1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ

96 926 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Tác giả Bùi Thị Thuý, Lưu Quang Trung
Người hướng dẫn Thầy Trần Quang Phú, Thầy Nguyễn Văn Thắng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Chuyên ngành Kỹ thuật Điện
Thể loại Đề tài tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 7,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐHSP KỸ THUẬT HƯNG YÊN

Khoa Điện - Điện Tử -*** -

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -*** -

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP Sinh viên thực hiện: 1 Bùi Thị Thuý

2 Lưu Quang Trung

Nghành đào tạo : Kỹ thuật Điện

Tên đề tài: Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ

3 pha.

* Số liệu cho trước:

- Các tài liệu, giáo trình chuyên môn

- Trang thiết bị, máy móc tại xưởng thực tập

* Nội dung cần hoàn thành:

1 Giới thiệu chung về công tác sửa chữa máy điện

2 Phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn stato động cơ không đồng

bộ 3

pha thông dụng

3 Lập quy trình sửa chữa bộ dây quấn stato động cơ không đồng bộ

4 Thiết kế, chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ 3 pha, bộ dây quấn kiểu xếp kép

5 Sản phẩm của đề tài đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật, có thể sử dụng làm phương tiện dạy học và tài liệu nhiên cứu cho sinh viên chuyên nghành

Trang 2

1 Trần Quang Phú Ngày hoàn thành:…………

2 Nguyễn Văn Thắng Ngày tháng

năm 2006 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 1 ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

………

Hưng Yên, ngày… tháng… năm 2006 Giáo viên hướng dẫn 1 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 2 ………

………

………

………

………

………

Trang 4

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Hưng Yên, ngày… tháng… năm 2006

Giáo viên hướng dẫn 2

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Qua một quá trình thực hiện đến nay đề tài: “Thiết kế, chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ 3 pha” đã được hoàn thành.Trong thời gian hoàn thành đề tài, chúng em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu của cá nhân và tập thể trong và ngoài trường

Với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của các thầy cô khoa Điện- Điện Tử

đã tạo điều kiện cho chúng em sử dụng các thiết bị thực tập trong xưởng, đến nay

đề tài đã hoàn thành đúng thời hạn

Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Quang Phú và thầy Nguyễn Văn Thắng là giáo viên khoa Điện - Điện Tử đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình dạy bảo chúng em trong quá trình thực hiện đề tài

Chúng em xin chân thành cảm ơn gia đình và toàn thể bạn bè đã động viên, góp ý và giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài một cách tốt đẹp

Trang 6

Lưu Quang Trung

Lời nói đầu

Trong những năm gần đây, công tác sửa chữa máy điện ở nước ta đang ngày càng được chú trọng và đầu tư phát triển Sự phát triển đó được đánh dấu bằng việc cho ra đời hàng loạt thiết bị phục vụ cho việc sửa chữa máy điện, không ngoài mục đích đáp ứng nhu cầu phục hồi khả năng làm việc như ban đầu của máy điện

Để làm được điều đó, người thợ cần phải hoàn thiện tất cả các khâu trong việc sửa chữa Một trong những khâu có ý nghĩa rất quan trọng đó là quấn mới (hay quấn lại) các bối dây, trong đó việc san lô dây là một khâu đã làm tốn rất nhiều thời gian của người thợ Chính vì vậy việc có một máy quấn dây sử dụng trong sửa chữa máy điện vừa an toàn vừa dễ sử dụng là điều rất cần thiết cho công tác sửa chữa máy điện

Nắm bắt được nhu cầu cấp thiết đó, chúng em đã tiến hành nghiên cứu

và thiết kế một sa bàn thực tập, với mong muốn góp phần làm giảm thời gian cũng như công sức của con người khi tham gia sửa chữa máy điện

Với lòng say mê tìm hiểu và ham học hỏi chúng em đã cố gắng tận dụng tất cả những kiến thức đã học được từ thầy cô, bạn bè trong những năm tháng học tập vừa qua, mong hoàn thành tốt đề tài này Những sản phẩm, những

Trang 7

kết quả đạt được ngày hôm nay chưa phải lớn lao nhưng lại có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chúng em Bởi nó đánh dấu thành quả trong suốt một thời gian dài học tập và nhiên cứu của chúng em.

Cuối cùng sau hai tháng miệt mài cố gắng, chúng em đã thiết kế, chế tạo được một máy quấn dây đáp ứng được yêu cầu của đề tài như sau:

• San được dây với khối lượng tối đa là 5kG

• Tự động ngắt khi có hiện tượng ngắn mạch huặc quá tải

• Thuận tiện trong sử dụng và bảo quản sửa chữa

• Sản phẩm đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật và mỹ thuật

Cùng với sản phẩm chúng em đã hoàn thành quển thuyết minh với hy vọng có thể trở thành tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên nghành kỹ thuật điện

MỤC LỤC

Lời nói đầu

Phần dẫn nhập

1- Lý do chọn đề tài

2- Mục đích

3.- Đối tượng và phạm vi nhiên cứu

Chương I: Giới thiệu chung về công tác sửa chữa máy điện.

1.1- Mục đích, ý nghĩa, đặc điểm của công tác sửa chữa máy điện

1.2- Hiện trạng ngành công nghiệp sửa chữa máy điện ở Việt Nam

1.3- Quy trình công nghệ sửa chữa máy điện

1.3.1- Khái quát về quy trình

1.3.2- Quy trình tháo lắp động cơ điện

1.3.3- Một số dạng sai hỏng về điện và cách khắc phục

1.3.3.1- Động cơ điện không khởi động được khi không tải

1.3.3.2- Động cơ quay khi không tải, nhưng khi có tải thì dừng lại

1.3.3.3- Động cơ quay được nhưng tốc độ bị giảm không đạt trị số định mức

1.3.3.4- Động cơ không có đà để đưa tốc độ đến định mức và kêu vang

1.3.3.5- Động cơ ruột quấn quay khi rôto hở mạch

1.3.3.6- Động cơ bị quá nóng không cho phép

1.3.3.7- Động cơ có tiếng kêu không bình thường

1.3.3.8- Động cơ bị hư hỏng cách điện

Trang 8

Chương II: Tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn stato động cơ không đồng bộ ba pha.

2.1- Các yêu cầu cơ bản đối với cuộn dây ba pha

2.2- Các thông số cơ bản để thành lập sơ đồ dây quấn

2.3- Các khái niệm dây quấn cơ bản của máy điện xoay chiều

2.4- Đặc điểm và cách vẽ bộ dây quấn Stato động cơ điện xoay chiều ba pha kiểu đồng tâm xếp đơn.

2.4.1- Đặc điểm bộ dây quấn STATO động cơ điện xoay chiều ba pha kiểu đồng tâm xếp đơn 2.4.2- Phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn STATO động cơ điện xoay chiều ba pha kiểu đồng tâm xếp đơn.

2.5- Đặc điểm và cách vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn Stato động cơ điện ba pha kiểu đồng khuôn xếp đơn.

2.5.1- Đặc điểm bộ dây quấn STATO động cơ điện không đồng bộ 3 pha kiểu đồng khuôn xếp đơn 2.5.2- Phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn STATO kiểu đồng khuôn đơn

2.6- Đặc điểm và cách vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn Stato động cơ điện ba pha kiểy đồng khuôn xếp kép.

2.6.1- Đặc điểm bộ dây quấn động cơ điện không đồng bộ 3 pha kiểu đồng khuôn xếp kép

2.6.2- Phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn STATO động cơ không đồng bộ ba pha kiểu đồng khuôn xếp kép.

Chương III: Quy trình sửa chữa bộ dây quấn stato động cơ không đồng bộ

ba pha thông dụng

3.1- Đặc điểm chung của cuộn dây ba pha

3.2- Quy trình sửa chữa bộ dây quấn

3.2.1- Khảo sát ống dây

3.2.2- Tháo gỡ ống dây và lấy số liệu

3.2.3- Làm khuôn quấn dây

3.2.4- Quấn bối dây

3.2.5- Làm giấy lót

3.2.6- Lồng đấu dây

3.2.7- Cột bó vận hành chạy thử

3.2.8- Tẩm, sấy ống dây

Chương IV: Thiết kế, chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng

bộ ba pha, bộ dây quấn kiểu xếp kép

Trang 9

PHẦN DẪN NHẬP

1- Lý do chọn đề tài.

