Đề tài:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam những tháng đầu tiên sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) được đánh giá là tiếp tục phát triển tốt Tốc độ tăng trưởng GDP quý I/2007đạt 7,7%, là mức cao nhất kể từ năm 2001 đến nay, và dự báo tăng trưởng cả năm 2007
sẽ vượt mức kế hoạch 8,5% Việc Việt Nam gia nhập WTO đã có những tác động đầutiên đến một số lĩnh vực của nền kinh tế, nhất là xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) Riêng việc nghiên cứu tình hình xuất khẩu của những tháng đầu năm 2007cũng có thể hé mở một số dấu hiệu cho thấy tác động của việc thực hiện những cam kếtgia nhập WTO Tuy những tác động này chưa thực sự rõ rệt nhưng cũng tiềm ẩn cho thấymột số xu hướng mới rất đáng quan tâm Một loạt vấn đề cần được đặt ra để tìm nhữngcâu trả lời thoả đáng nhất Chẳng hạn như, làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh củahàng hoá Việt Nam ở chính thị trường trong nước và bảo vệ sản xuất trong nước trongđiều kiện hàng rào thuế quan đã, đang và sẽ còn tiếp tục được cắt giảm? Làm thế nào đểđẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa đề bù đắp vào khoản thị trường trong nước bị buộc phảinhường chỗ cho hàng xuất khẩu? Làm thế nào để giảm nhập khẩu để từng bước giảmnhập siêu và tiến tới xuất siêu vào cuối thập kỷ này như chiến lược xuất nhập khẩu đã đềra? Để có câu trả lời thoả đáng nhất, điều mà chúng ta cần làm trước hết là tìm hiểunhững vấn đề về xuất khẩu của Việt Nam
Trang 2Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
1.1 KIM NGẠCH XUẤT - NHẬP KHẨU:
Tình hình xuất - nhập khẩu của Việt Nam
từ năm 2000 đến 8 tháng đầu năm 2007
Nếu như trong năm 2006 cả nước xuất khẩu 39,6 tỷ USD (trị giá tại cảng đi), nhập khẩu 44,4 tỷ USD (trị giá tại cảng đến), cán cân thương mại tuy nghiêng về nhập khẩu, ta nhập siêu 4,8 tỷ USD thì chỉ trong 7 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt trên 27 tỷ USD trong khi nhập khẩu lên tới con số 32,2 tỷ USD tăng trên 30% so với cùng kỳ năm 2006 bằng 72,5% so với năm 2006 và mức siêu nhập đã đạt đến con số 5 tỷ USD
Tính chung 8 tháng đầu năm, cả nước nhập siêu 6,4 tỷ USD hàng hóa Theo dự báo của Bộ Công thương, con số siêu nhập đến cuối năm 2007 có thể lên đến trên 8 tỷ USD
Về cơ cấu nhập khẩu năm 2006 khoảng 70% là hàng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất để tái xuất khẩu và sản xuất trong nước, bao gồm các mặt hàng: gỗ nguyên liệu, bột giấy, đồng nguyên liệu, bông và sợi các loại, phân bón, sắt thép, da nguyên liệu, máy móc thiếtbị… các mặt hàng tiêu dùng khác chiếm khoảng 30% thì trong 7 tháng đầu năm 2007 kim ngạch nhập khẩu vẫn chủ yếu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất như máy móc, thiết
bị dụng cụ, phụ tùng ước tính đạt 4,4 tỷ USD, tăng tới 46,4% so với cùng kỳ; xăng dầu 3,3 tỷ USD, tăng 8,2%; sắt thép 2,15 tỷ USD, tăng 60,9%, hóa chất tăng 47,1%
Chỉ số phát triển so với năm trước - Index (%)
Trang 3Năm khẩu Xuất Khẩu Nhập Tổng số
(triệuUSD)
2006
7.163,30 2.941,00 41.1 4.222,30 58.9
(Nguồn: báo cáo Bộ Thương Mại trình Chính Phủ)
Tình hình Xuất khẩu hàng hóa chia theo khu vực kinh tế
(ĐVT: tỉ USD)
Năm nước DN 100% vốn trong DN có vốn nước ngoài
Xuất khẩu Tỷ trọng Xuất khẩu Tỷ trọng
(Nguồn: Tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê và Bộ Thương Mại
1.2 THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU:
Trang 4Xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: từ nguồn lượng, chủng loại, chất lượng hànghoá sản xuất ở trong nước để xuất khẩu, giá cả xuất khẩu, công tác quảng cáo, tiếp thị…đến thị trường xuất khẩu Trong yếu tố trên, thị trường xuất khẩu là yếu tố đặc biệt quantrọng, bởi nó tác động đến hầu hết các yếu tố khác và sự tăng trưởng của tổng kim ngạchxuất khẩu
Dưới đây là diễn biến các thị trường xuất khẩu từ đầu năm 2007 đến nay
- Châu Á hiện vẫn là thị trường nhập khẩu hàng của Việt Nam nhiều nhất, chiếm trên
45% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu của ViệtNam vào thị trường châu Á đang giảm dần, do xuất khẩu vào thị trường này tăng thấphơn tốc độ tăng chung, thậm chí vào một số nước và vùng lãnh thổ còn bị giảm so vớicùng kỳ năm trước
+Nhật Bản - thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ) của Việt Nam và lớn
thứ nhất châu Á, nhưng 4 tháng qua mới đạt 1,6 tỷ USD, chỉ tăng 2,5% (quý I còn bịgiảm 1,6%), chủ yếu do xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang đây từ năm 2005 đã vượt
Mỹ lên đứng thứ nhất, nhưng từ mấy tháng nay đã bị dừng lại khi Nhật Bản kiểm tra pháthiện dư lượng kháng sinh vượt mức cho phép
+Trung Quốc - thị trường nhập khẩu hàng Việt Nam lớn thứ tư thế giới và lớn thứ hai
ở châu Á, nhưng 4 tháng qua mới đạt 1 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ (quý I bị giảm 12,1%).Trong quan hệ xuất nhập khẩu với Trung Quốc, Việt Nam liên tục ở vị thế nhập siêu vànhập siêu từ Trung Quốc ngày càng tăng: quý I lên đến 1.134,6 triệu USD, lớn nhất trongcác nước và vùng lãnh thổ
+Singapore - thị trường nhập khẩu nhiều hàng của Việt Nam, đứng thứ 6 trên thế giới
và thứ nhất khu vực Đông Nam Á, trong quý I đã nhập 459,3 triệu USD, tăng tới 50,6%
so với cùng kỳ Tuy nhiên, nhập siêu của Việt Nam từ Singapore rất lớn, quý I lên đến826,3 triệu USD, đứng thứ hai sau Trung Quốc
+Indonesia - nhập khẩu từ Việt Nam trong quý I/2007 gần 310 triệu USD hàng hoá,
vượt lên đứng thứ 8 thế giới, thứ 3 ở châu Á và thứ hai ở Đông Nam Á, tăng 27,8% sovới cùng kỳ, chủ yếu do tăng xuất khẩu gạo từ Việt Nam
+Hàn Quốc- quý I/2007 đã nhập từ Việt Nam gần 247 triệu USD hàng hoá các loại,
đứng thứ 9 thế giới và thứ 5 châu Á Tuy nhiên, trong quan hệ buôn bán Việt-Hàn, ViệtNam luôn ở vị thế nhập siêu với mức nhập siêu quý I lên đến 653,8 triệu USD
+Campuchia- quý I/2007 cũng nhập khẩu nhiều hàng của Việt Nam, đạt 223,9 triệu
USD, đứng thứ 11 thế giới, thứ 6 ở châu Á và thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á Việt Nam
có vị thế xuất siêu trong quan hệ buôn bán với Campuchia
+Thái Lan - quý I/2007 đã nhập khẩu từ Việt Nam 206,3 triệu USD hàng hoá, giảm
16,5% so với cùng kỳ năm trước Trong quan hệ buôn bán với Thái Lan, Việt Nam luôn
ở thế nhập siêu với mức nhập siêu quý I/2007 lên tới 400,2 triệu USD
+Hồng Kông- quý I/2007, xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kông đạt 116,6 triệu
USD, tăng 33,3%, đưa Hồng Kông trở thành thị trường nhập khẩu lớn thứ 20 trên thế giới
và thứ 11 ở châu Á của Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam vẫn nhập siêu từ Hồng Kông vớimức nhập lên tới 197,6 triệu USD
+Đài Loan - quý I/2007 đã nhập từ Việt Nam một lượng hàng hoá trị giá 221,5 triệu
USD Tuy nhiên, trong quan hệ buôn bán với Đài Loan, Việt Nam vẫn luôn ở thế nhậpsiêu với mức nhập siêu quý I lên đến 749,7 triệu USD
Trang 5Qua những kết quả ở trên, ta thấy quan hệ buôn bán của Việt Nam với các nước châu
Á trong những tháng qua có 3 đặc điểm: quy mô lớn nhất trong các châu lục khác; tăngchậm nhất so với các châu lục khác, nên tỷ trọng giảm; Việt Nam nhập siêu lớn nhất ởchâu lục này
- Mỹ là nước nhập khẩu của Việt Nam nhiều nhất, 4 tháng qua đạt 2,8 tỷ USD, đứng
thứ nhất trong các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, chiếm 19,7% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam, tăng 23,1% so với cùng kỳ Những mặt hàng có kim ngạch lớn nhấtvào thị trường này là dệt may (1,2 tỷ USD, tăng 32,9%); giày dép 290 triệu USD; gỗ vàsản phẩm gỗ 267 triệu USD Trong quan hệ buôn bán với Mỹ, Việt Nam hiện ở vị thếxuất siêu lớn (quý I xuất siêu 1.967,8 triệu USD) Tuy nhiên, xuất khẩu dệt may vào Mỹđang bị chương trình giám sát bán phá giá giám sát, dự định điều tra vào tháng 8, nên ảnhhưởng đến xuất khẩu trong thời gian tới
- EU - thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam Bốn tháng qua đã đạt gần 2,8 tỷ USD,
chiếm 19,4% tổng kim ngạch của Việt Nam, tăng 26,5% tốc độ tăng chung
Trong khu vực này:
+Đức đứng đầu, với 604 triệu USD, tăng 32%; Việt Nam xuất siêu khá (quý I là 271,5triệu USD);
+Anh đứng thứ hai, với 422 triệu USD, tăng 14,1%; Việt Nam xuất siêu khá (quý Iđạt 307 triệu USD);
+Hà Lan đứng thứ ba, với 320 triệu USD, tăng 28,7%, Việt Nam xuất siêu 149,6 triệuUSD trong quý I;
+Italia đứng thứ tư, với 269 triệu USD, tăng 37%, Việt Nam xuất siêu khá (quý I xuấtsiêu 139,7 triệu USD);
+Australia nhập khẩu từ Việt Nam 947,7 triệu USD trong quý I/2007, là nước nhậpkhẩu lớn thứ ba trên thế giới của Việt Nam với tốc độ tăng khá cao (35,8%) Việt Namxuất siêu lớn (quý I là 803,4 triệu USD, lớn thứ 2 sau Mỹ)
1.3 CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU:
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
Trang 6Như vậy, trong 8 tháng đầu 2007, dầu thô xuất khẩu giảm 4.8% về số lượng, giá dầuthô cũng giảm khoảng 18 USD/ tấn (khoảng 3.6%) làm cho kim ngạch xuất khẩu mặthàng này giảm đến 11.80% so với 8 tháng đầu năm ngoái Sự sụt giảm xuất khẩu dầu thô
đã kéo tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung cả nước xuống thấp trong 8 tháng đầu năm2007
Tuy nhiên , các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác đều có tín hiệu khả quan như: càphê, tiêu, điều, dệt may và các sản phẩm gỗ Trong đó, xuất khẩu cà phê tăng mạnh donhu cầu và giá cà phê trên thế giới đang có xu hướng tăng mạnh Tiếp đến là mặt hànghạt tiêu và hạt điều, tuy có kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn,và giảm đến 43.1% về lượngnhưng tốc độ tăng trưởng hạt tiêu lại vượt xa so với chỉ tiêu đề ra vì nguồn cung của ViệtNam đang khan hiếm nên giá có xu hướng tăng Năm 2006, Việt Nam là nguồn cung hạttiêu lớn nhất trên thị trường thế giới, chiếm đến 50% tổng số lượng giao dịch lên 200.000tấn trên toàn cầu
