Vai trò của các bài dạy thực hành ngữ pháp là nhằm làm sáng tỏ thêm và củng cố các khái niệm, các quy tắc ngữ pháp; rèn luyện các năng lực phân tích các hiện tượng ngữ pháp một cách kho
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn một cách hoàn chỉnh, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong
suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Đặng Ngọc Lệ, người đã hết lòng hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin gửi lời tri
ân nhất đối với những điều mà Thầy đã dành cho tôi
Tôi cũng xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các anh chị và bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn một cách hoàn chỉnh
Dù đã cố gắng thực hiện để hoàn thành luận văn bằng tất cả tâm huyết và nỗ lực của mình, nhưng luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng chân thành của quý Thầy Cô Tôi xin cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, 30 tháng 9 năm 2013
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực
và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc
thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được
chỉ rõ nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, 30 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lí do ch ọn đề tài 6
2 L ịch sử nghiên cứu đề tài 7
3 M ục đích, đối tượng của đề tài 12
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Đóng góp của luận văn 14
6 C ấu trúc của luận văn 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Cơ sở lí luận 15
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 15
1.1.2 Cơ sở tâm lý - ngôn ngữ 15
1.1.3 Cơ sở giáo dục học 16
1.1.4 Lý thuyết về giao tiếp và hoạt động giao tiếp 16
1.1.5 Khái niệm phương pháp giao tiếp trong dạy học 27
1 2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Vị trí, đặc điểm của phân môn ngữ pháp 28
1.2.2 Mục tiêu của việc dạy phân môn ngữ pháp 30
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ PHÁP THEO QUAN ĐIỂM GIAO TI ẾP 32
2.1 D ạy học theo quan điểm giao tiếp là gì? 32
2.2 S ự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học ngữ pháp 33
2.2.1 Khái quát nội dung chương trình ngữ pháp bậc THPT 33
2.2.2 Quan điểm giao tiếp với nội dung dạy học ngữ pháp bậc THPT 34
2.2.3 Quan điểm giao tiếp với việc lựa chọn sử dụng các phương pháp dạy học ngữ pháp 40
2.2.4 Quan điểm giao tiếp với việc lựa chọn, sử dụng các hình thức tổ chức dạy học ngữ pháp 51
2.2.5 Quan điểm giao tiếp với việc kiểm tra, đánh giá 58
2.3 Ưu điểm của việc vận dụng quan điểm giao tiếp 60
Trang 62.4 Thi ết kế giờ học Ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp 61
2.4.1 Hướng khai thác các bài học Ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp 61
2.4.2 Các bước thiết kế giờ học Ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp 65
2.4.3 Thiết kế giáo án 66
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 86
3.1 M ục tiêu thực nghiệm 86
3.2 Đối tượng thực nghiệm 86
3.3 Phương pháp thực nghiệm 88
3.4 N ội dung thực nghiệm 88
3.5 Ti ến trình thực nghiệm 89
3.5.1 Chuẩn bị thực nghiệm 89
3.5.2 Theo dõi tiến trình giờ dạy thực nghiệm 89
3.6 K ết quả thực nghiệm 92
3.6.1 Kết quả thu nhận được từ học sinh 92
3.6.2 Kết quả thu được từ khảo sát ý kiến giáo viên 107
3.7 Đánh giá kết quả thực nghiệm 108
3.7.1 Ưu điểm: 108
3.7.2 Nhược điểm: 109
K ẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PH Ụ LỤC 121
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Cùng với lao động, ngôn ngữ góp phần hình thành và phát triển xã hội loài người Ngôn ngữ là một sáng tạo kì diệu của loài người, là phương tiện giao tiếp phổ biến nhất và thuận lợi nhất Mặt khác, ngôn ngữ còn là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành dân tộc, duy trì và phát triển truyền thống văn hoá
Tiếng Việt (TV) là sản phẩm của dân tộc Việt, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia
Trong chương trình phổ thông, Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS)
những lý thuyết cơ bản về ngôn ngữ học và tiếng Việt, nhằm giúp HS vận dụng tốt những quy tắc trong hoạt động giao tiếp nói và viết, tiếp nhận và tạo lập văn bản
Vì vậy, trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn, phần Tiếng Việt đã được chú trọng về tính hành dụng, tức là khả năng ứng dụng Tiếng Việt vào việc đọc văn và vào các hoạt động giao tiếp bằng ngôn bản khác
Riêng phân môn ngữ pháp, trong chương trình Ngữ văn Trung học Phổ thông (THPT), HS được học tiếp nối những kiến thức về ngữ pháp ở lớp dưới nhưng việc trang bị
kiến thức mới rất ít, chủ yếu là rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong giao tiếp (tập trung ở chương trình Ngữ văn 11) Nhìn chung, nội dung của các bài học ngữ pháp ở THPT cũng đã được biên soạn theo hướng chú trọng tính thực hành, có sự tích hợp kiến thức với phần Làm văn và Đọc hiểu văn bản Bên cạnh đó, các bài học được thiết kế theo hướng “mở” (việc lựa
chọn ngữ liệu hay những kết luận được rút ra sau khi tìm hiểu ngữ liệu đều không mang tính
bắt buộc, áp đặt), giáo viên (GV) có thể có những sáng tạo riêng trong bài dạy sao cho phù
hợp với đối tượng HS, để HS chủ động, tích cực cùng GV xây dựng bài học
Tuy nhiên, dù chương trình Ngữ văn THCS đã được triển khai đại trà từ năm 2002,
Ngữ văn THPT là từ năm 2006, nhưng thực tế dạy học cho thấy nhiều HS vẫn cảm thấy
nặng nề khi học và thiếu hứng thú với những bài về Tiếng Việt Tình trạng dùng từ tuỳ tiện,
viết câu sai, cách diễn đạt xa rời chuẩn mực tiếng Việt vẫn còn nhiều đã ảnh hưởng không
nhỏ đến năng lực tư duy, đọc hiểu văn bản và viết văn nghị luận của các em Thực tế này đã đặt ra cho các nhà sư phạm nói chung và những GV dạy Ngữ văn nói riêng nhiều suy nghĩ
Trang 9về hiệu quả của việc dạy tiếng, trong đó có việc dạy học phân môn ngữ pháp Việc này đòi
hỏi GV khi dạy học ngữ pháp phải vận dụng nhiều phương pháp tích cực, đặc biệt chú trọng
việc dạy học trong giao tiếp và bằng giao tiếp, nhằm hướng HS đến cái đích cuối cùng của
việc học tiếng là để giao tiếp đúng chuẩn mực tiếng Việt
Từ những điều trên, tôi chọn đề tài “Vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học
ng ữ pháp ở bậc THPT” nhằm góp một phần nào nâng cao hiệu quả việc dạy và học ngữ
pháp
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, có lẽ lần đầu tiên người dạy tiếng Việt làm quen với thuật ngữ phương pháp giao tiếp là nhờ giáo trình Phương pháp dạy học tiếng Việt của Lê A và các cộng
sự Dựa vào việc triển khai sách mới ở bậc THPT, tôi chọn mốc 2006 để xem xét một số công trình nghiên cứu lý thuyết giao tiếp vào dạy học ngữ pháp
2.1 T ừ năm 1986 đến trước năm 2006
Từ năm 1986, khi Tiếng Việt được xem là một môn học độc lập trong nhà trường, đến trước năm 2006 chúng ta có nhiều có công trình nghiên cứu về PPDH Tiếng Việt,
nhưng chỉ có một số ít bàn đến việc dạy học ngữ pháp, như: Dạy học Ngữ pháp ở tiểu học
của tác giả Lê Phương Nga, “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” do nhóm tác giả PGS TS
Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, PGS TS Lê Phương Nga biên soạn chủ yếu dành cho GV bậc
Tiểu học, và quyển “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Lê A chủ biên) Nhìn chung, trong
các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã cung cấp cho chúng ta những vấn đề cơ bản
của lí luận dạy Tiếng như: đối tượng, nhiệm vụ của PPDH Tiếng Việt, các nguyên tắc dạy
học Tiếng Việt, cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng PPDH tiếng Việt, việc sử dụng thiết bị và đồ dùng để dạy học Tiếng Việt, hoạt động ngoại khoá môn Tiếng Việt…
Giáo trình D ạy học ngữ pháp ở tiểu học của tác giả Lê Phương Nga đã nhấn mạnh
vai trò của việc dạy học ngữ pháp trong nhà trường Ngữ pháp là một bình diện quan trọng
của ngôn ngữ bên cạnh các bình diện khác như ngữ âm, từ vựng, phong cách Nó có tính khái quát và trừu tượng cao hơn các bình diện khác vì nó bao gồm toàn bộ các quy tắc cấu
tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu và cả các quy tắc liên kết câu để tạo thành
đơn vị lớn hơn là đoạn văn và văn bản “Ngữ pháp có vai trò quan trọng trong việc tổ chức
ho ạt động tạo lập và lĩnh hội ngôn bản” Do vậy, mục tiêu của việc dạy học ngữ pháp chủ
yếu là thực hành nhằm hướng HS đến việc sử dụng thành thạo, có hiệu quả các kĩ năng
Trang 10nghe, nói, đọc, viết Điều được chú ý ở giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” là quan điểm dạy học Ngữ pháp theo định hướng giao tiếp: “…việc dạy học tiếng Việt nói
chung và d ạy học Ngữ pháp nói riêng cần thấm nhuần quan điểm giao tiếp cả trong phương pháp d ạy học…” Đây là một quan điểm đúng đắn Dạy Ngữ pháp sẽ trở nên phiến diện nếu
GV chỉ chú trọng đến việc mô hình hoá các hình thức kết hợp của từ, ngữ… Mục đích của
việc dạy học Ngữ pháp nói riêng và Tiếng Việt nói chung là phải giúp HS có thể giao tiếp trong các tình huống khác nhau Trong hoạt động giao tiếp, do sự chi phối của các nhân tố
giao ti ếp và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà các yếu tố ngôn ngữ luôn cần được sử dụng một
cách linh hoạt để phù hợp với hoàn cảnh và đạt được hiệu quả giao tiếp
Trong chương trình dạy lý thuyết ngữ pháp, bên cạnh các bài về khái niệm còn có các bài về quy tắc, ví dụ như quy tắc lựa chọn trật tự từ trong câu, quy tắc sử dụng các kiểu câu trong văn bản… Việc dạy các quy tắc cũng cần theo các bước cụ thể sau: xác định đúng
nội dung của các quy tắc và các khái niệm ngữ pháp có liên quan – nêu rõ mục đích và tác
dụng của từng quy tắc – chú trọng các thao tác trong quá trình thực hiện quy tắc
Do các quy tắc ngữ pháp vừa liên quan đến khái niệm ngữ pháp, vừa gắn liền với các
hoạt động ngôn ngữ trong thực tiễn sử dụng nên việc dạy học quy tắc ngữ pháp chính là
việc chuyển từ ngữ pháp lí luận sang ngữ pháp thực hành Vì vậy, khi dạy quy tắc cần hướng vào các nguyên tắc: gắn lí thuyết với thực hành, hướng vào hoạt động giao tiếp để từ các quy tắc mà hướng dẫn tạo lập các sản phẩm giao tiếp, chuyển đổi chúng cho thích hợp