Trong quá trình học phần thực tập sửa chữa máy điện việc hướng dẫn của giáo viện về đấu dây động cơ gặp rất nhiều khó khăn Do thời gian có hạn nên không thể đấu nối động cơ một cách trực tiếp mà chỉ hướng dẫn bằng lý thuyết,

do vậy việc quan sát và thực tập của sinh viên cũng gặp rất nhiều khó khăn

Từ thực tế đó, nhóm đồ án chúng em đã chọn đề tài: “Thiết kế, chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ ba pha bộ dây quấn kiểu xếp kép’’ với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào công việc dạy và học chung ở khoa

2- Mục đích.

Chúng em thiết kế, chế tạo ra sa bàn quấn dây với mong muốn:

- Làm phương tiện dạy học cho giáo viên dạy bộ môn máy điện

- Giúp học sinh có thể quan sát trực tiếp khi thầy làm mẫu, và có thể thực hành đấu nối trực tiếp trên sa bàn để động cơ hoạt động

3- Phạm vi nhiên cứu.

Các tài liệu, giáo trình viết về máy điện rất phong phú và đa dạng nhưng do thời gian có hạn nên chúng em chỉ mới nhiên cứu ở trong phạm vi hẹp chủ yếu về:

- Một số phương pháp tính toán vẽ sơ đồ trải bộ dây quấn stato của một số động cơ không đồng bộ ba pha thông dụng

- Quy trình căn bản để sửa chữa bộ dây quấn stato động cơ không đồng bộ

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1.1 Cách tìm chỗ đứt mạch phía lưới (1.1a) và phía cuộn dây pha (1.1b) của cuộn dây

stato bằng vôn kế

1.2 Cách tìm chỗ đứt phía lưới (1.2a) và trong cuộn dây pha stato (1.2b) bằng mêgôm kế

1.3 Cách tìm tổ bối dây đứt bằng vôn kế

1.4 Cách đấu đúng và không đúng cuộn dây stato ba pha hình sao

1.5 Cách đấu đúng và không đúng cuộn dây stato ba pha hình tam giác

1.6 Phương pháp xác định các đầu đầu, đầu cuối của từng pha dùng nguồn điện một

chiều hoặc dùng nguồn xoay chiều

1.7 Dùng nguồn xoay chiều để xác đínhơ đồ đấu dây

1.8 Cách xác định chạm chập vòng dây trong một pha

1.9 Tổ bối dây trong bốn tổ bối dây nối tiếp của một pha

1.10 Cách tìm chỗ chạm pha với vỏ

1.11 Cách tìm bối dây chạm mát

1.12 Dùng rônha để kiểm tra chạm chập vòng dây

2.1 Các đoạn thẳng mô tả rãnh của lõi thép

2.2 Mô tả các bước thực hiện từ bước 1 đến bước 4

2.3 Sơ đồ dây quấn đồng tâm một lớp động cơ điện 3 pha kiểu đồng tâm phân tán (một

2.6 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng tâm xếp đơn của động cơ điện 3 pha với Z = 24, 2P = 4

2.7 Trình tự thực hiện từ bước 1 đến bước 4 của động cơ điện 3 pha

2.8 Sơ đồ trải động cơ không đồng bộ 3 pha kiểu dây quấn đồng khuôn một lớp (kiểu

hoa sen) có Z = 24, 2P = 4

2.9 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn mắt xích với Z = 24, 2P = 4

2.10 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn phân tán đơn giản với Z = 24, 2P = 4

2.11 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn xếp kép (bước đủ) với Z = 24, 2P = 4

2.12 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn xếp kép (bước ngắn) với Z = 24, 2P = 4

3.1 Phương pháp xác định kích thước cho chu vi khuôn quấn dây

3.2 Giấy cách điện lót rãnh stato

3.3 Dùng tre để đẩy giấy cách điện vào sát vách rãnh

3.4 Stato đã lót hoàn chỉnh giấy cách điện rãnh

3.5 Nắn lại bối dây bị phình

3.6 Sử dụng que tre để lùa dây

3.7 Dùng giấy cách điện lót cạnh dây chờ, chưa lồng vào rãnh

3.8 Quay bối dây 180 0 để chuẩn bị lồng dâyvào rãnh stato

3.9 Căng cạnh tác dụng để giữ song song các vòng dây khi lồng dây

3.10 Thao tác lồng dây vào rãnh

Trang 11

3.11 Thao tác xếp song song các cạnh dây trong rãnh dùng dao tre

3.12 Thao tác kéo thẳng dao tre để xếp dây song song

3.13 Đưa giấy nêm miệng rãnh từ một phía vào rãnh

3.14 Đẩy từ từ giấy nêm vào rãnh

3.15 Chuẩn bị đưa bối dây kế tiếp vào rãnh stato

3.16 Quay 180 0 đưa bối dây vào lòng trong stato

3.17 Cách điện giữa các nhóm bối dây và dây đai đầu nối

3.18 Dây quấn stato sau khi lồng đấu hoàn chỉnh

CHƯƠNG IGIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TÁC SỬA CHỮA MÁY ĐIỆN

Trang 12

1.1- Mục đích, ý nghĩa, đặc điểm của công tác sửa chữa máy điện.

Mục đích của công tác sửa chữa thiết bị điện nói chung là phục hồi khả năng làm việc của nó với đầy đủ các đặc tính mong muốn và đảm bảo thời gian phục vụ như hoặc gần như sản phẩm mới chế tạo

Nếu đạt được mục đích trên, có nghĩa là một sản phẩm sau được sửa chữa cần có các tính năng, chất lượng cũng như hình thức hoàn toàn giống như một sản phẩm chế tạo mới Các tính năng ở đây được hiểu là các thông số kỹ thuật

đã được ghi trong lý lịch hoặc nhãn máy (thí dụ: một động cơ điện sau khi được sửa chữa phải đảm bảo không làm thay đổi hiệu suất, hệ số công suất Cosϕ

, độ tăng nhiệt, bội số mở máy, mômen cực đại, hệ số trượt định mức, cấp cách điện, cấp bảo vệ và cuối cùng là không được thiếu bất kỳ một chi tiết nào dù nhỏ Nếu trước khi sửa chữa thiết bị đã thiếu một số chi tiết nhỏ nhất như hộp đầu dây, gioăng đệm, cánh quạt gió thì ta phải khắc phục bằng cách thay mới hoặc chế tạo

Tất cả các chi tiết tuy không hỏng nhưng cần được kiểm tra và hiệu chỉnh Các chi tiết đã gần như đến lúc phải thay thế như ổ bi, bạc cầc được thay thế luôn khi sửa chữa để đảm bảo tính đồng bộ trong hoạt động, không để tình trạng

sự hoạt động kém của một số chi tiết dẫn đến làm hư hỏng các chi tiết khác

Sau khi sửa chữa xong thiết bị phải được sơn lại, đầu trục các máy điện quay cần phải được bọc mới bảo quản trong giấy nến hoặc ống nhựa Máy điện sau khi sửa chữa cần được bổ xung hoặc làm lại lý lịch máy (hồ sơ kỹ thuật) để tiện cho việc vận hành và sửa chữa lần sau Nếu đạt được các yêu cầu trên thì việc sửa chữa có ý nghĩa rất lớn, vì trong máy điện có một số chi tiết hầu như không bao giờ hư hỏng, chẳng hạn như trục, thân máy, lõi thép Nếu trong quá trình vận chuyển, tháo lắp không để dơ hoặc làm sai quy trình quy phạm thì

Trang 13

không bao giờ hư hỏng Trong khi đó ta cũng biết rằng giá thành của các chi tiết

đó chiếm tới 65% đến 70% tổng giá thành của máy Nói chung đối với tất cả các quốc gia con số thống kê cho thấy trung bình cứ sau 8 năm số máy điện quay cần được sủa chữa bằng tổng sản lượng chế tạo của ngành chế tạo máy điện trong 1 năm, đấy là chưa kể con số máy điện nhập khẩu theo con đường nhập thiết bị toàn bộ nếu chúng ta tổ chức tốt việc sửa chữa có thể làm lợi cho đất nước một khoản tiền rất lớn