Đa số các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm 2006 Trong đó: nhập khẩuxăng dầu tăng 12%, sắt thép tăng 24,3%, phân bón tăng 14%, máy móc thiết bị tăng 42,2%,vải tăng 32%, tân dược tăng 22,5%
Về thị trường nhập khẩu, 5 đối tác lớn nhất xuất khẩu hàng hoá vào Việt Nam là TrungQuốc, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc KNNK từ 5 thị trường này chiếm trên50% tổng KNNK của cả nước;
- Nhập siêu hàng hoá trong 7 tháng đầu năm ước đạt 5,45 tỷ USD, bằng 20,3% tổngKNXK
1.4 THU ẬN L ỢI VÀ KHÓ KHĂN:
1.4.1 Thu ận l ợi :
Trở thành thành viên của WTO, hàng hoá của VN có cơ hội có mặt trên thị trường thếgiới và hấp dẫn các công ty nước ngoài đầu tư vào thị trường VN Hiện nay, FDI của
Trang 7nước ta đang trên đà gia tăng, đạt 5,8tỷ USD năm 2005 và theo dự kiến thì FDI của VN
sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thời gian sắp tới
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sẽ giúp các doanh nghiệp có điều kiện tiếpthu những thành tựu khoa học công nghệ, phương thức quản lý tiên tiến từ các nước pháttriển Đây là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước học hỏi cách thức quản lý mới, sửdụng công nghệ mới trong sản xuất và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Cải tiến vàhoàn thiện các dây chuyền sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa sẽ giúp cácdoanh nghiệp giảm được chi phí, tạo ra những sản phẩm mới có chất lượng, đa dạng vềmẫu mã, bao bì… tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đủ sức cạnh tranh vớicác doanh nghiệp nước ngoài
Gia nhập WTO, thực thi theo đúng các nguyên tắc của tổ chức này thì hàng hóa của
VN được đối xử bình đẳng như hàng hóa của các nước thành viên khác, các doanh nghiệpcủa VN có vị thế ngang bằng với doanh nghiệp của các nước thành viên khác, các doanhnghiệp VN cũng được đối xử công bằng như các doanh nghiệp nước ngoài
Doanh nghiệp trẻ, năng động, chấp nhận mạo hiểm, dám đối đầu với cạnh tranh cùng với đội ngũ nhân viên kinh doanh nhạy bén với những thay đổi của thị trường giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng rút ngắn khoảng cách thua kém về tài và lực, nâng cao vị thế của Doanh nghiệp Việt Nam ngang bằng với Doanh nghiệp nước ngoài trong môi trường hội nhập nhanh chóng và cạnh tranh gay gắt như hiện nay
Các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của mẫu mã, chất lượng hàng hóa, mạnh dạn trong việc đổi mới công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh Khả năng thâm nhập thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp VN tăng
1.4.2 Khó khăn:
Các doanh nghiệp xuất khẩu chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giá cả,tính cạnh tranh của giá cả còn thấp Phần lớn việc định giá là dựa vào giá cả của đối thủcạnh tranh Các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn chưa thật sự chủ động trong việc nghiên cứunhu cầu thị trường để hoạch định chiến lược giá
Nguồn vốn lưu động của các doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay vẫn còn ít nên việc thumua, dự trữ hàng hoá còn hạn chế, đây cũng là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp xuấtkhẩu chưa có khả năng chủ động trong việc định giá Hơn nữa, do khả năng xoay chuyểnvốn lưu động còn thấp khiến cho doanh nghiệp luôn ở trong tình trạng cạn vốn mặc dù đãthế chấp tài sản để vay ngân hàng vẫn không đảm bảo được nguồn vốn kinh doanh chodoanh nghiệp
Đa số doanh nghiệp VN còn chưa thể đáp ứng được các qui định nghiêm ngặt về antoàn vệ sinh thực phẩm và các qui định về chất lượng Trước xu thế hội nhập toàn cầu,làn sóng nhập khẩu đang phát triển mạnh mẽ, thì tất cả các nước phải có các chiêu bài đểbảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nước, một trong những chiêu bài đó là đề ranhững qui định nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện nay, các mặt hàng xuấtkhẩu của ta chư đáp ứng được các yêu cầu nghiêm ngặt này
Sử dụng thiết bị công nghệ lạc hậu, chí phí nguyên vật liệu cao, năng suất lao độngthấp do đó chi phí kinh doanh cao nên lợi nhuận thấp, doanh nghiệp không có nguồn lực
để phát triển
Không thiết lập và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác chuyên nghiệp như: vậnchuyển hàng hóa, dịch vụ hải quan, ngân hàng, dịch vụ hải quan, luật sư đại diện…Hầu
Trang 8hết các doanh nghiệp đều tự mình thực hiện tất cả các khâu trong quá trình xuất, nhậpkhẩu Điều này sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp sẽ mất rất nhiều thời gian và nhiều lúcgặp khó khăn từ phía đối tác.
Chưa xây dựng được thương hiệu mạnh, vì:
Chưa có chính sách xây dựng thương hiệu
Chi phí để quảng cáo,quảng bá thương hiệu cao Một phần tâm lý thu hồi vốnnhanh khi làm ăn của các doanh nghiệp VN nên chưa chú trọng đến thương hiệu
Quan trọng nhất vẫn là chất lượng sẩn phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp VN.Sản phẩm và dịch vụ của chúng ta chưa có sự đồng đều
Doanh nghiệp thiếu hiểu biết về Pháp luật, thông lệ quốc tế, thiếu thông tin và khôngtích cực tìm hiểu những qui định của các nước nhập khẩu hay những qui định của tổ chứcthương mại thế giới mà Việt Nam giờ đây đã là thành viên thứ 150 Chính sự thiếu hiểubiết này đã gây không ít khó khăn cho Doanh nghiệp xuất khẩu VN, làm hạn chế khảnăng kinh doanh của doanh nghiệp như việc doanh nghiệp nước ta từng bị kiện bán phágiá cá tra, cá basa, tôm (do các doanh nghiệp Mỹ kiện), giày da (do các doanh nghiệp EUkhởi kiện), nhãn hiệu nước mắm Phú Quốc bị Thái Lan chiếm dụng nhãn hiệu …
Trang 9Chương 2: CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC
2.1 DẦU THÔ:
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Sản lượng xuất khẩu dầu thô Việt Nam
(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Từ năm 1991, Việt Nam được xếp vào hàng các nước xuất khẩu dầu thô do kim ngạchxuất khẩu dầu thô lớn hơn kim ngạch nhập khẩu xăng dầu đã qua chế biến Giá xuất khẩudầu thô tăng sẽ góp phần vào tăng trưởng GDP của Việt Nam, làm tăng nguồn thu ngoại
tệ, phần nào khiến cung cầu ngoại tệ diễn biến theo chiều hướng tích cực, từ đó tác độngđến tỷ giá, làm cho tỷ giá giữa VND và USD được giữ ở mức tương đối ổn định Nhưvậy, giá dầu thế giới tăng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, với tư cách nước xuấtkhẩu dầu thô
Với sản lượng 19,36 triệu tấn dầu và khí năm 2002, xuất khẩu 16,9 triệu tấn dầu thô;Việt Nam đang đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á về khai thác và xuất khẩu dầuthô Bên cạnh việc tăng tốc khai thác, xuất khẩu dầu thô, những năm gần đây, ngành côngnghiệp khí và hoá dầu Việt Nam đã bắt đầu hình thành và đang phát triển mạnh Riêngnăm 2002, ngành công nghiệp này đã cung cấp 147.000 tấn condensate và 349.000 tấnkhí hoá lỏng (LPG) cho sản xuất và tiêu dùng trong nước thay thế hàng nhập khẩu Theo
dự kiến, sản lượng dầu thô quy đổi của Việt Nam dự kiến sẽ đạt khoảng 30-32 triệu tấnvào năm 2010 Ngoài việc tăng ngoại tệ từ xuất khẩu dầu thô, những dự án khí và hoádầu nếu được triển khai đúng tiến độ sẽ nâng cao giá trị của ngành dầu khí, phục vụ tốthơn cho các ngành năng lượng và sản xuất công nghiệp trong nước
Dầu thô là mặt hàng có kim ngạch liên tục đứng đầu, chiếm tới 22,7% tổng kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam; tốc độ tăng bình quân trong 5 năm đạt 16,1%, trong đó do giátăng 12,6%, do lượng tăng 3,1% nhưng chủ yếu là từ 2001- 2004, còn từ năm 2005 đếnnay có xu hướng giảm để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
Kim ngạch xuất khẩu dầu thô Việt Nam năm 2005 trong 11 tháng đầu năm gần 16,5triệu tấn dầu thô trị giá 6,8 tỉ đô la Lượng dầu bán ra tuy giảm 7,6% nhưng kim ngạch
Trang 10tăng 30,3% vì giá dầu tăng vọt trên thị trường thế giới Tổng lượng dầu thô xuất khẩu giaiđoạn 2001-2005 đạt khoảng 90 triệu tấn, trị giá đạt 23,2 tỷ USD Tốc độ tăng kim ngạchbình quân giai đoạn 2001-2005 đạt trên 16%/năm So với mục tiêu của Chiến lược xuấtkhẩu giai đoạn 2001-2010, lượng dầu thô khai thác và xuất khẩu tăng 12,5%
Năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thô (khai thác từ các mỏ Bạch Hổ, Rồng,Đại Hùng, PM3, Cái Nước, Rạng Đông, Ruby và Sư Tử Đen) đạt mức rất cao, gần 8,3 tỷUSD
Cơn sốt nhiên liệu thế giới thời gian qua đã giúp Việt Nam tăng kim ngạch xuất khẩudầu thô và cải thiện cán cân thương mại 8 tháng đầu năm 2007, cả nước xuất được hơn
13 triệu tấn, đạt gần 3,5 tỷ USD, tăng 25% về lượng và 70% về trị giá, đã tăng 960 triệuUSD so với cùng kỳ Tuy nhiên, nếu tính riêng tháng 8, xuất khẩu dầu thô chỉ đạt 1,7triệu tấn, trị giá 493 triệu USD, tăng 14,3% về lượng và 38% về trị giá so với tháng 8năm ngoái Theo Bộ Thương mại, sự tăng lên của kim ngạch dầu thô trong tháng 7 chủyếu do tăng lượng xuất, còn giá đã bắt đầu xu hướng giảm dần (giảm gần 3 USD/thùng)
Dự kiến từ nay đến cuối năm, Việt Nam chỉ xuất thêm 4,5 triệu tấn với giá 38USD/thùng Như vậy, kim ngạch trong những tháng cuối năm chỉ đạt 1,2 tỷ USD, tức làbình quân mỗi tháng đạt 300 triệu USD, giảm khoảng 195 triệu USD so với tháng 8 vàgiảm 135 triệu USD so với bình quân tháng của 8 tháng đầu năm
2.1.2 Thị trường xuất khẩu:
Hiện có khoảng 10 nước nhập khẩu dầu thô của Việt Nam, trong đó có các bạn hànglớn là Australia (trên dưới 30%), Trung Quốc, Singapore (đều trên dưới 20%) Dầu thô làmặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang Trung Quốc Với tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, nhu cầu nhập khẩudầu thô của Trung Quốc khoảng 40 - 50 triệu tấn/năm, cộng với yếu tố giá cả trên thịtrường thế giới của mặt hàng này trong thời gian tới vẫn sẽ có lợi cho xuất khẩu Xuấtkhẩu dầu thô của Việt Nam sang Trung Quốc chắc chắn sẽ giữ được mức ổn định và tăng
về giá trị Trong 6 tháng đầu năm 2007, các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia
có kim ngạch tăng bao gồm: dầu thô xuất khẩu 838 ngàn tấn, trị giá 371,2 triệu USD(tăng 11,7% về lượng và 0,75% về trị giá);
Hiện nay, thị trường tiêu thụ dầu thô Việt Nam chủ yếu là khu vực châu Á - Thái BìnhDương như: Trung Quốc, Singapore, Australia, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản Cáckhách hàng mua dầu chủ yếu là các hãng và tập đoàn dầu khí lớn trên thế giới như: Shell,
BP (Anh quốc); Exxon Mobil, Chevron (Mỹ); Chinaoil, Sinopec, Sinochem (TrungQuốc); Sumitomo, Sojitz, Mitsubishi (Nhật Bản)
Bên cạnh các khách hàng mua dầu truyền thống, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đã
và đang thiết lập các mối quan hệ hợp tác kinh doanh dầu thô với các khách hàng mớitrong và ngoài khu vực
2.1.3 Thuận lợi và khó khăn:
2.1.3.1 Thuận lợi:
- Thuận lợi lớn nhất mà ngành dầu khí đã tạo dựng được trong hoạt động xuất khẩudầu thô là dù giá lên cao hay xuống thấp, dầu thô Việt Nam được khai thác từ mỏ Bạch
Trang 11Hổ, Rạng Đông, Ruby, Đại Hùng và gần đây là Sư Tử Đen, vẫn luôn hấp dẫn đượckhách hàng gần xa bởi chất lượng, uy tín trong giao dịch Trong đó, dầu thô Bạch Hổchiếm tới 60% tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam
- Có một hệ thống khách hàng truyền thống, gắn kết chặt chẽ với công ty trong mọihoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, giá dầu sụt xuống, thị trường dầu thô thế giới gầnnhư bị “đóng băng”, nhưng dầu thô Việt Nam vẫn xuất khẩu đều, tránh được hiện tượngphải đóng mỏ (trong hoàn cảnh bình thường, đây là điều tối kỵ nhất trong quá trình khaithác và xuất khẩu dầu thô)
Một sự kiện rất quan trọng, mang tính bổ sung hết sức kịp thời cho việc khai thác dầukhí của Việt Nam là trong khi lượng dầu khai thác gần 20 năm qua từ mỏ Bạch Hổ đanggiảm dần thì từ năm 2003, dầu thô từ mỏ Sư Tử Đen bắt đầu được khai thác và đưa vàoxuất khẩu với sản lượng khoảng 70.000 thùng/ngày Bên cạnh đó, trong vài năm tới, mỏ
Sư Tử Vàng và Sư Tử Trắng sẽ đi vào khai thác, hứa hẹn một sự tăng trưởng mới chongành dầu khí Việt Nam
2.1.3.2 Khó khăn:
- Là mặt hàng đặc biệt, ngoài việc bị điều chỉnh bởi tình hình cung cầu trên thế giới,giá dầu thô còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác như thời tiết, biến động chínhtrị…
- Cũng như nhiều mặt hàng khác, dầu thô đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt vềgiá của nhiều nước khác, nhất là khu vực châu Phi Khi giá dầu lên cao, các khách hàngtiêu thụ có xu hướng tìm các nguồn dầu khác thay thế rẻ hơn, ví dụ từ châu Phi, Trung
Đông Chất lượng dầu thô của các nước châu Phi xấp xỉ dầu khai thác từ mỏ Bạch Hổ
nhưng được chào bán thấp hơn dầu Việt Nam 5 USD/thùng, nên mới đây những kháchhàng Trung Quốc đã rút lui để chuyển sang mua dầu của châu Phi Đây cũng là trở ngạilớn của chúng ta trong tương lai
- Xuất khẩu dầu thô khi giá tăng cao trên thị trường thế giới là rất vất vả Vì có không
ít khách hàng cạnh tranh bằng chiêu thức chào bán với giá thấp hơn để đẩy mạnh bán ra
- Kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam tăng lên hiện nay chủ yếu là do giá tăngchứ không phải do tăng sản lượng khai thác Hiện tại đây là một dấu hiệu tốt nhưng dokim ngạch xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào giá dầu nên khi giá dầu trên thị trường thế giới
ổn định trở lại, kim ngạch xuất khẩu thực tế của Việt Nam sẽ giảm mạnh Hơn nữa, trữlượng dầu của Việt Nam còn ít so với các nước xuất khẩu dầu khác Trong số 56 nướcxuất khẩu dầu thô trên thế giới, Việt Nam chỉ đứng thứ 50 về trữ lượng Mức dầu bìnhquân đầu người ở Việt Nam cũng còn thấp, mới chỉ dừng ở 2 thùng/người, trong khi mộtnước xuất khẩu dầu thô chỉ có thể hoàn toàn thu lợi từ việc giá dầu tăng khi mức dầu bìnhquân đầu người tối thiểu là 50 thùng/người
- Một bất lợi khác của giá dầu cao đối với kinh tế Việt Nam là Việt Nam phải nhậpkhẩu 100% xăng dầu, do đó kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng Chính vì vậyChính phủ Việt Nam phải dùng phần doanh thu từ xuất khẩu dầu thô để bù đắp cho lượngtăng lên trong giá nhập khẩu Như vậy, nếu giá dầu vẫn tiếp tục tăng cao, phần doanh thu
từ dầu thô sẽ không đủ bù đắp phần giá trị tăng lên do nhập khẩu xăng dầu Do đó ViệtNam cần chú trọng đến các biện pháp tăng cường công suất khai thác, phát hiện và tìmkiếm các mỏ dầu ngoài khơi mới
Trang 122.2 DỆT MAY:
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Dệt may là ngành kinh tế quan trọng, thu hút số lượng lớn lao động, hơn 300.000 laođộng là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ hai sau ngành dầu khí
Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam
Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu
USD) Tốc độ tăng trưởng(%)
(Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam)
Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2003 đạt 3,7 tỉ USD gấp 2 lần so với năm 2001.Kim ngạch xuất khẩu dệt may cả nước tháng 8/2007 ước đạt 830 triệu USD, tăng 32,8%
so với tháng 8/2006, tính chung 8 tháng đầu năm ước đạt 5,084 tỷ USD, tăng 29,6% sovới cùng kỳ Tháng 8, sản xuất kinh doanh của ngành tiếp tục phát triển với nhiều dấuhiệu tích cực do nỗ lực tăng cường quan hệ ngoại giao giữa Chính phủ Việt Nam và Hoa
Kỳ trong việc giải quyết vấn đề cơ chế giám sát hàng dệt may Việt Nam Do quản lý tốtcông tác giám sát xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ để tránh kiện bán phá giá nên các nhànhập khẩu Hoa Kỳ đã quay trở lại Việt Nam đặt hàng cho quý IV và các tháng đầu năm
2.2.2 Thị trường xuất khẩu:
Trang 13Thị trường Mỹ: nếu những tháng đầu năm, ngành dệt may VN điêu đứng vì hàng loạtnhà NK Hoa Kỳ "bỏ đi" do lo ngại hàng dệt may VN bị Hoa Kỳ áp dụng cơ chế giám sát,
và có thể bị áp thuế chống bán phá giá nhưng với sự chủ động giám sát đối với hàng dệtmay XK ngay từ trong nước, áp lực đã giảm, và các nhà NK Hoa Kỳ đã quay trở lại.Trong tháng 7/2007, xuất khẩu mặt hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ tiếp tục duy trì ởmức cao và tăng nhẹ so với tháng 6, kim ngạch xuất khẩu đạt 444,3 triệu USD, tăng 3%
so với tháng 6 và tăng tới 45% so với cùng kỳ năm ngoái Kim ngạch xuất khẩu sang Mỹchiếm tới 58% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong tháng 7.Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ 7 thángnăm 2007 lên 2,487 tỷ USD, tăng 35% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là mức tăngtrưởng kim ngạch xuất khẩu cao trong nhiều năm qua và cũng là bước đệm cho họat độngxuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ thuận lợi trong những tháng cuối nămnay và đầu năm 2008
Tiếp đến là thị trường EU, đạt kim ngạch 801.987.229 USD tăng 16,78% so với cùng
kỳ năm ngoái Với tiến độ xuất khẩu như hiện nay, nhiều khả năng xuất khẩu hàng dệtmay của Việt Nam sang EU sẽ đạt và vượt kế hoạch đề ra
Xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản cũng có được sự tăng trưởng khá, đạt389.472.316 USD, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm ngoái Kết quả này đánh dấu sự hồiphục mạnh mẽ tại thị trường Nhật Bản Đáng chú ý, xuất khẩu sang Canađa đã có sự tăngtrưởng rất mạnh trong 7 tháng đầu năm, đạt 77.651.653 USD, tăng tới 42,74% so vớicùng kỳ năm trước
Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trườngThổ Nhĩ Kỳ đã tăng ở mức kỷ lục, tăng 491,84% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù kếtquả xuất khẩu đạt được vẫn còn thấp, chỉ đạt 21.274.148 USD nhưng cũng đã mở ra rấtnhiều cơ hội cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong thời gian tới
2.2.3 Khó khăn:
Ngành dệt may hiện nay đang phải đối mặt với một số khó khăn sau:
Một là, do trình độ máy móc thiết bị của các nhà máy cơ khí trong ngành quá lạc hậu,không được đổi mới, nên không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các doanhnghiệp về chất lượng và thời gian giao hàng
Hai là, phụ tùng, cơ kiện phục vụ cho ngành dệt may đang nhập lậu vào Việt Nam từTrung Quốc với số lượng lớn, giá rẻ Bên cạnh đó, tâm lý các doanh nghiệp không muốnđổi mới thiết bị cơ khí để sản xuất phụ tùng, vì sợ không cạnh tranh nổi với sản phẩm củaTrung Quốc cũng là điều dễ hiểu, nhất là cơ chế thị trường hiện nay
Ba là, giá sắt thép trong nước thường xuyên biến động và tăng cao, nên sản xuất phụtùng không có hiệu quả
Bốn là, phụ tùng cơ kiện của ngành dệt rất phức tạp, yêu cầu khắt khe về chất lượng,đòi hỏi phải có tay nghề cao và trang thiết bị hiện đại, điều này các doanh nghiệp cơ khítrong ngành chưa đủ vốn để đầu tư
Tình hình cung cấp nguyên phụ liệu chưa được cải thiện:
Nguyên phụ liệu cũng đang là vấn đề nan giải của ngành dệt may Hiện nay, 70% sảnphẩm xuất khẩu từ Việt Nam thực hiện theo phương thức gia công, 30% còn lại là bán giacông Vì phụ thuộc tới 80% nguyên, phụ liệu nước ngoài, hàng dệt may Việt Nam bị độigiá tới 20 – 30% Đặc biệt đối với bông xơ thì tỷ lệ này còn cao hơn Mỗi năm ngành dệt
Trang 14cần khoảng 60.000 tấn bông xơ, nhưng nguồn bông trong nước chỉ mới sản xuất được từ13.000 tấn đến 16.000 tấn, một con số nhỏ bé so với nhu cầu.