với từng hoàn cảnh cụ thể Với kiểu bài thực hành ngữ pháp, tác giả chú trọng việc hướng
dẫn HS làm các dạng bài tập với các bước thực hiện cụ thể, đó là các kiểu bài tập nhận diện
- phân tích, bài t ập chuyển đổi, bài tập tạo lập (sáng tạo), bài tập sửa chữa Vai trò của các
bài dạy thực hành ngữ pháp là nhằm làm sáng tỏ thêm và củng cố các khái niệm, các quy tắc
ngữ pháp; rèn luyện các năng lực phân tích các hiện tượng ngữ pháp một cách khoa học,
thực hiện việc lĩnh hội sản phẩm giao tiếp ngôn ngữ một cách chính xác và tinh tế; nâng cao
khả năng nói, viết sao cho phù hợp với quy tắc ngữ pháp, thích hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Muốn thực hiện được mục đích trên, việc dạy thực hành ngữ pháp ở THPT cần tuân thủ
những nguyên tắc của dạy ngữ pháp: gắn lí thuyết với thực hành, tích cực hoá và ý thức hoá
vốn kinh nghiệm ngôn ngữ của HS, hướng vào hoạt động giao tiếp, kết hợp giữa sự phát triển tư duy và phát triển ngôn ngữ ở HS…
Khi bàn về lỗi viết câu của HS tiểu học, tác giả nêu lên một vấn đề cần lưu ý khi sửa
lỗi viết câu cho HS: “Trước đây khi nghiên cứu lỗi viết câu, người ta thường xét những câu
Trang 11sai m ột cách cô lập nên chỉ chú ý đến các lỗi trong cấu trúc nội bộ của câu Đồng thời người ta cũng chỉ chú ý đến cấu trúc cú pháp, ít chú ý đến nghĩa khi xem xét câu Cách làm trên rõ ràng l à chưa thoả đáng Bởi vì câu chỉ có thể thực hiện chức năng của mình trong
m ột đơn vị lớn hơn – văn bản Cho nên khi bàn về lỗi viết câu, chúng ta cần đặt câu trong văn bản để xem xét và dựa vào yêu cầu về câu trong văn bản làm chuẩn để đối chiếu, xác định một câu như thế nào bị xem là mắc lỗi” Quan điểm này hoàn toàn thống nhất với
nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp của việc dạy câu và quan điểm xem xét câu ở bình diện ngữ nghĩa, ngữ dụng
Trong bài viết Cần đổi mới mục tiêu môn Tiếng Việt, Ngữ học trẻ, 1997, nhìn nhận
rằng dạy học Tiếng Việt (TV) trong những năm qua chưa có kết quả như mong muốn là do chương trình thiên về dạy ngôn ngữ học chứ không phải dạy sử dụng tiếng mẹ đẻ, tác giả
Nguy ễn Đức Sĩ Tiến cho rằng cần phải thay đổi mục tiêu dạy học TV trong nhà trường
Theo đó, người viết đề xuất dạy học TV nên hướng tới bốn mục tiêu chính: trang bị những tri thức về TV, rèn luyện kĩ năng sử dụng TV, rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, hướng
tới cái đẹp Khi bàn về mục tiêu thứ nhất và thứ hai, tác giả cho rằng chúng ta dạy kiến thức không phải để các em trở thành một nhà ngôn ngữ học mà để các em vận dụng thực hành,
việc dạy học phải hướng vào mục đích giao tiếp, giúp người học nâng cao năng lực giao tiếp
bằng ngôn ngữ Muốn thế, dạy tiếng phải rèn luyện cho người học các kĩ năng nghe nói, đọc, viết để họ có thể tạo lời hay nhận lời trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Cũng vì vấn đề chính mà tác giả muốn khai thác là đổi mới mục tiêu nên quan điểm giao tiếp chỉ được nhắc đến chứ không được trình bày thấu đáo
Hướng giao tiếp trong dạy học phần TV ở sách Ngữ văn 6 của tác giả Thái Kim
Thành đăng trên Ngữ học trẻ, 2003 là bài phân tích nội dung chương trình phần TV lớp 6
dưới góc nhìn của định hướng giao tiếp Tác giả cho rằng cấu trúc và nội dung SGK Ngữ văn thể hiện rõ định hướng giao tiếp song cũng có những bài học mà hướng này chưa thực
sự được quan tâm đúng mức Trong quá trình đánh giá người viết khẳng định dạy học theo quan điểm giao tiếp sẽ làm cho HS tích cực hơn đồng thời chỉ ra một quy trình dạy học TV theo hướng giao tiếp, đó là để HS tiếp thu kiến thức theo lối quy nạp rồi làm bài tập từ đó
mà rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Mục đích của bài nghiên cứu chủ yếu là nhận định
về hướng giao tiếp trong sách Ngữ Văn 6 nên các vấn đề về quan điểm giao tiếp chỉ được tác giả đề cập đến chứ chưa thực sự đi sâu làm sáng tỏ
Trang 12Cũng trên Ngữ học trẻ, 2003, tác giả Ngô Thị Minh có bài Dạy TV theo hướng hoạt
động giao tiếp ở bậc tiểu học Bài viết bàn về ba nội dung chính: khái niệm về vấn đề dạy
TV theo hướng hoạt động giao tiếp, cơ sở khoa học và thực tiễn của việc dạy TV hướng vào
hoạt động giao tiếp, sự thể hiện việc dạy TV theo hướng hoạt động giao tiếp ở bậc tiểu học
hiện nay Trong nội dung thứ nhất, sau khi nêu khái niệm dạy TV theo hoạt động giao tiếp
là dạy để người học sử dụng thành thạo ngôn ngữ, vận dụng tốt các kĩ năng nghe, nói, đọc,
viết vào tham gia giao tiếp với cộng đồng, tác giả đưa ra các nguyên tắc và phương pháp
dạy tiếng theo hướng giao tiếp Đến nội dung thứ hai, người viết phân tích rõ cơ sở của việc
dạy tiếng hướng vào hoạt động giao tiếp Đó là xuất phát từ bản chất của ngôn ngữ là một
hệ thống luôn vận động và phát triển trong cơ chế hoạt động hành chức và xuất phát từ mục tiêu của môn TV ở tiểu học Dù bài viết hướng đến bậc tiểu học nhưng người quan tâm vẫn tìm thấy kiến thức cơ bản về hoạt động giao tiếp trong dạy học TV
Các giáo trình trên đã nghiên cứu việc dạy học ngữ pháp trên cơ sở phân tích chương trình sách giáo khoa (SGK) và các PPDH Tiếng Việt thường được sử dụng trong nhà trường Từ đó, khái quát thành những cơ sở lí luận về vai trò của việc dạy học ngữ pháp, hình thành cho HS các kỹ năng giao tiếp cơ bản Đồng thời, GV cũng có thể tìm thấy ở các giáo trình trên những chỉ dẫn cần thiết về các kĩ năng khi dạy lí thuyết và thực hành ngữ pháp Tuy nhiên, do các giáo trình này được viết khi SGK cũ đang được sử dụng nên hiện nay vẫn còn một số điểm bất cập, hạn chế nhất định cần phải bổ sung kịp thời Chẳng hạn như hệ thống ngữ liệu không còn phù hợp, một số hình thức tổ chức dạy học tiếng Việt dù
đã chú trọng đến vai trò chủ động của HS nhưng chưa thật sự thể hiện rõ vai trò hướng dẫn
của GV và sự sáng tạo của HS; hệ thống bài tập còn đơn điệu, thiếu tính liên kết và chưa được khai thác triệt để các dạng bài tập nhằm phát triển tư duy logic, tư duy khoa học cho HS…đặc biệt, chưa chú ý đến quan điểm giao tiếp trong việc dạy học ngữ pháp
2.2 T ừ năm 2006 đến nay
Trong tài liệu “Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ
thông”, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã giúp GV THPT thấy được những yêu cầu của việc đổi
mới chương trình Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn và sự cần thiết của việc đổi mới PPDH
Tiếng Việt theo quan điểm “tích cực” Theo tác giả, mục đích chính của việc dạy tiếng Việt
ở THPT là “hành dụng”, “tức là hình thành và rèn luyện cho HS khả năng vận dụng các
đơn vị ngôn ngữ trong tiếng Việt một cách tổng hợp và thành thạo trong nói cũng như viết theo m ột kiểu văn bản nào đó” Trong sách giáo viên Ngữ văn 10 (Tập 1) – Phần “Những
Trang 13v ấn đề chung” , các tác giả đã nêu rõ 3 mục tiêu cơ bản của việc dạy Tiếng Việt cho HS
THPT là hình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng, rèn luyện và nâng cao các kỹ năng sử dụng tiếng Việt, giúp HS có ý thức thận trọng khi sử dụng
tiếng Việt, chịu khó tự sửa chữa sai sót để lời nói, câu văn được trong sáng Về PPDH Tiếng
Việt, các tác giả nhấn mạnh phương châm dạy tiếng Việt “bằng thực hành, thông qua thực
hành và hướng tới thực hành” Phương châm này cần áp dụng trong cả giờ dạy lý thuyết
cũng như thực hành
Trong bài D ạy học Nghĩa của câu ở trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp,
Giáo d ục, số 175, kì 2 – 10/2007, tác giả Lê Thị Bích Hồng khẳng định sự cần thiết phải sử
dụng tình huống giao tiếp trong dạy Tiếng Việt Tác giả nhấn mạnh “trong dạy học, để giúp
HS tích c ực chủ động, huy động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạt động tìm kiếm tri thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, GV cần xây dựng các tình hu ống giao tiếp” Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những định nghĩa tương đối
đầy đủ về tình huống giao tiếp và xác định các đặc điểm cơ bản cùng những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao tiếp trong giờ học tiếng Từ cơ sở đó, tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện một tình huống giao tiếp trong giờ dạy Tiếng Việt
Ho ạt động giao tiếp với dạy học tiếng Việt ở tiểu học của hai tác giả Phan Phương
Dung, Đặng Kim Nga là công trình nghiên cứu chuyên sâu về dạy TV theo hướng giao
tiếp Nội dung giáo trình được triển khai theo 3 chương: giao tiếp và hoạt động giao tiếp, từ
và câu trong hoạt động giao tiếp, dạy học TV theo quan điểm giao tiếp Trong chương 3,
những vấn đề lí luận, những định hướng dạy học tương đối cụ thể ở tiểu học được trình bày khá cặn kẽ, đem đến cho người quan tâm những tri thức cần thiết về quan điểm giao tiếp trong dạy TV nói chung, dạy TV ở tiểu học nói riêng Giáo trình xác định rõ việc dạy TV ở
tiểu học cần phải theo quan điểm giao tiếp, chỉ rõ mối quan hệ giữa quan điểm giao tiếp với
mục tiêu dạy học TV ở tiểu học Từ những phân tích cặn kẽ, người viết kết luận rằng cả mục tiêu và chương trình học đều hướng đến nhiệm vụ rèn kĩ năng lời nói cho HS và điều này là minh chứng cho định hướng giao tiếp trong môn TV ở tiểu học
Cũng góp tiếng nói về quan điểm giao tiếp trong dạy tiếng trong bài viết Yêu cầu đối
v ới việc thiết kế bài tập TV dưới ánh sáng của lí thuyết hoạt động giao tiếp, tác giả Trịnh
Th ị Lan khẳng định dạy học TV cần phải hướng vào hoạt động giao tiếp để rèn luyện cho
người học những kĩ năng giao tiếp nhất định Bài viết không lí luận về quan điểm giao tiếp
Trang 14nói chung mà bàn sâu về những yêu cầu khi thiết kế bài tập TV theo quan điểm này Trong bài viết, tác giả lưu ý việc ra bài tập cần phải tạo được tình huống kích thích nhu cầu giao
tiếp và định hướng giao tiếp cho người học Bài tập cũng phải chỉ rõ cho HS hướng giao
tiếp khi áp dụng tri thức TV sẽ thực hành, tức từ bài tập HS sẽ rút ra được hoặc củng cố một tri thức hay một kĩ năng cần thiết cho hoạt động giao tiếp sau này Cuối cùng, bài tập cần