Đối với những cơ sở sản xuất có vốn đầu tư không lớn thì việc sửa chữa máy điện với chất lượng cao càng có ý nghĩa vì giảm được đầu tư vào thiết bị, tăng vốn lưu động cho sản xuất

Tất nhiên cũng cần phải nhắc lại sửa chữa chỉ đạt hiệu quả cao về kinh tế khi chất lượng sửa chữa đạt được các yêu cầu trên và giá thành sửa chữa phải được hạ xuống một cách hợp lý

Công nghiệp sửa chữa thường có những đặc điểm sau:

- Thiết bị dụng cụ và máy công nghệ phải có tính vạn năng cao, có thể sử dụng để sửa chữa các máy có công suất, kích thước nằm trong phạm vi rộng rãi

- Thiết bị dụng cụ và máy công nghệ có tính chuyên dùng đặc biệt chỉ sử dụng riêng cho bộ máy nào đó, chẳng hạn vam móc ngoài, tủ sấy chân không, khuân tạc hình bối dây phân tử cứng

Việc bổ xung các chi tiết nhỏ như hộp cực, nắp gió, vít nâng gặp nhiều khó khăn vì phải sản xuất đơn chiếc trong điều kiện không có khuôn mẫu làm cho giá thành sửa chữa tăng vì vậy mà ít người chấp nhận

Trình độ sử dụng và vốn đầu tư của người sử dụng thấp nên việc sửa chữa

bị mang tính chất của nền sản xuất nhỏ, thủ công và không thể sản xuất hàng lọat hoặc chuyên môn hoá, chất lượng sản phẩm phụ thuộc nhiếu vào trình độ, ý thức của người thợ

Trang 14

Sửa chữa mang tính thời vụ, phần lớn các đơn đặt hàng sửa chữa rơi vào mùa nóng, mùa mưa hoặc cuối năm Thời gian sửa chữa thường yêu cầu gấp để phục vụ sản xuất liên tục.

Những đặc điểm của công tác sửa chữa nêu trên thể hiện rõ trên sản phẩm chiếu đồng bộ, hình thức xấu, tính năng và các đặc tính kỹ thuật không đảm bảo, thời gian phục vụ sau sửa chữa ngắn việc sửa chữa mang nặng tính khắc phục, tạm bợ Chính vì thế nhiều cơ sở sản xuất không đặt vấn đề sửa chữa mà mua mới thay thế, gây tốn kém không cần thiết

1.2- Hiện trạng ngành công nghiệp sửa chữa máy điện ở Việt Nam.

Hiện nay ở các nước cũng như Việt Nam 90% các máy điện bị sự cố đều được sửa chữa tại chỗ do phân xưởng cơ điện của xí nghiệp hoặc nhà máy đảm nhiệm một số lượng không nhỏ các thiết bị được sửa chữa tại các cơ sở sửa chữa dịch vụ tư nhân Khoảng 10% số máy điện hỏng được sửa chữa tại các nhà máy chế tạo máy điện hoặc các trung tâm sửa chữa máy điện lớn

ở nước ta hiện không có nhà máy chuyên sửa chữa thiết bị điện Tất cả các máy điện hỏng hóc được sửa chữa tại chỗ hoặc các cơ sở dịch vụ Việc sửa chữa

ở đây như đã nói mang nặng tính chất khắc phục tạm thời, hỏng đâu chữa đấy không đồng bộ, thiết bị sau khi sửa chữa có tuổi thọ rất thấp gây lãng phí lớn Tất

cả các cơ sở sửa chữa hầu như không có thiết bị tẩm ngâm, cấp cách điện thường

bị hạ 1 đến 2 cấp, nhiều trường hợp bị giảm công suất, thay đổi thông số kỹ thuật (nóng hơn, khó khởi động hơn, kêu hơn, đánh lửa nhiều hơn, quay chậm hơn ) Các nhà máy chế tạo thường dành 1 phân xưởng để sửa chữa, bảo hành hoặc sửa chữa dịch vụ, tuy vậy cũng không đảm bảo chất lượng thiết bị sau sửa chữa tương đương với sản phẩm mới

Trang 15

Đối với máy biến áp điện lực, hiện nay chủ yếu được sửa chữa tại các xưổng điện lực của các tỉnh, nói chung sản phẩm sửa chữa đều bị giảm chất lượng nhiều, các tiêu chuẩn như: P0 , I0, Pn, Un thường không đạt.

1.3- Quy trình công nghệ sửa chữa máy điện

1.3.1- Khái quát về quy trình.

Sửa chữa máy điện là công việc phục hồi khả năng làm việc của nó với đầy

đủ các tính năng mong muốn, đảm bảo thời gian quy định, đáp ứng yêu cầu của khách hàng

Công tác sửa chữa máy điện được tiến hành theo một quy trình nhất định song phải tuỳ theo quy hoạch sửa chữa lớn hay nhỏ mà lập thành tổ, phân xưởng hay một nhà máy chuyên môn sửa chữa máy điện Từ đó đi đến bố trí lực lượng sửa chữa nhiều hay ít và cần trang bị những dụng cụ, thiết bị chuyên dùng cho việc sửa chữa quy mô lớn hay bé

Tuỳ theo khối lượng sửa chữa và mức độ hư hỏng của máy điện nà tổ chức dây truyền công nghệ sửa chữa cho hợp lí, nhằm rút ngắn thời gian chờ đợi không cần thiết

1.3.2- Quy trình tháo lắp động cơ điện.

Máy điện hỏng cần sửa chữa phải được tháo ra khỏi nguồn điện, tháo đầu dây tiếp đất, tháo rời khỏi bộ máy đưa về nơi sửa chữa

Tháo puli ở bộ phận dây truyền lực ra khỏi trục động cơ bằng vam Không được dùng búa để tống puli ra

Tháo bộ phận che cánh quạt và cánh quạt

Tháo nắp che ổ bi ngoài( với loại vòng bi cầu), rồi vặn lỏng các bu lông bắt nắp ra, đánh dấu ở hai chỗ kề và đối nhau trên nắp và thân (dùng đục sắc hoặc con dấu thép đóng các dấu ở nắp trước và nắp sau để khỏi nhầm lẫn) Dùng búa

và đục mỏng đục vào khe hở giữa nắp và thân để tháo nắp ra, loại lớn thì phải

Trang 16

dùng cần cẩu đỡ ra Chú ý khi đục để cậy nắp ra phải đục nhẹ tay, từ từ và cậy dần ở bốn góc đối xứng nhau gần tay bắt bulông.

Khi tháo máy điện có chổi than thì trước tiên phải nhấc chổi than ra khỏi hộp chổi than, với máy điện một chiều thì phải đánh dấu đường trung tính của chổi than trên vành đỡ giá chổi than và nắp cố định giá chổi than để khi lắp khỏi nhầm

Rút ruột cùng nắp trước ra khỏi vỏ Trước khi rút phải lót một miếng bìa nhẵn vào khe hở giữa ruột và stato ở phía dưới Sau đó rút ruột ra từ từ và lấy tay đỡtheo để tránh sây sát cuộn dây, rôto loại nhỏ có thể dùng tay nhấc ra khỏi stato, loại lớn thì phải dùng palăng hoặc cần cẩu đưa ra

Rút ruột ra phải kê trên giá gỗ, không để ruột và trục động cơ trực tiếp xuống đất hoặc mặt bàn

Khi lắp các bộ phận của động cơ thì theo trình tự ngược lại

- Đứt một trong ba dây dẫn hoặc trong các khí cụ điện khởi động đấu trên đường dây cung cấp điện vào động cơ

Trang 17

- Đứt một trong ba cuộn dây pha stato của động cơ khi dấu sao hoặc hai pha khi đấu tam giác.

