trên dòng văn học hiện thực chủ nghĩa Việt Nam"[72] Tú Xương là "đỉnh cao của thơ trào phúng Việt Nam" [105] là "Bậc thần thơ thánh chữ" là "nhà thơ lớn của dân tộc "[55] là "nhà thơ lớn ở một buổi giao thời" [214] được khai thác sâu hơn; đã

có thêm nhiều phát hiện về vẻ đẹp của "Thương vợ" [56] [74] [128] [156] [199] [209], "Sông lấp" [88] [216], "Áo bông che bạn"[199], "Đi hát mất ô" [206], "Đêm hè" [179] [184], "Khoa thi Đinh Dậu" [184], "Đất Vị Hoàng" [184], "Lắm quan" [143] [150], "Năm mới chúc nhau"

và những bài thơ tết [141] [163] [199] [205]

Trong tinh thần đổi mới, những khía cạnh về hình thức và nội dung của thơ Tú Xương bước đầu đã được xem xét trong hướng nghiên cứu so sánh lịch sử và nghiên cứu hệ thống Trong cách tiếp nhận so sánh lịch sử, Đỗ Đức Dục đã đặt Tú Xương trong trục đồng đại với Nguyễn Khuyến để chỉ ra những giá trị hiện thực trong tính chất thị dân [73, tr 187 - 198] Nhũng khía cạnh độc đáo của thơ Nôm Đường luật Tú Xương được Nguyễn Thanh Phúc

nghiên cứu trong chiều lịch đại qua luận án phó tiến sĩ của ông: "Thơ Nôm Đường luật tử

Hồ Xuân Hương đến Trần Tế xường".[153] Lê Văn Tùng nêu ra kiểu hình tượng "nhân vật

bi kịch mang cả những biến thái hài" của Tú Xương qua vận dụng khái niệm về cái bi để đi vào nghiên cứu kiểu nhân vật bi kịch qua mối quan hệ giữa hoàn cảnh và tâm lí sáng tạo của nhà văn từ Nguyễn Đình Chiểu đến Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Phan Bội Châu và Tản Đà [198, tr 35 - 44]

Trang 23

Trong hướng nghiên cứu hệ thống, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã chi ra sự cách tân

của thơ Tú Xưởng khi cho rằng "thơ Tú Xướng đánh dấu sự phai nhạt của không gian truyền thống mỏ ra không gian sinh hoạt đòi thường, đô thị." [164, tr 265] và đặc biệt nhấn mạnh phương diện ý thức cá nhân qua tiếng cười tự giải thoát "tự khẳng định nhân cách mình Tú Xương đi ngược lại truyền thống thơ ngôn chí " [165, tr 189]

Cũng trong hướng nghiên cứu hệ thống, Trần Thị Trâm đã tiếp cận "nhà báo" "Tú Xương với những "phóng sự" bằng thơ" [201] Trong cách tiếp nhận ấn tượng, Vương Trí Nhàn tìm hiểu "Tú Xương nhà báo" [142]

Nhà nghiên cứu Lê Chí Dũng đã đặc biệt quan tâm đến cảm hứng về cái tôi trữ tình và

sự "phong phú, đa dạng hỏi vừa có thơ trữ tình - trào phúng, vừa có thơ trữ tình đằm thắm" trong thơ Nôm luật Đường của Trần Tế Xương theo một hướng mới: so sánh loại hình [75,

tr 109 - 137]

Những yếu tố hiện đại của thơ Tú Xương đã nhiều lần được Lại Nguyên Ân [52], Nguyễn Đình Chú [55], Nguyễn Lộc [118], và Ngô Văn Phú [152] nêu ra; nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chú đã chỉ ra " hệ thống cách tân trong nghệ thuật và tư duy nghệ thuật của

Tú Xương" và đồng thời cũng chỉ ra: "Giới hạn của Tú Xương là ở chỗ chưa tạo ra được sự

cách tân trên phương diện thể loại." [55, tr 42] Nhưng nhìn chung vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống những đặc trưng về hình thức và nội dung để làm rõ hơn những yếu tố hiện đại của thơ Tú Xương theo hướng tiếp nhận hệ thống và trong chiều lịch đại

2.2 Nhận xét chung

Tiến trình nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương trong suốt thời gian qua đã diễn ra theo nhiều hướng tiếp nhận khác nhau, nhưng không hề có những xung đột

Trang 24

lớn về quan điểm và do luôn có sự vận động phát triển vả đổi mới về hướng tiếp nhận nên đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể

Hầu hết các ý kiến đánh giá đều đánh giá cao giá trị thơ văn cũng như tài năng của nhà thơ Tú Xương được xem như là người khai sáng cho dòng thơ hiện thực trào phúng và đồng thời với những cách tân nghệ thuật ít nhiều mang tính hiện đại Tú Xương đã khép lại một cách vinh quang văn học thời Trung đại

Những khám phá về giá trị hình thức và nội dung của thơ Tú Xương trong nhiều công trình này thật đáng Trần trọng Tuy vậy, việc đặt lại việc nghiên cứu thơ Tú Xương trong sự tiếp nhận mang tính hệ thống và lịch sử để thấy được mối quan hệ biện chứng giữa thơ Tú Xương và sự vận động phát triển của văn học Việt Nam vẫn là một thao tác cần thiết