Mặc dù trong những năm qua, chính phủ rất quan tâm đến phát triển diện tích trồngbông, nhưng do khí hậu và thổ nhưỡng nước ta chưa phù hợp, nên diện tích và sản lượngbông trong những năm qua tuy có tăng nhưng không đáng kể Đặc biệt, vụ bông vừa quadiện tích trồng bị thu hẹp, làm sản lượng giảm 20% so với những vụ trước Nguyên nhân
là do người nông dân chuyển sang trồng các cây khác, hạn hán kéo dài đã làm nhiều vùngtrồng bông mất trắng hàng nghìn hecta, không cho thu hoạch
Về phụ liệu, mặc dù thời gian qua có một số nhà máy như: Công ty cổ phần phụ liệumay Nha Trang, Công ty may Việt Tiến, Công ty dệt vải công nghiệp và các công ty tưnhân đã sản xuất được phụ liệu khoá kéo, tấm lót, cúc, chỉ… nhưng sản lượng cũng rấtnhỏ bé, chỉ đáp ứng được khoảng 20 – 25% nhu cầu của ngành
Chiến lược vẫn dừng lại ở ý tưởng và dự án: Chiến lược phát triển công nghiệp phụtrợ cho ngành dệt may còn đang dừng ở ý tưởng và dự án Việc tiếp tục nhập khẩu phụtùng, cơ kiện, nguyên phụ liệu cho ngành dệt may với khối lượng lớn vẫn phải triển khai.Đây là những khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may cho tiến trình hội nhập kinh tế khuvực và quốc tế
2.3 DA GIÀY:
2.3.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Ngành công nghiệp da giày Việt Nam là ngành có lịch sử phát triển lâu đời và hiệnnay đang là một trong những ngành công nghiệp có lợi thế xuất khẩu, đóng góp đáng kểcho sự phát triển kinh tế của đất nước: là ngành đứng thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu của
cả nước, chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá Việt Nam và đã mang lại danhhiệu là một trong 10 nước xuất khẩu da giày nhiều nhất trên thế giới
Kim ngạch xuất khẩu ngành da giày Việt Nam
Năm Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) Tốc độ tăng trưởng (%)
Trang 15tháng đầu năm 2006, nhiều doanh nghiệp phải dừng sản xuất hoặc có ít đơn đặt hàng doảnh hưởng của vụ kiện chống bán phá giá các loại giày mũ da, một phần do phải cạnhtranh gay gắt trên thị trường quốc tế, phải đáp ứng các yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngườitiêu dùng quốc tế (về các tiêu chuẩn, giảm các hoá chất độc hai…) Đến cuối năm 2006,theo thống kê trên 10 đôi giày tiêu thụ trên thế giới đã có tới 2 đôi sản xuất tại Việt Nam,giúp Việt Nam trở thành “nước lớn” về sản xuất giày dép trên thế giới, xét trong Châu Áthì chỉ đứng sau Trung Quốc và Ấn Độ Tổng chung 8 tháng đầu năm 2007, kim ngạchxuất khẩu ước đạt 2,7 tỉ USD, tăng 14,3% xuất khẩu các sản phẩm túi xách, vali, mũ, dùđạt 425 triệu USD tăng 28,8% so với cùng kỳ năm ngoái
2.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Chúng ta xuất khẩu nhiều loại mặt hàng đa dạng, phong phú như giày mũ da, giày vải,giày sandal, giày thể thao, các loại giày thời trang, dép đi trong nhà… trong đó sản phẩmgiày mũ da là sản phẩm có giá trị cao nhất Tuy nhiên, do tác động của vụ kiện chống bánphá giá của EU năm 2005 mà hiện nay các mặt hàng giày mũ da bị giảm mạnh Các nhànhập khẩu để tránh thuế chống bán phá giá nên cũng chuyển sang đặt các mặt hàng giàythể thao công nghệ cao hoặc các loại giày khác có mũ giả da làm cho hai mặt hàng này cóphần tăng lên Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, mặt hàng giày vải cũng tăngmạnh, một phần do nhu cầu người tiêu dùng tăng lên, một phần do duy trì trở lại sau thờigian giày bị suy giảm (bởi các đơn hàng dự trữ hoặc hàng tồn kho nhiều…) Tuy nhiênyêu cầu về chất lượng và mẫu mã của sản phẩm giày vải cũng đã cao hơn nhiều so vớicác năm trước
Tháng 6/2007, giầy mũ da tổng hợp tiếp tục dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu, đạt11,33 triệu đôi với trị giá 87,93 triệu USD, chiếm 21,5% tổng kim ngạch xuất khẩu giầydép của Việt Nam trong tháng 6/2007; tăng 12,67% về lượng và tăng 11,9% về trị giá sovới tháng 5/2007; tăng 42,5% về lượng, tăng 62,7% về trị giá so với tháng 6/2006 Trong
đó xuất khẩu sang Anh đạt 1,92 triệu đôi với trị giá 15,25 triệu USD, giảm 15,3% vềlượng và 7,3% về trị giá so với tháng 5/2007; giảm 1,5% về lượng nhưng tăng 8,9% về trịgiá so với tháng 6/2006 Xuất khẩu sang Đức đạt trên 2 triệu đôi với trị giá 13,44 triệuUSD, tăng 36% về lượng và 33% về trị giá so với tháng 5/2007; tăng 79,2% về lượng và98,2% về trị giá so với tháng 6/2006 Xuất khẩu sang Mỹ đạt trên 1 triệu đôi với trị giá9,12 triệu USD, giảm 12,9% về lượng và giảm 8,5% về trị giá so với tháng 5/2007,nhưng tăng 223,3% về lượng và tăng 238,5% về trị giá so với tháng 6/2006…
Tháng 6/2007, kim ngạch xuất khẩu của nhiều mặt hàng tăng mạnh so với tháng6/2006 Trong đó, kim ngạch xuất khẩu giầy thể thao có đế và mũ bằng cao su/plastic dẫnđầu về mức tăng kim ngạch và tiếp tục tăng mạnh, đạt 47,84 triệu USD, tăng 155% so vớicùng kỳ năm 2006 Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang một số thị trường chính tăngrất mạnh Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu sang Bỉ đạt trên 6 triệu USD, tăng 137,4%; kimngạch xuất khẩu sang Anh đạt 5,2 triệu USD, tăng 398,4%; sang Hà Lan đạt trên 5 triệuUSD, tăng 209%; sang Mỹ đạt 4,9 triệu USD, tăng 15% Tính chung 6 tháng đầu năm
2007, kim ngạch xuất khẩu giầy thể thao có đế và mũ bằng cao su/plastic tăng 112% sovới cùng kỳ năm 2006
Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu giầy mũ nguyên liệu dệt, giầy thể thao mũ nguyênliệu dệt, giầy không thấm nước tiếp tục giảm mạnh Trong 6 tháng đầu năm 2007, kimngạch xuất khẩu giầy mũ nguyên liệu dệt giảm 62,53% (tương đương 171,16 triệu USD),
Trang 16kim ngạch xuất khẩu giầy thể thao mũ nguyên liệu dệt giảm 68,85% (tương đương 79,2triệu USD), kim ngạch xuất khẩu giầy không thấm nước giảm 94,4% (tương đương 29,85triệu USD) so với cùng kỳ năm 2006.
2.3.3 Thị trường xuất khẩu :
Thị trường EU vẫn là thị trường xuất khẩu chính của doanh nghiệp Việt Nam (chiếm50% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép) Tuy nhiên lượng xuất khẩu vào thị trường này
có khá nhiều biến động trong năm 2006 do ảnh hưởng của vụ kiện chống bán phá giá làmcho sức mua và cơ cấu sản phẩm thay đổi, đồng thời phụ thuộc vào đối tác đặt hàng, hợptác sản xuất và sức ép về thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, EU vẫn
là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam Thị phần XK vào thị trường này vẫnchiếm số lượng lớn là do giày dép Việt Nam tiếp tục được hưởng ưu đãi theo hệ thốngthuế quan phổ cập khi nhập khẩu vào EU Hiệp hội Da giày cho biết, do tác động của vụkiện chống bán phá giá đối với giày mũ da xuất xứ Việt Nam, từ đầu năm 2006 các doanhnghiệp da - giày đang phải đối mặt với việc thiếu đơn hàng Các nhà nhập khẩu đã trìhoãn việc đặt hàng vì họ lo sợ mức thuế chống phá giá cao Tuy nhiên, sau khi có phánquyết cuối cùng của Liên minh châu Âu áp thuế chống bán phá giá 10% đối với giày mũ
da xuất xứ Việt Nam trong khi Trung Quốc chịu mức 16,5% thì tình hình xuất khẩu đãdần ổn định, khách hàng đã quay trở lại Việt Nam để đặt hàng Xuất khẩu giày dép củaViệt Nam sang các nước thuộc EU tiếp tục tăng Tháng 7/2007 xuất khẩu giày dép củanước ta sang EU giảm 11% về lượng và 7,2% về trị giá so với tháng 6/2007 nhưng tăng14,85% về lượng và 20,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006 Tính chung trong 7 thángđầu năm 2007, xuất khẩu giày dép của nước ta sang khối EU tăng 8,7% về lượng và tăng10,74% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006
Thị trường Hồng Kông: Ngoài thị trường EU, xuất khẩu giày dép của Việt Nam trongtháng 7/2007 sang các thị trường Hồng Kông, Trung Quốc, Nam Phi, Nga… tiếp tục tăngmạnh so với cùng kỳ năm 2006 Tháng 7/2007, xuất khẩu giày dép sang thị trường HồngKông đạt mức tăng cao nhất, tăng 72,63% về lượng và 120,64% về trị giá, trong đó lượnggiày dép có đơn giá trên 15 USD/đôi tăng 119,9 nghìn đôi, lượng giày dép có đơn giádưới 15 USD/đôi tăng 88,77 nghìn đôi
Thị trường Châu Mỹ: Đây là thị trường mà trước đây ta không xuất khẩu sang nhiều,tuy nhiên nay lại đạt kim ngạch rất cao Ba nước Châu Mỹ nhập giày thể thao mũ da lớnnhất của Việt Nam gồm: Mỹ, Braxin và Banama trong đó thị trường Mỹ là nhập khẩunhiều nhất Theo đánh giá của các chuyên gia, một trong những nguyên nhân cơ bản đểkim ngạch xuất khẩu giày mũ da tăng mạnh vào thị trường Châu Mỹ là do việc EU ápthuế chống bán phá giá cho Việt Nam và Trung Quốc Ngược lại, kim ngạch xuất khẩugiày dép sang một số thị trường như Braxin, Panama, Canada, Ôxtrâylia, Malaysia,Achentina giảm đáng kể Trong đó kim ngạch xuất khẩu giày dép sang Panama giảmmạnh nhất, giảm 35,44% (tương đương 2,1 triệu USD); tuy nhiên, tính chung 7 tháng
2007, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang thị trường này vẫn tăng 26,5% (tương đương6,8 triệu USD)
Thị trường Nhật Bản: Là thị trường yêu cầu chất lượng cao và tương đối khó tính nên
tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu vào Nhật hiện nay chiếm tỷ trọng rất thấp Nhu cầu nhập khẩugiầy dép của nước này vẫn trong xu hướng tăng Do đó, xuất khẩu của nước ta sang NhậtBản sẽ tiếp tục đạt được mức tăng trưởng cao trong năm nay Giầy dép Việt Nam có thể
Trang 17xuất vào Nhật với số lượng lớn là các loại giày, dép có đế ngoài và mũ giầy bằng cao suhoặc plastic, da thuộc, hoặc da tổng hợp và mũ bằng da thuộc; dép xốp, dép quai hậu Tuy nhiên, thị trường Nhật Bản có những yêu cầu riêng về thiết kế, kích cỡ và phải phùhợp với thời tiết Vì vậy, Hiệp hội da giày đang khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vàthay đổi trong việc thiết kế giầy dép theo đúng thị hiếu của người dân Nhật Bản Thậmchí, có thể nhập khuôn của Nhật về để sản xuất cho phù hợp với kích cỡ của người Nhật.Ngoài ra các nhà sản xuất cần quan tâm đến những xu hướng thời trang thay đổi theomùa ở Nhật để sản xuất theo thị hiếu người tiêu dùng.
Các thị trường khác như: Đông Âu, Châu Phi… đã và đang được các doanh nghiệpkhảo sát và tìm hiểu Thị trường châu Phi có nhu cầu khá đa dạng và rất nhiều chủng loại
là thế mạnh sản xuất của Việt Nam như: giày thể thao, giày tennis, giày bóng rổ, giàyluyện tập, giày thể thao có đế ngoài bằng cao su, plastic, da thuộc hoặc da tổng hợp và
mũ bằng da thuộc hoặc bằng nguyên liệu dệt
Tính chung 7 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang thị trường HồngKông tăng mạnh nhất, tăng 76,5% (tương đương 12,6 triệu USD) so với cùng kỳ năm
2006 Đứng thứ 2 là thị trường Ba Lan tăng 68,4%, tiếp đến là Trung Quốc tăng 62,4%,Malaysia tăng 60,4% Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu giày dép của nước ta sangAchentina giảm rất mạnh, giảm 27,8% so với cùng kỳ năm 2006
2.3.4 Khó khăn:
Số liệu cho thấy da giày là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng khá caotrong những năm gần đây Song hiện tại, ngành da giày cũng đang gặp rất nhiều vấn đềtrong quá trình phát triển và đặc biệt là trong tiến trình hội nhập Ngành da giày ViệtNam hiện nay bên cạnh lợi thế về nhập khẩu nhưng cũng còn tồn tại nhiều điểm yếu.Nguồn nguyên liệu phần lớn phải nhập từ nước ngoài nên hiệu quả kinh tế thấp Hơn60% các sản phẩm da giày của Việt Nam là gia công cho đối tác nước ngoài – là nhàbuôn chứ không xuất khẩu trực tiếp đến các nhà phân phối chính Do đó các doanhnghiệp Việt Nam bị phụ thuộc và bị chi phối khá nhiều về việc sản xuất Bên cạnh đó,chúng ta lại quan tâm xuất khẩu quá nhiều vào một thị trường EU (50%) mà chưa dàn trảiđều trên các thị trường khác nhau Tất cả các điều đó đã góp phần làm cho doanh nghiệplao đao khi bị EU kiện bán phá giá
Thời gian qua đã cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam có nguy cơ rất cao bị kiện bánphá giá, trợ cấp bán phá giá, tự vệ Ngành giày da đã kiện hai lần bởi EU vào năm 1998
và năm 2005 Nhưng vào năm 1998, chúng ta không bị đánh thuế vì thị phần gia tăngnhỏ Nhưng đến năm 2005 vừa qua thì vụ kiện đã tương đối lớn và EU đã quyết định ápthuế chống bán phá giá 10% cho sản phẩm giày mũ da của Việt Nam, gây không ít điêuđứng cho ngành da giày của nước ta
2.4 THỦY SẢN:
2.4.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Đất nước ta có chiều dài bờ biển 3260 Km, với 112 cửa sông lạch, có vùng nội thuỷ
và lãnh hải rộng 226.000 Km2, vùng biển đặc quyền kinh tế khoảng 1 triệu Km2 với 4.000hòn đảo lớn nhỏ tạo nên nhiều eo, vùng vịnh, đầm phá và nhiều ngư trường với trữ lượng
Trang 18hải sản gần 3 triệu tấn Hàng năm chúng ta có thể khai thác 1,2 -1,4 triệu tấn hải sản màkhông làm ảnh hưởng đến tiềm năng nguồn lợi Qua thống kê biển Việt Nam có trên
2100 loài cá, trong đó có trên 130 loài cá có giá trị kinh tế: 75 loài tôm, 25 loài mực, 7loài bạch tuộc và các loại thực vật biển khác
Trong thời gian qua thuỷ sản đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủlực của Việt Nam và thuỷ sản chỉ đứng sau dầu thô, dệt may, da giày nếu xét về kimngạch xuất khẩu Trên thị trường thế giới, Việt Nam đang dần trở thành một trong nhữngnước xuất khẩu thuỷ sản quan trọng với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng qua các năm
Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Năm Kim ngạch (triệu USD) Tốc độ tăng trưởng so vớinăm trước (%)
(Nguồn: Trung tâm tin học Thuỷ sản)
Năm 1990 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 205 triệu USD Ngành thuỷ sản chỉ mất 12năm để tăng kim ngạch xuất khẩu lên gấp 10 lần, từ 205 triệu USD đến 2.021,7 triệuUSD vào năm 2002 Như vậy trong 17 năm qua, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản Việt Nam đạt kết quả khá ngoạn mục so với các ngành kinh tế khác và so vớicác nước trong khu vực Ngay cả khi cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Châu Á cóảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế các nước trên thế giới và kim ngạch xuất khẩu cácmặt hàng khác có sút giảm thì kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vẫn tăng Kim ngạch xuấtkhẩu thuỷ sản trong các năm 2001, 2002, 2003 có tốc độ tăng trưởng khá cao Năm 2004,
do hậu quả của các vụ kiện bán phá giá, điều kiện sản xuất trong nước gặp nhiều khókhăn nên tốc độ tăng trưởng năm 2004 có chậm lại nhưng đã nhanh chóng đạt lại tốc độtăng trưởng trên 5,5% Năm 2005 tốc độ tăng trưởng đã tăng đến 14,1% Đặc biệt năm
2006 là năm mà ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất cao 22,6% Điều này cho chúng
ta thấy xuất khẩu thuỷ sản tăng trưởng vững chắc 8 tháng đầu năm 2007 kim ngạch xuất
Trang 19khẩu thuỷ sản là 2,1 tỉ USD cho thấy năm nay ngành thuỷ sản có thể đạt được kế hoạchkim ngạch xuất khẩu là 3,5 tỉ USD.