phải có những yêu cầu, nhiệm vụ giao tiếp cụ thể để định hướng cho HS tạo lập những phát ngôn cụ thể Có thể nói, bài viết đã chỉ ra cho GV một cách làm khoa học để thiết kế những bài tập thực hành trong dạy học tiếng mẹ đẻ Song, do mục đích nghiên cứu nên quan điểm giao tiếp trong bài viết chỉ dừng lại ở vấn đề bài tập, chưa khai thác ở các khía cạnh khác
của hoạt động dạy học
Các công trình tôi đã đề cập trên đây cho thấy quan điểm giao tiếp đã được khai thác nhiều ở mặt lí luận và thực tiễn dạy học Tiếng Việt Song tôi nhận thấy, hầu hết các công trình đều nghiên cứu lý thuyết giao tiếp trong việc dạy tiếng Việt nói chung, chưa có công trình nào có sự chuyên sâu nghiên cứu, xem xét cụ thể tính ứng dụng của việc vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học phân môn ngữ pháp theo đúng những đặc thù và mục tiêu
mà môn học này đề ra
Dẫu các tài liệu nêu trên không trực tiếp đề cập đến vấn đề mà chúng tôi quan tâm nhưng chính các công trình nghiên cứu đó là những gợi ý quý báu về cơ sở lí luận giúp chúng tôi triển khai đề tài Vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp bậc THPT
+ Tìm hiểu, làm sáng tỏ quan điểm giao tiếp trong dạy học ngữ pháp;
+ Hình thành quy trình, phương hướng thiết kế giờ dạy ngữ pháp bậc THPT theo quan điểm giao tiếp;
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng hiệu quả của dạy ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp;
Trang 15Chọn đề tài này để nghiên cứu, bên cạnh mục đích nâng cao chất lượng học tập của
HS, chúng tôi còn hi vọng giúp một phần cho GV ứng dụng được quan điểm giao tiếp trong
dạy học ngữ pháp ở THPT nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học Tiếng Việt theo phương pháp tích hợp
3.2 Đối tượng của đề tài
Có nhiều quan điểm chi phối việc dạy Ngữ pháp trong nhà trường song trong luận văn này, người viết chỉ nghiên cứu trong giới hạn:
- Vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy những bài ngữ pháp ở chương trình THPT (lớp 10, 11)
- Công việc TN cũng được tiến hành trong chương trình lớp 11, đối tượng TN là HS
lớp 11C1, 11C2 trường THPT Trí Đức, Tân Phú, TP.Hồ Chí Minh và HS lớp 11.1, 11.2 thuộc hệ thống trường dân lập Quốc tế Việt Úc, quận 10, TP.HCM
4 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng một số phương pháp sau:
4.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này được chúng tôi ứng dụng để tổng hợp lý thuyết về quan điểm giao
tiếp và phân tích các dữ liệu, từ đó, rút ra kết luận khái quát về việc dạy ngữ pháp theo hướng giao tiếp
4.2 Phương pháp thống kê
Chúng tôi sử dụng PP này để thống kê, phân loại các phiếu khảo sát HS, GV và
thống kê, phân loại kết quả TN làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả sau cùng
4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi cũng so sánh – đối chiếu kết quả thu được ở
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá về tính khả thi của các giáo án ngữ pháp được thiết kế theo quan điểm giao tiếp
4.4 Phương pháp thực nghiệm
Để kiểm chứng tính khả thi của đề tài, xem xét những kết quả thu được của dạy học
ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp, chúng tôi tiến hành TN sư phạm 8 tiết ở trường THPT
Trang 16Công việc được bắt đầu từ khâu xác định mục đích TN đến lựa chọn đối tượng TN, phương pháp TN, nội dung TN và đánh giá kết quả TN
5 Đóng góp của luận văn
Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong muốn có những đóng góp nhỏ sau:
- Tổng hợp và hệ thống hóa những kiến thức lí thuyết về quan điểm giao tiếp trong
- Đánh thức sự quan tâm của GV đối với quan điểm giao tiếp trong dạy học TV để từ
đó họ có sự tìm tòi sáng tạo trong PP, hình thức tổ chức dạy học TV có hiệu quả
6 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn còn có ba chương: (1) Cơ sở lý luận và thực
tiễn của đề tài (2) Tổ chức dạy học ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp (3) Thực nghiệp sư
phạm Ngoài phần nội dung chính, luận văn còn kèm theo các phụ lục: phiếu học tập, phiếu
kiểm tra, phiếu khảo sát ý kiến của HS, phiếu dự giờ có nhận xét, đánh giá của giáo viên
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhưng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi quan điểm dạy học
Tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Việt Khái
niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn
ng ữ” Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở
nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ…của ngôn ngữ đó Còn năng
lực giao tiếp đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần
giống như giao tiếp thực Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp Giao tiếp với tư cách là một dạng hoạt động đặc biệt của con người nhằm củng cố
mối quan hệ và được sử dụng để truyền đạt thông tin giữa người và người Ở đây, có hai
mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào cũng được
sản sinh trong một tình huống cụ thể có kèm theo một nền rất rộng các điều kiện tạo ra tình
huống ấy Ngôn ngữ được sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hưởng tới
những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của người tham gia giao tiếp, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó loại trừ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt được tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói
nhất định hoặc hành vi lời nói khẳng định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn…
1.1.2 Cơ sở tâm lý - ngôn ngữ
Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học người Nga L.S.Vư-gootsxki
và trường phái của ông đề xướng thì hoạt động lời nói là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động được tạo thành từ nhiều thao tác riêng biệt.Từ đó suy ra đơn vị dạy- học ngôn ngữ phải là hành động
lời nói Dạy hành động lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai? Dạy cái gì?, Dạy
để làm gì? và Dạy như thế nào? Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các
mặt chức năng và hình thức của nó là đều có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hình thức ngôn
Trang 18ngữ không thể có được nếu thiếu mặt chức năng Nếu mục đích của việc dạy- học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải được hình thành đồng thời, hơn thế, cơ sở
để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Phương pháp dạy
học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lý học Đó là các quy luật tiếp thu tri
thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Tâm lý ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số
liệu về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với nhiều người Quan hệ của phương pháp học Tiếng Việt và Tâm lý học, đặc biệt là Tâm lý
học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lý người nói chung và tâm lý
học sinh trung học phổ thông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho các em
1.1.3 Cơ sở giáo dục học
Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này Mục đích của phương pháp dạy học
Tiếng Việt cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và
thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp được một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở phương pháp dạy học Tiếng Việt sử
dụng các khái niệm, thuật ngữ của Giáo dục học Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo
dục do Giáo dục học đề ra- phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ giáo dục tổng
hợp và giáo dục lao động Trong phương pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lý luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lý thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong
dạy học…
1.1.4 Lý thuy ết về giao tiếp và hoạt động giao tiếp
1.1.4.1 Giao ti ếp và các hình thức của giao tiếp
Theo T ừ điển Thuật ngữ ngôn ngữ học, giao tiếp là “sự thông báo hay truyền đạt
thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” Theo đó, có thể hiểu giao tiếp là hoạt động giữa
Trang 19hai người hay hơn một người nhằm bày tỏ với nhau một thông tin trí tuệ hoặc thông tin cảm xúc, một ý muốn hành động hay một nhận xét về sự vật, hiện tượng nào đó
“Ho ạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức, qua những phương tiện khác nhau, như ánh sáng, màu sắc, âm thanh, cử chỉ, điệu bộ,…” (Sách GV
TV 5, t ập 1, trang 6) Nhưng giao tiếp ngôn ngữ là hình thức giao tiếp cơ bản và quan trọng
nhất của xã hội loài người
Về nguyên tắc, giao tiếp ngôn ngữ mang tính chất xã hội, trong đó người tham gia giao tiếp phải có mối quan hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, tên cấu trúc xã hội và trên quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp hoặc nhóm người trong xã hội
Giao tiếp ngôn ngữ có thể thực hiện bằng lời (giao tiếp miệng) hoặc bằng văn tự (giao tiếp viết).Trong hai dạng trên thì giao tiếp miệng là cơ sở
1.1.4.2 Ch ức năng của giao tiếp
a) Ch ức năng thông tin:
Thông tin là chức năng thường gặp nhất của giao tiếp, có thể được thực hiện qua nhiều phương tiện Trong chức năng này, giao tiếp giúp những người tham gia hoạt động trao đổi cho nhau những tin tức dưới dạng nhận thức, những tư tưởng có được từ hiện thực Các cuốn giáo trình, bài giảng của giáo viên, bài thi của học sinh, hệ thống biển báo,…là
những ví dụ về chức năng thông tin của giao tiếp
b) Ch ức năng tạo lập quan hệ:
Nhiều khi trò chuyện với nhau không phải vì muốn thông báo với người khác một
nội dung trí tuệ, một hiểu biết, một nhận thức, mà vì muốn thiết lập một mối quan hệ mới
hoặc duy trì một mối quan hệ đã được thiết lập từ trước Thậm chí, vì ta muốn phá vỡ một
mối quan hệ đã có nhưng nay không muốn duy trì nữa
Chức năng tạo lập quan hệ bao hàm cả tác dụng phá vỡ quan hệ Còn trò chuyện được có nghĩa là có thể tiếp tục duy trì quan hệ thân hữu giữa những người tham gia giao
tiếp Nhưng cũng có khi giao tiếp lại góp phần phá vỡ mối quan hệ vốn có giữa họ Sự phá
vỡ này có thể do những người trong cuộc cố tình tạo ra, nhưng cũng có bao gồm mối quan
hệ bị phá vỡ một cách vô tình do ta “chậm miệng” hay lỡ lời, người ta vẫn hay nói: sảy chân còn đỡ được chứ sảy miệng thì làm sao mà đỡ nổi!