3 MỤC ĐÍCH - Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam" từ

góc độ nghiên cứu hệ thống, lịch sử phát sinh và so sánh loại hình là nghiên cứu những chuyển biến trong thơ Tú Xương theo xu hướng hiện đại hóa từ góc độ thế giới nghệ thuật và phương thức thể hiện, vi vậy mục tiêu chính của luận án là tập trung nghiên cứu những yếu tó cách tân mang tính khác lạ trong những yếu tố bất qui phạm của thơ Tú Xương so với những đặc trưng mang tính qui phạm hóa của văn chương Việt Nam thời trung đại để nhằm định vị

vị trí của thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, đồng thời tìm ra những tác động của thơ Tú Xương vào việc thúc đẩy sự phát triển của tiến trình đó

Như vậy, có thể xem việc nghiên cứu "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam" là sự góp thêm một hướng tiếp cận về Tú Xương trong viễn cảnh đặt Tú

Xương vào một sử trình dài lâu đi lên hiện đại hóa của văn học

Trang 25

Việt Nam, và rất có thể Tú Xương là điểm xuất phát hoặc gần điểm xuất phát nhất của tiến trình đó

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong đề tài này, việc nghiên cứu về thơ Tú Xương không chỉ dừng lại trong việc nghiên cứu những yếu tố mang tính đặc trưng của thơ Tú Xương như là một hiện tượng văn học trong chiều lịch đại và trục đồng đại mà bao gồm cả việc nghiên cứu để xác lập hệ thống văn bản có tính cố định về thơ Tú Xương Do vậy, hệ thống phương pháp nghiên cứu ở đây

sẽ bao gồm: hệ thống phương pháp nghiên cứu văn bản học và hệ thống phương pháp nghiên cứu văn học

4.1 Những phương pháp nghiên cứu văn bản:

Các phương pháp khảo sát, phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả và phân loại

là những phương pháp sẽ được chúng tôi sử dụng để khảo cứu và qua đó nhằm xác lập một văn bản thơ Tú Xương có tính hoàn chỉnh và ổn định làm cờ sở cho việc nghiên cứu tiếp nhận, hầu hạn chế đến mức tối đa những sai sót do tư biện

4.2 Những phương pháp nghiên cứu văn học:

Những phương pháp chủ yếu mà chúng tôi vận dụng để thực hiện luận án này là phương pháp nghiên cứu hệ thống, phương pháp nghiên cứu lịch sử - phát sinh và phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình

Phương pháp nghiên cứu hệ thống được sử dụng để nghiên cứu hệ thống những nguyên tắc nghệ thuật nhằm thể hiện sự cảm nhận về con người và thế giới của Tú Xương cũng như của văn chương trung đại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu lịch sử - phát sinh: Nghiên cứu "Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam" là nghiên cứu trong chiều lịch đại và trục đồng đại

nên việc vận dụng những nguyên tắc nghiên cứu của phương

Trang 26

pháp nghiên cứu lịch sử phát sinh là hết sức cần thiết

Phương pháp nghiên cứu so sánh - loại hình: cơ sở lí luận của phương pháp nghiên cứu so sánh - loại hình sẽ được vận dụng từ cấc cấp độ: nội dung trữ tình, phương thức trữ tình và loại thể, để nhằm chỉ ra nét độc đáo dị biệt trong kiểu thể hiện hình tượng con người thị dân, trong kiểu hình thơ Hát nói, thơ lục bát và thơ Nôm luật Đường cũng như qua ngôn

từ và kiểu tả chân - phóng sự và kiểu trào phúng

Thật ra, trong quá trình nghiên cứu khi vận dụng những phương pháp vừa nêu trên,

chúng tôi không hề tách rời chúng với các phương pháp thống kê, miêu tả, so sánh, phân tích

5 ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là 134 bài thơ Hát nói, thơ luật Đường, thơ lục bát, phú, văn tế và câu đối bằng chữ Nôm của Tú Xương Văn bản về những tác phẩm này là kết quả khảo cứu văn bản của chúng tôi, trên tinh thần tổng hợp, chọn lọc, hiệu đính lại các bản Nôm chép tay và kế thừa thành tựu của các bản in bằng tiếng Việt thơ Tú Xương

Một bộ phận tác phẩm của các tác giả trước và sau Tú Xương (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà, Trần Tuấn Khải ) xét thấy có nét tương đồng và những nét có thể làm nổi bật đặc trưng thi pháp của Tú Xương cũng là đối tượng nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở nghiên cứu những đặc trưng có tính khác lạ của thơ Tú Xương trong chiều lịch đại và trục đồng đại, luận án cũng sẽ quan tâm đến sự vận động tự

Trang 27

thân của văn học trung đại Việt Nam cùng những đặc trưng phong cách của những tác giả xét thấy có sự tương đồng và làm nổi bật những đặc trưng thi pháp củaTú Xương