- Đứt hai hoặc cả ba pha cuộn dây rôto ruột quấn

c- Cách kiểm tra phát hiện:

Khi không có dụng cụ đo, có thể kiểm tra phát hiện bằng cách xem xét các đầu nối tiếp xúc, các cầu chì, cầu dao, khởi động từ, các tiếp điểm, đầu cốt v.v… xem có chỗ nào bị nới lỏng, không tiếp xúc, đứt mạch

Khi đóng mạch điện thấy có tiếng kêu điện từ mhưng động cơ không chạy Lấy tay quay nhẹ rôto theo chiều thuận động cơ tiếp tục chạy lờ đờ Khi tác động cho rôto quay theo chiều ngược thì động cơ quay chậm theo chiều ngược Như vậy, rõ ràng động cơ đứt một pha khi đấu sao (Υ), hai pha còn lại chỉ có từ trường đập mạnh nên quay theo chiều lực tác động ban đầu

Khi có dụng cụ đo như ampe cặp, vôn kế, ampe kế v.v… thì càng dễ dàng kiểm tra phát hiện Khi đóng điện mà động cơ không quay có thể phát hiện được nguyên nhân hư hỏng nhanh chóng nhất bằng ampe cặp phía stato hoặc phía rôto ruột quấn, pha nào không có dòng điện là pha đó bị đứt mạch trên đường dây dẫn hoặc trong cuộn dây, sau đó tiếp tục phát hiện bằng mắt thường hoặc dụng cụ khác

Cách kiểm tra phát hiện hư hỏng bằng vôn kế chậm hơn nhưng kỹ hơn, vì

có đo biết được pha đứt và đứt bên ngoầihy bên trong cuộn dây pha Khi kiểm tra bằng vôn kế, ta phải đóng điện vào động để đo điện áp Ví dụ: Một động cơ điện đứt mạch stato một pha phía ngoài (hai pha hình 1.1a) Điện áp đo được giữa các cực 2- 0 sẽ bằng không Khi đứt mạch trong cuộn dây pha stato, ví dụ pha 2 (hình 1.1b) điện áp đo được giữa các cực 1- 0 và 3- 0 sẽ bằng nhau và bằng nửa điện áp dây, còn điện áp giữa cực 2- 0 có giá trị sẽ khác với nửa điện áp dây

Trang 18

Hình 1.1 Cách tìm chỗ đứt mạch pha lưới (1.1a) và phía cuộn dây pha (2.1b) của

cuộn dây stato bằng vônkế.

Trường hợp cuộn dây stato đấu sao không có điểm trung tính đưa ra bản cực, ta có thể xác định được hư hỏng trong trường hợp đứt mạch lưới (như hình 1.1a) Lúc này điện áp giữa các cực ở bản đầu cốt động cơ sẽ không đối xứng: giữa các cực 1-3 có điện áp bằng điện áp dây giữa 1-2 và 2-3 có điện áp bằng nửa điện áp dây

Khi đứt mạch bên trong cuộn dây pha stato (hình 1.1b), điện áp giữa các cực 1-2, 1-3 và 2-3 sẽ như nhau và bằng điện áp dây của lưới điện Vì vây, trường hợp này không thể xác định được chỗ hư hỏng bằng vôn kế

Cách kiểm tra phát hiện hư hỏng bằng mêgôm – kế được tiến hành sau khi

đã ngắt động cơ điện khỏi lưới điện Trường hợp đứt mạch một pha ở phía lưới (ví dụ pha 2 hình 1.2a) đo sau cầu dao giữa hai cực 1-3, nếu chỉ số không nghĩa

là liền mạch không đứt

Trang 19

Hình 1.2 Cách tìm chỗ đứt phía lưới (hình 1.2a) và trong cuộn dây pha stato

Sau khi tìm được pha đứt mạch, ta cần xác định cụ thể thêm là tổ bối dây nào trong số các tổ bối dây đấu nối tiếp trong một pha đứt mạch Có thể dùng vôn kế để xác định như hình vẽ 1.3

Trang 20

Hình 1.3 Cách tìm tổ bối dây đứt bằng vôn kế.

Điện áp đặt vào phải nhỏ hơn điện áp định mức (điện áp pha) Trên hai cực của tổ bối dây đứt, điện áp đo được bằng cả điện áp đặt vào Còn trên các cực của các tổ bối dây khác, vôn kế chỉ số không

d- Cách sửa chữa:

Tuỳ theo vị trí hư hỏng tìm được mà ta có cách sửa chữa như thay dây chảy cầu chì, thay tiếp điểm công tắc tơ hoặc khởi động từ, đánh sạch và bắt chặt đầu tiếp xúc v.v… khi hư hỏng phía lưới điện vào Khi đứt bối dây của một pha trong cuộn stato, cần rõ công nghệ lồng đấu, tẩm sấy cuộn dây để biết rõ cách tháo gỡ đúng pha hỏng, nối hàn lại chỗ đứt và khôi phục lại động cơ

1.3.3.2- Động cơ quay khi không tải, nhưng khi có tải thì dừng lại.

a- Hiện tượng

Đóng điện vào động cơ, động cơ không khởi động được khi có tải Hoặc do động cơ chạy không tải thì được, nhưng khi có tải thì tốc độ quay bị giảm rõ rệt hoặc dừng hẳn

b- Nguyên nhân có thể:

 Đa số các trường hợp hư hỏng này là do nguyên nhân cơ khí cụ thể là:

Bị chẹt hãm ở bộ phận truyền động cơ khí

Trang 21

Phụ tải của động cơ lớn quá mứcChèn cánh gió làm chẹt phần quay với phần tĩnh Động cơ bị sát cốt (rôto bị sát vào stato) do hỏng vòng bi, cong trục v.v…

 Nguyên nhân về điện có thể là:

Điện áp lưới cung cấp bị hạ thấp

Đấu nhầm các pha của lcuộn dây stato từ tam giác (∆) sang sao (Υ)

Đứt một trong ba pha của cuộn dây stato khi đấu tam giác

Chập mạch một số vòng dây trong một bối dây pha stato

c- Cách kiểm tra phát hiện:

- Khi kiểm tra bằng ampe kế hay ampe cặp, dòng điện trong cả ba pha là như nhau, mà động cơ không khởi động được hoặc rôto quay khó khăn thì thường là do nguyên nhân cơ khí Sau đó, phải kiểm tra phía phụ tải bên ngoài như dây curoa có căng quá không, bộ phận bánh răng hộp số có bị chin kẹt không, cánh gió động cơ có bị gãy chèn chặt không; khi không thấy hư hỏng ở bên ngoài mới tháo động cơ để kiểm tra bên trong như kiểm tra vòng bi, kiểm tra khe hở giữa stato và rôto …

- Kiểm tra phát hiện nguyên nhân về điện dễ dàng hơn, thường dùng bằng vôn- kế, ampe- kế hoặc ampe cặp, ôm – kế hoặc mêgôm- kế:ss

Bằng vôn-kế ta có thể xác định được điện áp lưới vào có đúng và đủ không.Bằng ampe- kế hoặc ampe cặp, có thể xác định được phụ tải từng pha của động cơ điện và từ đó phát hiện có đứt pha hay có chập vòng dâyhay không

Trang 22

Bằng ôm-kế, ta có thể kiểm tra đứt mạch trong từng bối dây pha hoặc chạm chập vòng dây trong bối dây hay không (từ kết quả đọc trị số điện trở do từng pha có cân bằng hay không mà ta biết được).

d- Cách sửa chữa:

- Sửa chữa các hư hỏnghoặc sai sót về cơ khí thường kết hợp kinh nghiệm lắp ráp sửa chữa với các chỉ tiêu kỹ thuật cho phép được quy định trong công nghệ chế tạo sửa chữa máy điện

Ví dụ: độ đồng tâm giữa trục động cơ và trục truyền động cơ khí cho phép sai lệch trong giới hạn:

Đối với khớp cứng 0,03 ÷ 0,04m m

Đối với khớp mềm 0,08 ÷ 0,12m m

Quá giới hạn đó phải hiệu chỉnh, căn lại chân máy

- Sửa chữa các hư hỏng về điện thường nhanh chóng hơn như đấu

nhầm tam giác (∆) ra sao (Υ) thì đấu lại, điện áp thấp thì tăng cường điện áp lên đúng định mức

Riêng trường hợp chạm chập vòng dây sửa chữa có phức tạp hơn, do vì sơn tẩm cách điện làm thành bối dây cứng Tuy nhiên vẫn tháo gỡ được và có thể khôi phục bằng cách lồng luồn thay bối hỏng cách điện Trường hợp đứt một pha cuộn dây stato thì cách sửa chữa tương tự như mục 1.3.2.1 ở trên