Trang 20Tạo lập quan hệ là chức năng giao tiếp cộng tác giữa người với người Có thể nhiều người không biết đến, nhưng ngôn ngữ vẫn luôn đảm nhận chức năng này một cách lặng lẽ,
rất cần cho sự tồn tại của xã hội
c) Ch ức năng tự biểu hiện:
Qua giao tiếp, con người tự biểu hiện mình Một cách có ý thức hoặc không có ý
thức, qua lời nói, ta có thể để lộ tình cảm, sở thích, khuynh hướng, trạng thái tâm hồn, nguồn gốc địa phương, trạng thái sức khỏe của bản thân
d) Ch ức năng giải trí:
Nghỉ ngơi, giải trí là một nhu cầu của con người, giao tiếp cũng nằm trong những
mục giải trí dó nhưng dễ thực hiện và đỡ “tốn kém” hơn cả, không yêu cầu cao về hoạt động
tổ chức, không cần nhiều thời gian Nhiều lúc,sau buổi làm việc căng thẳng, ta nói chuyện phiếm với bạn bè, nhưng câu chuyện lúc tán gẫu, những bài thơ vui hay những câu chuyện cười mà ta sưu tầm được, đều làm cho tinh thần ta thư giãn, thoải mái
Mặt khác, chức năng hành động của giao tiếp còn thể hiện ở chỗ, qua cuộc giao tiếp, các nhân vật có thể thay đổi về nhận thức, tình cảm, những thay đổi này, ở những mức độ khác nhau, sẽ tác động đến hành động của họ
1.1.4.3 Các nhân t ố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là những yếu tố có mặt trong hoạt động giao tiếp và ảnh hưởng đến
hoạt động giao tiếp đó Hiện thực được nói tới, ngôn ngữ được sử dụng, nhân vật giao tiếp,
mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp là những nhân tố giao tiếp thông thường
f) Hi ện thực được nói tới
Hiện thực được nói tới bao gồm những sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan,
những tâm trạng, cảm xúc,…được đưa vào ngôn bản Đó là những hiện thực được đề cập tới
Trang 21trong ngôn bản hoặc những điều người nói, người viết muốn gởi gắm tới người nghe, người đọc
Khi thực hiện một cuộc giao tiếp để xác định hiện thực được nói tới người nói/viết
phải trả lời câu hỏi: Mình sẽ nói/viết vấn đề gì?Mình sẽ gửi gắm điều gì?
g) Ngôn ng ữ được sử dụng
Ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ được người nói/viết dùng để tạo thành ngôn
bản Đã có nội dung, nhưng để lựa chọn hình thức ngôn ngữ giao tiếp phù hợp nhất, người nói/người viết cần trả lời câu hỏi:Nên nói hay viết?/Nên sử dụng ngôn ngữ thế nào?
h) Nhân v ật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp Trong giao tiếp, các nhân vật giao tiếp luân phiên đảm nhận vai trò người phát (nói/viết) Tùy từng tình
huống cụ thể, người nhận có thể có mặt hay vắng mặt, có thể có một hay nhiều người, tích
cực hay tiêu cực
Giữa các nhân vật giao tiếp có thể có quan hệ cùng vai, hoặc quan hệ khác vai Muốn
cuộc giao tiếp đạt kết quả như mong muốn, người phát cần xác định đúng quan hệ vai giữa mình với người nhận để lựa chọn hình thức giao tiếp phù hợp nhất
Tuổi tác, quan hệ gia đình, địa vị xã hội, trình độ hiểu biết, trạng thái tâm lý, sinh lý…của nhân vật giao tiếp, quan hệ vai giữa các nhân vật giao tiếp đều để lại dấu vết trong
lời nói
i) M ục đích giao tiếp
Mỗi hoạt động giao tiếp diễn ra đều nhằm một số mục đích nào đó Mục đích giao
tiếp có liên quan đến chức năng của giao tiếp Giao tiếp có thể nhằm mục đích làm quen, bày tỏ nỗi vui mừng, lo sợ, thông báo cho người nghe một tư tưởng, một nhận thức nào đó
của mình, đưa ra một lời mời hay một yêu cầu, Với cuộc giao tiếp có nhiều mục đích, có đích chính, đích phụ
Mục đích giao tiếp là một trong những yếu tố chi phối việc lựa chọn nội dung và cách thức giao tiếp Khi trò chuyện với một người, sự lựa chọn ngôn ngữ để gây thiện cảm
với người đó không giống với các yếu tố ngôn ngữ mà ta lựa chọn khi muốn chấm dứt cuộc
hội thoại hay chấm dứt một mối quan hệ mà mình không muốn tiếp tục
Trang 22Do vậy, những người tham gia giao tiếp rất cần xác định đích ngay từ đầu, từ đó lựa
chọn nội dung, cách thức giao tiếp thích hợp để đạt tới đích đó một cách tốt nhất trong thời gian ngắn nhất
j) Hoàn c ảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp Có hoàn cảnh giao tiếp rộng
và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm hoàn cảnh địa lý, xã hội, lịch
sử, kinh tế…chung của dân tộc, của đất nước Hoàn cảnh hẹp là nơi chốn, thời gian cụ thể
diễn ra giao tiếp
1.1.4.4 Các d ạng lời nói và hoạt động giao tiếp
Căn cứ vào hình thức và phương tiện biểu đạt, có thể chia ngôn ngữ (lời nói) thành hai
dạng: khẩu ngữ (ngôn ngữ nói) và bút ngữ (ngôn ngữ viết) Hai dạng lời nói này có sự khác nhau đáng kể về phương tiện biểu đạt, cách lựa chọn từ ngữ, hoàn cảnh sử dụng
k) Kh ẩu ngữ:
-Đặc điểm: Khẩu ngữ là ngôn ngữ của âm thanh Nó là một phương tiện trao đổi thông tin trong xã hội, có khả năng truyền cảm rất lớn Trong giao tiếp bằng khẩu ngữ, ngữ điệu có vai trò đặc biệt quan trọng Nhịp điệu lời nói nhanh hay chậm, độ cao hay thấp của giọng nói, sự ngắt đoạn, đều có ảnh hưởng tới hiệu quả giao tiếp Cùng với ngữ điệu, các phương
tiện phụ trợ phi ngôn ngữ như ánh mắt, vẻ mặt, cử chỉ, điệu bộ có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả biểu đạt của lời
Khẩu ngữ đòi hỏi sự ứng xử linh hoạt với lời nói; so với bút ngữ, khẩu ngữ sử dụng câu ngắn hơn, có cấu tạo đơn giản hơn Thậm chí, trong giao tiếp miệng, có những câu không trọn vẹn về nội dung, nhưng nhờ hoàn cảnh giao tiếp mà người nghe vẫn hiểu được
những điều người nói muốn truyền đạt tới mình một cách chính xác
Khẩu ngữ có hai dạng: lời đối thoại và lời độc thoại
- Lời đối thoại: thường xuất hiện trong giao tiếp hội thoại
*Hội thoại: là hoạt động giao tiếp bằng lời miệng giữa các nhân vật giao tiếp, nhằm trao đổi thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm,…theo một mục đích xác định
*Các vận động hội thoại:
Trang 23Về bản chất, hội thoại luôn vận động Sự vận động này thể hiện ở ba phương diện: vận động trao lời, vận động đáp lời và vận động tương tác
-Vận động trao lời: là vận động mà người nói thực hiện để tạo ra lời trao hướng đến người nghe để người nghe có phản ứng trở lại
Lời trao phải tác động đến người nhận, tạo được phản ứng tích cực ở người nhận
Muốn vậy, người trao lời cần:
+Xác định vị thế xã hội của mình với người nhận để quyết định nội dung, cách nói
+Giữ vai trò khởi xướng hội thoại: gây sự chú ý lắng nghe, nêu đề tài hội thoại
+Bộc lộ rõ ràng sự quan tâm, chú ý đến nội dung cuộc thoại, mong muốn được nghe và chú
ý lắng nghe lời đáp
-Vận động đáp lời: là nhu cầu bức thiết của nói năng, là vận động của người nghe tạo lời nói đáp lại lời trao Đáp lời có thể bằng hành động, hoặc bằng lời nói kết hợp với hành động Khi đáp lời cần chú ý:
+Xác định quan hệ vai với người trao lời
+Lời đáp phải ăn khớp với lời trao, tránh hiện tượng không ăn ý hoặc trả lời nhát gừng -Vận động tương tác: là vận động tác động lẫn nhau giữa các nhân vật đối thoại và tác động
tới bản thân cuộc thoại, làm cho cuộc thoại tiến triển thuận lợi
+Tương tác giữa các nhân vật giao tiếp: sự tương tác này thể hiện ở chỗ trong quá trình hội thoại và sau khi hội thoại, các nhân vật giao tiếp có thể có những chuyển biến trong nhận
thức, tình cảm, hành động
+Tương tác đối với bản thân cuộc thoại: người trao và người đáp chủ động điều chỉnh để sao cho cuộc thoại diễn ra nhịp nhàng, có sự ăn khớp giữa lời trao và lời đáp để cả hai bên đều đạt mục đích đề ra, vấn đề đưa ra trao đổi được giải quyết một cách trọn vẹn
*Cấu trúc hội thoại
Hội thoại gồm các đơn vị: cuộc thoại, đàm thoại và cặp thoại
-Cuộc thoại là toàn bộ đối đáp, trò chuyện giữa các nhân vật giao tiếp từ lúc bắt đầu đến khi
kết thúc quá trình giao tiếp
Trang 24-Đoạn thoại là một phần của cuộc thoại, các đoạn thoại trong một cuộc thoại thống nhất với nhau về đề tài và đích hội thoại
-Cặp thoại là những cặp lời kế cận gồm một vận động trao lời và một vận động đáp lời
*Các quy tắc hội thoại
Để cuộc thoại có kết quả, các nhân vật tham gia hội thoại cần tuân thủ một số quy tắc
hội thoại:
-Quy tắc thương lượng hội thoại
Các nhân vật hội thoại cần thống nhất với nhau về đề tài, nội dung và vị thế xã hội trong giao tiếp
-Quy tắc luân phiên lượt lời
Quy tắc này đảm bảo cho các lượt lời kế tiếp nhau liên tục để cuộc thoại không bị
ngắt quãng, các lượt lời không “giẫm đạp” lên nhau Bên cạnh đó, cuộc thoại còn cần có sự thay đổi luân phiên hài hòa vai trao lời và đáp lời của những người tham gia hội thoại
-Quy tắc tôn trọng thể diện
Các nhân vật hội thoại phải tôn trọng nhau Điều đó được thể hiện:
+Tôn trọng lượt lời, không cướp lời, không cắt ngang lời người khác
+Không có hành động, lời nói làm ảnh hưởng tới thể diện của người đối thoại
+Biết chú ý lắng nghe, tộn trọng ý kiến của người đối thoại
-Quy tắc khiêm tốn
Người tham gia hội thoại phải thực sự khiêm tốn:
+Không khoe khoang, không nói về mình quá nhiều;
+Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ khiêm tốn, lịch sự
-Quy tắc cộng tác
Các nhân vật hội thoại phải có tinh thần hợp tác với nhau:
+Nói đúng đề tài đã thống nhất, phù hợp với đích của cuộc hội thoại;
+Không nói những điều không đúng hoặc chưa có sức thuyết phục;
+Nói rõ ràng, ngắn gọn, tránh nói tối nghĩa và nói mập mờ
Trang 25Như vậy, lời đối thoại bao giờ cũng nằm trong một mạch của nhiều lời nói thuộc nhiều người nối tiếp nhau hoặc đối đáp nhau Vì vậy, nội dung lời đối thoại phải nhập vào
mạch câu chuyện hoặc chủ đề hội thoại thì nó mới có ý nghĩa Trong đối thoại, người nói thường sử dụng câu ngắn, các loại câu hỏi, câu cảm thán, từ ngữ chêm xen, từ thông tục, thành ngữ, tục ngữ, ca dao…do vậy, lời nói sinh động, hấp dẫn, không khí cuộc thoại thoải mái, không gò bó