Những phát hiện trong luận án về những dặc trưng của thơ Tú Xương trong nội dung trữ tình, phương thức trữ tình và hình thức thể hiện sẽ là cơ sở góp phần khẳng định giá trị đặc biệt của Tú Xương trong nền văn học và vai trò đặc biệt của Tú Xương trong việc thúc đẩy tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ trung đại sang hiện đại

6.2 Về thực tiễn:

Những kết quả qua việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương của luận án có thể sẽ thành một chuyên đề bổ ích, dự phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy về thơ Tú Xương cũng như về tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam ở bậc trung học và đại học

Những kết quả đạt được qua khảo cứu về văn bản thơ Tú Xương sẽ góp thêm

Trang 28

vào tiến trình nghiên cứu về văn bản Tú Xương - một văn bản đáng tin cậy - cho việc nghiên cứu tiếp nhận về thơ Tú Xương trong thời gian tới

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần Tài liệu tham khảo có 218 đơn vị, Phụ lục 22 trang, luận án dày 219 trang gồm 3 phần: Dẫn nhập 22 trang, Nội dung chính 192 trang và Kết luận 5 trang Phần Nội dung chính gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề cơ sở của luận án (46 trang)

Trong phần khái niệm cơ sở, những khái niệm qui phạm - bất qui phạm, hiện đại - hiện đại hóa văn học - tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam được xác lập để làm "điểm tựa" cho việc nghiên cứu tiếp nhận thơ Tú Xương

Toàn bộ văn bản thơ Tú Xương bằng chữ Nôm và tiếng Việt sẽ được khảo sát để qua

đó xác lập một văn bản tác phẩm Tú Xương mới làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận án

Chương 2 Cảm hứng về con người thị dân và thế giới thị thành (80 trang)

Trên cơ sở khái niệm qui phạm hóa, trong chương này chúng tôi đi sâu nghiên cứu sự khác lạ trong cách thể hiện của Tú Xương về con người và thế giói trong cảm hứng thị dân theo chiều lịch đại và trục đồng đại

Chương 3 Về thể loại, ngôn từ nghệ thuật và kiểu trào phúng tự trào (66 trang)

Khảo sát những đặc trưng: về thể loại (thơ Hát nói, thơ Lục bát, thơ Nôm luật Đường), những đặc trưng về ngôn từ nghệ thuật và về phương thức trữ tình qua kiểu trào phúng tự trào

Trang 29

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ CỦA LUẬN ÁN

1.1 Những khái niệm cơ sở

1.1.1 Khái niệm qui phạm văn học và đặc trưng qui phạm hóa trong văn chương trung đại Việt Nam

Trên cơ sở khái niệm qui phạm của văn học trung đại để xác định thế nào là bất qui phạm, dựa vào đó, chúng tôi sẽ khảo sát những yếu tố bất qui phạm trong thơ Tú Xương Việc nghiên cứu những yếu tố bất qui phạm trong thơ Tú Xương sẽ là hướng tiếp cận tốt nhất

từ góc độ thi pháp để không chỉ đánh giá chính xác và khoa học về thơ Tú Xướng mà còn có thể qua đó chỉ ra được vị trí và tác động của thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

1.1.1.1 Theo nghĩa thông thưòng: quy phạm (qui: cái khuôn tròn, là khuôn phép; phạm: khuôn khổ, khuôn mẫu) là khuôn thước để theo; là những phép tắc, nguyên tắc, nguyên lí, là những quy định chặt chẽ phải tuân theo

Qui phạm là những quy định ở một nơi nào đó để bảo đảm hoạt động có tổ chức, nề nếp và đạt hiệu quả cao Nó là sự biểu hiện văn minh, văn hóa ở mỗi con người, trong cộng đồng, xã hội, mang ý nghĩa đạo đức, chính trị cao

Xã hội Việt Nam thời trung đại là xã hội phong kiến Nho giáo Xã hội phong kiến Nho giáo xây dựng tổ chức cuộc sóng dựa trên nguyên tắc của chữ "Lễ" Lễ là bao gồm các qui ước, điều ước, nhằm đảm bảo các quan hệ của con người với nhau trong cuộc sống xã hội "Lễ - mức độ, nghi thức, tiết tấu trong giao tiếp, hành vi, cử chỉ - là để ước thúc cho hành động đúng chỗ, đúng lúc, không buông thả theo ý riêng mà không để cho sự uyên bác làm rối trí." [99, tr 23] Mọi hoạt động trong xã

Trang 30

hội, mọi chuẩn mực đạo đức đều được qui phạm hóa trong khuôn khổ của chữ "Lễ" được biểu hiện ra thành Tam cương (quân thần, phụ tử, phu phụ), Ngũ luân (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu), Ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) trong quan hệ con người; thành những nghi lễ, nghi thức trong cuộc sống [xem 60] Theo Luận ngữ: "Kẻ quân tử học rộng rãi ở văn, ước thúc bằng lễ thì có thể sóng không trái đạo nghĩa" [dẫn theo 99, tr 22-23]

1.1.1.2 Đời sống được qui phạm hóa với lắm nghi lễ thì văn chương cũng sẽ dầy đặc

những điển lệ mang tính qui phạm (điển phạm) Theo Lê Trí Viễn trong "Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam" [210, tr 227 - 270] và trong giáo trình "Văn học Việt Nam trung đại" [211, tr 33 - 38] qui phạm (điển phạm) là một đặc trung của văn học trung đại Việt

Nam Qua cơ sở văn hóa và xã hội như vừa nêu ở trên thì tính qui phạm quả là "một đặc điểm nổi bật và bao trùm của văn học Việt Nam thời trung đại." [59, tr 65.]