2.4.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Với nguồn lợi thuỷ sản phong phú, Việt Nam có thể xuất khẩu nhiều loại thuỷ sản cótính kinh tế cao Tuy nhiên trong thời gian qua các mặt hàng thuỷ sản vẫn còn khá đơnđiệu, tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Ngoài ra, từ năm 2006 đến nay kim ngạchxuất khẩu cá tra, cá ba sa sang các thị trường nhất là thị trường Đông Âu và EU tăng
Cơ cấu hàng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam 8 tháng đầu năm 2007
(Nguồn: Trung tâm tin học Thuỷ sản)
Mặt hàng tôm đông lạnh vẫn đứng đầu trong thuỷ sản xuất khẩu, với 670,29 triệuUSD, nhưng thị phần lại giảm chút ít Cá tra và cá ba sa tiếp tục là mặt hàng xuất khẩuquan trọng thứ 2, đạt 534,45 triệu USD Cá đông lạnh chiếm vị trí thứ 3, đạt 156,67 triệuUSD Mặt hàng nhuyễn thể các loại đứng thứ 4, tăng 20,31% so với cùng kỳ năm 2006,đạt 177,98 triệu USD Mặt hàng cá ngừ tăng 25,41% so với cùng kỳ 2006 đạt 87,13 triệuUSD
2.4.3 Thị trường xuất khẩu:
Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã nổ lực đa dạng hoá thị trường xuấtkhẩu nhằm mở rộng khả năng tiêu thụ và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng thuỷsản Việt Nam Nhật Bản, Mỹ, EU, Trung Quốc là những thị trường xuất khẩu thuỷ sảnchủ yếu của Việt Nam nhưng vị trí của các thị trường này cũng biến động theo thời gian
Trang 20Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam theo thị trường
Đơn vị tính: Giá trị (triệu USD); Tỷ trọng (%)
Thị
trường
Chỉ tiêu
Năm
1997 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
8 tháng đầu 2007
Nhật
Bản
Giá trị 382,1 467,3 465,9 538,0 582,9 754,9 813,4 842,6 396,2 Tỷ
trọng 48,9 31,6 25,6 26,6 25,6 31,4 29,7 25,1 18,8
Mỹ
Giá trị 39,1 298,2 489,0 655,7 782,2 592,8 634,0 664,2 413,6 Tỷ
trọng 5,0 20,2 26,9 32,4 34,4 24,7 23,1 19,8 19,7EU
Giá trị 74,9 99,2 107,0 84,4 127,2 243,9 436,7 723,5 527,9 Tỷ
trọng 9,6 6,7 5,9 4,2 5,6 10,2 15,9 21,5 25,1Trung
Quốc,
Hồng
Kông
Giá trị 106,4 291,7 316,7 302,3 147,8 131,2 134,4 164,3 113,5 Tỷ
trọng 13,6 19,8 17,4 15,0 6,5 5,5 4,9 4,9 5,4
ASEAN
Giá trị 64,1 77,8 64,9 79,5 73,1 165,7 123,2 150,9 108,1 Tỷ
trọng 14,7 16,4 20,6 17,9 24,7 21,3 21,9 24,2 25,9
Tổng
cộng
Giá trị 782,0 1.478,5 1.816,4 2.021,7 2.275,6 2.400,8 2.739,0 3.358,0 2.104,4 Tỷ
trọng
(%)
(Nguồn: Trung tâm tin học thuỷ sản)
Thị trường Nhật Bản ngay từ những năm đầu thập kỷ 90 đã là thị trường nhập khẩuthuỷ sản chủ yếu của Việt Nam Tuy nhiên vị trí độc tôn này giảm dần trong những nămtrở lại đây Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Nhật Bản trong tổngkim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ngày càng giảm từ 48,9% vào năm 1997 xuống còn 25,6%vào năm 2003, thể hiện nổ lực đa dạng hoá thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệpViệt Nam
Thị trường Châu Âu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thị trường xuất khẩucủa Việt Nam Mặc dù đây là khu vực thị trường rất khó tính nhưng có tiềm năng mở
Trang 21rộng lớn Thị trường EU từ vị trí thứ 2 năm 2006 đã vươn lên vị trí thứ 1, đạt 500 triệuUSD, chiếm 25,17% thị phần về giá trị (năm 2006 là 22,84%) Thị trường Mỹ đã trở lại
vị trí thứ 2, chiếm tỉ trọng 19,58% về giá trị (389,06 triệu USD) Thị trường Nhật Bản tụtxuống vị trí thứ 3, chiếm 18,70% về giá trị, đạt 371,5 triệu USD, nguyên nhân là nhữngtháng đầu năm Nhật Bản kiểm soát nghiêm ngặt đối với thuỷ sản Việt Nam Xuất khẩuvào Hàn Quốc đạt giá trị 133,35 triệu USD (6,71% về giá trị), tăng 21,68% so với cùng
kỳ năm 2006
2.4.4 Thuận lợi và khó khăn:
2.4.4.1 Thuận lợi:
Tiềm năng thuỷ sản của Việt Nam còn rất lớn
Thông qua hình thức liên doanh và tự đầu tư, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản đãnâng cấp trang thiết bị chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đủ sức cạnh tranhtrên thị trường
Năm 2006, nước ta có thêm 38 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang
EU, nâng tổng số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này lên
209 đơn vị Hàn Quốc công nhận thêm 13 đơn vị đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, nâng tổng sốdoanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này lên 298 đơn vị Vừaqua, Nga cũng đã chấp thuận bước đầu cho 11 doanh nghiệp Việt Nam đủ tiêu chuẩn xuấtkhẩu sản phẩm sang Nga
2.4.4.2 Khó khăn:
Ngành thuỷ sản Việt Nam còn phải đối mặt với yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm antoàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, các yêu cầu về bảo vệ môitrường, các vụ kiện chống bán phá giá và tranh chấp thương mại từ các nước: Nhật Bản,Canada, Mỹ, cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ Trung Quốc và một số quốc gia trong khốiASEAN
Các rào cản thương mại quốc tế thường gặp đối với sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu như:rào cản thuế quan (thuế phần trăm, thuế quan đặc thù như hạn ngạch thuế quan, thuế đốikháng, thuế chống bán phá giá…) và rào cản phi thuế quan (biện pháp cấm, hạn ngạchxuất nhập khẩu, giấy phép xuất nhập khẩu, rào cản kỹ thuật…)
Các yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thuỷ sản ổn định và lâu dài như quy hoạch,giống nuôi trồng, đánh bắt… còn mang nhiều yếu tố tự phát chưa trở thành qui trình côngnghệ mang tính công nghiệp ở tầm vĩ mô
2.5 GỖ:
2.5.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Từ năm 2004, ngành xuất khẩu gỗ chế biến tạo sự bứt phá ngoạn mục, kim ngạch xuấtkhẩu đạt 1,1 tỷ USD, tăng gấp 4 lần (tăng 88%) so với năm 2003 và duy trì tốc độ tăngtrưởng cao, năm 2005 là 35%, năm 2006 là 24,5%, sáu tháng đầu năm 2007, ngành thựchiện kim ngạch xuất khẩu 1,2 tỷ USD bằng cả năm 2004.dự kiến cả năm đạt 2,5 tỷ USD
Trang 22Đồ gỗ trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 5 sau dầu thô, dệt may, giàydép và thủy sản 3 năm qua có sự dịch chuyển mạnh từ nguồn đầu tư FDI doanh nghiệp(DN) các nước trong khu vực với trên 300 DN, nâng con số đơn vị chế biến gỗ và lâmsản cả nước lên khoảng 2.000 DN, với hơn 170.000 công nhân Năng lực chế biến gỗ,không chỉ tăng về số lượng và quy mô, mà còn do các DN tăng cường đầu tư máy móc,thiết bị và công nghệ để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, kể cả trình độ quản
lý và tay nghề công nhân Thị trường xuất khẩu gỗ chế biến mở rộng với hơn 120 nước
và lãnh thổ, và từng bước được củng cố vững chắc tại 3 thị trường chính là Mỹ, EU vàNhật Bản Năng lực cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu VN được nâng cao
Đồ gỗ của Việt Nam đang có một chỗ đứng khá vững trên thị trường thế giới Kimngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2007 đặt 1.334 triệu USD, tăng 25,1% so với cùng kỳnăm trước Đồ gỗ Việt Nam đã có mặt tại 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thếgiới Những thị trường hút hàng của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, HànQuốc, Ôxtraylia, Đài Loan, Malaysia, Hồng Kông
Riêng trong tháng 7-2007, Việt Nam đã xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 200 triệu USD,tăng 37% so với tháng 7-2006 Hiện đồ gỗ Việt Nam được các đối tác nhập khẩu gỗ đánhgiá khá cao chất lượng sản phẩm cũng như uy tín
Kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2007 ước đạt1,5 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2006 Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu sảnphẩm này lớn nhất của Việt Nam, kế đến là Nhật Bản, Anh… Xuất khẩu sản phẩm gỗ đãthực hiện được 74,6% kế hoạch năm
2.5.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Cơ cấu xuất khẩu sản phẩm trong tháng 7/07Nội thất phòng khách, phòng ăn 24.3%
Trang 23Loại khác 5,5%
Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trong tháng 7/07, qua bảng trên cho thấy đồ nội thấtdùng trong phòng ngủ vẫn là nhóm mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất với 47,55 triệuUSD, chiếm 25,9% tổng kim ngạch Đồ nội thất phòng ngủ xuất khẩu gồm có giường, bộphận giường, tủ áo, bàn, tủ trang điểm…tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách,phòng ăn, đạt kim ngạch 44,6 triệu USD, chiếm 24,3% tỷ trọng; ghế đạt 27,22 triệu USD,chiếm 14,8%; gỗ ván đạt 16,67 triệu USD, chiếm 9,1%; đồ nội thất dùng trong văn phòngđạt 11,3 triệu USD, chiếm 6,2%…
Ghế vẫn là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất, chiếm đến 25% tổng kim ngạchxuất khẩu sản phẩm gỗ Các sản phẩm ghế xuất khẩu như ghế cao su, ghế gỗ sồ, ghếliving dining milner… Tiếp đến là đồ nội thất phòng ngủ, đạt 46,6 triệu USD trong tháng
3, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất loại này trong 3 tháng đầu năm đạt 122,2triệu USD, tăng 15% so cùng kỳ năm ngoái và chiếm 18,3% tỷ trọng Đồ nội thất phòngngủ như giường, tủ áo, bàn trang điểm… là những sản phẩm có thế mạnh của ta Đồ nộithất dùng trong phòng khách, phòng ăn cũng là một sản phẩm được ưa chuộng như bàncoffee, tủ commot, tủ buffee…đạt kim ngạch 39,8 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuấtkhẩu đồ nội thất loại này 3 tháng đầu năm đạt 112,4 triệu USD, tăng 19% so cùng kỳ nămngoái Ngoài ra, 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất văn phòng cũng đạt30,9 triệu USD, tăng 3,4% so cùng kỳ năm ngoái; gỗ, ván đạt 31 triệu USD, tăng 12%;
