Trong quá trình giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy trong Sách Giáo Khoa môn Hóa Học của chương trình hóa học ở cấp Trung Học Phổ Thông có đề cập đến những ứng dụng của các chất hóa học có
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị TRƯỜNG THPT TRỊ AN
Mã số………
Chuyên đề ỨNG DỤNG THỰC TẾ CỦA MỘT SỐ CHẤT HÓA HỌC TRONG SÁCH GIÁO KHOA MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG Người thực hiện: NGÔ MINH ĐỨC Lĩnh vực nghiên cứu: -Quản lý giáo dục:………
-Phương pháp dạy học bộ môn: Hóa Học
-Lĩnh vực khác: ………
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học : 2011- 2012
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN.
Họ và tên: NGÔ MINH ĐỨC
Ngày tháng năm sinh: 30/11/1981
Giới tính: Nam
Địa chỉ: 3E/D KP4 Tân Hiệp-Biên Hòa-Đồng Nai
Điện thoại: 0983334134
Đơn vị công tác: Trường THPT Trị An
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO.
Trình độ chuyên môn: Cử Nhân Đại Học Sư Phạm
Năm nhận bằng: 2005
Chuyên ngành đào tạo: Hóa Học
III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC.
Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Hóa Học
Số năm kinh nghiệm: 6 năm
Trang 3
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI A- Giới Thiệu Đề Tài.
Trong quá trình giảng dạy trên lớp, tôi nhận thấy trong Sách Giáo Khoa môn Hóa Học của chương trình hóa học ở cấp Trung Học Phổ Thông có đề cập đến những ứng dụng của các chất hóa học có trong bài học, nhưng chỉ dừng ở mức độ thông báo cho học sinh biết nên Học sinh nhiều lúc không thể hiểu được những ứng dụng hết sức quan trọng của các chất hóa học
đó Mặt khác có những ứng dụng thực tế khác mà Sách giáo khoa chưa cập nhật, đồng thời có những ứng dụng của các chất mà người giáo viên chưa chắc đã nắm rõ được nên phải tìm hiểu thêm qua các kênh khác nhau: báo chí, tạp chí khoa học, mạng internet… Vì vậy tôi chọn đề tài này để giúp học sinh hiểu rõ thêm về ứng dụng của các chất đã được học từ đó nâng cao hứng thú học tập bộ môn hóa học, đồng thời giúp bản thân và đồng nghiệp nâng cao kiến thức
về phần ứng dụng của các chất hóa học
B- Nội Dung Đề Tài
Đề tài này đề cập đến và làm rõ một phần ứng dụng của một số chất hóa học có trong sách giáo khoa chương trình hóa học phổ thông, đồng thời bổ sung một số ứng dụng mới Những ứng dụng này được trình bày thứ tự theo từng bài tương ứng trong sách
giáo khoa 10 ; 11; 12
PHẦN 1: HÓA HỌC 10
* BÀI : OXI
* BÀI : HALOGEN
PHẦN 2 : HÓA HỌC 11
* BÀI: NITƠ
* BÀI : PHOTPHO
* BÀI: CACBON & HỢP CHẤT CỦA CACBON
* BÀI : ANKEN
* BÀI : BENZEN
* BÀI : ANDEHIT- XETON
* BÀI : ANCOL
PHẦN 3: HÓA HỌC 12
* BÀI : CAO SU
Trang 4PHẦN 1: HÓA HỌC 10
BÀI : OXI
1/ Khử trùng bằng khí Ozone
Nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt, chế biến thực phẩm cần đảm bảo về mặt tiêu chuẩn hóa
lý lẫn vi sinh.Tuy nhiên do các điều kiện khác nhau, nguồn nước của chúng ta sử dụng cho các mục đích trên luôn chưa đạt tiêu chuẩn.Hiện nay chúng ta thường dùng hóa chất như Chlorine, KMnO4, đèn cực tím để tiệt trùng Tuy nhiên do ngày càng có nhiều loại vi khuẩn mới phát triển, các vật liệu khử trùng trên bị hạn chế tác dụng nhiều, mặt khác việc định lượng cũng rất khó khăn Hiện nay trên thị trường đã có công nghệ Ozone trong khử trùng nước tỏ ra có hiệu quả cao Ozone là một loại khí được tạo ra từ khí Oxy tự nhiên (O3) Đặc điểm hóa học của nó