1.3.3.3- Động cơ quay được nhưng tốc độ bị giảm không đạt trị số định mức.

a- Hiện tượng:

Động cơ khởi động được khi không tải và tốc độ quay đạt đến trị số định mức,

Trang 23

nhưng khi có tải, tốc độ quay giảm rõ rệt Đối với động cơ lồng sóc (ngắn mạch) thường tốc độ chỉ còn đạt khoảng 1/7 trị số tốc độ quay định mức Với động cơ rôto dây quấn, thường tốc độ chỉ còn khoảng 1/2 trị số định mức.

b- Nguyên nhân có thể:

- Điện áp lưới bị hạ thấp

- Điện mạch một vài thanh dẫn hoặc phía vòng chập mạch của rôto lồng sóc hoặc đứt mạch trong rôto ruột quấn

- Tăng cao trị số điện trở của cuộn dây rôto do:

Nhả mối hàn, đúc xấu, có vết nứt trong các thanh dẫn và vòng chập mạch của rôto lồng sóc

Hư hỏng ở vành trượt, chổi than, trong biến trở v.v… của cuộn dây rôto ruột quấn

- Tính toán khi sửa chữa lại động cơ không đúng, đôi khi còn do lựa chọn bước ngắn sai trong khi sửa chữa

c- Cách kiểm tra phát hiện:

Kiểm tra điện áp lưới cung cấp

Kiểm tra dòng điện ngắn mạch đối với động cơ lồng sóc xem trị số có đạt tới mức quy định không Nếu thấp hơn là có đứt mạch rôto và kiểm tra từng rãnh nhôm ằng phương pháp rô-nha xem xét vành trượt, chổi than, cơ cấu chập mạch

cơ khí, biến trở mở máy v.v…

Đo các trị số điện trở của cuộn dây pha của rôto ruột quấn xem có cân bằng

và đúng trị số không

Xem lại bước lồng và quan hệ số lượng rãnh của stato và rôto khi quấn lại cuộn dây có thích ứng không

d- Cách sửa chữa

Trang 24

Tuỳ vị trí hư hỏng cụ thể mà có cách khôi phục Chẳng hạn, chỉ vì tiếp xúc xấu ở mạch rôto ruột quấn thì ta đánh lại chỗ tiếp xúc, xiết chặt v.v… ở vành trượt, chổi than, biến trở mở máy v.v… Trường hợp đứt mạch trong rôto lồng sóc thì tốt nhất ta phải thay rôto khác Khi không có rôto mới thay thế ta có thể làm chảy nhôm (rôto nhôm đúc) và thay bằng lồng sóc đồng (tán đồng).

1.3.3.4- Động cơ không có đà để đưa tốc độ đến định mức và kêu vang.

Trang 25

Hình 1.4 Cách đấu đúng và không đúng cuộn dây stato ba pha hình sao (Υ).

a Đấu đúng b Đấu sai

Trang 26

Hình 1.4b vẽ cách đấu cuộn dây ba pha hình sao, nhưng có một pha

C2 – C5 đấu ngược, lúc đó chiếu trục từ trườngcác pha không đối xứng và có dạng đồ thị vectơ vẽ bên cạnh

Đấu hình tam giác đúng, tức là đầu cuối của pha này phải đấu với đầu đầu của pha khác, ví dụ: đầu cuối của pha thứ nhất C4 đấu với đầu đầu của pha thứ hai C2, đầu cuối của pha thứ hai C5 đấu với đầu đầu của pha thứ ba C3 và đầu cuối của pha thứ ba C6 đấu với đầu đầu của pha thứ nhất C1 (hình 1.5a) Chiều của trục từ trường các pha sẽ đối xứngnhư hình sao (vectơ vẽ bên cạnh) Lưới điện đấu vào ba điểm chung

Hình 1.5b vẽ cách đấu cuộn dây ba pha hình tam giác, nhưng có một pha đấu nhầm là C1 – C4

c- Cách kiểm tra và sửa chữa:

Trước hết, nếu sáu dầu dây ra của động cơ có đánh dấu đầu đầu và đầu cuối của từng pha thì ta chỉ việc kiểm tra và đấu cho đúng như hình 1.4a khi đấu sao,

và giống hình 1.5a khi đấu tam giác

Trường hợp mất dấu, đầu tiên ta phải xác định các đầu dây của từng pha riêng lẻ bằng mêgôm- kế, ôm - kế hoặc bằng bang đèn Sau đó, mới xác định đầu đầu và đầu cuối của từng pha bằng phương pháp cảm ứng điện từ (ình 1.6) Đấu một pha vào một nguồn điện một chiều (khoảng 2 ÷4 V) qua mọt cầu dao Trong thời gian đóng hoặc ngắt cầu dao, ở các cuộn dây hai pha khác sẽ cảm ứng sức điện động, có chiều tuỳ thuộc cực tính của pha đấu vào nguồn điện một chiều Nếu ta qui ước đầu đấu vào cực dương của một nguồn là đầu đầu, đấu với cực

âm là đầu cuối, thì khi ngắt cầu dao, ở hai pha kia sẽ có đầu đầu ở cực dương, đầu cuối ở cực âm của mili-vôn-kế một chiều, xác định bởi độ dịch chuyển kim đồng hồ đó

Trang 27

Hoặc cũng có thể dùng nguồn điện xoay chiều (AC) để xác định đầu đầu và đầu cuối của từng pha Khi đó, ta nối mạch như hình 1.6b: đưa nguồn xoay chiều điện áp thấp (khoảng 20% Uđm của động cơ) vào hai đầu dây ra 1- 4, ta quan sát kim vôn- kế: nếu kim không lên hoặc kim chỉ nhích rakhỏi vị trí 0 một ít, thì hai đầu dây ra 2 và 3 sẽ cùng cực tính, tức là cùng là đầu hoặc cùng là cuối, còn nếu kim vôn- kế chỉ một số nào đó thì hai đầu ra 2 và 3 sẽ khác cực tính, tức là một đầu ra là đầu đầu còn đầu kia là đầu cuối Trường hợp này ta cần lưu ý: Khi đặt điện áp vào các dây quấn phải tiến hành nhanh chóng chỉ đủ thời gian để quan sát kim vôn- kế mà thôi, nếu để lâu sẽ ảnh hưởng đến dây quấn động cơ.

Hình 1.6 a Phương pháp xác địnhcác đầu đầu, đầu

cuối của từngpha, dùng điện một chiều.

Hình 1.6b Phương pháp xác định các đầu đầu và đầu cuối của từng pha, dùng nguồn xoay chiều.

Nếu không có vôn- kế có thể dùng bang đèn tròn điện áp thấp (khoảng 12 V) để thay thế; nếu đèn sáng: tương ứng với kim vôn- kế lên và ngược lại

Nếu trường hợp động cơ đã nối sẵn tam giác (∆) hay hình sao (Υ) chỉ có ba đầu dây ra: khi đó, ta đấu hai đầu dây bất kỳ với nguồn xoay chiều có điện áp thấp (từ 15% đến 20% Uđm của động cơ) và dùng vôn- kế đo điện áp lần lượt ở từng cặp đầu dây ra (hình 1.7)

Trang 28

Nếu giá trị cho ta thấy: điện áp nguồn xoay chiều lớn gấp đôi hai điện áp còn lại (ví dụ ở hình 1.7 thì 1.2 được nối với nguồn, và hai điện áp còn lại U13 và

Hình 1.7 Dùng nguồn xoay chiều để xác định sơ đồ đấu dây.

Tóm lại, khi đã xác định được đầu đầu, đầu cuối từng pha, ta sẽ sửa chữa được hiện tượng sai hỏng này bằng cách đấu theo các sơ đồ tương ứng ở trên

1.3.3.5- Động cơ ruột quấn quay khi rôto hở mạch.

a- Hiện tượng:

Đóng điện lưới vào động cơ ruột quấn khi mạch ngoài của rôto còn hở mạch động cơ đã quay ngay

b- Nguyên nhân có thể:

Ngắn mạch giữa các vòng dây của cuộn dây rôto quấn dây

Xuất hiện các dòng điện xoáy đáng kể và hiện tượng từ trễ trong lõi thép rôto

c- Cách kiểm tra phát hiện:

Khi khởi động động cơ có tải, rôto để hở mạch mà động cơ vẫn quay chậm được và cuộn dây rôto phát nóng rõ rệt thì có thể do có ngắn mạch trong cuộn

Trang 29

dây rôto, chạm chập có thể ở chỗ phần đầu bối dây, giữa các vòng dây riêng lẻ hoặc giữa các pha khi cách điện bị chọc thủng, hoặc cuộn dây rôto bị chạm ra khỏi lõi thép ở hai chỗ.