đồ nội thất nhà bếp đạt 4,6 triệu USD, tăng 9,5%
Hiện nay Việt Nam có trên 1.800 công ty tham gia xuất khẩu sản phẩm gỗ Nhưngnhững doanh nghiệp đạt kim ngạch cao đều là những công ty có vốn đầu tư nước ngoàinhư công ty Cty TNHH Scancom Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu đạt 41,6 triệu USD;công ty TNHH Green River Wood & Lumber (Việt Nam) kim ngạch xuất khẩu được40,8 triệu USD… 20 doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt kim ngạch cao nhất năm
2006 chiếm 26,8% tổng kim ngạch, đạt 510,22 triệu USD
Một số công ty đã tham gia niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán như công ty CPhợp tác kinh và XNK Savimex (mã CK là SAV), kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt
15 triệu USD trong năm 2006…
2.5.3 Thị trường xuất khẩu:
Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam với kim ngạchtrong tháng 7/2007 đạt trên 81,6 triệu USD, tăng 25,6% so với tháng 7/06 Tổng kimngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường này 7 tháng đầu năm đạt508,3 triệu USD, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 38,8% tổng kim ngạchxuất khẩu sản phẩm gỗ Các sản phẩm chủ yếu xuất sang thị trường này vẫn là đồ nội thấtdùng trong phòng ngủ như giường gỗ, tủ áo, bàn trang điểm, kệ đầu giường… Nhữngnăm gần đây, xuất khẩu các sản phẩm gỗ nội thất của Việt Nam sang thị trường Mỹ đãgia tăng khá nhanh Tính chung cả sản phẩm gỗ và nội thất, xuất khẩu của Việt Nam sang
Mỹ đã tăng gấp 56 lần, từ 16 triệu USD (năm 2001) lên 902,5 triệu USD (năm 2006).Theo một con số thống kê, năm 2001 Việt Nam chỉ mới xuất khẩu vào Hoa Kỳ mộtlượng rất nhỏ đồ gỗ, 16,1 triệu USD, chiếm 0,06% tỷ trọng nhập khẩu đồ gỗ của nướcnày Sang năm 2002, con số này nhảy vọt, đạt 44,7 triệu USD, tăng 178% so với 2001 vàvượt qua cả tốc độ tăng trưởng của tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Trang 24sang Hoa Kỳ 1,84 lần, đạt tỷ trọng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của cả nước.Những năm tiếp theo đó, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳtuy vẫn giữ ở mức độ khá cao, song đã có nhiều dấu hiệu thiếu ổn định Năm 2003 đạt
116 triệu USD, tăng 160% và đây là mức tăng cao nhất trong số 25 nước xuất khẩu đồ gỗhàng đầu sang Mỹ, tăng gần gấp 6 lần tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ(98%) và chiếm 20% thị phần đồ gỗ của Việt Nam.Đến năm 2004, con số này là 388 triệuUSD, tăng 235% và là mức tăng kỷ lục do năm đầu Hiệp định Thương mại Việt Nam -Hoa Kỳ có hiệu lực Hoa Kỳ trở thành nhà nhập khẩu đồ gỗ lớn nhất của Việt Nam vàhàng đồ gỗ của Việt Nam vào thị trường này đứng thứ 3 sau dệt may và giày dép Đếnnăm 2005, bắt đầu có dấu hiệu đi xuống khi kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ chỉ đạt 697 triệuUSD trong số 1,53 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam (chiếm 79%) Tốc
độ tăng trưởng năm 2006 là 29% với 902,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu Riêng quýI/2007, kim ngạch đạt được 277,7 triệu USD, tăng được 49% so cùng kỳ Xuất khẩu đồ
gỗ nội thất của Việt Nam vào Mỹ tăng nhanh là do một số nguyên nhân, trong đó yếu tốquan trọng là Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ đã bắt đầu có hiệu lực Theo đó, thuếnhập khẩu đồ gỗ từ Việt Nam giảm mạnh, trung bình từ 50 - 55% xuống còn 0 - 3%.Ngoài ra, đối với thị trường Hoa Kỳ, đồ gỗ Việt Nam được đánh giá là có chất lượng,kiểu dáng sáng tạo và có giá khá cạnh tranh so với một số nước, đứng thứ năm trong số
10 nước xuất khẩu gỗ lớn nhất vào Hoa Kỳ, sau Trung Quốc, Canada, Mexico và Italia
Kế đến là Nhật Bản, kim ngạch xuất sang Nhật Bản trong tháng 7 đạt trên 24,66 triệuUSD, tăng 23,2% so với tháng 7/06, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sangthị trường này 7 tháng đầu năm đạt trên 177,8 triệu USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm
2006 Các mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam xuất vào Nhật Bản khá đa dạng, bao gồm đồ gỗnội thất, đồ gỗ công nghiệp ván sàn, khung tranh, hòm, hộp, đồ gỗ trang trí… Trong đó
đồ gỗ nội thất chiếm tỉ trọng lớn Trong đó đồ gỗ nội thất chiếm tỉ trọng lớn (từ 72 – 82%từng năm), đứng thứ 2, sau Trung Quốc XK vào Nhật Bản Dự kiến kim ngạch XK đồ gỗsang Nhật Bản tới năm 2010 là khoảng 700 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân25%/năm Trong đó nhóm hàng đồ gỗ nội thất khoảng 550 triệu USD, tốc độ tăng trưởngbình quân 28%/năm Đồ gỗ Việt Nam XK sang Nhật Bản từ năm 2004 – 2006 đạt tốc độtăng trưởng khá Năm 2004: đạt 180 triệu USD; năm 2005: 240 triệu USD; năm 2006:
286 triệu USD
Đứng thứ 3 sau Mỹ và Nhật Bản là thị trường Anh, với kim ngạch xuất khẩu trongtháng 7 đạt 12,46 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thịtrường Anh 7 tháng đầu năm đạt 120,6 triệu USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm ngoái
Trang 25Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trườngAnh trong tháng 2 đạt trên 12,7 triệu USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm 2006, nângtổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của ta vào thị trường này 2 tháng đầu năm đạt32,6 triệu USD, tăng 37% so cùng kỳ năm ngoái Về cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu vàothị trường Anh: xuất khẩu ghế và các bộ phận của ghế chiếm tỷ trọng cao nhất với kimngạch xuất khẩu 2 tháng đầu năm đạt 11 triệu USD, chiếm 33,7% (trong tổng kim ngạchxuất khẩu sản phẩm gỗ tới thị trường này) Trong đó kim ngạch xuất khẩu ghế nguyênchiếc chiếm 58% Đơn giá trung bình của mặt hàng ghế nguyên chiếc xuất khẩu vào thịtrường Anh trong tháng 2 đạt 25,9 USD/chiếc - FOB, giảm 5,83 USD/chiếc so với tháng
1 Tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách và phòng ăn, đạt kim ngạch trên 10,5triệu USD trong 2 tháng đầu năm và chiếm 32,2% tỷ trọng Kim ngạch xuất khẩu đồ nộithất dùng trong phòng khách và phòng ăn trong quý I đạt khoảng 12,6 triệu USD, tăng30,5% so với cùng kỳ năm 2006 Kim ngạch xuất khẩu đồ nội thất dùng trong phòng ngủcủa Việt Nam vào thị trường Anh 2 tháng đầu năm cũng đạt khá, gần 5 triệu USD, chiếm15,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ Đơn giá trung bình của mặt hàng giườngnguyên chiếc xuất khẩu vào thị trường Anh trong tháng 2 đạt 78,71 USD/chiếc – FOB,tăng 11,26 USD/chiếc
Trung Quốc, vươn lên đứng thứ 4 với kim ngạch tăng trưởng vượt bậc đạt trên 16triệu USD trong tháng 7, tăng 60,6% so với tháng 7/06 Tổng kim ngạch xuất khẩu sangthị trường này 7 tháng đầu năm đạt 88,8 triệu USD, tăng 127% so với cùng kỳ năm 2006.Tuy nhiên, sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là gỗ, ván nguyên liệu, dăm
gỗ và đồ gỗ mỹ nghệ
Ngoài ra, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang một số thị trường khác cũng khá tiềm năng nhưkim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Hàn Quốc 7 tháng đầu năm 2007 đạt 48,6 triệuUSD, tăng 24,3%; Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc trong năm 2006 đạt65,7 triệu USD, tăng 32,2% (tăng 16 triệu USD) so với năm 2005 Các mặt hàng xuấtkhẩu chính: Đồ nội thất phòng khách (trong đó chủ yếu là bàn ghế và tủ); Ghế; Đồ nộithất và đồ dùng trong nhà bếp; Gỗ nguyên liệu; Đồ nội thất phòng ngủ (giường; bàn ghế;kệ)
Canada: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này trong năm 2006 đạt 33,5 triệu USD;tăng 90,2% (tăng 15,9 triệu USD) so với năm 2005 Các mặt hàng chính: Đồ nội thấtphòng khách (bàn ghế, tủ); Đồ nội thất phòng ngủ (giường; tủ; bàn trang điểm); Ghế; Đồnội thất văn phòng (bàn ghế, tủ)… ; 7 tháng đầu năm 2007 đạt 23,2 triệu USD, tăng36,1%…Đây là một thị trường tiềm năng đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu của Việt Nam,kim ngạch nhập khẩu đồ nội thất bằng gỗ các loại của thị trường này từ năm 2000 đếnnay liên tục tăng mạnh Năm 2007, tiêu dùng đồ nội thất của Canada được dự báo tiếp tụctăng trưởng và nhập khẩu đồ nội thất của nước này sẽ tiếp tục tăng Thị phần nhập khẩu
đồ nội thất của Canada từ Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 3% kim ngạch nhập khẩu đồnội thất của nước này Nền kinh tế Canada tăng trưởng khả quan hơn kinh tế Mỹ, vớimức tăng 2,9 trong năm 2005 và tăng trưởng ổn định đến năm 2007 Ngành xây dựng củanước này ước tăng 3,6% năm 2006 Nhu cầu về tiêu thụ đồ nội thất của nước này tăngtrưởng khá ổn định
Ôxtrâylia: Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Ôxtrâylia trong năm 2006 đạt 54,5triệu USD, tăng 30,1% (tăng 12,1 triệu USD) so với năm 2005 Các mặt hàng xuất khẩuchính: Đồ nội thất phòng khách (tủ, bàn ghế, kệ TV); Đồ nội thất phòng ngủ (giường, tủ,bàn ghế); ghế… Ôxtrâylia là một nước có môi trường kinh tế và chính trị khá ổn định,
Trang 26chính sách thương mại minh bạch Hơn nữa, nhu cầu nhập khẩu sản phẩm gỗ của thịtrường này khá cao, trong khi thị phần sản phẩm gỗ của ta tại thị trường này còn nhỏ bé.Với tất cả những thuận lợi trên thì đây vẫn còn là thị trường rất tiềm năng và năm 2006,xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường Ôxtrâylia sẽ tiếp tục tăng.