là có tính oxi hóa mạnh và tác dụng nhanh, cho nên Ozone là loại khí có khả năng tiêu diệt triệt để vi khuẩn và vi rút Mặt khác nó còn phân hủy được những hợp chất độc hại trong nguồn nước, thực phẩm như hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu, tiêu diệt nhanh vi khuẩn lên men giúp cho thời gian bảo quản thực phẩm tươi sống kéo dài gấp nhiều lần so với các cách bảo quản thông thường
VD : Xử lý nước ngầm nhiễm lưu huỳnh bằng ozone : Vì lưu huỳnh trong nước ngầm tồn
tại dưới dạng H2S, một loại khí độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người Do đó, phải cho nước ngầm tiếp xúc ozon trong một thời gian nhất định để ôxy hóa lưu huỳnh thành khí SO2
(sulfure) Ngoài lưu huỳnh, sắt và các kim loại nặng khác cũng bị ôxy hóa triệt để tạo thành ôxit kim loại lắng ở đáy bình Nước được qua lọc trước khi đưa vào sử dụng
Nhưng điều quan trọng hơn cả là sau khi phản ứng (thanh trùng, khử mùi, tẩy màu ), lượng ozon dư sẽ dễ dàng chuyển sang ôxy Cơ chế đó hoàn toàn không gây ô nhiễm môi sinh như khi sử dụng các hoạt chất hóa học khác
Trên thế giới, các bác sĩ đã sử dụng Ozone trong việc chữa trị các ổ nhiễm trùng, đặc biệt là tại răng miệng Việt Nam đã thành công trong việc khử trùng nước uống đóng chai, bảo quản trái cây lâu ngày, rửa rau quả, diệt vi sinh ký sinh và tách hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trong rau quả… Ngoài ra Ozone còn được áp dụng trong khử trùng không khí trong phòng như các phòng tại bệnh viện, khu chế biến thủy sản, thực phẩm…
2/ Tác hại của khí ozone
Nồng độ khi ozone quá cao sẽ rất có hại cho sức khỏe con người: làm tổn thương thần kinh trung ương, phá hoại chức năng miễn dịch, làm giảm sút trí nhớ, gây ung thư.Khí ozone được sinh ra khi máy photocopy hoạt động, do đó cần chú ý sự thông thoáng khi sử dụng máy
Trang 5BÀI : HALOGEN- HỢP CHẤT CỦA HALOGEN
1) Vì sao trong kem đánh răng lại trộn thêm hợp chất có chứa Flo?
Có cân bằng sau xảy ra trong miệng :
5Ca2+ + OH- + 3PO43- Ca5(PO4)3(OH) K1 (1) (Đây là công thức của răng)
Khi cho F- vào trong miệng sẽ có cân bằng (2) sau:
5Ca2+ + F- + 3PO43- Ca5(PO4)3F K2 (2)
Do K2>K1 nên cân bằng 2 sẽ chiếm ưu thế hơn cân bằng 1,do đó hợp chất sau phản ứng ở (2) bền hơn (1) nên hợp chất Ca(PO4)3(F) bền hơn,bảo vệ răng tốt hơn
2) Làm thế nào để biết các loại rau nào chứa Vitamin C?
Muốn biết trong loại rau nào có vitamin C ta có thể kiểm tra nhanh bằng cách sau đây: -Cho vào bình thuỷ tinh một ít tinh bột, rồi một ít nước, khuấy trộn bằng que nhỏ đều, thì được hỗn hợp nước - tinh bột màu trắng sữa ,nhỏ 2 - 3 giọt Iốt vào thì hỗn hợp đó đổi thành màu tím xanh
-Lấy 2 - 3 tàu rau xanh, tước lá rau chỉ để lại cuống lá, rồi đem ép lấy dịch từ cuống lá, sau đó
từ từ nhỏ dịch này vào hỗn hợp tinh bột - iốt màu tím xanh, vừa nhỏ vào, vừa lắc Khi đó, bạn
sẽ phát hiện: Dung dịch màu xanh tím lại biến màu, trở thành màu trắng sữa
Do tinh bột gặp Iốt thì biến thành màu tím xanh - đó là đặc tính của tinh bột Nhưng, vitamin
C làm cho iốt bột biến thành dung dịch không màu
Khi nhỏ dịch rau vào hỗn hợp tinh bột có chứa Iốt thì do có tác dụng của vitamin C trong dịch rau mà Iốt biến thành chất lỏng không màu Cho nên hỗn hợp vốn có màu xanh biến thành hỗn hợp tinh bột màu trắng sữa
3/ Khí Clo làm sạch cho hồ bơi như thế nào?