Người trung đại cảm nhận thời gian trong cảm nhận thời gian tuần hoàn quay về quá khứ Khác với cách cảm nhận thời gian tuyến tính, hướng về tương lai của người hiện đại Nên người trung đại coi trọng quá khứ Xã hội hoàng kim lí tưởng là xã hội thời Nghiêu, Thuấn Văn chương của người xưa, văn chương của các bậc thánh hiền được đề cao, được xem như là những chuẩn mực, là "khuôn vàng thước ngọc" Với người trung đại, sáng tác văn

chương không ngoài mục đích làm sáng đạo thánh hiền Theo Lê Quí Đôn trong "Vân đài loại ngữ": "Văn chương là góc to của việc lập thân, là việc lớn của sự sửa trị việc đời."[80,

tr 94] Người quân tử học sách thánh hiền làm thơ tỏ lòng, nói chí không ngoài mục đích noi theo gương sáng người xưa:

"Ta ắt lòng mừng Văn Chính nữa,

Trang 31

Vui xưa chẳng quản đeo ấu."

(Nguyễn Trãi - Ngôn chí số 18) Văn chương trung đại, nhìn chung là văn chương chở đạo: văn dĩ tải đạo

"Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà."

(Nguyễn Đình Chiểu) Người trung đại làm thơ là để "ngôn chí", "thuật hoài" để "tải đạo", do vậy mà văn chương trung đại mang đậm tính cao nhã Mặt khác, thơ ngôn chí và tư tưởng sùng cổ còn làm nên tính chất phi ngã hóa (phi cá thể) của văn chương Mọi lời của người xưa đều là chuẩn mực, tỏ lòng cũng phải noi theo lí tưởng thánh hiền Nghiêm Vũ đời Tống nói: "Kẻ học thơ phải lấy kiến thức làm chủ, vào cửa phải chính, lập chí phải cao, lấy Hán, Nguy, Tấn, thịnh Đường là thầy." [dẫn theo 162, tr 13] Còn theo quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu:

"Học theo ngòi bút chí công, Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu."

Điều này, vô hình trung đã làm mất đi sự tồn tại của cái ngã, của tính cá nhân Nói như thế, không có nghĩa là tính cá nhân cái ngã hoàn toàn vắng bóng trong văn chương trung đại Mỗi kiểu ngôn chí trong từng nhà thơ cũng đã là một kiểu cảm nhận lí tưởng thánh hiền mang dấu ấn của từng cá nhân Nói văn chương trung đại phi ngã hóa (phi cá thể), là nói trên

cơ sở quan niệm chung về văn chương của người trung đại: sự độc đáo cá nhân không được

đề cao, đời sống nội tâm con người không được chú ý khám phá Trong khi đó, sự vận dụng các thi liệu, văn liệu, một kiểu tập cổ, đôi lúc trở nên nệ cổ, khuôn sáo lại được xem là tài giỏi

Để chuyển tải những yếu tố cao nhã, phi ngã hóa, văn chương trung đại có cả

Trang 32

một hệ thống đề tài với các thi liệu quy phạm hóa thành mội số khuôn phép, thơ xoay quanh các thi đề: "Cảm, hứng, vịnh, ngâm, thuật, hoài, tặng, đề, tán, tống, tiễn, biệt " mang đậm chất thù phụng

Về cơ bản, nội dung của văn chương trung đại được qui phạm hóa trong mấy tính chất cao nhã, phi ngã hóa với hệ thống đề tài như vừa nêu Còn về hình thức, tính cao nhã trong văn chương đòi hỏi một sự cách điệu cao với sự uyên bác và hàm súc, đăng đối, trong cách thể hiện Cách điệu hóa là sự ước lệ, tượng trũng Bút pháp này hoàn toàn đối lập với bút - pháp tả thực qua văn chương hiện đại Văn chương trung đại cách điệu hóa - ước lệ, tượng trung nên tạo thành công thức trừu tượng trong cách tả cảnh, tả tình và tả người Con người trong thơ thường là: ngư, tiều, canh, mục Trong cách miêu tả: anh hùng tráng sĩ thì phải có

"Râu hùm, hàm én, mày ngài" và gắn liền với hình ảnh "mài gươm, múa giáo"; tao nhân mặc khách phải "phong tư tài mạo tót vời ", gái thuyền quyên thì phải vóc hạc, Xương mai với