-Lời độc thoại: là lời của một người nói cho những người khác nghe, có khi là lời nói với chính bản thân Ranh giới giữa lời độc thoại và lời đối thoại chỉ mang thính tương đối Nếu
cô lập lời nói của một người trong cuộc hội thoại, chúng ta được một lời độc thoại Lời độc thoại thường xuất hiện trong một số hoàn cảnh cụ thể: người báo cáo, đọc diễn văn trong các cuộc họp, hội thảo, thầy giáo giảng bài…
So với lời đối thoại, lời độc thoại đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo và sự tập trung chú ý cao hơn, người độc thoại thường chủ động hơn trong việc lựa chọn nội dung và cách thức nói, vì có điều kiện thu thập tài liệu, xây dựng đề cương, suy ngẫm kỹ về từng vấn đề sẽ trình bày, lựa chọn phương tiện biểu đạt phù hợp nhất
Muốn lời độc thoại có sức hấp dẫn, người nói cần chọn đúng đề tài mà người nghe quan tâm, sắp xếp dàn ý cẩn thận, cặn kẽ, chọn cách tiếp cận phù hợp với trình độ của người nghe để họ hiểu và bị lôi cuốn bởi tính hấp dẫn của vấn đề Sự tập trung chú ý cao độ khi nói, sự hiểu biết đề tài một cách sâu sắc và có hệ thống, biết điều khiển giọng nói…,biết
nắm bắt phản ứng của người nghe để điều chỉnh nội dung và cách nói là các yếu tố đảm bảo
sự thành công của người nói Vì vậy, khi triển khai nội dung lời độc thoại, cần tạo ra những tình huống gây chú ý người nghe, lôi cuốn họ suy nghĩ cùng người nói
Khi nói lời độc thoại, người nói cần lựa chọn cách xưng hô và các đại từ chỉ ngôi thích hợp để tạo lập mối quan hệ giữa mình với người nghe Ngoài ra, cũng nên lựa chọn từ
ngữ, kiểu cấu trúc câu phù hợp với tình huống giao tiếp cụ thể để chuyển tải thông tin tới người nghe một cách đầy đủ và hiệu quả nhất
l) Bút ng ữ
-Đặc điểm: Bút ngữ (hay còn gọi là ngôn ngữ viết) là hình thức lời nói được sử dụng thường xuyên và có hiệu quả trong giao tiếp xã hội Trong ngôn bản bút ngữ, cấu trúc câu thường đầy đủ và phúc tạp hơn, các từ ngữ khoa học xuất hiện với tần suất cao hơn so với khẩu
Trang 26ngữ Với ngôn bản viết, dấu câu, sự xuống dòng, ngắt đoạn, các kiểu chữ khác nhau là
những phương tiện biểu đạt đặc trưng và hiệu quả
-Đặc trưng ngôn ngữ ở những loại văn bản viết khác nhau
Trong ngôn ngữ viết, việc dùng từ, tạo câu, cách liên kết câu ở văn bản nghệ thuật và văn bản phi nghệ thuật, ở văn bản thơ và văn bản văn xuôi có những khác biệt nhất định mà người viết, người đọc phải hiểu và sử dụng nó một cách thích hợp trong những tình huống nói năng cụ thể Ví dụ:
+ Ở văn bản miêu tả, người tả thường nhấn mạnh việc quan sát, mô tả sự bài trí về không gian và trật tự sắp xếp các yếu tố tạo nên đối tượng Trong đoạn văn miêu tả, người viết thường sử dụng từ ngữ có tính gợi tả cao, phối hợp linh hoạt một số biện pháp tu từ đặc trưng cho văn miêu tả như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…Đoạn văn tả cảnh thường có các từ
ngữ chỉ không gian như: trên, dưới, cao, thấp, còn ở đoạn văn tả người hay xuất hiện các từ
ngữ miêu tả chân dung, đặc điểm của người về tầm vóc, hình dáng, lứa tuổi, tính cách nhân
vật,…
+ Văn bản hành chính có tính khuôn mẫu cao hơn so với văn bản miêu tả về bố cục, cách dùng từ, đặt câu Tính khuôn mẫu không chỉ thể hiện ở cấu trúc văn bản mà còn bộc lộ ở
kiểu câu, ở các từ ngữ phổ biến, ở cả cách trình bày, lựa chọn kiểu chữ,…
Những điều vừa phân tích cho thấy đặc trưng ngôn ngữ, phương tiện biểu đạt, tình
huống giao tiếp…chi phối khá mạnh tới nội dung và phương pháp giao tiếp được lựa chọn,
sử dụng để đạt một cách tốt nhất mục đích giáo tiếp đã định
1.1.4.5 Quá trình s ản sinh và tiếp nhận lời nói trong hoạt động giao tiếp
m) Quá trình s ản sinh lời nói
-Định hướng giao tiếp trong quá trình tạo lời chính là xác định các nhân tố giao tiếp: nội dung, cách thức, nhân vật, hoàn cảnh, mục đích, Trong các nhân tố kể trên, sự lựa chọn nội dung và cách thức giao tiếp chịu chi phối của những nhân tố giao tiếp c̣n lại
-Lập chương trình biểu đạt trong quá trình tạo lời chính là hoạt động tìm ý bằng cách quan sát, tái hiện những điều đã quan sát hoặc tưởng tượng những điều có thể xảy ra, theo các nhân tố đã được xác định khi định hướng Lập chương trình còn là lựa chọn và sắp xếp các
ý đã tìm được theo một trình tự hợp lý để có sản phẩm là một dàn bài cho bài nói, bài viết trong tương lai
Trang 27-Hiện thực hóa chương trình trong quá trình tạo lời là quá trình chuyển những nội dung đã được lựa chọn và sắp xếp trong dàn bài thành phát ngôn, ngôn bản
-Kiểm tra, điều chỉnh là hoạt động không thể thiếu trong quá trình tạo lời Bởi vì, mỗi cuộc giao tiếp đều nhằm một hoặc một số đích nhất định Sau khi hoàn thành một phần hoặc toàn
bộ cuộc giao tiếp, người nói/người viết cần đối chiếu kết quả với mục đích, nội dung đã chuẩn bị trong phần dàn ý, xác định nguyên nhân không thành công để điều chỉnh kịp thời, cho đến khi kết quả giao tiếp trùng với mục đích ban đầu
Sự phối hợp thực hiện các thao tác của hoạt động sản sinh lời nói quyết định mức độ thành công của cuộc giao tiếp Không ít trường hợp, do thực hiện tốt các bước sản sinh lời nói, cuộc giao tiếp thành công hơn cả sự mong đợi của người nói, người viết Do vậy, thực
hiện tốt các bước trong hoạt động tạo lời là việc cần chú ý trong quá trình giao tiếp
n) Quá trình ti ếp nhận lời nói
Tiếp nhận lời nói là hoạt động giải mã từ lời thành ý, là hoạt động nghe hoặc đọc để
hiểu những điều mà người nói/người nghe thể hiện qua ngôn bản Việc tìm hiểu nội dung lời nói không thể chỉ dừng lại ở ý nghĩa tường minh mà còn phải chú ý tới ý nghĩa hàm ẩn, không chỉ biết tới nội dung sự vật mà còn phải thấu hiểu cả nội dung liên cá nhân của lời nói
mà ta nghe hay đọc
*Quá trình nghe:
Trong hoạt động nghe, tính hiệu vật chất kích thích vào giác quan người nghe không
phải là đường nét mà là những song âm thanh Người nghe phải tìm cách luận giải các mặt
ngữ âm, ngữ pháp của tín hiệu ngôn ngữ dạng âm thanh để khôi phục lại nội dung thông báo
mà người nói đã truyền đi Không luận giải được nhanh chóng, đầy đủ và chính xác những tín hiệu này, người nghe sẽ bị hạn chế rất nhiều trong việc tiếp nhận thông điệp Vì vậy, rèn
kỹ năng nghe chính là rèn kỹ năng phân tích- lĩnh hội ngôn bản nói, một kỹ năng không thể thiếu trong hoạt động giao tiếp
Có hai hình thức nghe: nghe trong hội thoại và nghe trong đơn thoại Việc phận chia này chỉ có tính tương đối vì trong thực tế, ở những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, chúng
ta có thể biến nghe trong đơn thoại thành nghe trong hội thoại hay ngược lại
Trang 28-Nghe trong hội thoại: là hoạt động nghe diễn ra với sự hiện diện trực tiếp của những người tham gia hội thoại trong điểm không gian hẹp Khi hội thoại, sự chuyển đổi từ vai người nghe sang vai người nói hoặc vai nói sang vai nghe diễn ra thường xuyên
-Nghe trong đơn thoại: không có sự chuyển vai như nghe trong hội thoại Thời gian để nghe đơn thoại thường dài hơn thời gian nghe hội thoại, nội dung của đơn thoại do người nói quy định, người nghe không tham dự trực tiếp vào việc xác lập nội dung nói Chính vì vậy, người nghe khó nắm bắt nội dung nói hơn so với nghe trong hội thoại, mặc dù đề tài có thể được thông báo trước Tuy thế, bằng lời đề nghị, cử chỉ, sự chú ý, thái độ đồng tình hay
phản đối…người nghe vẫn có thể tham gia điều chỉnh nội dung cuộc giao tiếp qua việc trực
tiếp hay gián tiếp yêu cầu người nói thay đổi đề tài hoặc cách nói
*Quá trình đọc
Trong xã hội loài người, giao tiếp bằng chữ được thực hiện từ khi có chữ viết Nhờ
chữ viết mà ngôn ngữ âm thanh được ghi lại và lưu giữ thành dòng mà mắt ta có thể nhìn
thấy và đọc được Đọc là hoạt động lĩnh hội, tiếp nhận thông tin các ngôn bản viết, là một hình thức của giao tiếp bằng chữ viết
Ở nhà trường, công việc giảng dạy và học tập phần lớn dựa vào sách Thông qua đọc sách, các em được mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, về cuộc sống con người, về văn hóa, văn minh, về phong tục, tập quán của các dân tộc trên thế giới Cũng thông qua đọc, các em được bồi dưỡng về năng lực thẩm mĩ, trau dồi kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, sử dụng tiếng mẹ đẻ…Vì vậy, đối với học sinh, việc đọc mang ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng và phát triển rất
lớn
Hoạt động đọc gồm hai hình thức chủ yếu là đọc thành tiếng và đọc thầm Dù được
thực hiện bằng hình thức nào, đích hoạt động của người đọc đều là chiếm lĩnh những thông tin sự vật và thông tin liên cá nhân mà người viết gửi gắm trong văn bản
Tóm lại, bản chất của hoạt động giao tiếp là gì, giao tiếp có những chức năng nào,
chịu sự chi phối của những nhân tố nào, giao tiếp ngôn ngữ gồm những dạng nào, mỗi dạng
có đặc trưng gì, quá trình sản sinh và quá trình tiếp nhận lời nói gồm những giai đoạn nào,
có những yêu cầu nào…đó là những kiến thức mà người giao tiếp và người dạy giao tiếp
cần biết để điều khiển và điều chỉnh hành động của mình sao cho đích hoạt động đạt được
kết quả tốt nhất
Trang 291.1.5 Khái ni ệm phương pháp giao tiếp trong dạy học
Dạy ngôn ngữ theo phương pháp giao tiếp là mô phỏng con đường hình thành và phát triển năng lực giao tiếp của con người vào việc thiết kế và thực hiện chương trình học
tập nhằm giúp người học thụ đắc năng lực này một cách nhanh chóng và bền vững
Theo Celce-Murcia và các cộng sự, năng lực giao tiếp (com municative competence) được thể hiện ở năm khía cạnh như sau :