Khi đến các hồ bơi, ta thường nghe mùi hắc rất đặc trưng của khí clo Như vậy dung dịch clo hòa trong các bể bơi có tác dụng ra sao?
Khí clo lần đầu tiên được phát hiện bởi nhà hóa học Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele vào năm 1774 Ngày nay, clo là một trong những hóa chất sản xuất nhiều nhất trên thế giới với sự ứng dụng vào vô số các sản phẩm Clo liên quan chặt chẽ đến nhiều ngành công nghiệp ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày của con người
Người ta thường sản xuất ra clo bằng cách điện phân nước muối natri clorua (NaCl) Khí clo thu được sẽ được sử dụng để tạo ra các hợp chất clo khác được sử dụng để khử trùng, tẩy trắng, sản xuất chất dẻo và các sản phẩm liên quan
Trong các hồ bơi, clo dùng để khử nước hồ khỏi các vi khuẩn có thể nguy hại cho con người Clo diệt vi khuẩn qua một phản ứng hóa học khá đơn giản:
Cl2 (k) + H2O (l) ↔ HCl (dd) + HClO (dd)
Axit hipoclorơ (HClO) và ion hipoclorit (ClO-) có khả năng giết chết các vi sinh vật và vi khuẩn bằng cách tấn công vào lớp lipid của thành tế bào rồi phá hủy các enzym và các cấu trúc bên trong tế bào khiến chúng bị ôxi hóa, trở nên vô hại
Trang 6Sự khác biệt giữa HClO và ClO- là tốc độ ôxi hóa của chúng Axit hypoclorơ có khả năng ôxi hóa các vi sinh vật chỉ trong vài giây, trong khi các ion hypoclorit có thể mất đến 30 phút Sau khi HClO và ClO- đã hoàn tất quá trình làm sạch các hồ bơi, chúng sẽ kết hợp với hóa chất khác, như một hợp chất có nitơ hay amoniắc hoặc chia thành các nguyên tử đơn và mất hoạt tính Ánh sáng mặt trời cũng góp phần làm tăng tốc độ các quá trình này Chính vì thế, người ta cần phải tiếp tục thêm clo vào hồ bơi để quá trình làm sạch diễn ra liên tục Ngoài ra, clo còn có vị trí quan trọng trong công nghệ xử lý nước uống khử các vi khuẩn và tảo trong nước bẩn, làm thuốc tẩy trắng quần áo và đồ dùng
Tuy nhiên, bên cạnh đặc tính khử vi khuẩn rất hữu ích của clo, nó cũng có một số tác dụng phụ có thể gây phiền nhiễu cho con người thậm chí có thể gây nguy hiểm Clo có mùi rất đặc biệt khá khó chịu thậm chí với nồng độ cao gây khó thở Ngoài ra, clo còn có thể gây kích ứng cho một số loại da gây ngứa, rát Các ion hypoclorit làm cho nhiều loại vải bạc màu và sờn nhanh chóng nếu không gột sạch ngay sau khi rời khỏi hồ bơi
4/ Các ứng dụng của Iod và Hợp chất
Iốt là nguyên tố vi lượng cần thiết cho dinh dưỡng của loài người Tại những vùng đất xa biển hoặc thiếu thức ăn có nguồn gốc từ đại dương; tình trạng thiếu iốt có thể xảy ra và gây nên những tác hại cho sức khỏe, như sinh bệnh bướu cổ hay thiểu năng trí tuệ Đây là tình trạng xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Việc dùng muối iod như muối ăn hằng ngày (có chứa nhiều hợp chất iốt có thể hấp thụ được) giúp chống lại tình trạng này Các ứng dụng khác của iốt là:
Là một trong các halogen, nó là vi lượng tố không thể thiếu để hình thành hormone
thương, khử trùng bề mặt chứa nước uống
Muối Iốđua bạc dùng trong nhiếp ảnh
để rửa trôi đồng vị phóng xạ Iốt-131, kết quả của phản ứng phân hạch hạt nhân Chu kỳ bán rã của iốt-131 chỉ là 8 ngày, do đó thời gian điều trị chỉ kéo dài vài tuần, trong thời gian để bán rã hết cần phải có sự hướng dẫn cụ thể của bác sĩ để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe Trong trường hợp nguy cơ phóng xạ không có phản ứng phân hạch hạt nhân,
phẩm khác của phản ứng phân hạch hạt nhân, vì xêzi có quan hệ hóa học với kali, nhưng NaI cũng có tác dụng như vậy NaI hay có trong muối ăn ít natri Tuy nhiên
xêzi-137 có chu kỳ bán rã kéo dài tới 30 năm, đòi hỏi thời gian điều trị quá dài
Trang 7 Iốđua vonfram được dùng để làm ổn định dây tóc của bóng đèn dây tóc.