"Làn thu thủy, nét xuân sơn " Nhất nhất đều hết mực lí tưởng Cảnh vật luôn được thể hiện với những môtíp: cây là tùng, trúc, cúc, mai, là thông; cảnh luôn với tú" thời xuân, hạ, thu, đông và cảnh vật được dùng để thác ngụ tâm tình Tình người được giãi bày qua cảnh vật: cảnh ngụ tình Con người và thiên nhiên là "nhất thể" nên thiên nhiên trở thành chiếc bình chứa đựng tình cảm của con nguôi Hình ảnh hết súc ước lệ kín đáo kí thác nỗi niềm nên câu chữ cũng phải thật hàm súc để "ý tại ngôn ngoại" Những kiểu bộc lộ tâm sự đầy táo bạo của

Hồ Xuân Hương hay như của Tú Xương về sau này là hoàn toàn xa lạ với kiểu văn chương cao nhã, cách điệu hóa

Tóm lại, do những quan niệm về thiên nhiên, vũ trụ: "thiên nhân nhất thể"; về thời gian: thời gian tuần hoàn mà văn chương trung đại mang đậm tính chất

Trang 33

sùng cổ, phi ngã, tính chất giáo hóa Những tính chất này đã qui phạm hóa văn chương nghệ thuật trong mặt nội dung cũng như hỉnh thức thể hiện Về nội dung, văn chưởng nghệ thuật qui phạm trong hệ thống đề tải, qua tính cao nhã và qua sự bộc lộ cái bản ngã và phi ngã Về hình thức nghệ thuật, tính qui phạm tạo nên sự đăng đối của câu văn câu thơ, tính ước lệ, hàm súc của ngôn từ, tạo nên lối tập cổ và điển cố

Trong dòng chảy của văn học cùng với sự phát triển của ý thức cá nhân trong cuộc sống, những yếu tó vượt ra "khỏi khuôn khổ qui phạm ít nhiều đã xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Dữ, Phạm Thái, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều và càng lúc càng đậm nét trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần

Té Xương Trong đó, sự đoạn tuyệt với những qui phạm của văn chương nhà Nho trong thơ

Tú Xương được thể hiện khá đậm nét qua việc những cảm nhận về con người và thế giới trong cảm thức nhà nho phong kiến được thay thế bằng cảm thức nhà nho - thị dân

1.1.2 Khái niệm hiện đại, văn học hiện đại, hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

Tìm hiểu những yếu tố bất qui phạm như là đặc trung thi pháp của Tú Xương so với những đặc trưng qui phạm hóa của thi pháp văn học trung đại là một điều kiện cần nhưng vì mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu thơ Tú Xương trong sự vận động phát triển của văn học Việt Nam theo hướng hiện đại hóa, nên sẽ là chưa đủ nếu bỏ qua việc tìm hiểu những khái niệm về hiện đại, hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Nói theo nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà: "Không ý thức được vấn đề này sẽ dẫn đến tình trạng thường gặp là nhiều khi nhà nghiên cứu hay thiên lệch hoặc nói quá lòi về giá trị của các sáng tác văn học

Trang 34

mang tính hiện đại, về những hiện tượng văn học đương đại hoặc những hiện tượng được khảo sát trong quá trình hiện đại hóa." [200, tr 4]

Trở lại với vấn đề hiện đại, hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam - một vấn đề khá nhạy cảm và tế nhị trong giai đoạn hiện nay -chúng tôi không có tham vọng đề xuất một quan niệm để góp phần vào việc trao đổi Xuất phát từ yêu cầu của việc nghiên cứu thơ Tú Xương, chúng tôi muốn qua việc khảo sát những ý kiến trao đổi để có được một cái nhìn hệ thống và qua đó có cơ sở để xác lập hệ thống luận điểm về những khái niệm hiện đại, hiện đại hóa Việt Nam và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam làm "điểm tựa" cho việc nghiên cứu xác định những yếu tố hiện đại nhằm định vị vị trí của Tú Xương trong sự vận động và phát triển của văn học theo hướng hiện đại hóa Trước tiên, chúng tôi xin được bắt đầu vấn đề với việc xác định lại khái niệm hiện đại

1.1.2 1 Khái niệm hiện đại - tính hiện đại của văn học và văn học hiện đại:

Trong tiếng Việt, hiện đại là một từ được dùng để chuyển nghĩa các từ: modern, contempọrary (tiếng Anh); moderne, contemporain (tiếng Pháp); Các từ modern, contemporary (tiếng Anh); moderne, contemporain (tiếng Pháp) đều có góc từ tiếng Latinh: modernus có nghĩa là gần đây, mới đây, mới

Về ngữ nghĩa, hiện đại là một từ đa nghĩa Nó có nghĩa là mới (tiếng Anh: new), trái với cũ (tiếng Anh: old); cũng có nghĩa là đương thời (tiếng Anh: contemporary, tiếng Pháp: contemporain) trái với xưa, cổ đại (tiếng Anh: ancient, tiếng Pháp: antique)

Như vậy về khái niệm, tuy lĩnh vực tri thức mà hàm nghĩa của khái niệm này có sự thay đổi Với hàm nghĩa là cái mới, trong văn học khái niệm hiện đại (modernity, modernité) chỉ những tính chất, hiện tượng mới mẻ khác biệt với cái cũ,