- Năng lực diễn ngôn (discourse competence): khả năng sắp xếp, tổ chức từ ngữ, cấu trúc để
tạo được một diễn ngôn có tính liên kết, mạch lạc
- Năng lực ngôn ngữ (linguistic competence): các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ, như kiến
thức về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả làm cơ sở để thực hiện giao tiếp dưới hình
thức văn bản (diễn ngôn) nói cũng như viết
- Năng lực hành động lời nói (actional competence): khả năng biểu đạt ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức về chức năng ngôn ngữ và hành động lời nói (speech act)
- Năng lực văn hóa-xã hội (socio-cultural competence): khả năng biểu đạt hành động lời nói
một cách phù hợp trong bối cảnh văn hóa- xã hội cụ thể
- Năng lưc chiến lược (strategic competence): khả năng đàm phán ngữ nghĩa (negotiation for meaning) để đạt được sự thông hiểu lẫn nhau khi năng lực ngôn ngữ còn thấp và có thể gây khó khăn cho giao tiếp
Có thể thấy ưu điểm rõ rệt của quan niệm nói trên là chỉ ra được sự cần thiết hình thành và phát triển năng lực chiến lược và năng lực văn hóa – xã hội của người học Người
học, nhất là trong giai đoạn đầu, thường không có đủ vốn từ, vốn ngữ pháp để diễn đạt ý tưởng của mình và tiếp thu ý kiến người khác Bên cạnh đó, việc học theo phương pháp cấu trúc đơn thuần cũng không tạo được cho người học khả năng biểu đạt hành động lời nói một cách phù hợp trong bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể, nhất là khi việc học diễn ra ngoài môi trường giao tiếp của người bản ngữ Chương trình dạy học mới phải rèn cho họ khắc phục
những hạn chế này, biết cách xoay xở để đạt được sự thông hiểu lẫn nhau với người đối thoại và cách nói năng phù hợp với phong tục, tập quán của người bản ngữ Đó không chỉ là
kỹ năng sử dụng ngôn ngữ mà còn là kỹ năng mềm cần được rèn luyện
Trang 30Bên cạnh ưu điểm trên, danh sách năng lực giao tiếp do nhóm Celce-Murcia đề xuất
có một nhược điểm khá căn bản là không chú ý đến năng lực tiếp thụ (giải mã) của nhân vật giao tiếp Quả thực, khi nói đến năng lực diễn ngôn, các tác giả chỉ đề cập khả năng tạo được một diễn ngôn có tính liên kết mạch lạc; khi giải thích về năng lực lời nói, các tác giả
chỉ quan tâm đến khả năng biểu đạt ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp; và khi bàn về năng lực văn hóa xã hội, chỉ thấy khả năng biểu đạt hành động lời nói một cách phù hợp trong bối cảnh văn hóa- xã hội cụ thể Các kỹ năng tiếp thụ văn bản (diễn ngôn) như nghe, đọc không được xếp vào bất cứ năng lực nào
Việc tách năng lực chiến lược, cụ thể là, năng lực đàm phán ngữ nghĩa khỏi năng lực hành động lời nói cũng không thật hợp lý bởi vì năng lực chiến lược chỉ là một bộ phận của năng lực hành động lời nói Sự phân biệt năng lực hành động lời nói với năng lực diễn ngôn cũng có thể khiến người đọc băn khoăn về sự cần thiết và tính thuyết phục của việc này Sự
thực thì diễn ngôn là sản phẩm của hành động lời nói Và kết quả mà hành động lời nói tạo
ra – “hình thái ngôn ng ữ thích hợp” để biểu đạt ý định của người nói như quan niệm của các
tác giả- cũng chính là diễn ngôn
Từ những điều đã phân tích, có thể hình dung nhiệm vụ của môn học trong việc tạo năng lực giao tiếp là tạo ra các năng lực cụ thể như sau:
- Năng lực ngôn ngữ
- Năng lực hành động lời nói
- Năng lực văn hóa-xã hội
Mỗi năng lực đều bao gồm hai khía cạnh tạo lập và tiếp nhận văn bản (diễn ngôn)
Đó là những năng lực mà GV cần hình thành cho HS khi dạy học Tiếng Việt, đặc biệt là dạy
học phân môn ngữ pháp
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 V ị trí, đặc điểm của phân môn ngữ pháp
Các kiến thức ngữ pháp được dạy liên tục từ bậc tiểu học đến THPT Điều này cho
thấy vai trò quan trọng của ngữ pháp trong hệ thống ngôn ngữ nói chung và trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng Dạy ngữ pháp phải giúp HS nắm được đặc điểm loại hình của TV về mặt ngữ pháp, mới có cơ sở để viết câu đúng hay sai, biết sử dụng câu linh
hoạt, chính xác trong mọi phong cách văn bản
Trang 31Ngữ pháp được quan niệm là một trong ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ (hệ
thống ngôn ngữ bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) Trong đó, việc nghiên cứu ngữ pháp
của một ngôn ngữ cụ thể bao gồm các phân ngành:
-Từ pháp học: đối tượng nghiên cứu là các từ, với mục đích xác định các quy tắc cấu
tạo từ, quy tắc biến đổi từ, đặc điểm ngữ pháp của các từ loại
- Cú pháp học: nghiên cứu quy tắc cấu tạo cụm từ và câu (kết hợp các từ thành cụm
từ, kết hợp các từ, cụm từ thành câu, tổ chức các thành phần câu và các kiểu câu)
Như vậy, so với ngữ âm và từ vựng thì ngữ pháp có tính khái quát cao hơn: những khái niệm ngữ pháp bao quát hàng loạt hiện tượng ngôn ngữ, những quy tắc ngữ pháp hoạt động trong rất nhiều đơn vị ngôn ngữ cụ thể
Chính vì vậy, đây là phân môn được dạy liên tục trong mọi lớp và mọi cấp học ở nhà trường nên với những kiến thức ngữ pháp cơ bản, HS đã được tìm hiểu ở các lớp dưới, lên
bậc THPT, chương trình chủ yếu là đi vào thực hành việc sử dụng câu như thế nào cho đạt
hiệu quả giao tiếp Mặt khác, những bài học ngữ pháp ở chương trình THPT còn quan tâm nhiều đến bình diện nghĩa học và dụng học của câu
Chương trình ngữ pháp ở trường THPT có những điểm nổi rõ như sau:
-Ôn tập và thực hành phần cú pháp, nghĩa là phần ngữ pháp ở bậc câu và ở lĩnh vực trên câu (văn bản)
-Đặc biệt chú trọng đến bình diện ngữ nghĩa của câu Vấn đề này liên quan đến các hành vi ngôn ngữ khi sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp
-Khảo sát, trình bày câu trong hoạt động hành chức của nó Dạy và học về câu khộng
thể chỉ dừng lại ở việc nhận thức mô hình cấu tạo của câu, ở việc tìm hiểu câu trong trạng thái cô lập mà còn chú trọng vào việc tạo dựng câu trong mối liên hệ với hoàn cảnh giao
tiếp, với những câu khác trong ngôn bản
-Lựa chọn những vấn đề có tác dụng thực tiễn cao, gắn lý thuyết với thực hành, chú ý
thực hành hiều hơn Các bài thực hành chủ yếu ôn luyện kiến thức đã học ở bậc THCS, bài tìm hiểu kiến thức mới cũng rất coi trọng thực hành
-Bồi dưỡng năng lực phân tích, thẩm định các giá trị của ngôn ngữ văn chương, tích
hợp việc dạy và học ngôn ngữ với văn học
Trang 32-Tiếp tục thực hiện mục tiêu rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt, nâng cao ý thức
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
1.2.2 M ục tiêu của việc dạy phân môn ngữ pháp
Cũng như môn Tiếng Việt nói chung, phần ngữ pháp của môn học trước hết nhằm cung cấp các tri thức về cú pháp tiếng Việt Những tri thức này gồm các phương diện như: -Tri thức về hệ thống cú pháp tiếng Việt: cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành phần câu, các
kiểu câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp và theo mục đích nói, các phép liên kết câu trong văn bản Nghĩa mệnh đề của câu và cấu trúc nghĩa mệnh đề của câu…
-Tri thức về các quy tắc hoạt động của cú pháp tiếng Việt Đây là các quy tắc về hoạt động hành chức trong lĩnh vực cú pháp và liên quan mật thiết đến các hoàn cảnh giao tiếp nhất định Ở THPT, chương trình ngữ pháp chú ý đến các quy tắc sắp xếp trật tự câu, quy tắc liên
kết câu trong văn bản,
-Trên cơ sở các tri thức từ tiếng Việt và các bộ môn khác, trong đó có cả bộ môn ngoại ngữ,
việc dạy và học ngữ pháp bậc THPT còn góp phần cung cấp và nâng cao những tri thứ ngôn
ngữ học nói chung, với tư cách là một khoa học về ngôn ngữ HS nâng cao dần sự hiểu biết chung về ngôn ngữ, về chức năng, về cơ chế tổ chức và hoạt động của nó Những tri thức về
mô hình cấu tạo ngữ pháp của câu, về sự hiện thực hóa nó thành các phát ngôn trong hoạt động giao tiếp, về sự liên kết của câu trong văn bản, về các thành phần ngữ nghĩa của phát ngôn, về nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn…đều là các tri thức ngôn ngữ học chung cho
mọi ngôn ngữ Nắm được những tri thức này, HS có cơ sở khoa học để hiểu các vấn đề cú pháp của tiếng Việt và vận dụng nó vào hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt, đồng thời có cơ
Việc dạy và học ngữ pháp phải động thời nhằm vào cả hai mục tiêu và thực hiện tại hai mục tiêu đó trong mối quan hệ tương tác với nhau Cung cấp các tri thức về hệ thống cú pháp tiếng Việt và các tri thức về quy tắc hoạt động hành chức của nó không phải chỉ để
Trang 33nâng cao nhận thức mà còn là chuẩn bị cơ sở lý luận cho việc rèn luyện kỹ năng Ngược lại, rèn luyện các kỹ năng về câu và văn bản (tạo lập và lĩnh hội) vừa để nâng cao trình độ sử
dụng trong giao tiếp, vừa để củng cố, mở rộng, cụ thể hóa …những tri thức lý luận
Thật ra, những tri thức lý luận về cú pháp không phải chỉ giới hạn trong phân môn
ngữ pháp, mà có mối quan hệ hữu cơ với các tri thức và kỹ năng ở các phân môn khác như phong cách học, làm văn và cả từ ngữ nữa Hơn nữa, còn có quan hệ đến cả các tri thức và
kỹ năng ở các môn học khác như văn học, ngoại ngữ, Tất cả đều tác động qua lại và hình thành nên sản phẩm chung là trình độ văn hóa của người HS
Như vậy, qua khảo sát, người viết nhận thấy cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
v ận dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học là kiến thức nền tảng, là nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy để người viết tiếp thu, ghi nhận trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Trang 34CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ PHÁP THEO QUAN
ĐIỂM GIAO TIẾP 2.1 D ạy học theo quan điểm giao tiếp là gì?