Để phát hiện chỗ chạm chập, cần xem kỹ rôto, kiểm tra kỹ các mối hàn Kiểm tra chập chạm của cuộn dây với lõi thép bằng mêgôm- kế

Nếu xem xét bên ngoài và đo lường trị số điện trở cách điện của cuộn dây

mà không thể phát hiện được chỗ chạm chập, thì phải kiểm tra độ phát nóng của cuộn dây bằng cách hãm rôto khi đóng điện vào động cơ Ở chỗ có ngắn mạch sẽ phát nóng rất mạnh so với các bộ phận còn lại, kiểm tra cụ thể sau khi đã ngắt điện vào động cơ để tránh nguy hiểm cho người

Sự xuất hiện mômen quay bởi dòng điện xoáy thường rất bé, chỉ đủ để quay rôto khi không tải

d- Cách sửa chữa:

Khi có chạm chập vòng dây này thường phải tháo gỡ, đại tu lại cuộn dây rôto Rất ít khi khôi phục được bằng cách lót cách điện chỗ chạm chập hoặc lồng luồnthay bối dây bị hỏng Đó là vì thường cuộn dây rôto được tẩm sấy thành kết cấu cứng, khó tháo dỡ và đánh đai rất chắc

1.3.3.6- Động cơ bị quá nóng không cho phép.

A- Quá nóng cuộn dây và lõi thép stato.

Trang 30

+ Đứt một pha bên trong cuộn dây stato.

+ Điện áp lưới cao quá định mức

+ Điện áp lưới thấp dưới định mức khi động cơ đang làm đầy tải

+ Điện áp lưới cung cấp không đối xứng

+ Quá tải

+ Chập mạch vòng dây trong cuộn dây pha stato

+ Đấu ngược đầu một tổ bối dây trong số các tổ bối dây đấu nối tiếp của một pha cuộn stato

+ Tăng khe hở không khí giữa rôto và stato quá trị số quy định của nhà chế tạo

+ Hư hỏng cách điện các lá tôn của lõi thép stato

- Hệ thống thông gió làm mát xấu: cửa gió bị bịt kín, lắp ngược quạt gió, gẫy cánh gió, nhầm chiều thổi gió, tắc đường thông gió, không đủ tốc độ quay cánh gió (thiếu sót khi sửa đổi tốc độ quay động cơ)

c- Cách kiểm tra và sửa chữa:

- Bằng vôn kế, ampe kế, ampe cặp kiểm tra xác định được cường độ dòng điện trong các pha, điện áp cung cấp vào động cơ v.v… Từ đó kiểm tra cầu chì, cầu dao, công-tắc-tơ, khởi động từ v.v… để tìm và sửa chữa pha đứt Trường hợp điện áp lưới cao hoặc thấp quá định mức đều phải đặt lại đúng điện áp

Trường hợp đấu sai hoặc chạm chập vòng dây, ta cần phải nắm chắc công nghệ sửa chữa cuộn dây xoay chiều để biết cách sửa chữa đúng đắn Tuy nhiên, ở đây sơ bộ có thể xác định được chạm chập vòng dây hay dấu sai bằng ampe kế theo sơ đồ hình 1.8 và hình 1.9

Trang 31

a) b)

Hình 1.8 Cách xác định chạm chập vòng dây trong một pha

a) Khi đấu sao (Υ) b) Khi đấu tam giác ()

Hình 1.9 Tổ bối trong bốn tổ bối đấu nối tiếp của một pha.

Ví dụ có ngắn mạch vòng dây trong pha B (hình 1.8a) khi đấu sao (Υ), thì dòng điện trong pha B (tức là A2) sẽ lớn hơn dòng điện trong hai pha kia Khi

đấu tam giác (∆) hình 1.8b, trong hai pha nối với cuộn dây pha có chạm chập C3

– C6 sẽ có dòng điện A1 và A3 lớn hơn dòng điện ở dây còn lại (A2) Trường hợp đấu sai (đấu ngược) tổ bối dây trong một pha (hình 1.9), thì trị số cường độ dòng điện cũng sẽ chenh lệch giữa các pha như chạm chập ở hình 1.8

- Kiểm tra hệ thống làm mát động cơ bằng kinh nghiệm, kết hợp hiểu rõ cấu tạo và hoạt động của quạt gió làm mát động cơ (quạt ly tâm, quạt hướng trục, quạt gió trong, quạt gió ngoài, lỗ thông gió hướng trục, rãnh thông gió hướng kính, cánh tản nhiệt v.v…)

Trang 32

- Giảm tải cơ nếu quá tải: tăng cường bôi trơn truyền động bánh răng, hiệu chỉnh curoa, giảm lực kéo hoặc mômen quay của máy sản xuất.

B- Quá nóng rôto dây quấn.

a- Hiện tượng:

Quá nóng đồng đều cả cuộn dây rôto, động cơ bị giảm tốc độ quay; khi khởi động có tải, động cơ không có đà tốc độ và không đạt được tốc độ quay định mức, rôto nóng nhanh

c- Cách kiểm tra và sửa chữa:

- Giảm tải cơ

- Kiểm tra chạm chập trong cuộn dây rôto

- Kiểm tra sửa chữa các mối hàn, vành trượt, giá chổi than, điện trở mở máy…

Tóm lại, nguyên nhân cơ bản làm cuộn dây stato và rôto quá nóng tới nhiệt độ không cho phép thường là do:

- Quá tải

- Điện áp cung cấp sai lệch khỏi trị số định mức

- Điều kiện làm mát xấu

Trang 33

Động cơ bị quá nóng gây tác hại chủ yếu đến vật liệu cách điện, làm giảm tuổi thọ làm việc của động cơ Do vậy, để đảm bảo độ bền nhiệt của vật liệu cách điện trong quá trình phát nóng của động cơ, người ta quy định độ tăng nhiệt giới hạn của các bộ phận trong động cơ điện không đồng bộ theo cấp vật liậu cách điện sử dụng trong động cơ như ở bảng 1.1.

trở

Đo nhiệt kế

Đo điện trở

Đo nhiệt kế Cuộn dây điện xoay chiều của

động cơ có công suất bé hơn

5000 KVA hoặc chiều dài lõi

ngắn hơn 1m Cuộn dây rôto,

lõi thép và các phần tiếp xúc

với cuộn dây.

60 65 _

50 65 60

75 80 _

65 80 70

80 90 _

70 90 80

1.3.3.7 Động cơ có tiếng kêu không bình thường

Động cơ điện cũng như một thiết bị điện tử khác, khi làm việc với dòng điện xoay chiều bao giờ cũng có tiếng kêu “Từ” âm thấp Đó là do trong quá trình từ hoá bằng điện xoay chiều, lõi thép stato và Rôto ghép bằng các lá thép kĩ thuật điện (Tôn silic) bị ép chặt và nới lỏng một cách chưa kĩ, gây chấn động lõi thép, đặc biệt là ở phần răng

a- Hiện tượng:

-Động cơ điện làm việc có tiếng kêu khác thường như tiếng rú, tiếng huýt

gió, tiếng cọ sát cơ khí, tiếng ghìm âm, tiếng trầm to v.v…

b- Nguyên nhân:

- Nguyên nhân về phần điện từ:

+ Lõi thép ép lỏng quá hoặc các lá tôn miệng răng bị toè đầu

Trang 34

+ Khe hở giữa rôto và stato không đồng đều khi các cuộn dây pha stato có mạch nhánh song song.