Trang 35

cái truyền thống, cái cổ điển (classical, classique) Do vậy, văn học hiện đại là văn học phát triển nhất, mới mẻ nhất về hình thức nghệ thuật cũng như là mới mẻ về nội dung tư tưởng so với văn học thời kì trước đó

Với hàm nghĩa là đương thời, các nhà sử học đã phân biệt khá rõ: modern, moderne là cận đại, còn contemporary và contemporain là hiện đại hay dương đại; thành những khái niệm để phân kì tiến trình phát triển của xã hội loài người: cổ đại (Ancient, Antique), trung đại, trung cổ (Middle - Ages, Moyen - Âge), cận đại (Modern, Modeme), hiện đại (Contemporary, Contemporain) Vận dụng những khái niệm phân kì lịch sử ấy, giđi nghiên cứu văn học đã phân chia lịch sử văn học nhân loại thành các thời kì: văn học cổ đại, văn học trung đại - trung cổ, văn học hiện đại Tuy nhiên không phải nền văn học nào cũng phát triển theo một tiến trình như thế Tuy thuộc vào quan niệm và cách sử dụng khái niệm, trong mỗi nước và trong từng thời kì mà có các cách phân kì và định danh từng thời kì khác nhau

Khái niệm văn chương hiện đại theo Trần Thanh Đạm "là nền văn chương mới về nội dung tư tưỏng cũng như về hình thức nghệ thuật " [78, tr.21] Quan niệm văn chương hiện đại là văn chương mới - văn chương thế kỉ XX - đã được nêu ra từ cuối những năm 30 và đầu những năm 40 của thế kỉ XX qua các ý kiến của các học giả: Vũ Ngọc Phan trong tập sách

"Nhà văn hiện đại" [147, tr li - 12] và trong bài viết "Sự tiến triển của văn học Việt Nam hiện đại" đăng trên Tạp chí Tiên phong [148, tr 25 - 27], của Đặng Thai Mai qua bài viết

"Trên đường kiến thiết văn hóa mới ở Trung Quốc - vấn đề dân tộc hóa" đăng trên Tạp

chí Tiên phong [122, tr 224 - 228] Đó cũng là cách nhìn nhận của nhà nghiên cứu Phạm Thế

Ngũ trong "Việt Nam văn học sử giản ước tân biên" [138, tr 95 - 96], của nhà thơ Xuân Diệu trong "về cái hay, cái đẹp của thơ cổ điển Việt Nam" [70, tr.217 -

Trang 36

239], của Trần Đình Hươu - Lê Chí Dũng trong "Văn học Việt Nam 1900 - 1930 "[100], của Nguyễn Tri Nguyên trong "Nội sinh như là động lực của hiện đại hóa thơ ca Việt Nam" [140, tr 15 -21] Và cũng là quan niệm của các nhà nghiên cứu Phong Lê [111], Vương Trí

Nhàn [144], Vũ Văn Sỹ [168], Bích Thu [188], Đỗ Lai Thúy [190] qua các bài viết của họ

trong tập sách "Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX"

Ở Việt Nam, khái niệm văn học hiện đại được hiểu với hàm nghĩa là đương thời để phân kì văn học Việt Nam nhằm chỉ bộ phận văn học không thuộc phạm trù trung đại, nghĩa

là văn học không chịu ảnh hưỏng của thi pháp trung đại và ý thức hệ phong kiến được tìm

thấy qua ý kiến của Đào Duy Anh trong "Việt Nam văn hóa sử cương" [51], của Dương Quảng Hàm trong "Việt Nam văn học sử yếu" [85] từ những năm 30, 40 của thế kỉ trước

Trong vài thập kỉ gần đây, khái niệm văn học hiện đại được hiểu với hàm nghĩa là đương thời

đã nhiều lần xuất hiện trong các chuyên luận của Trần Đình Hươu ("Nho giáo và văn học Việt Nam Trung Cận đại") [99], của Lê Trí Viễn ("Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam") [210], của Nguyễn Đăng Mạnh ("Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam nửa đẩu thế kỉ XX")[127, tr 16 - 24]

Không có sự khác biệt lớn trong cách nhìn nhận của các nhà nghiên cứu về khái niệm hiện đại, nhưng lại có sự khác biệt về quan niệm cái đương thời trong phân kì văn học cũng như trong quan niệm về hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

1.1.2.2 Hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

Trong nhiều thập kỉ của thế kỉ qua đã có nhiều ý kiến trao đổi về hiện đại hóa văn học

và tiến trình hiện đại hóa văn học Trong những năm giữa thế kỉ XX, vấn đề

Trang 37

hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa văn học đã được đặt ra qua các bài viết của các học giả: Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Phạm Thế Ngũ Sang đến những năm 80, 90 vấn đề này một lần nữa được đặt lại một cách hệ thống

qua các ý kiến: của Trần Đình Hượu trong "Nho giáo và văn học Việt Nam Trung Cận đại" [99], của Trần Đình Hươu và Lê Chí Dũng trong giáo trình "Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930" [100, tr 5 - 88], của Nguyễn Tri Nguyên [140, tr 15 - 21],