Nitơ triiôđua là chất gây nổ không bền
Iốt-123 dùng trong y khoa để tạo ảnh và xét nghiệm hoạt động của tuyến giáp
chụp ảnh tuyến giáp
Nguyên tố iốt (không nằm trong hợp chất với các nguyên tố khác) tương đối độc đối với mọi sinh vật
5/ Cơ chế hoạt động của Đèn Halogen
Bóng Halogen có công suất và tuổi thọ cao hơn bóng đèn thường Đây là loại đèn thế hệ mới
có nhiều ưu điểm so với đèn thế hệ cũ như: Đèn halogen chứa khí halogen như iode hoặc brôm Các chất khí này tạo ra một quá trình hoá học khép kín: Iode kết hợp với vonfram (hay Tungsten) bay hơi ở dạng khí thành iodur vonfram, hổn hợp khí này không bám vào vỏ thủy tinh như bóng đèn thường mà thay vào đó sự chuyển động đối lưu sẽ mang hổn hợp này trở về vùng khí nhiệt độ cao xung quanh tim đèn (ở nhiệt độ cao trên 1450o C) thì nó sẽ tách thành 2 chất: vonfram bám trở lại tim đèn và các phần tử khí halogen được giải phóng trở về dạng khí Quá trình tái tạo này không chỉ ngăn chặn sự đổi màu bóng đèn mà còn giữ cho tim đèn luôn hoạt động ở điều kiện tốt trong một thời gian dài Bóng đèn halogen phải được chế tạo để hoạt động ở nhiệt độ cao hơn 250oC Ở nhiệt độ này khí halogen mới bốc hơi Người ta sử dụng phần lớn thủy tinh thạch anh để làm bóng vì loại vật liệu này chịu được nhiệt độ và áp suất rất cao (khoảng 5 đến 7 bar) cao hơn thủy tinh bình thường làm cho dây tóc đèn sáng hơn và tuổi thọ cao hơn bóng đèn thường
Thêm vào đó, một ưu điểm của bóng halogen là chỉ cần một tim đèn nhỏ hơn so với bóng thường Điều này cho phép điều chỉnh tiêu diểm chính xác hơn so với bóng bình thường
Trang 85/ Các nhà bác học đã tìm cho bạc iođua một công việc lý thú và bổ ích: họ đã sử dụng nó
để chống lại các trận bão nhiệt đới một cách khá hiệu quả Nhưng làm cách nào vậy?