- Nguyên nhân về cơ thường do:

+ Động cơ bị chấn động quá

+ Hỏng ở các ổ đĩa

+ Ghép không chặt các lá tôn thành lõi Stato và Rôto (trường hợp động cơ

có rãnh gió hướng kính)

+ Nêm rãnh bị hỏng, cách điện nhô lên khổi miệng rãnh

c Cách kiểm tra phát hiện và sửa chữa

*Tiếng kêu âm trầm to quá mức:

Kiểm tra gu- gông, đai ốc, đinh tán, thép gông, mối hàn xem các lõi tôn có được ép chặt không Kiểm tra cách điện, nêm rãnh, bối dây xem có hiện tượng lỏng không, kiểm tra xem động cơ có bị chấn động quá mức không, xiết chặt các

bu lông chân đế động cơ, các mối lắp ghép

*Tiếng kêu cao:

Kiểm tra cường độ dòng điện ba pha thấy cân bằng và không quá trị số định mức, động cơ vẫn làm việc bình thường Như vậy, có thể xác định được là

do dung động phần răng của lõi tôn Stato và Rôto dưới ảnh hưởng của từ trường sóng hài bậc cao Kiểm tra ép chặt phần răng các lá thép tạo thành lõi tôn Stato

và rôto, đồng thời kiểm tra xem quan hệ giữa số rãnh stato có phù hợp không? Đôi khi tiếng kêu âm cao còn kèm theo cả chấn động động cơ thường là do hư hỏng ổ lăn hoặc ổ lăn khô mỡ

Kiểm tra ổ lăn và thay thế ổ mới sẽ khử được hiện tượng này Hiện tượng này thường làm quá nóng cục bộ

Ngoài ra, tiếng kêu âm cao dạng hút gió có thể là do đường thông gió thay đổi đột ngột ở động cơ có tốc độ cao và có quạt gió ngoài

Trang 35

*Tiếng kêu âm lượng quá lớn.

Thường là do có chạm chập vòng dây trong cuộn dây stato hoặc đấu ngược một tổ bối dây trong cuộn dây stato hoặc đấu ngược một tổ bối dây trong một pha, hư hỏng ổ trượt hoặc ổ lăn kiểm tra ba pha xem cường độ dòng điện

có bị mất cân bằng không Nếu có mất cân bằng, ta tiếp tục xác định như ở mục trên

Ngoài ra còn do có va chạm cơ khí giữa bộ phận quay và bộ phận tĩnh Có thể bằng giác quan theo kinh nghiệm có khi phải tháo cả rôto

Trường hợp có tiếng kêu do ma sát chổi than trên vành trượt ở động cơ dây quấn, ta cần kiểm tra bề mặt tiếp xúc của chổi than và vành trượt xem có tiếp xúc tốt không? Vật liệu chổi than chọn có đúng không, áp suất tỳ chổi than có lớn quá không, vành trượt có bị mòn quá và bị ô van không?

Đối với động cơ không đồng bộ rôto dây quấn, người ta thường dùng chổi than đồng mà hiệu MTC liên xô đối với tốc độ dài ở vành trượt đến 18m/sec, ta dùng chổi than điện mà hiệu do Liên Xô

1.3.3.8 Động cơ bị hư hỏng cách điện.

Hơn 75% sự cố trong động cơ điện xảy ra là hư hỏng cách điện của cuộn dây Stato và rô to dây quấn

a- Hiện tượng:

Động cơ điện đang làm việc có mùi khét, có khi bốc khói và làm theo động

cơ bốc khói và làm cho động cơ nóng dữ dội Đó là cách điện cuộn dây bị hư hỏng gây nên chập mạch bởi dây với vỏ, hoặc với các dây pha với nhau hoặc chạm chập vòng dây trong một bối dây

b- Nguyên nhân làm hư hỏng cách địên có thể là:

- Cách điện ẩm ướt

- Cuộn dây bị bụi bẩn, dầu mỡ hoặc bụi kim loại

Trang 36

- Va chạm cơ học làm xước hỏng bối dây

- Môi trường có khí hóa chất ăn mòn cách điện (axit , kiềm)

- Động cơ quá tải lớn lâu dài làm cách điện bị dòn và bị hút nước

- Già hoá cách điện

c- Kiểm tra phát hiện và sửa chữa:

- Trường hợp cách điện cuộn dây bị ẩm ướt: kiểm tra bằng Megôm kế quay tay, khi dùng mêgôm kế cần căn cứ vào điện áp định mức của động cơ

- Động cơ điện tới 500V dùng mêgôm kế 500V

- Động cơ điện áp cao (tới 6000V) dùng mêgôm kế 1000÷2500V

- Nếu kết quả đo điện trở cách điện giữa pha với vỏ và pha với pha thấp dưới 0.4MΩ đối với cuộn dây stato và thấp dưới 0,5MΩ đối với cuộn dây rô to của động cơ dây quấn thì có thể kết luận là cách điện động cơ bị ẩm và cần sấy lại cuộn dây

- Trường hợp động cơ bị bụi bẩn: Có thể kiểm tra bằng giác quan, và có thể dùng khí (áp suất không quá 4 kg/cm2) để thổi bụi làm sạch Khi cần thiết có thể tháo rời rô to ra khỏi stato để làm sạch động cơ lúc này cũng dễ dàng phát hiện các vết xước hỏng cách điện do va chạm cơ học Tuỳ mức độ hư hỏng có thể quét sơn cách điện hoặc tẩm điện cuộn dây

Xác định chạm chập vỏ pha, pha- pha: Có thể kiểm tra nhanh chóng bằng mêgôm kế hoặc bằng bóng đèn báo Kim mêgôm kế sẽ chỉ về không (liền mạch hoặc đèn báo sáng chạm mạch) Tất nhiên khi đó ta phải tháo rời các cuộn dây pha ra(6 đầu dây)

Trường hợp muốn xác định chỗ chạm ra vỏ để sửa chữa tiết kiệm nhất, ta có thể dùng phương pháp dòng điện có một chiều và đo bằng milivôn kế như sau:

Trang 37

Sau khi xác định được pha chạm vỏ bằng mêgôm kế, ta đấu hai đầu của pha đó vào nguồn điện một chiều, đầu kia của nguồn điện đấu ra vỏ (như hình 1.10).

Ở đây ví dụ một pha có 4 tổ bối dây đấu nối tiếp Khi đóng cầu dao (dòng điện có thể lên đến 30÷40a) dòng điện sẽ đi 2 qua đầu dây pha về hai phần để đến chỗ chạm vỏ C và về đầu âm của nguồn điện Để điều chỉnh và hạn chế dòng điện, người ta mắc thêm một biến trở R Nếu ta lần lượt đo sụt áp ở 2 đầu từ tổ bối, ta sẽ thấy một bên (gồm 2 tổ bối dây) kim của đồng hồ milivôn kế chỉ một chiều, một bên (gồm một tổ bối dây) kim của milivôn kế chỉ theo chièu ngược lại

Hình 1.10 Cách tìm chỗ chạm pha với vỏ Hình 1.11 Cách tìm bối dây chạm mát

Tổ bối dây bị hư hỏng cách điện dẫn đến chạm chập vỏ là tổ bối dây nằm giữa 2 bên có kim đồng hồ chỉ 2 chiều ngược nhau (dù một đầu đồng hồ cắm ra

vỏ, một đầu cắm lần lượt cắm vào từng đầu của bối dây này)

Để tiếp tục tìm ra bối nào trong tổ bối bị chạm vỏ, ta cần tháo rời từng bối

và tiến hành đo sụt áp từng bối dây theo cách tương tự như trên Hình 1.11 trình bày một tổ bối có 4 bối dây (còn gọi là bin dây) có một bối hay bin bị chạm vỏ Cuối cùng, ta sẽ xác định được bối dây nào bị chạm mát Biết được bối dây bị

Trang 38

chạm Ta xác định được rãnh chạm mát và có thể dùng phương pháp lồng luồn

để khôi phục động cơ một cách tiết kiệm nhất

Xác định chạm chập vòng dây

Sau khi đã xác định được không có chạm chập pha - vỏ, pha- pha mà động

cơ vẫn có hiện tượng kêu và quá nóng cục bộ Ta đo cường độ dòng điện 3 pha thấy mất cân bằng ngay cả khi không có tải và khi đo điện trở một chiều từng pha thấy chênh lệch ta có thể xác định sơ bộ là có chạm chập vòng dây