“ Dạy học theo quan điểm giao tiếp thực chất là dạy học vì mục đích giao tiếp Dạy
về giao tiếp và dạy trong giao tiếp”(Phương pháp dạy học Tiếng Việt, trang 23) Muốn
vậy, GV phải dạy cho HS được học, được tập giao tiếp ở trong bài học, ở lớp để rồi biết cách điều chỉnh giao tiếp trong thực tế cuộc sống hàng ngày: biết sử dụng ngôn ngữ, biết nói năng đúng vai, đúng mục đích với người xung quanh; biết nêu nhận xét, đánh giá trước sự vật, sự việc…(không phải chỉ nhằm tới mục đích là biết LV như trước đây) Dạy học theo quan điểm giao tiếp cần ở GV một sự nỗ lực mới GV cần có sự đầu tư sâu để có một giáo
án “mở” Dạy học theo hướng giao tiếp, GV phải giúp HS được nói, được viết, được nêu nhận xét đánh giá; được tự nhận thấy cái đúng, cái sai trong cách nói, cách nhận xét, đánh giá của mình để khẳng định mình
Để đảm bảo quan điểm giao tiếp, ở nội dung luyện tập, GV cần thiết kế bài tập gắn liền với hoạt động giao tiếp của HS; cần đặt bài tập trong những hoạt động giao tiếp cụ thể
để quan sát, thể nghiệm; bài tập cần phải tạo được tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp
và định hướng giao tiếp Chẳng hạn bài tập tình huống giao tiếp liên quan tới những vấn đề mang tính thời sự của xã hội, của địa phương, liên quan đến lứa tuổi,… Trong hệ thống bài tập cần phải gợi hướng giao tiếp khi áp dụng các tri thức Tiếng Việt (TV) sẽ thực hành nhằm định hình trước cho các em tác dụng của việc thực hiện các bài tập TV trong hoạt động giao tiếp của bản thân Đồng thời GV cần chỉ ra những nhiệm vụ giao tiếp cụ thể để định hướng cho HS tạo lập những lời nói cụ thể bằng cách thức thiết kế bài tập sao cho bài tập gắn với các mối quan hệ xung quanh HS, giúp các em xác định được nhiệm vụ và cách giao tiếp với tưng đối tượng trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể
Dạy TV theo hướng giao tiếp tức là phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh Phương pháp giao tiếp coi trọng sự phát triển lời nói, còn những kiến thức lý thuyết thì được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các hiện tượng đưa ra trong bài Để thực hiện phương pháp giao tiếp, phải tạo ra cho học sinh nhu cầu giao tiếp, nội dung giao tiếp, môi trường giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ và các thao tác giao tiếp
Trang 352.2 S ự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học ngữ pháp
2.2.1 Khái quát n ội dung chương trình ngữ pháp bậc THPT
Nội dung các bài học ngữ pháp bậc THPT tập trung ở chương trình lớp 10, 11 Các bài được xây dựng đảm bảo nguyên tắc tích hợp: Dạy học TV thông qua các bài đọc văn, làm văn; đồng thời có kỹ năng sử dụng thành thạo tiếng Việt hỗ trợ cho đọc văn (tiếp nhận văn bản) và làm văn (tạo lập văn bản) nhằm một mục đích cuối cùng là rèn luyện năng lực ngôn ngữ và làm văn
Trong chương trình, số lượng các bài lý thuyết không nhiều, phần lớn là các bài rèn luyện kỹ năng thực hành:
- Về lý thuyết:
+ Bài “Ngữ cảnh” (1 tiết- SGK Ngữ văn 11 tập 1) Đây là bài mới được đưa vào chương
trình cải cách năm 2006, nội dung bài học hướng nhiều đến việc vận dụng tri thức ngữ pháp vào đời sống thường ngày, nhận thức được sự cần thiết trong việc nói và viết phù hợp với ngữ cảnh, giúp HS nâng cao năng lực nhận thức và lĩnh hội lời nói trong mối quan hệ với ngữ cảnh
+ Bài “Nghĩa của câu” (2 tiết- SGK Ngữ văn 11 tập 2) được trình bày ngắn gọn, chỉ giới
hạn xoay quanh vấn đề nghĩa sự việc và nghĩa tình thái; đặc biệt tập trung vào loại nghĩa thứ hai do nghĩa tình thái phức tạp hơn, việc phân tích sâu nghĩa tình thái có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích và tạo lập câu
+ Trong bài “Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt (2 tiết- SGK Ngữ văn 10 tập 2) có phần
yêu cầu về mặt ngữ pháp nhằm củng cố và nâng cao việc sử dụng đúng ngữ pháp trong viết câu, lập đoạn văn: cấu tạo câu theo đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt, diễn đạt đúng các quan hệ ý nghĩa và sử dụng dấu câu thích hợp; các câu trong đoạn văn và văn bản được liên kết chặt chẽ, tạo nên một văn bản mạch lạc, thống nhất
- Về thực hành:
Có hai bài chỉ thuần túy thực hành nhằm ôn luyện và nâng cao kiến thức, kỹ năng mà
HS đã được học ở trường THCS:
Trang 36+ Bài “Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu” (1 tiết- SGK Ngữ văn
11 tập 2)
+ Bài “Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản” (2 tiết - SGK Ngữ văn
11)
Cả hai bài đều hướng đến phạm vi kiến thức về câu trong văn bản, giúp HS có ý thức
về việc cấu tạo câu sao cho thể hiện được ý nghĩa của văn bản, tạo tính mạch lạc, logic cho văn bản
2.2.2 Quan điểm giao tiếp với nội dung dạy học ngữ pháp bậc THPT
Theo quan điểm giao tiếp, nội dung dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học ngữ pháp nói riêng ưu tiên những kiến thức phục vụ trực tiếp cho hoạt động rèn luyện kỹ năng
lời nói của HS Định hướng này thể hiện ở tất cả các bình diện của hệ thống ngôn ngữ: ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách học Trong giới hạn đề tài, người viết chỉ xét quan điểm giao tiếp với nội dung dạy học ngữ pháp bậc THPT
Dạy hoc theo quan điểm giao tiếp cần ở GV một sự nỗ lực mới GV cần có sự đầu tư sâu để có một giáo án “mở” Dạy học ngữ pháp theo hướng giao tiếp, GV phải giúp HS được nói, được viết, được nêu nhận xét, đánh giá của mình để khẳng định mình
Dễ thấy rằng, cách lựa chọn, sắp xếp và triển khai nội dung dạy học của bộ SGK hiện hành có ất nhiều ưu điểm , vì gắn với mục tiêu và chương trình môn học, vì vậy cũng có thể nói, học theo nội dung này, các kỹ năng lời nói của học sinh có thể hình thành và phát triển
Nội dung các tri thức lý thuyết nhìn chung đã thể hiện được sự tinh giản tối đa Những kiến
thức cơ bản về cấu trúc ngữ pháp đã được giới thiệu trong chương trình các lớp dưới nay không còn nhắc lại mà chủ yếu là được ôn tập lại thông qua các bài tập thực hành
Nội dung kiến thức đã hướng đến việc học tập ngữ pháp để sử dụng, tức là ngữ pháp được đặt trong mối quan hệ với hoạt động giao tiếp thường ngày Các kiến thức đó giúp HS
biết như thế nào là nói và viết câu đúng, thể hiện các ý mình muốn trình bày một cách mạch
lạc
Để chuẩn bị cho một tiết dạy học theo hướng giao tiếp, GV cần dày công hơn để hiểu đầy đủ, tỉ mỉ nội dung bài học Nếu như bài soạn trước đầy đơn thuần là soạn những nội dung cho tiết học thì nay bài soạn của GV là bài chuẩn bị cho nhiều tình huống giao tiếp
Trang 37khác nhau Chẳng hạn, với nội dung 3/Vai trò của ngữ cảnh trong bài “Ngữ cảnh”, thay vì
chỉ dạy lý thuyết (SGK không có ví dụ cho nội dung này), GV phải soạn ít nhất hai tình
huống : (1) Nghe được câu nói: “ Đem cá về kho” Em hiểu câu nói ấy như thế nào? ( GV
gọi vài HS phát biểu thì HS sẽ đưa ra vài cách hiểu khác nhau tùy vào từng ngữ cảnh, tùy vào lượng cá nhất định Nếu trong ngữ cảnh là tại một cơ sở hay một xưởng sản xuất cá thì câu nói trên được hiểu là người nói muốn đưa cá về bảo quản, lưu giữ trong kho Nếu trong
ngữ cảnh là hoạt động mua bán ở chợ thì câu nói trên được hiểu theo ý người mua cá muốn đem cá về chế biến thành món cá kho để ăn (lượng ít) Qua đó, GV nhấn mạnh với HS vai trò của ngữ cảnh đối với người nghe (người đọc) và quá trình lĩnh hội lời nói, câu văn (2)
GV cho cả lớp xem một hình ảnh và yêu cầu HS đặt câu phù hợp với ngữ cảnh đã cho Sau
đó, GV hỏi HS tại sao đặt câu này (câu HS vừa chọn) mà không đặt câu khác Qua đó, GV