Để giảm bớt sức phá hoại của bão, cần phải “kéo giãn” nó ra, nghĩa là phải nới rộng đường kính của nó Bạc iođua sẽ giúp chúng ta làm được điều đó: nó có khả năng làm cho khí ẩm ngưng tụ lại thành mưa Người ta đã tiến hành những thí nghiệm như vậy Trong những năm
60, cơn bão “Beila” đã là “nạn nhân” đầu tiên Người ta cho máy bay thả lơ lửng xuống một
“bức màn” bạc iođua có chiều cao 10 kilômet và chiều dài 30 kilômet trên đường đi của bão Mặc dầu “bức màn” có kích thước đồ sộ như vậy nhưng chỉ cần vài tạ bạc iođua là đủ làm ra
nó Sau khi đụng phải “bức màn”, cơn bão “không nghi ngờ” điều gi nên đã cuộn nó lại thành một “cái ống” và nuốt vào tâm bão Chính lúc đó, bức tường mây xung quanh phần trung tâm của bão tan ra, đổ mưa xuống và tốc độ cơn bão liền giảm xuống đột ngột Sự thực thì bão không “mất đi”, mà sẽ tạo lại thành một bức tường mây nhưng có kích thước lớn hơn trước rất nhiều, nghĩa là bức tường mây này sẽ dịch chuyển chậm hơn hẳn so với trước kia Sức phá hoại của cơn bão “nhuốm bạc” sẽ giảm hơn trước rất nhiều lần
PHẦN 2: HÓA HỌC 11
BÀI: NITƠ
1/ Nâng tuổi thọ lốp xe bằng khí Nitơ
Bơm khí nitơ là một liệu pháp an toàn cho lốp xe của bạn khi lăn bánh trên những con đường nóng rát giữa trưa hè
Không phải ngẫu nhiên khi khí nitơ (N2) được sử dụng cho lốp máy bay, xe đua công thức
I hay các thiết bị vận chuyển quân sự Đây là xu hướng tất yếu bởi khí nitơ đã khẳng định đặc tính ưu việt hơn hẳn so với khí bình thường
Những bệnh thường gặp trong thời tiết khí nóng, ma-sát giữa lốp và mặt đường, ma-sát giữa
má phanh, vành và lưới lốp luôn sinh nhiệt Đây là tác nhân làm không khí trong lốp xe dãn
nở khiến lốp bị “pan”, mất độ bám đường cần thiết và rất nguy hiểm khi xe đi tốc độ cao Ngoài ra bột lốp cao su có thể tạo nên thể hơi vinyl dễ cháy khi môi trường bên trong quá nóng, gây nổ lốp Với đặc tính khí trơ, nitơ không tham gia các phản ứng hóa học trong nhiệt độ phòng nên "hiệu ứng phụ" do nhiệt độ trong lốp sẽ được giảm tối đa
Một số ý kiến cho rằng vì là một khí nặng (bán kính nguyên tử của nitơ là 65 pm lớn hơn ôxy,
60 pm) nên sự thẩm thấu của nitơ so với ôxy sẽ chậm hơn Theo tính toán của cá chuyên gia, lốp bơm nitơ sẽ giữ áp lực lâu hơp lốp thường 3 lần Chắc chắn khi đi với một chiếc lốp đủ cân sẽ giúp bạn tiết kiệm nhiên liệu hơn rất nhiều
Bên cạnh đó, loại bỏ ôxy trong lốp cũng giúp cho tuổi thọ lốp, vành xe không bị phản ứng ôxy hoá (đặc biệt trong thời tiết nóng quá trình ôxy hóa sẽ rất mạnh) khi bám nước mưa và bụi bẩn Tính chất này của nitơ cũng giúp cho việc bảo quản, đóng gói thực phẩm, hoa quả chậm ôi thiu do quá trình ôxy hóa gây nên Chính nhờ đặc tính ổn định trước thời tiết nên bơm khí nitơ cho ôtô dân dụng đã rất phổ biển tại châu Âu và Mỹ Hiện nay bơm khí nitơ tại
Hà Nội đã có Trung tâm ứng dụng lốp ôtô chất lượng cao
Trang 92/ Ứng Dụng Của Nitơ Trong Một Số Lĩnh Vực :
+ Do hoạt tính kém của nitơ nên nitơ thường dùng để làm trơ khí quyển trong luyện kim, công nghiệp điện tử, công nghiệp thực phẩm và sản xuất phân bón cho nông nghiệp + Nitơ lỏng là một tác nhân làm lạnh (cực lạnh), có thể làm cứng ngay lập tức các mô sống khi tiếp xúc với nó Khi được cách ly thích hợp khỏi nhiệt của môi trường xung quanh thì nó phục vụ như là chất cô đặc và nguồn vận chuyển của nitơ dạng khí mà không cần nén Ngoài ra, khả năng của nó trong việc duy trì nhiệt độ một cách siêu phàm, do nó bay hơi ở 77oK (-196°C hay -320°F) làm cho nó cực kỳ hữu ích trong nhiều ứng dụng khác nhau, chẳng hạn trong vai trò của một chất làm lạnh chu trình mở, bao gồm:
* làm lạnh để vận chuyển thực phẩm
* bảo quản các bộ phận thân thể cũng như các tế bào tinh trùng và trứng, các mẫu và chế phẩm sinh học
* trong nghiên cứu các tác nhân làm lạnh
* để minh họa trong giáo dục
* trong da liễu học để loại bỏ các tổn thương da ác tính xấu xí hay tiềm năng gây ung thư, ví dụ các mụn cóc, các vết chai sần trên da v.v
* Nitơ lỏng có thể sử dụng như là nguồn làm mát để tăng tốc CPU, GPU, hay các dạng phần cứng khác
Công nghệ luyện kim
- Tinh luyện thép, nhôm
- Công nghệ sản xuất bột kim loại
- Nâng cao tuổi thọ của dụng cụ cắt gọt
Sản xuất kính,cao su, nhựa
- Công nghiệp sản xuất kính nổi
- Làm mát, kết thúc trùng hợp chất dẻo
- Công nghiệp gia công cắt gọn cao su, chất dẻo
Kỹ thuật an toàn
- Làm sạch đường ống, bể, kiểm tra áp lực trong C.N hoá chất, các C.ty dầu khí
- Chữa, dập tắt lửa trong khai thác mỏ
Công nghệ thực phẩm - Làm lạnh đông nhanh thực phẩm
- Ngăn chận oxy hoá trong quá trình đóng gói thực phẩm ,
Trang 10bảo quản nông sản.