Sau đó tháo rút rô to và tiến hành kiểm tra chạm chập bằng“rô-nha”như hình 1.12

Trước khi kiểm tra cần tháo rời các mạch đấu song song trong từng pha và cần tháo cầu đấu sao hoặc tam giác ở bản cực động cơ

Rô- nha làm việc theo nguyên lý cảm ứng điện từ Khi có chạm chập vòng dây, một thanh thép lá đặt giữa “rô-nha” và các miệng rãnh stato khi chạm chập vòng dây, dưới tác dụng của từ trường biến thiên của “rô-nha” khép qua lõi thép stato, trong các vòng dây ngắn mạch sẽ xuất hiện dòng điện cảm ứng

Dòng điện này chạy trong dây dẫn trong rãnh lại sinh ra từ trường xoay chiều móc vòng qua phần răng và khép mạch qua lá thép thử Kết quả là thép thử

bị hút chặt xuống rãnh (giữa2 răng) khi đó ta biết có chạm chập vòng dây ở rãnh đó

Cách sấy và tẩm cuộn dây máy điện:

Trang 39

Kỹ thuật sấy và tẩm cuộn dây động cơ điện có rất nhiều kiểu từ đơn giản như sấy bằng đèn điện, bằng khí nóng tẩm sơn bằng cách dội, quét Đến hiện đại như: Tẩm sấy trong lò tẩm sấy chân không, có áp lực tẩm Tuy nhiên, trong sửa chữa người ta thường dùng cách đơn giản nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sấy như sấy bằng dòng điện trực tiếp chạy trong

cuộn dây động cơ, sấy bằng dòng cảm ứng

Trong mỗi tổ bối dây luôn có từng tổ bối dây đối diện nhau qua tâm Điều

đó tất yếu dẫn đến việc có từng cặp cực cũng đối diện nhau và do đó lực từ kéo rôto đều về mọi phía Nếu một phía nào đó mà rô to quá gần với stato thì rô to bị kéo mạnh hơn về phía đó làm cho động cơ quay không thể êm tuyệt đối được lúc này nếu ổ bạc hoặc ổ bi mà bi mòn thì rô to sẽ bị dao động theo chiều ngang gây

ra tiếng gõ giữa trục với ổ hoặc tiếng va chạm giữa rô to và stato gọi là hiện tượng sát cốt

Trang 40

Ổ bạc hoặc ổ bi có thể mòn đều có thể bị ô van nếu động cơ được nối với tải

bằng băng đai hoặc xích Thông thường, người ta chế tạo động cơ có trục cứng hơn bạc để cho trục không bị mài mòn nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp,

do chế độ bảo dưỡng không hợp lý, trục vẫn bị mòn ở chỗ tiếp xúc với ổ bạc Trong trường hợp này, hậu quả cũng tương tự như hiện tượng bạc bị mòn

Khi ổ bạc, ổ bi hay trục bị mòn nhẹ hoặc gặp trường hợp động cơ có khe hở lớn thì biểu hiện ra bên ngoài chỉ có tiếng gõ to kèm theo hiện tượng rung lắc nhẹ rất dễ phán đoán nhưng khi độ mòn tăng lên thì hiện % máy thì quay bình thường nhưng sau khoảng thời gian ngắn thì tiếng gõ to dần, vận tốc giảm kèm theo hiện tượng rung lắc và nóng bầu Nếu muốn khe hở giữa rô to và stato còn nằm trong giới hạn cho phép hay không, phải dùng căn lá để thử Hãy dùng các căn lá có chiêù dày từ 0,1mm ÷ 1mm, luồn dọc theo khe hở điểm đối diện qua trục động cơ

Phải chọn các điểm mà ở phần không có sơn cách điện hoặc bụi bẩn bám vào không để lọt căn lá vào khe miệng rãnh Đến lá căn nào mà khe hở vừa khít với chiều dày lá căn thì đọc trị số khe hở ở vị trí đó theo chiều dày lá căn (số ghi trên từng lá căn ) Nếu thấy trị số đo ở vị trí đã chọn sai lệch nhau không quá 20% thì có nghĩa là độ lệch đó nằm trong giớ hạn cho phép Quay rô to sang vị trí khác nhau mà vẫn thu được kết quả tương tự thì có thể khẳng định là trục, bạc hoặc ổ bi chưa cần phải sửa chữa Nếu kết quả đo sai, lệch quá 20% thì phải tháo rời rô to ra để xem xét từng chi tiết

Kiểm tra trục và bạc thì phải dùng ampe và thước cặp, còn kiểm tra vòng bi thì phải dùng lá căn hoặc lắc bằng tay

Trong trường hợp này, hỏng ổ bi là đơn giản nhất, chỉ cần chọn vòng bi cùng loại thay vào là xong còn nếu hỏng ổ bạc hoặc mòn trục thì khá phiền phức

Ngày đăng: 23/04/2013, 15:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Tên hình Trang - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
nh Tên hình Trang (Trang 10)
Hình 1.1. Cách tìm chỗ đứt mạch pha lưới (1.1a) và phía cuộn dây pha (2.1b) của  cuộn dây stato bằng vônkế. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 1.1. Cách tìm chỗ đứt mạch pha lưới (1.1a) và phía cuộn dây pha (2.1b) của cuộn dây stato bằng vônkế (Trang 18)
Hình 1.2. Cách tìm chỗ đứt phía lưới (hình 1.2a) và trong cuộn dây pha stato  (hình 1.2b) bằng mêgôm kế. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 1.2. Cách tìm chỗ đứt phía lưới (hình 1.2a) và trong cuộn dây pha stato (hình 1.2b) bằng mêgôm kế (Trang 19)
Hình 1.3. Cách tìm tổ bối dây đứt bằng vôn kế. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 1.3. Cách tìm tổ bối dây đứt bằng vôn kế (Trang 20)
Hình 1.4. Cách đấu đúng và không đúng cuộn dây stato ba pha hình sao ( Υ ). - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 1.4. Cách đấu đúng và không đúng cuộn dây stato ba pha hình sao ( Υ ) (Trang 25)
Hình 1.7. Dùng nguồn xoay chiều để xác định sơ đồ đấu dây. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 1.7. Dùng nguồn xoay chiều để xác định sơ đồ đấu dây (Trang 28)
Hình 1.8. Cách xác định chạm chập vòng dây trong một pha a) Khi đấu sao ( Υ ) - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 1.8. Cách xác định chạm chập vòng dây trong một pha a) Khi đấu sao ( Υ ) (Trang 31)
Hình 1.10. Cách tìm chỗ chạm pha với vỏ. Hình 1.11. Cách tìm bối dây chạm mát - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 1.10. Cách tìm chỗ chạm pha với vỏ. Hình 1.11. Cách tìm bối dây chạm mát (Trang 37)
Hình 2.6- Sơ đồ quấn dây kiểu đồng tâm xếp đơn của động cơ điện ba pha có  z=24, 2p=4. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 2.6 Sơ đồ quấn dây kiểu đồng tâm xếp đơn của động cơ điện ba pha có z=24, 2p=4 (Trang 57)
Hình 2.10- Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn phân tán đơn giản Với z=24, 2p=4. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 2.10 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn phân tán đơn giản Với z=24, 2p=4 (Trang 64)
Hình 2.11- Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn xếp képvới z=24, 2p=4(bước đủ) - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 2.11 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn xếp képvới z=24, 2p=4(bước đủ) (Trang 71)
Hình 2.12- Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn xếp képvới z=24, 2p=4(bước ngắn) - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 2.12 Sơ đồ dây quấn kiểu đồng khuôn xếp képvới z=24, 2p=4(bước ngắn) (Trang 74)
Hình 3.1. Phương pháp định kích thước cho chu vi khuôn quấn dây. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 3.1. Phương pháp định kích thước cho chu vi khuôn quấn dây (Trang 79)
Hình 3.2. Giấy cách điện lót rãnh stato. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 3.2. Giấy cách điện lót rãnh stato (Trang 81)
Hình 3.3. Dùng tre để đẩy giấy cách điện vào sát vách rãnh. - Thiết kế chế tạo sa bàn thực tập đấu dây động cơ không đồng bộ
Hình 3.3. Dùng tre để đẩy giấy cách điện vào sát vách rãnh (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w