nhấn mạnh với HS vai trò của ngữ cảnh đối với người nói (người viết) và quá trình sản sinh
lời nói, câu văn Có thể tạm coi đấy như là một kịch bản mà người thầy là người “đạo
diễn”, tổ chức, hướng dẫn cho các em thực hiện và cũng có khi cùng thực hiện với các em Như vậy, ngay từ khi chuẩn bị bài, người GV phải lường trước được các tình huống có thể
xảy ra và hướng giải quyết các tình huống đó
“Ng ữ cảnh” là bài học lý thuyết, sau khi học lý thuyết, HS cũng được luyện tập để
-Bài tập này rèn luyện cho HS kỹ năng phân tích văn bản dựa vào hoàn cảnh sáng tác Qua
đó, các em sẽ thấy được vai trò của ngữ cảnh đối với một văn bản văn học
Bài tập 2: Xác định hiện thực được nói đến trong hai câu thơ sau:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Trang 38-Bài t ập trên giúp HS xác định được một số nhân tố của ngữ cảnh, làm rõ được phần lý
thuyết đã được học Từ đó, HS thấy được vai trò của ngữ cảnh trong giao tiếp, rút ra bài học cho bản thân, làm sao để giao tiếp đạt hiệu quả tốt nhất
Bài “Th ực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu” là bài thực hành thuần
túy, song thông qua việc giải bài tập, HS sẽ được cung cấp những kiến thức về lý thuyết ngữ pháp, từ đó, các em sẽ có kỹ năng sắp xếp trật tự trong câu khi nói và viết Những bài tập này là các kiểu câu quen thuộc có tính tích hợp giữa kiến thức Văn và Tiếng Việt Khi thực hành, HS sẽ nhận ra trật tự sắp xếp các bộ phận trong câu đều nhằm mục đích : thể hiện ý nghĩa của câu, liên kết ý trong đoạn tức là đảm bảo mối quan hệ về ý giữa các từ và câu trong đoạn Bài học còn có tính kế thừa, đảm bảo tính liên tục về các kiến thức đã được học
ở khối lớp dưới như: trạng ngữ, câu đơn, câu ghép Bài này được xếp sau bài “Ngữ cảnh” là
hòan toàn hợp lý bởi muốn lựa chọn sắp xếp các bộ phận trong câu để đạt mục đích giao
tiếp phải dựa vào ngữ cảnh câu nói Bên cạnh đó, HS cần chú ý đến trường hợp cùng một câu, khi ở trạng thái biệt lập, tách khỏi văn bản thì có thể có nhiều khả năng sắp xếp trật tự Nhưng nằm trong văn bản, do mối liên kết và mạch lạc của văn bản chi phối, câu đó chỉ có
một trật tự sắp xếp tối ưu, phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ và mục đích giao tiếp của toàn văn
bản Muốn thấy rõ điều đó cần so sánh đối chiếu hai trạng thái: câu cô lập và câu trong văn
bản
Chẳng hạn như bài tập 1 trong phần “Trật tự câu đơn” yêu cầu: Đọc đoạn trích sau,
chú ý trật tự các bộ phận câu được in đậm và trả lời câu hỏi:
H ắn móc đủ mọi túi, đẻ tìm một cái gì, hắn giơ ra: đó là một con dao nhỏ, nhưng rất
s ắc Hắn nghiến răng nói tiếp:
- Vâng, bẩm cụ không được thì con phải đâm chết dăm ba thằng, rồi cụ bắt con giải huyện
a Có thể sắp xếp phần in đậm theo trật tự “rất sắc, nhưng nhỏ” mà câu vẫn phù hợp
với mạch ý trong đoạn văn được không?
b Việc sắp xếp theo trật tự “nhỏ, nhưng rất sắc” có tác dụng như thế nào đối với sự
thể hiện ý nghĩa của câu và sự liên kết ý trong đọan văn?
c So sánh với trật tự các từ ngữ đó trong trường hợp sau:
Trang 39“H ắn có một con dao rất sắc nhưng nhỏ Dao ấy thì làm sao chặt được cành cây to này?”
- Với dạng bài này, HS sẽ nhận ra nếu sắp xếp theo trật tự “Đó là một con dao rất sắc,
nhưng nhỏ” thì câu vẫn đảm bảo đúng về ngữ pháp, ngữ nghĩa, nhưng nằm trong văn
cảnh đoạn trích thì trật tự sắp xếp như vậy không phù hợp với mục đích hành động
của nhân vật: đe dọa, uy hiếp đối phương Lúc đó, đặc tính sắc của con dao cần được
nhấn mạnh, vì thế cần đặt nó ở vị trí cuối câu, vị trí của thông tin quan trọng nhất
- Trong ngữ cảnh c, người nói nhằm thực hiện chế nhạo, phủ định tác dụng của con
dao Lúc đó, cần đặt từ nhỏ ở vị trí cuối câu
Như vậy, trong mỗi tình huống giao tiếp, người nói thực hiện một mục đích, một hành động ngôn ngữ khác nhau Chính vì thế, cần xác định trọng tâm thông báo trong mỗi tình
huống, và điều đó quyết định trật tự sắp xếp các bộ phận trong câu
Ngoài việc rèn luyện kỹ năng sắp xếp trật tự các bộ phận trong câu phù hợp với mục đích giao tiếp, chương trình ngữ pháp bậc THPT còn mở rộng, nâng cao kiến thức đã được
học ở các lớp dưới thông qua bài “Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản”
Đây là bài thực hành thông qua hệ thống các bài tập, do đó, GV không truyền thụ đơn thuần
kiến thức lí thuyết mà cần gợi mở để HS nhớ lại kiến thức về cấu tạo ngữ pháp của ba kiểu câu: câu bị động, câu có khởi ngữ và câu có trạng ngữ chỉ tình huống, liên quan đến điều đó
là kiến thức về các thành phần khởi ngữ, trạng ngữ chỉ tình huống và chủ ngữ trong câu bị động
Tuy nhiên, mục đích của bài không phải chỉ là hiểu biết về cấu tạo của ba kiểu câu, mà quan trọng là sử dụng ba kiểu câu đó trong văn bản Ba kiểu câu đều có một điểm chung là: thành phần đầu câu (chủ ngữ ở câu bị động, khởi ngữ và trạng ngữ ở hai kiểu câu còn lại ) đều có tác dụng liên kết về ý, tạo mạch lạc cho văn bản hay đoạn văn khi chúng được sử
dụng trong đoạn văn hay văn bản
Bài thực hành còn giúp HS biết lựa chọn kiểu câu thích hợp khi nói và viết Chẳng hạn,
với bài tập 1 trong phần 2.Dùng kiểu câu có khởi ngữ ;
- Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
Trang 40Ph ải cho hắn ăn tí gì mới được Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành, ra được mồ hôi thì là
nh ẹ nhõm người ngay đó mà…Thế là, vừa sáng, thị đã chạy đi tìm gạo Hành thì nhà thị may l ại còn Thị nấu bỏ vào cái rổ, mang ra cho Chí Phèo
(Nam Cao, Chí Phèo)
a Xác định khởi ngữ và những câu có khởi ngữ
b So sánh tác dụng trong văn bản (về mặt liện kết ý, nhấn mạnh ý, đối lập ý…) cùng
kiểu câu có khởi ngữ với kiểu câu không có khởi ngữ
- Câu có khởi ngữ “Hành thì nhà thị may lại còn” Khởi ngữ là từ hành (đứng đầu
câu, tách khỏi phần đi sau bằng từ thì, thể hiện đề tài của câu) So sánh với câu: “Nhà
th ị may lại còn hành” thì thấy rằng, hai câu thể hiện cùng một sự việc, nhưng câu sau
không có khởi ngữ, nên không thích hợp để tạo sự liên kết trong đoạn văn
Về bố cục của bài, SGK cũng đã trình bày cá bài tập theo từng kiểu câu riêng biệt và
mục đích giúp HS có sự so sánh, nhận diện, thấy được tác dụng liên kết câu, từ đó, HS sẽ hình thành ý thức nói và viết đúng ý nghĩa, đạt hiệu quả trong giao tiếp
Trong chương trình ngữ pháp lớp 11, ngoài những bài thuần túy thực hành, còn có bài
“Nghĩa của câu” cung cấp các kiến thức lý thuyết trọng tâm về hai thành phần nghĩa của
câu HS khi học xong lý thuyết sẽ bắt tay vào thực hành, kiến thức thực hành trong bài được
vận dụng ngay cho nên mang tính ứng dụng cao Vì vậy, kiến thức về lý thuyết được củng
cố, khắc sâu
Nghĩa của câu là vấn đề ít được đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy
tiếng Việt, nhưng lại không thể thiếu đối với mỗi câu Khi nói và viết một câu, bao giờ người ta cũng có ý muốn biểu hiện được những nghĩa nào đó Nghĩa của câu được mọi người thường xuyên cảm nhận khi giao tiếp, theo thói quen, theo kinh nghiệm, nhưng cần được hiểu trên cơ sở lý luận khoa học Bài này có mục đích giúp HS nhận thức một cách có
ý thức, có cơ sở khoa học về vấn đề quen thuộc đó
Trọng tâm bài học này gồm thành phần nghĩa thứ nhất là nghĩa sự việc (còn gọi là nghĩa
miêu tả , nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề) Đó là nghĩa ứng với việc phản ánh sự việc (hay còn gọi là sự kiện, sự tình, sự thể) trong hiện thực Sự việc xảy ra trong hiện thực, được con người nhận thức và biểu hiện trong câu, trở thành nghĩa sự việc của câu Mỗi câu thường
biểu hiện một sự việc, nhưng cũng có thể biểu hiện một số sự việc