- Bảo quản đồ uống, giữ tươi trái cây
Y tế , dược phẩm
- Làm lạnh sâu và nhanh sản phẩm huyết thanh, dược phẩm, vi khuẩn
- Bảo quản máu, dược phẩm đóng gói, phôi
BÀI : PHOTPHO
Que diêm nho nhỏ thật có ích, nhưng có bao giờ bạn tự hỏi vì sao nó lại cháy được không nhỉ, chỉ cần "roẹt" một cái thôi?
“Xảo thuật” của diêm là khuếch đại một lượng hơi nóng rất nhỏ sinh ra từ ma sát giữa diêm
và vỏ hộp, thành một ngọn lửa
Nguyên lý hoạt động:
Bề mặt vỏ hộp, nơi ta “quẹt” que diêm vào, có một lớp hỗn hợp bột ma sát, phốt pho đỏ và keo dán Hơi nóng phát ra do ma sát sẽ biến đổi phốt pho đỏ thành phốt pho trắng Chất này không bền trong điều kiện nhiệt độ phòng và tự bốc cháy khi tiếp xúc với không khí Tia lửa loé lên sẽ làm đầu que diêm cháy theo
Đầu diêm chứa hỗn hợp antimony trisulphide và potassium chlorate (kali clorat), gắn chặt với nhau bằng keo dính Antimony trisulphide có thể bốc cháy ở một nhiệt độ tương đối thấp và tia lửa bé nhỏ vừa loé lên kia cũng đủ nóng để đốt cháy nó Potassium chlorate chứa nhiều ôxy, nuôi ngọn lửa cho đến khi nó lan vào phần thân làm bằng gỗ của que diêm Thế là chúng
ta có lửa
Phân loại
Có hai loại: diêm ma sát, và diêm an toàn Diêm ma sát do nhà hoá học người Anh, John Walker, sáng chế năm 1827 Đầu que bôi một hỗn hợp gồm lưu huỳnh, phốt pho trắng, ôxít chì, ôxít măng gan Để nhóm lửa bằng loại diêm này, bạn có thể đánh que diêm vào bất kỳ một bề mặt thô ráp nào (để tạo ma sát), như gạch, giấy cát, thậm chí cả…ria mép.Ma sát sinh
ra nhiệt, ở 40 độ C thì que diêm bắt lửa Hạn chế lớn của loại diêm này là phốt pho trắng rất độc, ngoài ra cứ hễ va chạm là que diêm phát hỏa, lắm phen gây hoả hoạn
Diêm an toàn do một người Thuỵ Điển tên là Johan Lundstrom phát minh ra năm 1855, khắc phục được hạn chế trên Phốt pho trắng đem đun trong chân không đến 300 độ C, trở thành phốt pho đỏ, không cháy do ma sát, nhưng trộn với potassium chlorate thì thành chất dễ cháy
nổ Người sản xuất tách riêng hai thành phần này, để một nằm trên đầu diêm, một nằm trên vỏ hộp đi kèm Khi dùng, bạn phải “quẹt” que vào vỏ thì mới có lửa, an toàn hơn