Kim ngạch xuất khẩu sang Đức 7 tháng đầu năm 2007 đạt trên 47,84 triệu USD, tăng22,1%
Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2006 Thị trường Năm 2006 (USD) Năm 2005 (USD) 2006 so với 2005
Trang 272.5.4 Thuận lợi và khó khăn :
2.5.4.1 Thuận lợi:
- Sau khi gia nhập WTO, doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đượcgiảm thuế nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng như giảm thuế xuất khẩu sản phẩm hàng hoávào thị trường các nước Chi phí giảm là một trong những yếu tố quyết định hiệu quảkinh doanh cũng như tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thương trường Cơ hội vàng đã đến vớingành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu Vấn đề còn lại là làm thế nào để khai thác tối đa lợi thế
đó
- Từ 1/5/2004, Mỹ đánh thuế chống bán phá giá rất cao đối với mặt hàng đồ gỗ củaTrung Quốc - đối thủ cạnh tranh chín của Việt Nam tại thị trường Mỹ Đây là điều kiệnthuận lợi để các doanh nghiệp (DN) sản xuất chế biến đồ gỗ Việt Nam tăng cường xuấtkhẩu vào Mỹ Trong khi đó, thị trường EU với đồ gỗ Việt Nam ngày một mở rộng, cácquan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng tạo ra một sân chơi mới và rộnglớn cho đồ gỗ Việt Nam
- Hiện nay, hàng đồ gỗ giá rẻ của Trung Quốc chiếm thị phần khá lớn tại thị trườngNhật Bản Và theo nhận định của các chuyên gia Nhật Bản thì chỉ có hàng của Việt Nammới có thể cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc Việt Nam có lợi thế vì có lao độnggiỏi và rẻ Hàng Việt Nam có những điểm mạnh và cơ hội khác để vào thị trường NhậtBản với thuế suất 0% là ngày càng có nhiều người Nhật có "cảm tình" với hàng ViệtNam Chi phí vận chuyển từ Việt Nam sang Nhật tương đương với chi phí vận chuyểnbên trong nước Nhật dù rằng đoạn đường vận chuyển bên trong ngắn hơn Những cơ hộinày có thể giúp tạo được mối quan hệ lâu dài cho hàng Việt Nam trên thị trường Nhật
- Các chính sách về đầu tư ngành gỗ của Đảng và Nhà Nước rất rõ ràng, công minh,phù hợp đối với nền kinh tế nói chung và nói riêng là đối với các doanh nghiệp đầu tưvào ngành công nghiệp chế biến gỗ, luôn kêu gọi và luôn khuyến khích, tạo điều kiện chocác doanh nghiệp đầu tư vào ngành này
- Việt Nam rất ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng: đây là điểm rất thuận lợi, cácdoanh nghiệp an tâm đầu tư và mở rộng đầu tư các ngành kinh tế tại nước nhà
- Từ xưa, tay nghề của từng nhóm thợ mộc và chạm khắc tự truyền dạy cho nhau đãđạt tới mức rất điêu luyện thể hiện qua những tác phẩm mộc, điêu khắc trong các đìnhchùa Ngày nay những sản phẩm chế biến gỗ của chúng ta cũng ngày càng tinh xảo, tinh
tế, hồn Việt trong những sản phẩm đồ gỗ chất lượng cao sản xuất tại Việt Nam đã thuyếtphục cả những thị trường khóa tính trên thế giới
- Đang có xu hướng hình thành các doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô trên turngbình với trình độ quản lý, thiết bị, tay nghề công nhân, được khách hàng đặc biệt chú ý
- guồn nhân lực Việt Nam ta dồi dào, phong phú Nguồn tri thức của người lao độngViệt Nam đủ sức và thừa sức để tiếp nhận và ứng dụng các công nghệ cao cấp, quy trình
kỹ thuật tiên tiến của sự phát triển tri thức tòan cầu
2.5.4.2 Khó khăn:
- Thị phần đồ gỗ Việt Nam trong danh mục thị phần đồ gỗ nhập khẩu (NK) của nướcngoài còn quá nhỏ bé Chúng ta có những thị trường xuất khẩu tiềm năng nhưng chúng tachưa khai thác hết Việt Nam có đội ngũ thợ cần cù, sáng tạo và tài hoa, nhưng giá nhân
Trang 28công rẻ, chưa thoả đáng, nên chưa phát huy được tối ưu tiềm năng con người trong quátrình sản xuất Đã bắt đầu xảy ra tình trạng, một số nghệ nhân tay nghề cao “nhảy” từ các
DN trong nước các DN sản xuất đồ gỗ nước ngoài ở Việt Nam
- Từ khi bị Mỹ đánh thuế chống bán phá giá cao, một số DN sản xuất chế biến gỗTrung Quốc bắt đầu đầu tư ồ ạt sang sản xuất tại Việt Nam để tránh hàng rào thuếnhập khẩu cao của Mỹ Điều này khiến cho các DN sản xuất đồ gỗ Việt Nam có thêmnhững đối thủ ngay cùng một sân chơi… Các nhà sản xuất đồ gỗ Trung Quốc sẽ sản xuấttại Việt Nam rồi xuất khẩu sang Mỹ và cạnh tranh gay gắt với đồ gỗ Việt Nam tại đây.Nhưng có lẽ, điều lo ngại hơn cả là các DN Trung Quốc rất biết tận dụng nhân công ViệtNam, biết cách khai thác bàn tay tài hoa của những người thợ Và đặc biệt, họ có nhữngquy trình công nghệ sản xuất hiện đại hơn các DN Việt Nam rất nhiều
- Giá nguyên liệu gỗ Nguyên liệu gỗ trong nước đang không đủ đáp ứng cho nhu cầuchế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam Tài nguyên gỗ đã bị cạn kiệt do khai thác bừa bãinên ta phải nhập tới 80% gỗ nguyên liệu Hiện giá nguyên vật liệu gỗ đang tăng do nạncháy rừng, lũ lụt, môi trường suy thoái… Nhiều nước như Lào, Myanmar, Indonesia -vốn là bạn hàng cung cấp gỗ nguyên liệu chủ yếu cho ta – nay đã ra lệnh cấm xuất khẩu
gỗ thô Ta phải nhập gỗ đã qua sơ chế, nên giá thành đắt Hơn nữa, chi phí cho cước vậnchuyển cũng không nhỏ, do giá dầu mỏ và nhiên liệu thế giới tăng Ước tính, trong 3 nămqua, giá nguyên liệu gỗ vào Việt Nam đã tăng từ 20-22% Điều này làm giảm đáng kể lợinhuận của các DN
- Việt Nam chưa có tiếng nói chung về sự phát triển của thị trường, hầu như việc pháttriển thị trường là tự phát từ hướng các doanh nghiệp, doanh nghiệp tự lực, tự cườngtrong việc tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm thị trường và tự dò tìm các phương hướng pháttriển kinh tế, đầu tư sản xuất mà không có bất kỳ sự tập trung chỉ đạo, hướng dẫn nhữngđường lối sáng suốt và kịp thời từ phía Chính Phủ, từ Hiệp hội ngành gỗ
- Ngành chế biến gỗ của Việt Nam còn mang tính đầu tư và sản xuất nhỏ, sản xuấtmang tính thủ công, tính cách gia đình, việc tích lũy vốn, để đầu tư thiết bị máy móc hiệnđại của các nước tiên tiến không được chú trọng Các nhà sản xuất nhỏ là tác nhân gâynên sự mất cân đối về giá cả xuất khẩu Do sản xuất nhỏ, chi phí sản xuất chủ yếu là chiphí công lao động thấp, không phải chịu những khoản thuế, các chi phí đónng BHXH,BHYT và các chế độ khác cho người lao động, giá thành cấu thành cho sản phẩm xuấtkhẩu thấp, vì vậy họ đưa ra giá chào bán sản phẩm xuất khẩu thấp, tạo nên sự mất cân đối
về hệ thống giá cả xuất khẩu trong nước và từ giá cả này mà khách hàng áp đặt giá và gây
áp lực đối với các doanh nghiệp đầu tư sản xuất lớn Và đẩ có thể nhận được đơn hàng từkhách hàng, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận sản xuất với giá thấp, ít lợi nhuận và
có lúc không có lợi nhuận, và điều này kéo theo hàng loạt doanh nghiệp lớn phá sản ,đóng cửa
- Đối với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến gỗ, họ không có bất kỳ sự
tư vấn, tham mưu nào của các công ty tư vấn, các Hiệp hội ngành gỗ, hoặc các cơ quanhữu quan, dẫn đến việc mất phương hướng mở rộng đầu tư, đi sau các nước bạn về đầu tưcông nghệ, máy móc, và hiển nhiên thua kém nước bạn về chiếm thị phần trên thươngtrường quốc tế
- Các doanh nghiệp mới muốn xâm nhập, đầu tư vào ngành sản xuất gỗ, cũng không
có bất kỳ sự tư vấn, hướng dẫn nào về các kế hoạch, dự án đầu tư máy móc, thiết bị, côngnghệ mới của thế giới, họ bị động và dẫn đến nhiều doanh nghiệp tự đầu tư và đầu tư sai,
Trang 29không mang lại hiệu quả trong sản xuất, vì thực tế do các thiết bị, máy móc, công nghệđầu tư không phù hợp với sự phát triển ngành chế biến gỗ toàn cầu.
- Sự bất ổn về nguồn nhập khẩu nguyên liệu gỗ, phục vụ cho sản xuất do ảnh hưởngđến cách chính sách của các nước xuất khẩu cho chúng ta Hơn 80% nguyên liệu gỗ phục
vụ cho ngành xản xuất chế biến gỗ đều phải nhập khẩu, và đa số nhập khẩu từ Malaysia,Indonesia, đây là những nước thường xuyên thay đổi về chính sách xuất khẩu gỗ, lúc choxuất khẩu, lúc lại cấm không cho xuất khẩu gỗ, yếu tố này hết sức khó khăn, bị động chocác doanh nghiệp, gây sự bị động trầm trọng trong sự phát triển ngành chế biến gỗ
- Việt Nam chưa có các cảng gỗ, chợ gỗ, các nhà máy chuyên xẻ gỗ, cung cấp cho cácnhà máy chế biến, chưa có trung tâm nguyên phụ liệu cung ứng các sản phẩm gỗ để cácnhà sản xuất yên tâm làm ăn
- Ở một số địa phương thủ tục hải quan còn chậm và kéo dài từ khai báo, kiểm hóađến chứng nhận thực xuất, hoàn thuế giá trị gia tăng, vừa làm tăng chi phí, thậm chí làm
đổ vỡ kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp, thâm hụt vốn kinh doanh Thủ tục đóng dấubúa vào gỗ nhập khẩu cũng gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc nhậpkhẩu gỗ nguyên liệu
2.6 HÀNG ĐIỆN TỬ, LINH KIỆN MÁY TÍNH:
2.6.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử - máy tính qua các năm
(ĐVT: Triệu USD)
Trong tháng đầu tiên của năm 2007, kim ngạch xuất nhập khẩu các thiết bị tin học đãđạt 250,2 triệu USD, tăng 35,2% so với tháng 1/2006 Trong đó, xuất khẩu trong tháng1/2007 đạt 110,3 triệu USD; nhập khẩu đạt 139,9 triệu USD Các mặt hàng xuất khẩu chủyếu là mặt hàng máy in (58,3 triệu USD chiếm 53% kim ngạch xuất khẩu) và chủ yếu là
từ các khu công nghiệp xuất sản phẩn ra nước ngoài; bảng mạch các loại (44,3 triệu USDchiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu) Máy in chủ yếu xuất khẩu đi Mỹ: 17,4 triệu USD;
Hà Lan: 9,8 triệu USD; Singapore: 7,3 triệu USD; Phần Lan: 2,7 triệu USD; Canada: 2,6triệu USD Bảng mạch chủ yếu sang Thái Lan: 28,3 triệu USD; Philippin: 12,2 triệu USD
và Nhật Bản 3,4 triệu USD
Tháng 2/2007, máy in, bảng mạch, ti vi vẫn là những mặt hàng chủ lực có kimngạch xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm 2006, trong đó máy in có kim ngạch xuấtkhẩu cao nhất đạt hơn 102 triệu USD, chiếm 37,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của 2
Trang 30tháng đầu năm 2007 Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong tháng 2/2007chỉ đạt hơn 120 triệu USD, giảm 28,5% so với tháng 1/2007.