Nguyễn Đăng Mạnh [127, tr 16 - 24], Hữu Ngọc [135 te.' 14 - 18] trên tạp chí Văn học; của Nguyễn Văn Hạnh trên báo Văn nghệ [87, tr 3], của Mã Giang Lân trong tập chuyên luận

"Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 - 1930" [110] và của các nhà nghiên cứu:

Nguyễn Văn Hạnh [87], Mai Quốc Liên [112], Nguyễn Lộc [119], Phùng Qui Nhâm [145],

Nguyễn Thành Thi [181], Lê Ngọc Trà [200], Lâm Vinh [215] tại cuộc Tọa đàm "Tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam" do Trung tâm nghiên cứu văn học thuộc viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 10 1998; trong "Sự chuyển tiếp của văn chương Việt Nam sang thời kì hiện đại" tập bài giảng bổ túc kiến thức cho nghiên cứu sinh của Trần Thanh Đạm [78], và trong tập sách "Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX" với các ý kiến của: Phong Lê, Vương Trí Nhà, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Đỗ Lai Thúy,

Nguyễn Đăng Điệp

Bên cạnh ý kiến trao đổi về khái niệm hiện đại, các ý kiến trên đã tập trung bàn sâu về những vấn đề nhân tố hình thành và thúc đẩy cùng điểm khỏi đầu cũng như nội dung của tiến trình hiện đại hóa Do phạm vi của luận án, việc nghiên cứu thơ Tú Xương được đặt trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, trong tiến trình đó theo chúng tôi, thơ Tú Xương là một nhân tố mang tính nội sinh có tác động thúc đẩy tiến trình phát triển ấy Do vậy mà, ở phần này chúng tôi sẽ không

Trang 38

điểm lại những quan niệm xoay quanh hai vấn đề về diễn trình hiện đại hóa và nội dung tính hiện đại của, văn học Việt Nam mà chỉ tập trung vào là vấn đề nhân tố hình thành và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa - vấn đề có liên quan trực tiếp đến luận án, cũng có thể xem như là

"điểm tựa" làm cơ sở lí luận cho luận án

Có nhiều quan niệm về nhân tố hình thành và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa Có quan niệm đặc biệt chú trọng đến tác động của yếu tố ngoại sinh Trong hướng xem trọng tác động ngoại sinh, có nhiều ý kiến bổ sung: hiện đại hóa hình thành bởi sự tiếp xúc với Phương Tây và nhu cầu canh tân trong ý thức dân tộc Ngược lại với quan niệm chú trọng tác động ngoại sinh là quan niệm đề cao vai trò của sự vận động nội sinh của văn học dân tộc, ở giữa hai khuynh hướng "thiên tả" và "thiên hữu" ấy là quan niệm xem hiện đại hóa là kế thừa và cách tân, là sự hóa giải truyền thống và hiện đại Trong đó nổi bật lên quan niệm: hiện đại hóa là sự vận động nội lực trên tinh thần tiếp biến

Những nhà nghiên cứu tiên khởi như Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm đều cùng cho rằng: "Việc can thiệp của nước Pháp ở xứ ta về cuối thế kỉ XIX có ảnh hưởng sâu xa đến nền văn học nước ta."[85, tr 452] và văn học Việt Nam hiện đại "chịu ảnh hưởng của Tây học ngày càng thấm thía" [51, tr 331] Còn theo Đặng Thai Mai: "ảnh hưởng từ bên ngoài vào cũng có lúc thành hẳn một điều kiện trong các điều kiện lịch sử đã qui định sự thay đổi đó." [122, tr 224]

Trong giáo trình " Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930", Trần Đình

Hượu và Lê Chí Dũng đã nêu ra và bàn khá sâu về vấn đề hiện đại hóa văn học Theo quan điểm của hai nhà nghiên cứu này "Sự đổi thay trong thực tế xã hội phản ánh vào văn học, kéo theo sự đổi thay trong văn học." [100, tr 22] Chính tác động của yếu tố ngoại sinh là nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, cuộc sống

Trang 39

đô thị và văn hóa Âu Tây đã buộc văn học phải có bước chuyển mình để thích ứng với thời đại mới và thích ứng với "thị hiếu văn học đã thay đổi" [100, tr 33]

Nhà nghiên cứu Hữu Ngọc cũng cùng quan niệm hiện đại hóa là "canh tân theo phương Tây" Hiện đại hóa nảy sinh "do có cuộc "va chạm" giữa hai nền văn chương" phương Đông và phương Tây [135, tr 14 - 15] Quan điểm này còn tìm thấy qua ý kiên của Nguyễn Đăng Mạnh trên Tạp chí Văn học [127, tr 16 - 24]

Hiểu theo quan niệm này thì hiện đại hóa là phương Tây hóa Cũng xem hiện đại hóa

là do ảnh hưởng của sự tiếp xúc với phương Tây, nhưng các nhà nghiên cứu: Trần Thanh Đạm, Nguyễn Văn Hạnh, Mã Giang Lân, Nguyễn Lộc, Phùng Quí Nhâm, Lê Ngọc Trà đã nhấn mạnh thêm hiện đại hóa là do nhu cầu canh tân và ý thức về tinh thần dân tộc Riêng Trần Thanh Đạm đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc [77, tr.19]