Theo số liệu thống kê tháng 2/2007, lượng máy in xuất khẩu đạt khoảng 835,661chiếc với kim ngạch đạt trên 45,07 triệu USD, là mặt hàng điện tử có kim ngạch xuấtkhẩu cao nhất trong tháng 2/2007 Trong đó máy in phun các loại xuất được 409.940chiếc đạt trên 20 triệu USD, máy in Canon xuất được 320.259 chiếc, đạt 16,8 triệu USD.Thị trường xuất khẩu máy in nhiều nhất trong tháng vẫn là Mỹ với tổng trị giá lên tới12,4 triệu USD, chủ yếu vẫn là máy in Canon và máy in phun các loại Kim ngạch xuấtkhẩu của máy in phun sang thị trường Mỹ đạt trên 7,1 triệu USD; trong đó đơn giá trungbình của máy in phun Canon là 44,28 USD/chiếc (FOB), máy in phun loại khác là 55,65USD/chiếc (FOB)
Trong tháng 2/2007, lượng máy in Canon xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt gần 86nghìn chiếc, kim ngạch đạt gần 4 triệu USD; đơn giá trung bình là 46,6 USD/chiếc(FOB), giảm nhẹ so với tháng 1/2007 Kim ngạch xuất khẩu máy in sang thị trườngSingapore đạt hơn 4,9 triệu USD với 95,196 chiếc Hầu hết các lô hàng máy in xuất khẩusang thị trường này đều qua cảng Hải Phòng, đơn giá trung bình cho sản phẩm máy inCanon là 42,43 USD/chiếc(FOB), máy in laze P1089 là 67,02 USD/chiếc(FOB) Kimngạch xuất khẩu sang thị trường Hà Lan và Trung Quốc trong tháng này cũng giảm sovới tháng 1/2007, tuy vậy kim ngạch của Hà Lan vẫn đạt 4,5 triệu USD và Trung Quốcđạt 3,8 triệu USD
Cùng với máy in, bảng mạch cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Kimngạch xuất khẩu bảng mạch đạt 35,5 triệu USD; giảm 25,8% so với tháng 1/2007 TháiLan là thị trường lớn nhất với kim ngạch đạt 21,16 triệu USD, giảm 33,7% so với tháng1/2007; tiếp theo là thị trường Philippin đạt 10,9 triệu USD, giảm 16,3% so với tháng1/2007 Đặc biệt trong tháng này, bảng mạch đã xuất khẩu sang thị trường Trung Phi,kim ngạch mới đạt trên 6,1 nghìn USD, nhưng đây là một dấu hiệu khả quan trong việc
mở rộng thị trường xuất khẩu hàng điện tử - máy tính của nước ta
2.6.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Cơ cấu hàng xuất khẩu tháng 1/2007
Về mặt hàng, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng là máy in và bảng mạch cácloại Kim ngạch xuất khẩu của máy in đạt 58,3 triệu USD, chiếm 53% tổng kim ngạchxuất khẩu Trong đó, máy in xuất khẩu sang Mỹ đạt 17,4 triệu USD; Hà Lan đạt 9,8 triệuUSD; Singapore đạt 7,3 triệu USD; Đứng thứ hai là kim ngạch xuất khẩu của bảngmạch, đạt 44,3 triệu USD, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu Thị trường xuất khẩuchủ yếu là Thái Lan đạt 28,3 triệu USD; Philippin đạt 12,2 triệu USD và Nhật Bản đạt3,4 triệu USD
Trang 31Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực tháng 7 năm 2007:
Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 7/2007 đạt 126,6 triệu USD tăng 8,9% so với tháng6/2007 Tổng kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm đạt 801 triệu USD Tỷ trọng 3 mặthàng xuất khẩu lớn nhất (máy in, bảng mạch và linh kiện vi tính) trong tháng chiếm đến97% tổng kim ngạch xuất khẩu các thiết bị tin học xuất khẩu cả nước
Mục tiêu đến năm 2010 ngành công nghiệp điện tử Việt Nam sẽ đạt doanh số khoảng4-6 tỷ USD và kim ngạch xuất khẩu đạt 3-5 tỷ USD, đạt tốc độ tăng trưởng 2-30%/năm Đồng thời, ngành công nghiệp điện tử cũng sẽ hoàn thành nhiệm vụ tạo khoảng300.000 việc làm
Ngoài ra, cơ cấu của ngành này cũng được thay đổi cho phù hợp với sở trường củaViệt Nam và thích ứng một cách tốt nhất với môi trường hội nhập sâu rộng
Theo đó, sẽ tiến hành chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển điện tửchuyên dùng, bao gồm sản xuất sản phẩm, linh kiện, phụ tùng và sản phẩm phụ trợ chocác lĩnh vực tin học, viễn thông, điện tử y tế, điện tử công nghiệp, cơ điện tử, đo lường,
tự động hóa
2.6.3 Thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu gồm trên 30 thị trường xuất khẩu; trong đó, 10 thị trường có kimngạch xuất khẩu lớn nhất bằng khoảng 86,6% kim ngạch xuất khẩu của cả nước TháiLan vẫn là thị trường lớn nhất về xuất khẩu với kim ngạch trong tháng đạt 29,6 triệu USD
và đã chiếm 26,8% kim ngạch xuất khẩu Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trườngnày là bảng mạch các loại (28,3 triệu USD) và linh kiện vi tính (1,3 triệu USD) Tháng7/2007 kim ngạch xuất khẩu sang Thái Lan đạt 32,2 triệu USD, tăng 17,1% so với thángtrước và đã chiếm 25,5% kim ngạch xuất khẩu thiết bị tin học trong tháng sang tất cả cácthị trường Tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này từ đầu năm đến hết tháng 7 đạt178,5 triệu USD Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Thái Lan là bảng mạch cácloại (28,2 triệu USD) và linh kiện vi tính (3,8 triệu USD)
Thị trường Mỹ luôn đứng thứ 2 về thị trường xuất khẩu; trong tháng 1 xuất khẩu sangthị trường này đạt 18 triệu USD chiếm 16,3% kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu chủ yếusang thị trường này là mặt hàng máy in (17,4 triệu USD) Xuất khẩu trong tháng 7/2007sang Mỹ đạt 16,8 triệu USD, tăng 34,4% so với tháng trước nâng tổng kim ngạch xuấtkhẩu thiết bị tin học sang thị trường này 7 tháng đầu năm đạt 116,5 triệu USD Mặt hàngxuất khẩu chủ yếu sang thị trường này là máy in (15,1 triệu USD) và đã chiếm 89,9% kimngạch
Trang 32Sau Nhật Bản, hàn Quốc là quốc gia có kim ngạch nhập khẩu dây, cáp điện từ ViệtNam lớn thứ hai Tuy nhiên, tổng giá trị nhập khẩu từ Việt Nam chiếm tỉ trọng rất nhỏ,năm 2001 đạt 5,3 triệu USD, bằng 3,3% tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm cùng loại củaNhật Bản từ thị trường Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu dây, cáp điện của Việt Nam sangHàn Quốc lại giảm liên tục trong giai đoạn 2001-2006, trong khi tổng kim ngạch xuấtkhẩu mặt hàng này của Việt Nam liên tục tăng mạnh trong giai đoạn này Năm 2001,tổng kim ngạch xuất khẩu dây, cáp điện của Việt Nam là 154 triệu USD, trong đó, xuấtsang Hàn Quốc đạt 4,3 triệu USD, chiếm 2,8%, năm 2003 các con số tương ứng là 263,1triệu USD, 3,7 triệu USD; 1,4%; năm 2005 là 523 triệu USD; 2,125 triệu USD; 0,41%,năm 2006 là 744,8 triệu USD, 8,63 triệu USD; 1,12% Sáu tháng đầu năm 2007, kimngạch xuất khẩu dây cáp và cáp điện của Việt Nam sang Hàn Quốc đã tăng mức kỷ lục socùng kỳ năm 2006 với 931% (kim ngạch 6 tháng đầu năm 2007 đạt 17,7 triệu USD, trongkhi đó mức cùng kỳ năm 2006 là 1,9 triệu USD) Điều này cho thấy, mặc dù kim ngạchxuất khẩu dây cáp và cáp điện của Việt Nam sang Hàn Quốc vẫn còn thấp nhưng lại đạtmức tăng trưởng quá cao, đây sẽ là đà phát triển trong thời gian tới.
Thị trường Hà Lan: trong tháng 7/2007, xuất khẩu tới Hà Lan đạt 18,6 triệu USD,tăng 10,7% so với tháng trước và đã chiếm 14,7% kim ngạch xuất khẩu thiết bị tin họctrong tháng sang tất cả các thị trường Mặt hàng chủ yếu xuất sang thị trường này là máy
in (18,1 triệu USD) và đã chiếm 97,3% kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này
Xuất khẩu sang thị trường EU đạt 26,03 triệu USD, tăng 3,5% so với tháng 12/2006;sang thị trường Trung Quốc tăng 27,3% Một số sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sang thịtrường Trung Quốc là loa, máy in, linh kiện sản xuất loa
Bên cạnh đó cũng có một số thị trường có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nhưSingapore tăng 30,01%, Hồng Kông tăng 34,5%, Australia tăng 38,4%
Biểu đồ : Thị trường xuất khẩu tháng 7 năm 2007:
2.6.4 Thuận lợi và khó khăn:
2.6.4.1 Thuận lợi:
Gia nhập WTO, công nghệ thông tin-truyền thông Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng thịtrường tiêu thụ sản phẩm, thâm nhập thị trường thế giới Dự báo, đến năm 2010, xuấtkhẩu các sản phẩm công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm của Việt Nam đạt từ3-5 tỷ USD
Trang 332.6.4.2 Khó khăn:
- Khi chính thức là thành viên của WTO, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩmcông nghệ thông tin của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh quyết liệt với sản phẩm cùng loạinhập khẩu giá rẻ, chủ yếu từ các nước trong khu vực ASEAN và Trung Quốc Khi gianhập WTO, Việt Nam phải cắt, giảm thuế nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp, trong đó
có máy tính, các thiết bị kỹ thuật số và các loại linh kiện điện tử Ngoài ra, các rào cảnphi thuế quan khác đối với các nhà cung cấp dịch vụ cũng phải được gỡ bỏ (bao gồm cảdịch vụ sản xuất phần mềm) Bên cạnh đó, khi là thành viên của WTO, Việt Nam cũng sẽtham gia Hiệp ước Công nghệ thông tin Những nội dung cam kết cơ bản của Việt Namkhi tham gia hiệp ước là sẽ giảm mức thuế này theo lộ trình cắt giảm xuống 0% đối với
330 sản phẩm công nghệ thông tin, trong vòng 5 năm đối với các sản phẩm phần cứng,thiết bị ngoại vi, linh phụ kiện điện tử và 7 năm đối với các sản phẩm như điện thoại, cápviễn thông (trừ cáp biển) Gia nhập WTO, hàng rào bảo hộ của Nhà nước đối với côngnghệ điện tử (CNĐT) sẽ phải gỡ bỏ, trong khi các nước trong khu vực CNĐT của họphần lớn mạnh hơn ta Chúng ta vừa may và không may là nằm giữa trung tâm CNĐT thếgiới Thế giới người ta gọi vòng cung Đông Á là vòng cung công nghệ điện tử chiếmkhoảng 2/3 sản lượng CNĐT toàn cầu Trong khi đó CNĐT các nước trong khu vựcngười ta đều đi trước ta, Việt Nam là chỗ trũng nhất, nếu như một “cái ao” mà bỏ đi cáchàng rào, thì có chỗ trũng là bị thách thức nhiều nhất Đây là một thách thức rất lớn đốivới CNĐT Việt Nam
- Doanh nghiệp điện tử Việt Nam tuy đã phát triển về số lượng (khoảng 200 DN),nhưng phần lớn là các DN nhỏ, ít vốn, công nghệ sản xuất chưa cao.Trong khi đó, cáccông ty đa quốc gia đã thống trị toàn cầu từ chuyên môn, công nghệ, đến thiết lập mạnglưới sản xuất và phân phối, khống chế thị trường toàn cầu Một số DN Việt Nam tìmđược đối tác để gia công hàng XK nhưng lại không đủ vốn và công nghệ để sản xuấtnên đành phải chuyển giao sang cho DN có vốn đầu tư nước ngoài Một nguyên nhân nữakhiến năng lực cạnh tranh của hàng điện tử Việt Nam bị yếu: Trong khi ngành côngnghiệp sản xuất linh kiện còn chưa phát triển thì thuế nhập khẩu linh kiện để sản xuấtcủa ta lại quá cao Vì thế, hàng Việt Nam cạnh tranh về giá ở thị trường trong nước cònkhó, chưa nói gì đến cạnh tranh ở nước ngoài
2.7 GẠO:
2.7.1 Kim ngạch xuất khẩu:
Gạo là sản phẩm chủ yếu của nền nông nghiệp Việt Nam Không phải chỉ vài năm gầnđây nước ta mới có gạo xuất khẩu, mà thực tế gạo Việt Nam đã có mặt trên thị trường thếgiới hàng trăm năm nay Ngay từ năm 1880, các tỉnh Nam Bộ đã xuất khẩu 284.000 tấngạo, năm 1884 Bắc Bộ xuất 5.376 tấn Trong thời kỳ từ năm 1926 đến năm 1936 ViệtNam đã xuất 8,2 triệu tấn gạo Năm 1960 các tỉnh miền Nam xuất 340.000 tấn Nhưngthời gian sau đó, chiến tranh liên miên, dân số phát triển quá nhanh, đất canh tác lại hạnchế, nhà nước chưa có chính sách khuyến khích thoả đáng đối với nông nghiệp, cho nênViệt Nam trong nhiều năm liên tục phải nhập khẩu gạo từ năm 1976 đến năm 1988 Từnăm 1989 nhờ có chính sách lương thực đúng đắn mà tình hình sản xuất và thương mại