Kế thừa quan niệm về tính hiện đại của Xuân Diệu khi nghiên cứu về các nhà thơ cổ điển Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát; nhà nghiên cứu Nguyễn Tri Nguyên đã có cách nhìn nhận ngược lại với các ý kiến trên Theo ông, ảnh hưởng của sự tiếp xúc với phương Tây là cái có sau Quá trình hiện đại hóa chủ yếu diễn ra trong sự phát triển nội sinh của văn học dân tộc

Sự phát triển nội sinh của thơ ca đã chuẩn bị đủ điều kiện để thơ ca Việt Nam hòa nhập vào thơ ca thế giới Đến đấu thế kỉ XX, với hàng loạt những tác động lịch sử, chính trị,

xã hội và giao lưu văn hóa (có phần cuông bách); văn hóa phương Tây (cụ thể trực tiếp là thơ ca hiện đại Pháp) với tư cách sự kích thích của ngoại sinh, đã đặt các nhà thơ mới vào trạng thái "lạ hoa" [140, tr 15]

Dung hợp hai quan niệm nội sinh và ngoại sinh, nhà nghiên cứu Mai Quốc

Trang 40

Liên đã chỉ ra rằng: "Hiện đại hóa văn hóa hay văn học dựa trên hai cơ sở: sự vận động nội lực của bản thân lịch sử dân tộc và thứ hai là sự tiếp biên văn hóa, nhân tố ngoại sinh." [112,

tr 1] Trong quan niệm dung hợp tinh hóa của Đông Tây, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã cho rằng:"Thơ mới đã tổng hợp những tinh hớa của phương Đông và phương Tây vào truyền thống thi ca dân tộc, do đó đã đẩy thi ca Việt Nam tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa." [78, tr 81 ] Cũng nhìn nhận theo hướng này, theo hai nhà nghiên cứu Lâm Vinh và Nguyễn Thành Thi, hiện đại hóa diễn ra trong sự vận động từ truyền thống đến hiện đại Riêng Nguyễn Thành Thi còn nhấn mạnh rằng, hiện đại hóa văn học "là một quá trình vận động biến đổi hình thái văn học." [181, tr 3]

Theo cách hiểu thông thường, hiện đại hóa là sự đổi mới (modernization), là làm thành mới (modernize) Hiện đại hóa văn học là sự đổi mới văn học, là sự phá vỡ những qui phạm đã thành cổ điển, từng bước vận động đến cái đương thời Tiến trình phát triển của văn học hiện đại Việt Nam chính là tiến trình hiện đại hóa văn học Tiến trình đó không phải là một sự đột biến mà đã là một tiến trình thì phải có một diễn trình Tựa như quá trình sinh nỏ của một bà mẹ phải có thời kì hoài thai, rồi thai nghén để rồi mới có thể sinh hạ Trong tiến trình đó, những yếu tố về hình thức hoặc là những yếu tó trong cảm hứng của chủ thể trữ tình vượt ra khỏi qui phạm bước đầu đã làm nên những đổi mới, đã tạo nên cái hiện đại Như vậy, hiện đại hóa là một sự vận động đổi mới để vươn tới cái đương thời Diễn trình đó, trong giai đoạn hình thành diễn ra trong sự vận động tự thân Những yếu tố ngoại sinh là những điều kiện không thể thiếu trong giai đoạn phát triển, chính nó đã tạo nên bước "nhảy vọt" của thơ

ca Việt Nam hiện đại thời kì 1930 1945 Như vậy, sự vận động tự thân (yếu tố nội sinh) và yếu tố ngoại sinh là những nhân tố cần và đủ cho sự

Ngày đăng: 03/12/2015, 07:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Chú giới thiệu tuyển chọn (1993), Tản Đà niên biểu giản lƣợc, trong sách Thơ văn Tản Đà, nxb Giáo dục, Hà Nội, tr. 185 -187 Khác
2. Cao Xuân Dục biên soạn, Quốc triều Hương khoa lục, Nxb TpHCM Khác
3. Vũ Ngọc Khánh (1985), Tỉm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước 1945, nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
4. Trần Trọng Kim (1968), Việt Nam sử lƣợc, T.II, Trung tâm học liệu tái bản, Sài Gòn. 396 tr Khác
5. Vũ Ngọc Lí (1997), Thành Nam xƣa, Sở Văn hóa thông tin Nam Định, 328 tr Khác
6. Dương Kinh Quốc (1999), Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 -1918), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 479 tr Khác
7. Nguyễn Hữu Sơn - Phương Tri soạn (1992), Niên biểu Nguyễn Khuyến, trong sách Thi hảo Nguyễn Khuyển và đời thơ, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 311 - 323 Khác
8. Nguyễn Q. Thắng (1994), Khoa cử và giáo dục Việt Nam, nxb VHTT, TpHCM Khác
9. Vụ Bảo tồn bảo tàng (1984), Niên biểu Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w